Nhật Bản là một trong những thị trường gửi khách lớn nhất thế giới. Hàng năm, có hàng chục triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Năm 1985, có 4,49 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Đến năm 2004 có tới trên 16,8 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài. Khách Nhật có khả năng thanh toán cao, hiệu quả mang lại lớn. Vì vậy, Nhật luôn là thị trường được nhiều nước chú trọng khai thác.
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ KHÁCH DU LỊCH NHẬT VÀ XÂY DỰNG SẢN
PHẨM DU LỊCH CHO KHÁCH DU LỊCH NHẬT
1 Xu hướng của du lịch văn hoá trên thế giới.
2 Khái quát hoạt động du lịch tại Nhật Bản và đặc điểm tâm lý khách
1 XU HƯỚNG CủA DU LịCH VăN HOÁ TRÊN THẾ GIỚI
Du lịch văn hóa luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển dulịch trên phạm vi thế giới Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trênthế giới đã nêu rõ tầm quan trọng của loại hình du lịch văn hóa Một số nhànghiên cứu tính toán số lượng khách du lịch văn hóa chiếm 70% số khách đi
du lịch Tuy nhiên theo Tổ chức Du lịch thế giới thì con số này vào khoảng37% du lịch toàn cầu tức là khoảng 265 triệu chuyến du lịch thế giới trongnăm 2003
Trang 2Như vậy, nghiên cứu theo mục đích chính cũng như phụ thì hoạt động
du lịch văn hóa vẫn giữ vai trò quan trọng đối với du lịch toàn cầu và nằmtrong nhu cầu của khách du lịch
Đặc điểm quan trọng được ghi nhận sau các kết quả nghiên cứu củaHiệp hội đào tạo du lịch và giải trí (ATLAS) và Cơ quan Pháp về quản lý dulịch (AFIT) thì khác với cách nghĩ thông thường, thị trường khách của loạihình du lịch văn hóa là khách thanh niên nhiều nhất, chiếm gần 40% và ởnhóm tuổi dưới 35 tuổi
Khách có học vấn cao hơn thì thích đi tìm hiểu du lịch văn hóa nhiềuhơn Trong tổng số khách được hỏi về những thu nhận sau chuyến du lịchnước ngoài thì phần lớn cho rằng được biết về nền văn hóa khác, và được tìmhiểu và khám phá các nền văn hóa khác là điểm quan trọng nhất
Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới, năm 2002 thì nguồn thôngtin của khách du lịch văn hóa là thông qua bạn bè, người thân (46%), đọc cácsách hướng dẫn du lịch (27%), tìm thông tin trên Internet (17%), số lượngnày ngày càng gia tăng nhanh, và số tìm đến các hãng lữ hành và sử dụngbrochures chiếm 14%
WTO cũng đưa ra mức chi tiêu của du khách như sau: khách du lịchvăn hóa chi 70Euros/ngày, khách đi nghỉ biển chi khoảng 48Euros/ngày,khách đi du lịch đô thị hoặc làng quê chi khoảng 40-42Euros/ngày và khách
đi du lịch thể thao, sức khỏe chi dưới 30 euros/ngày Như vậy cho thấy loạihình du lịch văn hóa có đối tượng khách có học vấn cao hơn và khả năng chitrả cũng cao hơn
2 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI NHẬT BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂMTÂM LÝ KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN
Trang 32.2 Khái quát hoạt động du lịch tại Nhật Bản.
Nhật Bản là một trong những thị trường gửi khách lớn nhất thế giới.Hàng năm, có hàng chục triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài Năm
1985, có 4,49 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài Đến năm 2004 cótới trên 16,8 triệu lượt khách Nhật đi du lịch nước ngoài Khách Nhật có khảnăng thanh toán cao, hiệu quả mang lại lớn Vì vậy, Nhật luôn là thị trườngđược nhiều nước chú trọng khai thác
Trong mấy năm gần đây, Nhật Bản bắt đầu coi trọng phát triển du lịchnhằm thu hút khách quốc tế, biến Nhật Bản không chỉ là một thị trường gửikhách lớn mà còn là một điểm đến du lịch thông dụng của du khách quốc tế
Để thu hút khách du lịch quốc tế, năm 1999, Nhật Bản đã đề ra chínhsách xúc tiến du lịch quốc tế Chính sách này bao gồm những nội dung sau:
1 Kế hoạch chào đón thế kỷ 21 ( Welcome Plan 21)
Kế hoạch này nhằm mục tiêu tăng gấp đôi lượng khách đến, tăng tổnglượng khách quốc tế đến Nhật Bản đến năm 2005 đạt 7 triệu lượt và đến 2007đạt 8 triệu lượt; Tạo ra hình ảnh của Nhật Bản như một điểm đến du lịch đượcchọn; giảm chi phí đi lại và tạo điều kiện thuận lợi cho khách đi du lịch ởNhật bản; Đa dạng hoá các điểm đến du lịch của nước ngoài từ các thành phốlớn như Tokyo và Osaka tới một loạt các địa phương khác của Nhật Bản
Luật xúc tiến du lịch quốc tế inbound thông qua việc đa dạng hoá cácđiểm đến ở Nhật Bản Luật thực thi 3 khía cạnh cơ bản như sau: Thiết kế vàxúc tiến “ các khu chuyên đề du lịch quốc tế” được mong đợi cung cấp nhữngyếu tố hấp dẫn nhất ở Nhật Bản; giảm chi phí du lịch cho du khách nước
Trang 4ngoài bằng việc phát hành các thẻ giao thông không hạn chế và thẻ chào đón
“Welcome Cards” trong đó có giảm giá tại các cơ sở du lịch; nâng cao lònghiếu khách đối với du khách nước ngoài bằng việc cấp giấy phép thông dịchviên và hướng dẫn viên cho các khu vực địa phương cụ thể và xây dựng cáctrung tâm thông tin hiệu quả hơn; áp dụng chính sách thuế ưu đãi cho việcxây dựng hoặc nâng cấp các phương tiện lưu trú
Nhiều khu vực ở Nhật Bản có nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên,lịch sử và văn hoá phong phú, rất thích hợp cho việc thu hút khách du lịchquốc tế “ Các khu chuyên đề du lịch quốc tế “ đã được thiết lập để nhấnmạnh tiềm năng này của một số khu vực bằng việc xây dựng các tuyến thamquan dưới chủ đề chung Hiện nay, ở Nhật Bản có 10 “Khu chuyên đề du lịchquốc tế”
Để giảm chi phí du lịch ở Nhật Bản, thẻ giảm giá “Welcome Cards” đãđược giới thiệu ở 8 thành phố lớn Bằng việc xuất trình thẻ này, du kháchnước ngoài có thể nhận được giảm giá phí vào cửa tại các cơ sở du lịch nhưbảo tàng, nhà hàng, cơ sở lưu trú và cửa hàng lưu niệm Các hãng hàng không
và hãng tàu hoả giành vé giảm giá cho du khách nước ngoài
2 Xúc tiến đăng cai các Hội nghị quốc tế:
Các thành phố lớn ở Nhật Bản nhận thấy hiệu quả đáng kể, cả về kinh
tế và văn hoá, của việc đăng cai các hội nghị quốc tế và đã phát triển cáctrung tâm hội nghị hiện đại Với nhận thức rằng hội nghị là một trong nhữngnhân tố chủ yếu làm tăng dòng chảy du khách, ngành du lịch Nhật bản chútrọng thu hút đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế Một “ Thành phố dulịch và hội nghị quốc tế” được Chính phủ chỉ định có thể được hưởng nhữngđặc ân với điều kiện Chính phủ ủng hộ các hoạt động marketing và quảng cáo
Trang 5ở nước ngoài cũng như tài trợ cho các hội nghị quốc tế được tổ chức ở địaphương.
Cơ quan Du lịch quốc gia Nhật Bản (JNTO) là cơ quan đảm nhiệmcông tác marketing và xúc tiến du lịch của Nhật Bản Thực thi chính sách xúctiến với chủ đề “Chào đón thế kỷ 21”, các hoạt động marketing của JNTOđược tập trung vào việc tạo ra một hình ảnh mới cho điểm đến Nhật Bản;marketing ở nước ngoài về “các khu chuyên đề du lịch quốc tế”; cải thiệnmạng lưới thông tin du lịch Các hoạt động marketing của JNTO bao gồm:các chiến dịch marketing du lịch Nhật Bản ở châu á và các thị trường quantrọng khác; Trợ giúp báo chí được thực hiện để cho các nhà báo du lịch,phóng viên ảnh, phóng viên truyền hình nổi tiếng làm quen với một loạt cácđiểm hấp dẫn du lịch ở Nhật Bản bằng cách cung cấp tài chính hoặc trợ giúpxuất bản cho họ; Liên hệ xuất bản thường xuyên và đóng góp các bài viết vàảnh cho báo chí; tổ chức các cuộc họp báo Tổ chức các hội thảo, triển lãm,hội chợ thương mại du lịch, các tour làm quen cho các hãng lữ hành JNTOgiúp các hãng điều hành tour xây dựng các tour tới Nhật Bản bằng cách tổchức các tour làm quen FAMTRIP cho họ làm quen với các điểm hấp dẫn dulịch của Nhật bản; JNTO chú trọng tới xúc tiến du lịch vùng Nhật Bản cómột số vùng rộng lớn, mỗi vùng có điều kiện địa hình và văn hoá điển hình,tạo thành một điểm đến du lịch thống nhất Chỉ dẫn xúc tiến chung với sựtham dự của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp tư nhân để quảng
bá Nhật Bản là phương tiện xúc tiến du lịch hiệu quả Loại hoạt động nàyliên quan đến hội chợ triển lãm, hội thảo lữ hành và tour làm quen cho cáchãng lữ hành và các nhà báo Tham dự Hội chợ và Triển lãm du lịch ở nướcngoài
Để thúc đẩy công tác xúc tiến du lịch, JNTO cung cấp các thông tin dulịch qua 13 văn phòng đại diện của JNTO ở nước ngoài, qua trang web “JapanTravel Updates”; sản xuất các tài liệu xúc tiến như ấn phẩm in, các phương
Trang 6tiện nghe nhìn, ảnh; tổ chức các dịch vụ tiếp đón như thiết lập các trung tâmthông tin du lịch, dịch vụ Teletourist, mạng lưới văn phòng thông tin du lịch
“i”, giải quyết vấn đề ngôn ngữ như điện thoại du lịch Nhật Bản, các cuốn sổtay ngôn ngữ của khách du lịch, bảng hiệu chỉ đường và các bảng thông tin dulịch, chương trình hướng dẫn thiện chí, kỳ thi quốc gia cho hướng dẫn viên vàthông dịch viên; tổ chức hệ thống thăm nhà dân, giảm chi phí du lịch(Directory of Welcome Inns, Japan Railpass)
Để xúc tiến du lịch hội nghị và khích lệ, JNTO đã thành lập một Cụchội nghị chịu trách nhiệm về công tác này Cục này có 2 Vụ là Vụ marketingquốc tế chịu trách nhiệm về markeing ở nước ngoài và Vụ trợ giúp và xúctiến tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tại Nhật Bản Các thị trườngchính là Bắc Mỹ, Châu Âu và Hàn Quốc là những nơi JNTO có một Vụtrưởng hội nghị chịu trách nhiệm bao quát mỗi khu vực Nhiệm vụ của cơquan trên là nghiên cứu marketing, các hoạt động xúc tiến và bán, quan hệ vớicác hiệp hội quốc tế liên quan đến hội nghị, xúc tiến nước ngoài bằng cáchtham dự các hội chợ kinh doanh ngành hội nghị, các hội thảo về Hội nghị, cáctour nghiên cứu về hội nghị ở Nhật Bản, quảng cáo, sản xuất các tài liệu xúctiến và quan hệ công chúng, quảng cáo trên internet; Tổ chức các chươngtrình đào tạo; Trợ giúp tổ chức các Hội nghị, hội thảo, tư vấn; Trợ giúp tàichính
Nhằm biến Nhật Bản thành một trong những trung tâm du lịch trongkhu vực, năm 2003, Nhật Bản quyết định tổ chức Năm Du lịch Nhật Bản vàthực hiện thông qua Chiến dịch Visit Japan Khẩu hiệu quảng bá cho Chiếndịch Visit Japan là “Yokoso! JAPAN” nghĩa là “Hãy đến với Nhật Bản” Đểtạo dựng hình ảnh của Nhật bản đối với khách du lịch quốc tế, Nhật Bản sửdụng điều tra thị trường để thiết lập hình ảnh mới và chủ đề mới cho du lịch ởNhật Bản, tạo ra một chủ đề du lịch để phù hợp với nhu cầu của mỗi thịtrường Tiếp đến, Nhật Bản tập trung phát triển quan hệ công chúng và thông
Trang 7tin về sự hấp dẫn các hoạt động du lịch thông qua các phương tiện truyềnthông đại chúng như qua các hãng truyền thông quốc tế, Internet, thực hiệntrao đổi văn hoá qua các sự kiện ở nước ngoài để giới thiệu nền văn hoá NhậtBản; Cung cấp thông tin du lịch cho các nhà báo nước ngoài, các hãng lữhành, các nhà văn, các nhà giải trí trên TV, các nhà xuất bản tạp chí du lịch vàmời họ tới thăm Nhật Bản; Tạo ra quan hệ chặt chẽ qua mạng lưới thông tinvới các cơ quan, tổ chức ở nước ngoài, các chính quyền địa phương và cáchiệp hội liên quan; Xúc tiến các trang đa ngôn ngữ trên website và cải thiệnchất lượng nội dung và tiếp cận Xây dựng và phân phối các brochure đa ngônngữ; Thành lập các tổ chức như Câu lạc bộ cười Nhật Bản với những ngườinước ngoài đã sống ở Nhật bản và chia xẻ thông tin với họ; Hướng dẫn và đàotạo các chuyên gia du lịch Chiến dịch Visit Japan nhằm vào các thị trườngtrọng điểm như Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Kông, Anh,Đức và Pháp Hàng loạt các dự án kết hợp được thực hiện nhằm vào các thịtrường này, chẳng hạn Thủ tướng Koizzumi và Bộ trưởng Đất đai, Hạ tầng vàGiao thông vận tải (người chịu trách nhiệm về xúc tiến du lịch) đã xuất hiệntrong các cuốn film video và mời khách du lịch từ các thị trường trên tới NhậtBản.
Năm 2002, khi World Cup được tổ chức ở Nhật Bản, Thủ tướng Nhật
đã phát biểu rằng Nhật Bản sẽ cam kết tăng du lịch inbound Từ đó, xúc tiến
du lịch trở thành cột trụ của chính sách của Nhật Trong diễn văn phát biểunăm 2003, Thủ tướng Koizumi đã đặt mục tiêu thu hút 10 triệu khách du lịchnước ngoài tới tham quan du lịch Nhật Bản vào năm 2010 Thủ tướng Nhật đãthành lập Hội đồng xúc tiến du lịch là cơ quan đã xuất bản 1 báo cáo về chiếnlược cơ bản cho xúc tiến du lịch Dựa trên báo cáo này, Chính phủ Nhật đãtriệu tập tất cả các bộ trưởng trong nội các tới dự Hội nghị của các Bộ trưởng
về xúc tiến du lịch mà đã xây thông qua Kế hoạch hành động xúc tiến du lịch
Kế hoạch bao gồm 243 biện pháp chính sách của các bộ ngành liên quan, hiệnchịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng phụ trách xúc tiến du lịch Tháng 5/2004, Cơ
Trang 8quan chiến lược xúc tiến du lịch đã được thành lập trực thuộc Hội nghị Bộtrưởng nội các nhằm hợp tác cùng với linh vực tư nhân Tháng 11 năm 2004,
Cơ quan này đã đưa ra đề xuất với những bước cụ thể hơn được thực hiện bởilĩnh vực tư nhân và các vùng địa phương, bao gồm đề xuất tổ chức Expo 2005Aichi ở Nhật Bản
Nhờ những nỗ lực trên, năm 2004, Nhật Bản thu hút được 6,14 triệulượt khách quốc tế, tăng 17,8% so với năm 2003 và 6 tháng đầu năm 2005,thu hút được 3,26 triệu lượt khách quốc tế, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm
2004 Với sự quyết tâm của Chính phủ Nhật Bản và sự nỗ lực thực hiện chiếnlược xúc tiến quảng bá du lịch của Bộ đất đai hạ tầng và giao thông vận tảiNhật Bản, JNTO và các bộ ngành hữu quan, Nhật Bản hoàn toàn có thể đạtđược mục tiêu 10 triệu khách quốc tế vào năm 2010
Là thị trường gửi khách lớn, sự dao động về lượng khách của thịtrường Nhật có ảnh hưởng lớn tới các thị trường nhận khách, thể hiện rõtrong những giai đoạn thị trường này chững lại hoặc giảm do các yếu tố kinh
tế chính trị như thời điểm sau sự kiện 11/9 hoặc khủng bố tại Ba li, Sars…
Trang 9Tháp dân số Nhật cho thấy có hai thế hệ lớn trong dân số là nhóm dân
số trong khoảng 50-59 tuổi do sự bùng nổ dân số lần thứ nhất và trongkhoảng 25-39 do sự bùng nổ dân số lần thứ hai tạo ra những đặc điểm đi dulịch của khách Nhật ở trong các nhóm tuổi này lớn Cũng do sự phát triểnkinh tế xã hội Nhật Bản mà lượng khách nữ Nhật đi nước ngoài lớn hơn sovới các thị trường khác
Theo các nghiên cứu của Trung tâm Nhật Bản – ASEAN thì các phânđoạn thị trường khách lớn nhất đi outbound là:
- Khách trung niên là nam giới tuổi trung bình từ 45-59 chiếm 16,7%
- Khách trung niên nữ giới tuổi 45-59 chiếm 14,4%
- Khách nam giới đứng tuổi (trên 60) chiếm 11,9%
- Khách nữ độc thân tuổi từ 15-29 chiếm 7,6%
- Khách nữ có gia đình và công việc tuổi từ 15-44 chiếm 6,2%
Trong số này phân đoạn 4 có mục đích đi du lịch cao nhất, tới 81% là
đi du lịch thuần túy, sau đó đến phân đoạn 2, phân đoạn 3, và 5 Phân đoạn 1
có lượng khách đi du lịch do mục đích công vụ lớn, và một phần thuộc phânđoạn 3 Khách thuộc phân đoạn 5 có một lượng khoảng 10% đi du lịch thămthân, 15% đi du lịch tuần trăng mật
Khách du lịch Nhật Bản đi du lịch Đông Nam Á có thời gian lưu trútrong khoảng 5-7 ngày là nhiều nhất
Các hoạt động du lịch khách Nhật ưa thích tại Đông Nam Á: thămquan cảnh quan thiên nhiên, du lịch mua sắm, thăm quan di tích lịch sử,thưởng thức ẩm thực địa phương, nghỉ dưỡng
Theo từng phân đoạn quan trọng của thị trường thì các hoạt động được
ưa thích lại có những đặc điểm khách hơn Khách nữ độc thân thích hoạt
Trang 10động mua sắm và ẩm thực cao hơn nhiều so với các thị trường khác, ngoài racòn có thích thăm quan bảo tàng rất nhiều, khác hẳn so với các thị trườngkhác Hoạt động mua sắm được các thị trường hưởng ứng đông đảo, kể cảnam và nữ, chỉ có phân đoạn khách đứng tuổi ít sử dụng hơn Khách trungniên nữ và khách nam đứng tuổi lại có sở thích gần hơn là thích thăm thú ditích lịch sử và nghỉ dưỡng nhiều hơn các thị phần khác
Nghiên cứu các phương thức khách đặt chuyến du lịch cho thấy cácphân đoạn thị trường khách nhau có các phương thức khác nhau Giới trẻ,khách nữ độc thân và nữ trẻ có gia đình sử dụng Internet như phương thứchiện đại trong mua tour du lịch nhiều, xu hướng này có hướng phát triển cao.Khách nữ có gia đình và chạc trung niên cũng dựa vào hãng lữ hành nhiềuhơn các thị phần khách khi tổ chức chuyến du lịch Trong khi đó, thị phầnkhách nam đứng tuổi thì tin tưởng chính vào hãng lữ hành và hãng hàngkhông, thể hiện sự ít năng động tự tìm hiểu thông tin và tự đặt chuyến hơncác thị phần khác
Một số đặc điểm và sở thích khác của khách Nhật:
- Khách Nhật thích nghỉ ngơi ở một, hai nước hơn là tận dụng đi thật
nhiều trong một kỳ nghỉ (71,5%)
- Đi lâu hơn mặc dù đi ít hơn là đi liên tục những chuyến ngắn (64,5%)
- Mỗi lần đi một nước hơn là đi lại những điểm đã đi (70,9%)
- ở tại khách sạn nào có đủ các dịch vụ cần thiết (59,3%) hơn là ở tại
khách sạn sang trọng, uy tín và đắt (32,1%)
- Ăn uống tại các địa điểm mà người dân địa phương thường ăn (74,9%)
- Đi trong nhóm càng ít người càng tốt (71,1%)
- Thăm những điểm du lịch nổi tiếng (63,6%) hơn là tới những nơi ít
người từng tới thăm quan (24%)
Trang 11- Tìm một chương trình tour chọn gói phù hợp (73,4%) hơn là tự tìm đặt
khách sạn, phương tiện vận chuyển
- Mua sắm nhiều, kể cả quà lưu niệm cho gia đình bạn bè (50,6%) nhiều
hơn là mua chủ yếu cho bản thân (41,6%)
Các vấn đề trở ngại chính khách gặp phải khi đi du lịch nước ngoài là:
sự an toàn, các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, sức khỏe, không quen đồ ănthức uống địa phương, tốn kém
Với trên 300.000 du khách đến Việt Nam nêu trên thì Nhật Bản thực sự
là một thị trường đầy tiềm năng Điều đáng khích lệ là người Nhật đã xếpViệt Nam ở vị trí cao trong các điểm đến du lịch được ưa chuộng nhất bởi:
- Có vị trí địa lý gần nước Nhật Đất nước Mặt trời mọc là một quốcđảo nên không có đường biên giới trên bộ, giao thông với bên ngoài chỉ quađường biển và đường hàng không Vì vậy du khách Nhật đặc biệt coi trọngvấn đề an toàn giao thông Hiện nay, Hãng hàng không quốc gia Việt Nam vàhãng hàng không Nhật Japan Airlines đã mở các đường bay thẳng từ Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh đến các thành phố lớn của Nhật Bản như: Tokyo,Osaka, Fukuoka, Kanagawa, Aichi, Chiba, Saitama, Hyogo, Shizouka, Kyoto,Hokaido, Ibaraki, Hiroshima, Gifu, Nara, Nagano Du lịch Việt Nam cần đẩymạnh hợp tác với các hãng hàng không này để tăng tần suốt các chuyến bay
và phối hợp tuyên truyền quảng bá
- Chi phí khi đi du lịch và mua sắm rẻ, đặc biệt đồ gốm sứ, sơn mài vàmây tre đan được người Nhật rất ưa chuộng Ngành du lịch nên tập trung xâydựng hình ảnh quảng bá và nâng cao chất lượng tour tuyến, dịch vụ du lịch,
đồ thủ công mỹ nghệ, đồ lưu niệm