Một phần trong số các HSyếu kém đó là do các em có rối nhiễu hành vi học tập.Vào thời điểm hiệnnay, các nhà nghiên cứu cho thấy trên thực tế có những trẻ bộc lộ những khókhăn nghiêm trọn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển, ý thức của trẻ được hình thành theo các giaiđoạn với các mức độ phát triển từ thấp đến cao và được biểu hiện ra bằngnhững hành vi, cử chỉ, lời nói, trong hoạt động học tập, vui chơi hàngngày Trẻ được nhà trường, gia đình truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kinhnghiệm sống, để định hướng cho sự phát triển nhân cách, nhằm phát triểnmột cách đầy đủ nhất cả về vật chất lẫn tinh thần Hay nói cách khác làchuẩn bị những điều kiện cần và đủ cho sự phát triển của những chủ nhântương lai của đất nước Trong quá trình phát triển đó, nhà trường luôn gắnvới các giai đoạn phát triển của trẻ và yếu tố đóng vai trò chủ đạo đối với sựphát triển này Nhà trường là nơi trẻ tham gia các hoạt động học tập, hoạtđộng giáo dục khác để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện
Tuy nhiên, dưới sự giáo dục của nhà trường có những học sinh (HS)
có sự phát triển bị lệch khỏi mục tiêu giáo dục Một phần trong số các HSyếu kém đó là do các em có rối nhiễu hành vi học tập.Vào thời điểm hiệnnay, các nhà nghiên cứu cho thấy trên thực tế có những trẻ bộc lộ những khókhăn nghiêm trọng về khả năng viết, tập đọc, và hoạt động tính toán, mặc dùtrí tuệ của những trẻ này ở mức độ bình thường và không gặp các khó khănlớn về các kĩ năng sống trong nhà trường và ngoài xã hội Các nghiên cứugọi trẻ này là trẻ rối nhiễu hành vi học tập ( khuyết tật học tập - learningdisabilities) Trẻ khó học không hiện diện trước chúng ta với những khuyếttật, khó khăn hay thiệt thòi, bất lợi “nhỡn tiền” như trẻ khiếm thị, khiếmthính Trẻ có sức khỏe bình thường, có thế tham gia các trò chơi với các trẻkhác trong nhà trường hay ngoài xã hội và không có vấn đề gì về khả năngnói, thính giác, thị giác Do đó đại đa số mọi người đều cho rằng trẻ không
có khuyết tật nào cả và không cần bất kỳ sự trợ giúp nào Đa số thường nhầmlẫn trẻ khó học với trẻ chậm phát triển trí tuệ hoặc coi là thiếu ý thức, thiếu
Trang 2động cơ học tập,… Đó là nguyên nhân mà cha mẹ, thầy cô la mắng bằngnhững ngôn từ như: chậm chạp, lười biếng, bướng bỉnh, ngu ngốc,… thậmchí vô dụng
Theo số liệu từ Hiệp hội quốc gia về trẻ khó học của Hoa Kỳ thì ở Mỹ
có khoảng 10% trẻ khó học Nghiên cứu dịch tễ tại các trường học ở ViệtNam cho thấy, gần 9% HS tiểu học mắc chứng khó học Ở Việt Nam hiệnnay đã triển khai một số đề tài dự án để sàng lọc, phát hiện, giúp đỡ trẻ nhưthành phố (TP) Hồ Chí Minh, Quảng Trị,… Khó khăn trong học tập nókhông chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em HS có rốinhiễu mà còn ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của các em Đã không ít họcsinh mắc chứng khó học do không được can thiệp đúng cách đã phải bỏ học,gây ảnh hưởng tới gia đình và xã hội Từ góc độ tâm lý học, những trẻ khóhọc rất cần được sự hỗ trợ tâm lý để các em có thể tiếp thu được các kiếnthức phổ thông một cách hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, trong những năm trở lại đây các vấn đề về chăm sóc sứckhỏe và đời sống tinh thần cho con người ngày càng được xã hội quan tâm
và chú trọng nhiều hơn Đặc biệt là đời sống tinh thần của lứa tuổi HS đểđảm bảo cho các em có sự phát triển tốt nhất
Tại trường trung học cơ sở (THCS) Nông Tiến – TP Tuyên Quang –tỉnh Tuyên Quang, có một số trường hợp HS có biểu hiện của chứng khóhọc, gây ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như các hoạt động khác trongđời sống của các em Song, nhà trường lại chưa có các chương trình cụ thể
để hỗ trợ các em Chính vì vậy, các khó khăn trong học tập của các em ngàycàng nghiêm trọng hơn Các em rất cần được sự hỗ trợ từ các nhà tâm lý
Nghiên cứu vấn đề trẻ khó học nhằm giúp các em HS có khó khăn cóđiều kiện tiếp thu các kiến thức phổ thông cần thiết cho cuộc sống sau này.Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề này, đó là lý do tôi chọn đề tài
nghiên cứu “ Đặc điểm tâm lý của trẻ khó học ở HS lớp 6 tại trường THCS Nông Tiến – TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang”.
Trang 33 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
Đặc điểm tâm lý của trẻ khó học ở HS lớp 6 trường THCS Nông Tiến– TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
b. Khách thể nghiên cứu:
HS lớp 6 trường THCS Nông Tiến – TP Tuyên Quang – tỉnh TuyênQuang
2 Phạm vi nghiên cứu:
a. Về nội dung nghiên cứu:
Đặc điểm tâm lý của trẻ khó học ở HS lớp 6 tại trường THCS NôngTiến – TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
d. Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THCS Nông Tiến – TP TuyênQuang – tỉnh Tuyên Quang
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 4Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề trẻ khó học, từ đó làm cơ sở lýluận cần thiết cho việc thực hiện đề tài.
Mô tả đặc điểm tâm lý một trường hợp trẻ khó học học là HS lớp 6 tạitrường THCS Nông Tiến – TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
Đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ trẻ khó học ở HS lớp 6 tạitrường THCS Nông Tiến – TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
4 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sưu tầm các sách báo, tài liệu, thông tin và vấn đề có liên quan đếntrẻ khó học Tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát, xây dựng thành cơ sở
lý luận của đề tài
6.2 Phương pháp quan sát:
Quan sát tổng thể về lối sống, học tập, lao động trong phạm vi nhàtrường của HS lớp 6 tại trường THCS Nông Tiến – TP Tuyên Quang – tỉnhTuyên Quang
Quan sát các biểu hiện của trẻ khó học ở một HS lớp 6 cụ thể nhằmthu thập những thông tin cần thiết để đánh giá thực trạng trẻ khó học và để
mô tả đặc điểm tâm lý trẻ khó học ở HS lớp 6 tại trường THCS Nông Tiến –
TP Tuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
6.3 Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn sâu phụ huynh (PH), giáo viên (GV), HS có chứng khóhọc, thu thập những thông tin cần thiết của vấn đề nghiên cứu để phục vụcho quá trình đánh giá chẩn đoán, mô tả
6.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia:
Trang 5Xin ý kiến chuyên gia về vấn đề xây dựng đề cương, sử dụng test đánhgiá, xây dụng kế hoạch quan sát, trong toàn bộ quá trình nghiên cứu.
6.5 Phương pháp test:
Sử dụng trắc nghiệm cho trẻ, và test sàng lọc dành cho giáo viên
6.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp:
Mô tả đặc điểm tâm lý HS có rối nhiễu hành vi học tập
6.7 Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu thu thập được trong quátrình nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TRẺ KHÓ HỌC
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, từ năm 1896, Morgan một bác sĩ người Anh đã công bốmột mô tả cụ thể rối loạn học tập trong một báo cáo cho Tạp chí Y khoaAnh có tiêu đề "Lời Mù bẩm sinh" Ông đã mô tả trường hợp của một cậu bé
14 tuổi vẫn chưa biết đọc, nhưng cho thấy trí thông minh bình thường và nóichung là chuyên nghiệp tại các hoạt động khác điển hình của trẻ em trong độtuổi đó Ông mô tả những trường hợp lâm sàng đầu tiên và ông chia các rốiloạn phát triển thành nhiều nhóm nhỏ
Trong những năm 1890 và đầu những năm 1900, James Hinshelwood,một bác sĩ nhãn khoa người Anh, xuất bản một loạt các bài báo trong các tạpchí y khoa mô tả các trường hợp tương tự mù từ bẩm sinh, mà ông địnhnghĩa là "một khuyết tật bẩm sinh xảy ra ở trẻ em với bộ não bình thường vàkhông bị hư hại nếu không được đặc trưng bởi một khó khăn trong học tập
để đọc.” Trong Mù cuốn sách 1917, từ bẩm sinh của mình, Hinshelwood
khẳng định rằng khuyết tật chính là trong bộ nhớ trực quan cho những chữ
và từ, và mô tả triệu chứng bao gồm cả đảo chiều lá thư, và những khó khănvới chính tả và đọc hiểu Ông cho rằng những khó khăn trong học tập đó là
do sự rối loạn nào đó của quá trình trí tuệ trong não bộ gây ra
Sau này vào năm 1940 hai bác sỹ là Stramss và Lehtinen đã mô tả vềmột nhóm trẻ có vấn đề về học tập và rối loạn hành vi mà ông nghĩ rằngchúng có rối loạn nhẹ chức năng nào đó của não bộ (Mild Dysfunction OfThe Brain )
Đến thập niêm 1950, nghiên cứu của Cruickshank của nhóm kém nhậnthức, kém tập trung, rối loạn điều hòa vận động và hay bùng nổ và thấy có
Trang 7chung mô tả rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain Dysfuction)nhưng không có bằng chứng nào về thần kinh.
Trước thập niên 1960, xuất hiện hai khái niệm tổn thương não chứcnăng và kém trưởng thành Trong năm 1960, “rối loạn chức năng tối thiểucủa não” được đặt ra để mô tả những trẻ có khó khăn về sự phát triển hành vi
và phối hợp vận động hay hành động nói
Trong thập niên 1970, người ta tập trung vào sự kém tập trung ở trẻnghĩ có tổn thương chức năng não tối thiểu Gần đây, cộng hưởng từ vàkhám tâm lý thần kinh và trắc nghiệm ngôn ngữ học soi sáng cơ chế hoạtđộng của não bộ về các điều kiện này
Ở Việt Nam, chỉ có một số đề tài nghiên cứu vấn đề về trẻ khó học.Lần đầu tiên trẻ khó học được đề cập đến vào năm 1993 Đề tài cấp bộ “ Đặcđiểm sinh lý trẻ chưa chín muồi tới trường” của viện Tâm lý học sinh lứatuổi thuộc Viện khoa học giáo dục Việt Nam do GS Trần Trọng Thủy làmchủ nhiệm đã phát hiện ra loại trẻ này trong các HS tiểu học đầu cấp 1 vàbước đầu phân tích nguyên nhân và đề xuất phương pháp dạy học chỉnh trịcho HS này
Từ nghiên cứu tổng quan về vấn đề trẻ khó học chúng ta thấy, ở nướcngoài trẻ khó học được quan tâm tới từ rất lâu và việc chuẩn đoán cũng nhưcan thiệp đã trở thành lĩnh vực có nhiều chuyên gia Ở Việt Nam trẻ khó họcchưa được quan tâm nhiều vì vậy nhóm trẻ này đang phải chịu nhiều thiệtthòi
1.2 Khái niệm trẻ khó học
Trẻ khó học có nhiều thuật ngữ khác nhau như: rối loạn đặc hiệu vềphát triển các kỹ năng ở trường (Specific Divelopmental Disorder OfScholastic Skills - SDSS/ICD - 10), rối loạn học tập (Learning Disorder/DSM –IV), khác biệt học tập (Learning Difference), khó khăn học tập (Learning
Trang 8Difficulty) Nhưng hiện nay thuật ngữ trẻ khó học (learning Disabilities –LD) đã trở thành thuật ngữ sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Trẻ khó học là những trẻ gặp khó khăn về khả năng suy nghĩ, nghe,nói, đọc, viết, đánh vần, làm toán, mặc dù trí tuệ và kỹ năng sống của trẻ vẫnbình thường, nguyên nhân gây ra không phải do các khiếm khuyết như:khiếm thị, khiếm thính,khiếm khuyết vận động, chậm phát triển tâm thần, rốiloạn cảm xúc, bất lợi về môi trường văn hóa và kinh tế mà do những tổnthương bên trong não gây ra.Trí tuệ của trẻ khó học ở mức trung bình hoặctrên trung bình một chút ít khi chúng ta dùng trắc nghiệm trí tuệ để khảo sát.Tuy nhiên HS này không có khó khăn lớn về các kỹ năng sống trong nhàtrường và ngoài xã hội Trẻ có sức khỏe bình thường có thể tham gia các tròchơi với các trẻ khác trong trường, hàng xóm, láng giềng hay ngoài xã hội.Khả năng giao tiếp với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh giốngnhư trẻ bình thường đôi khi mọi người còn cho rằng trẻ này “láu cá”
Các khiếm khuyết như: khiếm thị, khiếm thính, khiếm khuyết vậnđộng, chậm phát triển tâm thần, rối loạn cảm xúc cũng gây khó khăn tronghọc tập Những trẻ này mọi người dễ dàng nhận thấy thông qua các biểu hiệnbên ngoài và khi quan sát lâm sàng chúng ta có thể phát hiện ra và can thiệpsớm ngay nếu có Còn đối với trẻ khó học, những biểu hiện khiếm khuyết nókhông hiện rõ ràng như những trẻ trên mà nó là “khuyết tật ẩn tàng” trongchính bản thân đứa trẻ Chỉ khi nó có những biểu hiện đầy đủ và rõ ràng nhấtsau một thời gian giảng dạy hoặc theo sát thì mới có thể phát hiện được Do
đó, trẻ luôn chịu những thiệt thòi về tâm lý cũng như thể chất Về tâm lý, ởtrên lớp trẻ không theo kịp bạn bè, GV không biết nên trách mắng trẻ Vì vậy
ở trường trẻ nảy sinh tâm lý tự ti, thu mình lại Ở nhà, phụ huynh thấy conmình thua kém bạn bè, kết quả học tập kém nên thường chửi mắng, tráchphạt, ép học hoặc có thể đánh Nhưng mọi người đâu biết được trẻ không thểhọc được nếu không có phương pháp (PP) phù hợp
Trang 9Nhưng để xác định một trẻ có phải là trẻ khó học hay không khôngphải là một điều dễ dàng Bởi vì trẻ khó học nằm ở trạng thái ranh giới giữatrẻ bình thường và trẻ không bình thường nhưng không phải là trẻ chậm pháttriển trí tuệ Do đó, trẻ khó học thường bị nhầm lẫn với trẻ chậm phát triển.
Trẻ khó học đều có trí tuệ ở mức bình thường hoặc cao hơn chút ít,nhưng chúng gặp rắc rối trong việc xử lý các thông tin đi qua các cơ quan củachúng mặc dù các cơ quan của trẻ biểu hiện bên ngoài như trẻ bình thường
Bởi vậy, trẻ thường gặp khó khăn trong nền giáo dục chung so vớinhững trẻ khác mà nguyên nhân gây ra không phải bởi một yếu tố mà cónhiều yếu tố không rõ ràng Mà một trong những nguyên nhân là do các rốiloạn ảnh hưởng đến khả năng thu nhận và xử lý thông tin của não bộ Quátrình xử lý thông tin của não bộ sử dụng để học thường 4 yếu tố: tiếp nhận,
tổ hợp, tích trữ và áp dụng
Khâu tiếp nhận: theo phần trăm thông qua các cơ quan như thị giác,thính giác Khó khăn với cảm giác thị giác có thể là nguyên nhân dẫn đếnvấn đề nhìn nhận hình dạng, kích thước, vị trí của các kiến thức nhìn thấy.Trẻ khó học gặp vấn đề thị giác ở chỗ thứ tự các chữ cái hoặc khó khăn vớithính giác khi nghe GV giảng bài mà không kịp xử lý các thông tin mà GVcung cấp trong thời gian cùng lúc
Khâu phối hợp: khi các thông tin được tiếp nhận qua các giác quan thì
nó trở thành nguồn dữ liệu cảm giác, tri giác, được hiểu theo một cách riêngcủa trẻ đều được giải mã, được phân loại ở địa điểm liên tiếp hoặc liên quantới một quá trình học tập trước đó Trẻ khó học không thể nhớ những thôngtin liên tiếp như những ngày trong tuần, có thể hiểu được khái niệm nhưngkhông thể tổng quát nó tới vùng khác trong công việc học tập hoặc có thểhọc được nhưng không thể đặt các sự kiện đó cùng nhau nhìn như một bứctranh lớn
Trang 10Khâu tích trữ hay ghi nhớ: ghi nhớ các vấn đề có thể xảy ra trong thờigian ngắn.
Khâu truyền thông tin: Khâu cuối cùng là bộ não truyền thông tin trởlại hệ thần kinh và cơ thể Bộ não sẽ gửi thông tin ra ngoài thông qua từ(ngôn ngữ, lời nói) hoặc thông qua các hoạt động của cơ thể như viết, vẽ, vàcác cử chỉ khác Việc không có khả năng tiếp thu kiến thức bằng ngôn ngữ,dựa trên ngôn ngữ sẽ gây trở ngại đến khả năng đánh vần, đọc, viết ở từng
độ tuổi tương ứng của trẻ Tuy nhiên, những khuyết tật này không làm suygiảm trí thông minh của trẻ Thường trí tuệ của trẻ ở mức trung bình trở lên
Một số dấu hiệu của trẻ khó học gồm có:
- Có biểu hiện chênh lệch giữa trí thông minh thực tế (kỹ năng sống)
và trí thông minh học tập (kết quả học tập tại trường) Các em không gặpkhó khăn lớn đối với mối quan hệ bạn bè, thầy cô hay giải quyết các tìnhhuống, nhiệm vụ trong cuộc sống hằng ngày, nhưng kết quả học tập của các
em rất kém
- HS gặp khó khăn trong khi học đánh vần, đọc, viết chính tả, hoặcthực hiện các phép tính toán Kết quả học tập môn toán và môn Tiếng Việtcủa các em thấp hơn hẳn so với các em khác trong lớp rất nhiều
- HS học kém không phải do các nguyên nhân do lười biếng hay bịcác khuyết tật như khiếm thị, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ, khuyết tậtvận động, mắc các rối loạn cảm xúc hoặc ít có cơ hội học tập
- HS thường thiếu tự tin, ít hứng thú hoặc chú ý tới các hoạt độnghọc tập
Các trẻ này không thể được cứu chữa và lành nhưng nếu được pháthiện sớm và với sự nuôi dưỡng, dạy dỗ đúng trẻ này có thể đạt được thànhcông trong học tập và tiếp tục thành công trong cuộc sống sau này
Trang 111.3 Một số vấn đề về trẻ khó
1.3.1 Đặc điểm chung trẻ khó học
Mỗi một trẻ khó học có một đặc điểm riêng đặc trưng Một học sinh bịhạn chế, khó khăn trong lĩnh vực này nhưng lại có khả năng trong lĩnh vựckhác Khi các đặc điểm đó tác động qua lại lẫn nhau sẽ tạo nên những néttính cách riêng của từng học sinh Vì thế việc xác định đặc điểm biểu hiệncủa những trẻ khó học đòi hỏi cần phải có thời gian và công sức Trong thực
tế, có nhiều trường hợp trẻ có nhu cầu đặc biệt cũng có biểu hiện giống nhưtrẻ khó học như trẻ ADHD, ADD,PDD,
1.3.1.1 Đặc điểm về nhận thức
a Khả năng ghi nhớ
Dựa trên những đặc điểm của trí nhớ mà người ta phân biệt được HSkhó học với HS bình thường Những trẻ khó học khó nhớ được thông tinthông qua tri giác như thính giác và thị giác Những trẻ khó học thường cóbiểu hiện rối loạn trí nhớ mô thức – chuyên biệt được biểu hiện ở các khuyếttật về thao tác ghi nhớ và hồi tưởng, ví dụ như: HS thường quên cách đánhvần các từ, các cách làm toán cho dù GV hướng dẫn rất tỉ mỉ trong các tiếthọc trước và đã thực hiện thành thạo các thao tác kiến thức đó Trí nhớ củatrẻ thường có đặc điểm sau:
- Không chủ động sử dụng những thủ thuật ghi nhớ mà HS bìnhthương hay sử dụng Ví dụ: để học thuộc các thông tin của bài học, những
HS bình thường thường chủ động sử dụng các thủ thuật giúp mình ghi nhớtốt hơn như: xếp chúng thành một nhóm, đặt ra các điểm mốc, gắn chúng vớicác đặc điểm
- Thường gặp khó khăn trong ghi nhớ các sự kiện vì vốn từ của HS
bị hạn chế HS không nhớ được đầy đủ các thông tin đó khi nó chỉ đượccung cấp qua một kênh thông tin là nói Việc xử lý âm thanh chậm khôngcho phép HS khó học có đủ thời gian để nạp các thông tin vào bộ nhớ ngắn
Trang 12hạn Do đó những gì trình bày trước HS của GV sẽ mất đi không được lưugiữ trong bộ nhớ ngắn hạn và do đó không có nguyên liệu cho bộ nhớ dàihạn Trẻ khó học thường bị khiếm khuyết liên quan tới bộ nhớ ngôn ngữ vàquá trình giải mã, sắp xếp và gợi lại thông tin trước đó đã truyền tải tới HSthông qua kênh ngôn ngữ nói.
b Khả năng tập trung
Một HS bình thường hoạt động học tập đòi hỏi HSphải cố gắng duy trì
sự tham gia và nỗ lực hoàn thành một khối lượng bài tập nhất định vừa phải
di chuyển chú ý, tập trung từ đối tượng này sang đối tượng khác khi đượcyêu cầu Đối với trẻ khó học, trẻ này thường bị chi phối bởi nhiều kích thíchcủa tác nhân cũ nên rất khó di chuyển chú ý của mình sang một tác nhân kíchthích mới, thường xuyên bị thu hút bởi các kích thích phụ bên ngoài Ví dụnhư trẻ rất khó khăn trong việc vừa nghe GV giảng bài vừa nhìn GV viếtbảng
Sự bền chú ý của trẻ khó học thường kém hơn HS bình thường nên trẻkhó học chỉ tập trung được trong một thời gian ngắn, luôn lơ đãng hay bị chiphối bởi các hoạt động xung quanh Đây là nguyên nhân dẫn đến trẻ này khóthích nghi trong nhà trường và khó khăn trong việc tiếp thu và vận dụngnhững kỹ năng cơ bản trong học tập của các em
Như vậy, trẻ khó học mất tập trung chú ý theo các mệnh lệnh ngônngữ, cũng như hiện tượng dễ bị chi phối, di chuyển sự chú ý sang các kíchthích phụ ngoại lai Chính sự sao nhãng chú ý cao dẫn đến khó khăn trongviệc hình thành khả năng kiểm soát quá trình hình thành kỹ năng cơ bản
c Khả năng đọc
Mọi trẻ khó học có vấn đề về học tập ở các mức độ rất khác nhau Các
HS này có thể học kém ở một số môn học hay học kém tất cả các môn học.Những đặc điểm thể hiện rõ nhất trong quá trình học tập của HS này là
Trang 13thường gặp khó khăn trong những kỹ năng cơ bản như kỹ năng đọc, kỹ năngviết, ký năng tính toán.
- Hầu hết các trẻ khó học đều có kết quả học tập kém, điểm số thấp
so với các bạn trong lớp, đặc biệt là những môn mà trong đó hình thành cho
HS những kỹ năng học tập cơ bản như đọc, viết, tính toán
- Các kỹ năng học tập chuyên biệt của trẻ khó học có thể giảm sútnếu không được giáo dục trong môi trường phù hợp Điều này được thể hiệnrất rõ ở những trẻ khó học ở những năm cuối cấp tiểu học
- Trẻ khó học thường không có khả năng học các môn học sử dụngcác kỹ năng cơ bản như là kỹ năng đọc
Về khả năng đọc:
- Trong nhà trường tiểu học khả năng đọc là một kỹ năng cơ bản và
là kỹ năng quan trọng nhất trong học tập của học sinh tiểu học Nếu một em
HS nào đó đọc kém thì khó xếp loại trẻ đó ở học lực trung bình Thôngthường trẻ 6 tuổi mới đủ điều kiện về sinh lý và tâm lý để đọc Tuy nhiênnhững trẻ có biểu hiện đọc kém thường xuất hiện trước 5 tuổi Nhưng chođến 6 tuổi tức là khi trẻ bắt đầu đi học tiểu học thì người ta mới xác địnhđược đúng mức độ đọc kém của các em từ đọc kém đến mù đọc
Những trẻ khó học thì khả năng đọc của trẻ rất kém cho dù trẻ nhậnđược sự hướng dẫn giống như các bạn cùng lớp Những HS này thường gặpkhó khăn trong quá trình đọc bao gồm từ việc phân tích âm và vần, nhầm lẫnnhững âm đối xứng nhau như b – d, đọc chậm và sai nhiều so với các bạncùng lớp Nhưng những trẻ khó học lại có khả năng giải quyết các nhiệm vụ
về không gian, hình ảnh, động cơ không mang tính lời nói
Mặc dù trẻ có những khó khăn trong khi đọc nhưng vẫn có thể cảithiện thông qua chương trình giáo dục phù hợp và được bắt đầu từ sớm, cũngnhư duy trì hỗ trợ cá nhân thường xuyên
Trang 14Việc dạy viết, HS tiểu học thường được dạy từ lớp 1 Các hoạt độngchuẩn bị cho trẻ tập viết như hình vẽ, tô màu bắt chước được tiến hành đầutiên Sự hình thành các nét chữ, con số, từ được cũng cố qua tất cả các mônhọc trong quá trình học từ lớp 1 đến lơp 3 Sau lớp 3 HS viết Tập làm vănnhiều hơn Viết được Tập làm văn coi như trẻ có thể biểu đạt được ý kiếnriêng của mình Khi hướng dẫn, GV rất chú ý đến kỹ năng đặt câu, việc sửdụng ngữ pháp, và việc trình bày các ý tưởng của HS
Viết tay là một hoạt động phức tập đòi hỏi HS phải phối hợp, kết hợpnhiều cơ quan nó trở thành một chuỗi kỹ năng khác nhau Vì thế có nhiềuyếu tố khác nhau gây khó khăn trong quá trình viết: các vấn đề về cơ vậnđộng, các vấn đề về thị giác, trí nhớ hình ảnh kém Trẻ khó học gặp khó khăntrong kỹ năng viết được biểu hiện trong vài đặc điểm sau:
- Kém hơn hẳn các bạn cùng lớp về: tốc độ viết, cách trình bày bàiviết, bài viết thường sai nhiều lỗi chính tả, sai dấu chấm câu và lỗi ngữ pháp
- Rất hạn chế trong việc hoàn thành bài tập làm văn: HS mắc rối loạnnày thường sử dụng rất ít từ ngữ, từ ngữ không linh hoạt, không biết các thủthuật để diễn tả và trình bày bài văn một cách hiệu quả
e Khả năng tính toán
Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng tính toán Điều này thể hiệnrất rõ ở khả năng nhận dạng con số, tính toán, vận dụng tư duy vào giải các
Trang 15bài toán đố Trẻ khó học có thể học kém toán nhưng có thể học khá mônTiếng Việt.
1.3.1.2 Đặc điểm về xã hội
Nhà trường và gia đình luôn kỳ vọng quá nhiều vào kết quả học tậpcủa các em Nhiều HS cho dù cố gắng bằng bao nhiêu cách nhưng kết quảhọc tập vẫn không tốt khiến các em buồn, chán nản, suy giảm động cơ họctập và có nhiều hành vi có vấn đề Trong đó có một số em mất niềm tin vàobản thân mình và người khác, nảy sinh tâm lý tự ti, coi thất bại của bản thânmình là điều đương nhiên Các em tự lý giải nguyên nhân là do mình thiếukhả năng về mọi mặt Trẻ khó học thường có tâm lý không ổn định từ mức
độ nhẹ tới nghiêm trọng Hầu hết những trẻ khó học không đạt mức độ thíchnghi về tâm lý Tuy nhiên thực tế cho thấy không có một đặc điểm hay côngthức chung về các biểu hiện của tính cách, sự thích nghi về mặt tâm lý, nănglực xã hội, khả năng tự hiểu bản thân mình Trẻ tự đánh giá mình thấp trongnhận thức và trong học tập do bị rối loạn các kỹ năng cơ bản phục vụ choquá trình nhận thức và học tập.Trong đó hầu hết các em đều có trí tuệ bìnhthường ở mức trung bình trở lên Những khó khăn trong quá trình học tậpcủa HS đều được GV đánh giá và đưa ra nguyên nhân không phải do các emlười học hay không có nỗ lực hoặc do trí tuệ không bình thường Vì thế xácđịnh và can thiệp sớm về tâm lý cũng như giáo dục thì có thể hạn chế tối đanhững khuyết điểm mang tính xã hội
Do gặp khó khăn trong việc hình thành các kỹ năng cơ bản nên trẻ gặpthất bại trong học tập thể hiện trong kết quả học tập kém và kèm theo hành vigây gổ hoặc mang tâm lý tự ti, biểu hiện rối loạn về hành vi
Trẻ khó học có kết quả học tập kém nhưng lại không thua kém bạn bècùng trang lứa trong các lĩnh vực khác như trong mối quan hệ với bạn bè,thầy cô, hàng xóm, láng giềng
Trang 161.3.2 Nguyên nhân gây nên trẻ khó học
Có nhiều giả thiết khác nhau về nguyên nhân trẻ khó học Trong đó cómột số giả thuyết như:
- Trẻ khó học có liên quan đền quá trình trưởng thành sinh học
- Nhân tố sinh học (đặc điểm cá nhân) giao thoa với nhân tố khôngsinh học (cơ hội học tập, chất lượng giảng dạy) phát sinh chứng khó học
- Có bằng chứng là có các bất thường nằm dưới quá trình xử lý nhậnthức các thông tin Đây là giả thuyết được nhiều các chuyên gia trên thế giới
đi vào nghiên cứu
Theo các giả thuyết trên thì nguyên nhân gây nên trẻ khó học là do:
1.3.2.1 Tổn thương não
Trẻ không thể đạt được các kỹ năng cơ bản trong học tập phù hợp vớilứa tuổi của mình, trẻ được coi là có những khó khăn trong học tập Nhữngkhó khăn mà trẻ gặp phải trong học tập thường liên quan tới những nhân tốảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức của trẻ như trẻ không học lớpmẫu giáo có thể gặp khó khăn hơn so với các bạn bè cùng trang lứa đã họcqua lớp mẫu giáo Đối với những trẻ hay ốm và nghĩ việc theo kịp bạn bètrong lớp thường gặp khó khăn Tuy nhiên, những khó khăn đó phần nàođược giảm bớt nếu chúng ta xác định đúng nhân tố ảnh hưởng tới quá trìnhtiếp thu kiến thức của trẻ
Ngoài sự tác động của các nhân tố trên trẻ gặp khó khăn trong quátrình tiếp thu hoặc diễn đạt kiến thức là do hoạt động bất thường do nhữngtổn thương não bộ
Tổn thương các vùng chức năng trên não Đa số trẻ khó học tổnthương vùng não cấp III trước và sau gọi là vùng mái nơi tiếp giáp với 3thùy: trán – đỉnh – thái dương (nếu là vùng trước); tiếp giáp 3 vùng: đỉnh –thái dương – chẩm (nếu là vùng sau) (xem A.R Luria: Cơ sở tâm lý học thần
Trang 17kinh và các sơ đồ não của Broman) Vùng não cấp III là vùng não phát triểncuối cùng trong tiến trình phát triển.
Tổn thương vùng trước, trên dưới vỏ não và hai bán cầu: tổn thươngnày gây ra cho trẻ những biểu hiện chung về kết quả học tập là kém môntoán trong đó khó khăn nhất là giải các bài tập trí tuệ Thao tác cụ thể biểuhiện rối loạn theo hội chúng vùng trán
Xét về mặt chức năng, chậm phát triển vùng trán não bộ sẽ làm cấutrúc hoạt động trong đó có hoạt động trí tuệ mất tính hệ thống, các hoạt độngtrí tuệ bị xắp xếp lộn xộn Trong cấu trúc hoạt động có biểu hiện rối loạn vàtheo cơ chế khác nhau:
- Kém bền vững, mất tập trung, sao lãng chú ý
- Khả năng luân chuyển thao tác hành động kém
- Quá trình xây dựng kế hoạch hành động trên cơ sở hoạt động địnhhướng bị rối loạn, mất khả năng kiểm tra, kiểm soát hành động diễn ra
Các cơ chế trên bị rối loạn tùy thuộc vào các diện và tùy thuộc vào cácthùy chẩm phát triển khác nhau
- Nếu vùng chậm phát triển là vùng trán vỏ phía trước thì học toánkém thường do nguyên nhân “ Quá trình xây dựng kế hoạch hành động trên
cơ sở hoạt động định hướng bị rối loạn, mất khả năng kiểm tra, kiểm soáthành động diễn ra” chính gây nên Việc luân chuyển chậm các thao tác ởvùng này xuất hiện và có nét đặc thù riêng khác với chậm luân chuyển cácthao tác do phát triển các vùng trán đỉnh
- Nếu vùng phát triển thuộc vùng nền não, trán giữa thì kết quả họctoán kém thường do nguyên nhân “Kém bền vững, mất tập trung, sao lãngchú ý” là chính gây nên
Song có một cách chắc chắn có thể khẳng định là chậm phát triểnvùng trán thì dù vùng nào, thùy nào thì triệu chứng của hội vùng trán cũng sẽbộc lộ chỉ có nhiều hay ít, mức cao hay thấp mà thôi
Trang 18Chậm phát triển vùng phía sau bán cầu tổn thương vùng đỉnh – chẩm.Đặc điểm nổi bật bị mất trường thị giác được thể hiện không chỉ qua kết quảcủa hình vẽ, của quá trình đọc dẫn đến trẻ khó đọc do không tri giác được từ,câu trong khi đọc.
Chậm phát triển vùng thái dương bán cầu trái Đặc điểm nổi bật củatrẻ này là điếc từ: khả năng nghe, thính lực không giảm vì thế các âm thanhkhông phải ngôn ngữ tiếp nhận bình thường với ngưỡng tri giác âm thanhkhông thua kém các bạn cùng tuổi Khả năng nghe và phân biệt âm thanh –ngôn ngữ kém Nói cách khác có biểu hiện rối loạn khả năng tiếp thu âmthanh - ngôn ngữ do không nắm bắt được các thành phần âm thanh của từnghe nói Hệ thống âm thanh cấu tạo từ trở nên không ổn định, từ và âm tiếpthu rời rạc không có mối quan hệ thống nhất, nhân quả Do vậy, trẻ hiểunghĩa âm thanh ngôn ngữ rất khó khăn HS nghe giảng hoặc nghe người khácnói thường không hiểu được vì lời giảng hoặc lời nói đối với HS chỉ là tậphợp các âm thanh pha lộn
Điều cần chú ý là chậm phát triển vùng này trên não không thể khôngảnh hưởng các chức năng khác của ngôn ngữ như: viết, ngôn ngữ truyền đạt,
và ở mức độ ít hơn là chức năng đọc
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu các chức năng cụ thể củatừng phần trong não bộ như thể là các chức năng này hoạt động độc lập vớinhau Nhưng khi tiếp cận các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các thànhphần riêng biệt trong não bộ không hoạt động tách biệt lẫn nhau mà thực tếchúng hoạt động tương tác với nhau, phức tạp thông qua xung động thầnkinh Do vậy, hiện tại các nghiên cứu chưa phát hiện ra các rối loạn cụ thểthông qua việc chụp các lớp não Các bác sỹ phải sử dụng các bài kiểm tratâm lý học thần kinh để xác định chức năng của não bộ hoặc để xác địnhxem liệu các chức năng đó có bị thiếu hụt không
Trang 19Tổn thương não bộ do nhiều nguyên nhân như do di truyền, nhiễmtrùng trong thời gian mang thai và thời kỳ trẻ sơ sinh, hoặc do não bị tổnthương và nhiễm độc chì và các chất lạm dụng.
1.3.2.2 Một số trở ngại tâm lý theo lứa tuổi
a Trẻ chưa sẵn sàng tâm lý cho việc học ở trường
Sự thống nhất các đặc điểm tâm lý của chủ thể đảm bảo sự khởi đầuhọc tập có kết quả trong nhà trường Những trẻ chưa sẵn sàng tâm lý gây ranhững khó khăn Trong đó có hai dạng chuẩn bị tâm lý cho việc học tập tạitrường: riêng biệt và chung
Trong trường hợp thứ nhất, các chỉ số cá nhân được xem xét chủ yếuthiên về sự phát triển trí tuệ và vận động được so sánh với chuẩn lứa tuổi đãđược đưa ra trong các đo đạc đại trà Nếu chỉ số cá nhân không thấp hơn giớihạn cuối cùng thì đứa trẻ sẵn sàng với việc học tập tại trường Với tư cách làmột chỉ số của sự sẵn sàng riêng biệt có thể sử dụng các chỉ số thành tíchtheo chương trình học Ví dụ như tốc độ đọc, tốc độ viết, khả năng tính toán
Độ tin cậy mang tính dự báo không đầy đủ của các đo đạc sự sẵn sàngriêng biệt buộc phải chú ý tới sự sẵn sàng về mặt nhân cách nói chung, đượchiểu là một trình độ cần thiết của sự phát triển tâm lý nói chung, được quyđịnh bởi sự phát triển đầy đủ ở trẻ trước tuổi đi học Thuộc các chỉ số của sựsẵn sàng chung có đặc điểm của tính chủ động của hoạt động, sự hình thànhgiao tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi, sự phát triển hành vi có tính nguyêntắc, tính sẵn sàng hợp tác với GV trong công việc, thái độ tích cực đối vớitrường học và đối với học tập, Nguyên tắc đánh giá sự sẵn sàng cũng làviệc so sánh các chỉ số cá nhân với chuẩn lứa tuổi Ví dụ “ trắc nghiệm sựchín muồi học đường”, là trắc nghiệm Kern – Ierasek có 3 tiểu trắc nghiệm:
vẽ người (thể hiện trình độ phát triển tâm lý chung); vẽ phỏng theo một sơ
đồ mẫu về sự phân bố các dấu chấm (kỹ năng hành động theo nguyên tắchình thức); chép lại (vẽ lại) câu ( biểu tượng về sự phân chia ngôn ngữ thành
Trang 20từ và các chữ cái riêng biệt) Các chỉ số của từng tiểu trắc nghiệm cộng lại,điểm tổng sẽ cho biết trình độ sẵn sàng và không sẵn sàng.
b Một số trở ngại tâm lý khi trẻ chuyển từ cấp tiểu học lên trung học cơ sở
Hoạt động học tập và các hoạt động khác của HS THCS có nhiều sựthay đổi, có tác động quan trọng tới sự hình thành những đặc điểm tâm lý lứatuổi HS THCS, như:
- Bắt đầu thay đổi về nội dung dạy học: Bắt đầu vào THCS, các emđược tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, mỗi môn học bao gồm nhiều hệthống tri thức với những khái niệm trừu tượng, khái quát, có nội dung phongphú, sâu sắc, do đó, đòi hỏi thay đổi cách học Các em không thể học thuộctừng bài, mà phải biết cách lập dàn bài, tóm tắt, nắm bắt ý chính, dựa vào các
ý chính mà trình bày toàn bộ bài học theo cách hiểu của mình
- Sự thay đổi về phương pháp dạy học (PPDH) và hình thức học tập:Các em được học nhiều môn, nhiều thầy cô giảng dạy Mỗi môn học có PPphù hợp với bộ môn đó, mỗi thầy cô dạy có cách trình bày, có PP độc đáoriêng của mình, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau Sự khác nhau này
đã ảnh hưởng đến việc lĩnh hội, đến sự phát triển trí tuệ và nhân cách của cácem
- Những khó khăn đó làm trẻ khó thích nghi với môi trường học tậpmới vì vậy mà trẻ có thể không theo kịp các môn học nhất là đối với học sinhkhó học Ở HS lớp 6 chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng thích một vài thầy cônày và chán thầy cô khác Khi thích thầy cô giáo dạy môn nào, các em họcrất tốt môn đó Ngược lại, nếu chán học, các em sẽ lơ là, bỏ học và mất cănbản về sau
Vì vậy người GV cần mềm mỏng, không đặt nặng các môn học tronggiai đoạn đầu, để các em cảm thấy mến GV, yêu môn học, giúp trẻ tự tin hơn
để vượt qua những trở ngại về tâm lý và thích ứng với môi trường học tập mới
Trang 21Theo nhiều nghiên cứu, thông thường trẻ em sau 6 tuổi mới đủ điềukiện về sinh lý và tâm lý để học đọc:
- Tri giác mắt thấy tai nghe, đủ sức định hướng không gian, đặc biệtphân biệt rõ phải - trái, mới có thể nhận ra các chữ cái, các âm giống nhau,nhận ra nhịp điệu đơn giản Ví dụ phân biệt b và d, p và q, c và o
- Có vốn từ khá để hiểu nội dung những câu, những từ khi đọc Nếutrẻ chưa đủ các điều kiện trên thì việc học gặp nhiều khó khăn tốn công vô ích
- Trẻ cần phải học phát âm những từ chưa biết bằng cách tách rathành các chữ cái riêng lẽ sau đó ghép chúng thành một từ như trước Việcnày xem như tập phát âm hoặc kỹ năng về ngữ âm
- Trẻ cần phát triển kỹ năng nhìn các phần khác nhau của chữ hoặctoàn bộ từ do các chữ ghép thành Khi nghe một chữ trẻ phải vận dụng hìnhảnh thấy được của chữ đó trong óc
- Với cách này trẻ phát triển hợp nhất các chữ cái được nghe với cáiđược thấy để tiềm thức của trẻ thêm vào vốn từ Một từ được học đi học lại,cuối cùng cũng được gửi vào vốn từ nhìn thấy của trẻ và sẽ được đọc ngaykhi trẻ nhận ra nó Tất nhiên đây là đòi hỏi cần thiết trước khi trẻ có kỹ năngđánh vần với tầm quan trọng của nó
Trẻ khó đọc là khó khăn trong xử lý ngữ âm, gọi tên, tốc độ đọc.Trẻkhó đọc do rối loạn ngôn ngữ trí nhớ - thị giác xuất hiện khi tổn thương cácvùng sau – dưới của vỏ thái dương Triệu chứng cơ bản của trẻ khó học là
Trang 22suy giảm nhận biết các hình ảnh, khái niệm thị giác của từ Trong lâm sàngtâm lý học thần kinh, hình thức này gọi là mất trí nhớ ngôn ngữ tập gọi tên,được thể hiện ở trẻ mất khả năng gọi tên các đồ vật dù đó là đồ vật quenthuộc với trẻ Cơ chế gây rối loạn này là sự suy yếu mắt xích trí nhớ - thịgiác trong hệ thống ngôn ngữ, làm gián đoạn mối quan hệ giữa hình ảnh thịgiác của từ dẫn đến mất khả năng gọi tên.
Trẻ khó học đọc là do không nhận ra các chữ cái ( hoặc các từ ), hoặcchỉ đọc ½ phần của bài khóa mà không nhận ra khuyết tật của mình
Trẻ khó học đọc có thể ảnh hưởng tới bất kỳ phần nào của quá trìnhđọc bao gồm khó khăn trong nhận biết chính xác hoặc lưu loắt của từ, giảinghĩa từ, tốc độ đọc, đọc hiểu Trẻ khó học đọc biết đến như là “ mù từ ”
Trẻ khó học đọc bao gồm khó khăn trong nhận thức về cấu tạo âm,khả năng tách từ trong yếu tố âm thanh và khó khăn trong việc kết nối cácchữ cái với âm thanh của nó Dưới đây là một số dấu hiện nhận biết trẻ khóhọc đọc:
- Trẻ khó đọc khi bắt đầu vào lớp 1:
+ Khi quan sát tranh trẻ thường ít chú ý tới nội dung
+ Khi được nghe kể chuyện trẻ thường gặp khó khăn trong việc nhớnội dung, diễn biến các chi tiết của câu chuyện
+ Trẻ thường có vần đề về giao tiếp như: nói không rõ, bỏ phụ âmcuối, phát âm sai, ngắt nghĩ không đúng chỗ, ngữ điệu không phù hợp,không gọi đúng tên của những sự vật thông dụng, chậm nhớ thông tin
+ Trẻ tiếp thu chậm các biểu tượng và chữ cái
- Trẻ khó học đọc ở các lớp trên dựa vào ba tiêu chí quan trọng nhấtđánh giá kỹ năng đọc bao gồm: tốc độ đọc thành tiếng, số lỗi sai, khả nănghiểu văn bản Thông thường nhận biết trẻ khó học đọc người ta dựa vào 3tiêu chí trên thấp hơn so với chuẩn tối thiểu (lớp trẻ đang theo học); số lỗiđọc sai nhiều; khả năng hiểu văn bản còn hạn chế Trong đó tốc độ đọc thànhtiếng: lớp 1 - 30 tiếng/phút, lớp 2 - 50 tiếng/phút, lớp 3 – 70 tiếng/phút, lớp 4
Trang 23– 90 tiếng/phút, lớp 5 – 100 tiếng/phút Dưới đây là một số dấu hiệu để nhậnbiết trẻ khó học ở một số lớp trên.
từ, đảo từ, bỏ dòng hay lặp lại dòng khi đọc, không biết ngắt hơi ở dấu phẩy
và nghỉ hơi ở dấu chấm; hiểu rất ít hoặc không hiểu nội dung bài đọc
1.3.3.2 Trẻ khó học viết
Trẻ khó học thường gặp khó khăn trong kỹ năng viết được gọi là trẻkhó học viết Để viết đòi hỏi sự kiểm soát tốt trong phối hợp động tác chínhxác tay và mắt cũng như sự tiếp thu tiến trình từ trái sang phải trên tranggiấy Trẻ khó học viết thường có kiểu cầm bút như ta thấy khỉ cầm cành cây,tức ngón tay cái nằm ngoài ngón tay trỏ theo góc vuông Trong nhiều trườnghợp, tay trẻ bị run nhẹ khiến cho việc giữ bút ở mức độ nào đó gặp khó khăn.Toàn bộ khó khăn trên đưa đến việc trẻ phải nắm bút cho thật chặt để đạtđược sự kiểm soát nào đó và cũng để giữ được bút trên trang giấy để chấnchỉnh sự kiểm soát ấy Do đó thao tác trôi chảy của bút trên trang giấy bị hạnchế và chữ viết trở nên không tự nhiên và không đều Nét chữ của trẻ khôngđều nhau về kích thước từ lúc đầu và trẻ gặp khó khăn trong cách quãng chữnày với chữ khác Để cách quãng rất có thể do trẻ gặp khó khăn trong phốihợp tay với mắt và khả năng nhìn Nhiều trẻ cảm thấy khó viết từ trái sangphải nên càng hướng từ cách viết từ phải qua trái Khả năng viết chữ rời nhưchữ in và chữ nối nhau dường như chiếm tỉ lệ ngang nhau ở những trẻ khóviết Gần một nửa trong số trẻ này cảm thấy viết chữ rời dễ hơn vì dườngnhư trẻ có sự dốc sức từng đợt nhiều hơn trong sự kiểm soát Số trẻ khác viết
Trang 24chữ nối dễ hơn vì bắt đầu một chữ có dòng liên tục không bị gián đoạn giúpviệc viết nhẹ nhàng hơn.
Trẻ khó học viết do tổn thương vùng não cấp II vỏ thái dương bán cầunão trái gây ra các rối loạn ngôn ngữ cảm giác Nên trẻ không có khả năngtách biệt ra một cách rõ ràng các âm tiết của tiếng mẹ đẻ Trẻ không hiểungôn ngữ của người khác do mất khả năng tách âm tiết trong lời nói củangười khác Đặc biệt là những âm tiết giống nhau về mặt tri giác âm thanhgây khó khăn cho trẻ trong việc tiếp thu ngôn ngữ khi GV đọc để HS chép.Thí dụ trẻ hay lẫn lộn khi tri giác các âm tiết R – D – L – X, do vậy các từnhư cái rét – cái dép trẻ đều cho là một từ Do vậy, trẻ khó học viết thườngđược thấy trẻ mất ngôn ngữ cảm giác bởi lẽ trẻ không rõ hình ảnh của từ cầnviết và việc nhắc lại của từ cũng rất khó khăn
Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết trẻ khó viết:
+ Không viết được
+ Viết được nhưng kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc độviết, cách trình bày bài viết, số lỗi chính tả, lối sử dụng các dấu chấm câu, và
sử dụng không đúng ngữ pháp
+ Hạn chế trong việc hình thành các bài tập làm văn: sử dụng rất ít từngữ, từ ngữ không linh hoạt, không biết sử dụng các biện pháp để hoàn thànhbài tập làm văn hiệu quả
1.3.3.3 Trẻ khó học toán
Ở mẫu giáo chỉ có thể nhận ra từng nhóm, hiểu được tính bằng nhautrên cơ sở trực quan, sử dụng các đồ vật hay hình ảnh; bước đầu tập phântích hoạt động sau mới kết hợp với ký hiệu; cho tiếp xúc cần thiết với các kýhiệu trong quá trình hoạt động hay để diễn đạt ý đồ của trẻ Cảm nhận được
ý niệm của trẻ khi học các kỹ năng xuất phát từ các tình huống thật Khi cókhả năng tư duy logic, biết suy luận mới học được đại số lúc đấy mới thoátkhỏi hoạt động hiện thực hay hoạt động tưởng tượng tiến lên tư duy giả định
Trang 25và suy diễn Đi từ hiểu thế nào là con số đến các thao tác về con số và nhữngthao tác ấy trở thành tự động, hiểu được sự đo lường cuối cùng biết suy luậntoán học, những bước đi ấy bắt đầu từ tuổi mẫu giáo với những trò chơi bướcđầu vận dụng lý thuyết tập hợp.
Những trẻ khó học toán là những trẻ không có nền tảng cảm xúc vềcon số Trẻ này được biết đến như là “ mù con số” Chính xác hơn để nói vềtrẻ khó học toán là những trẻ không có tri giác biểu tượng về con số Điềunày nghĩa là chúng không có biểu tượng về số, chúng có thể đếm 1, 2, 3, 4,
… nhưng chúng thật sự không có cảm giác số 4 là số 4 Chúng nhìn thấy số
4 như là số đến sau số 3, chúng không nhìn thấy tương tác tạo nên các số.Đối với những trẻ bị tổn thương vùng trán việc thực hiện các phép tínhkhông phải là quá khó khăn
Tuy nhiên, dạng bài tập luôn luôn đòi hỏi sự luân chuyển thì lại là vấn
đề đối với họ ( ví dụ như 100 – 3 = 97 – 3 = 94 – 3 = 91 ) Khi thực hiệncác bài tập, các thao tác tính toán thường bị thay thế bằng các suy luận như
93 – 7 = 84 vì 7 = 3 + 4, và vì phép tính có nhớ một chục nên 9 – 1 = 8, kếtquả sẽ là 84 Trong nhiều trường hợp do ảnh hưởng của định hình lặp lại,nên sự thực hiện phép trừ liên tục được chuyển thành sự nhắc lại các con sốcuối cùng (như 100 – 3 = 93 – 3 = 83 73 63 .)
Với những bài toán có lời văn, việc giải quyết các bài tập này đòi hỏi
có sự định hướng sơ bộ với những dự kiện đã cho trong đầu bài, lên kế hoạch(hình thành chiến lược) giải bài tập, thực hiện các thao tác để giải quyết từngbước theo kế hoạch đã đề ra, so sánh đối chiếu kết quả thu được với dữ liệu
đã cho Nói cách khác giải toán có lời văn là thực thi một chương trình hànhđộng và chương trình này gây ra rối loạn ở người bệnh vùng trán
Các nghiên cứu trên lâm sàng cho thấy, việc giải các bài toán chỉ cầnmột phép tính mà dẫn đến đáp số thì trẻ khó học toán hầu như không gặp khókhăn gì Nhưng khi nội dung bài phức tạp hơn thì các khuyết tật bộc lộ rõhơn Thí dụ, khi đọc các điều kiện đầu bài, trẻ thường không nhắc lại đúng
Trang 26và đầy đủ các dữ kiện, thường bỏ qua một phần rất quan trọng là câu hỏihoặc thay thế phần câu hỏi là tái hiện lại yếu tố nào đó trong điều kiện đãcho Trong trường hợp, thậm chí đầu bài được nhắc lại đúng và đầy đủ, cũngchưa đủ để trẻ khó học toán giải quyết nhiệm vụ đặt ra, bởi lẽ trẻ không tựđặt ra được cho mình kế hoạch (chiến lược) giải quyết nhiệm vụ thường thaythế các thao tác tương ứng cần thiết bằng các thao tác không phù hợp vớinhiệm vụ chung
Trẻ khó học toán bị rối loạn các thao tác tính nhất là phép cộng, trừ,nhân có nhớ, chẳng hạn khi thực hiện phép tính 30 – 7 = 3 nhưng tiếp sau đónhớ 1 vào đâu (vào trước hay là sau số 3) để thực hiện phép tính lại khôngthực hiện được Kết quả là trẻ các thao tác tính bị rối loạn
Ảnh hưởng của trẻ khó tính toán có ảnh hưởng không thực hiện đượccác phép tính Như vậy là trẻ khó học toán thì yếu tố thực thi chủ yếu tới trẻđược thể hiện qua lo lắng thông qua hành động gây rối mục đích chính là tạo sựchú ý về sự tồn tại của mình trong lớp học và luôn tránh đối mặt với môn toán
Dưới đây là một số biểu hiện của trẻ khó học toán:
+ Khó khăn trong việc đếm, đọc, viết và so sánh các chữ số; mắcnhiều lỗi khi thực hiện các phép tính cơ bản, nhất là số có nhiều chữ số, sốthập phân và phân số
+ Khó khăn trong việc nhận biết và chuyển đổi các đơn vị đo (độ dài,khối lượng, thời gian)
+ Khó khăn trong việc phân biệt các yếu tố hình học và áp dụng cáccông thức tính chu vi, diện tích và các hình cơ bản
+ Khó hình dung và tạo mối liên hệ giữa yêu cầu của bài toán với việcgiải bài nên hạn chế trong việc giải tán có lời văn
1.4 Chẩn đoán trẻ khó học
1.4.1 Nguyên tắc chẩn đoán trẻ khó học
1.4.1.1 Nguyên tắc tiếp cận đồng bộ
Trang 27Đây là nguyên tắc cơ bản của chẩn đoán của sự phát triển bất bìnhthường Nghĩa là toàn diện để đòi hỏi khảo sát đánh giá toàn diện của trẻ baogồm không chỉ trí tuệ, nhận thức mà còn hành vi, tình trạng thị giác, thínhgiác, vận động, trường lực thần kinh, tính hệ thống của hoạt động thần kinh
mà còn cả tâm lý của trẻ do ảnh hưởng của môi trường sống của trẻ
1.4.1.2 Nguyên tắc nghiên cứu trẻ có hệ thống và trọn vẹn
Nguyên tắc này thể hiện người nghiên cứu không chỉ nắm bắt các biểuhiện đơn lẻ của tổn thương và rối loạn trong phát triển của trẻ khó học mà cảrối loạn phát triển các mối quan hệ giữa chúng, sắp sếp chúng theo thứ bậctổn thương và rối loạn đó trong sự phát triển Để chẩn đoán trẻ khó học cầnphải đặt nhiệm vụ và có một hệ thống phương pháp chẩn đoán thích hợp vớicác nhiệm vụ đặt ra
1.4.1.3 Nguyên tắc nghiên cứu sống động quá trình phát triển tâm lý của trẻ
Các quy luật phát triển tâm lý cơ bản của trẻ bình thường vẫn duy trì ởtrẻ khuyết tật Đồng thời trẻ khó học có quy luật phát triển tâm lý riêng vìvậy cần nắm bắt cả quy luật chung và riêng để chẩn đoán chính xác trẻ khóhọc Và không chỉ như vậy chúng ta còn có thể định hướng được những khảnăng tiềm ẩn vùng phát triển gần nhất
1.4.1.4 Nguyên tắc chẩn đoán liên ngành
Để tìm hiểu rõ cũng như chẩn đoán trẻ khó học cần kết hợp giữa cácchuyên gia ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau như y học, tâm lý, giáodục Thông qua các chuyên môn của các chuyên gia giúp chúng ta có hệthống được các thông tin riêng lẻ về trẻ đảm bảo tính khách quan, trọn vẹn
1.4.1.5 Nguyên tắc chuyên môn hóa khuyết tật
Trang 28Sự tổn thương các vùng khác nhau của não có thể dẫn tới những rốiloạn của chức năng tâm lý, nhưng cơ chế rối loạn mỗi lần lại khác nhau vàphụ thuộc vào định khu tổn thương não Điều này cho thấy chúng ta phải tìmhiểu nguyên nhân vấn đề dẫn đến những khó khăn của trẻ khó học là do đâu
và vạch ra cơ chế của nó để tìm hiểu khuyết tật nguyên phát, cơ sở rối loạn
1.4.2 Chẩn đoán trẻ khó học
1.4.2.1 Thành phần tham gia chẩn đoán
- Bác sĩ nhi khoa: loại trừ vấn đề thể chất như bệnh mãn tính, khiếmkhuyết các giác quan, kết hợp với các xét nghiệm y khoa, sinh học thần kinh,tâm thần kinh liên quan với tình trạng khiếm khuyết học tập và chậm pháttriển tâm thần và rối loạn cảm xúc
- Chuyên viên tâm lý lâm sàng giúp nhận ra các yếu tố nguy cơ về xãhội và cảm xúc ảnh hưởng đến kết quả học tập ở trường
- Nhóm cán bộ chuyên nghành: tâm lý gia, giáo dục viên đặc biệt,chuyên gia về khiếm khuyết học tập, âm ngữ trị liệu và cán bộ xã hội
1.4.2.2 Sàng lọc trẻ khó học
Công cụ sàng lọc bao gồm phiếu sàng lọc trẻ khó học do GV đánh dấu
để tìm ra trẻ có biểu hiện của trẻ khó học trong số những trẻ bình thường.Sau khi đã khảo sát được số trẻ có biểu hiện bất thường, có biểu hiện giốngvới trẻ khó học sẽ sử dụng bộ công cụ thăm khám để xác định đó có phải làtrẻ khó học hay không
1.4.2.3 Phương pháp chẩn đoán trẻ khó học
Với mục đích nghiên cứu để mô tả rõ ràng về trẻ khó học có thể sửdụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau Qua thực tế nghiên cứu tôi sửdụng phương pháp sau để chẩn đoán trẻ khó học:
Trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn chuẩn do J.C Raven xây dựng Đây
là trắc nghiệm thuộc loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ, nó dùng để đo các nănglực tư duy trên bình diện rộng nhất Những năng lực đó là: năng lực hệ thống
Trang 29hóa, năng lực tư duy logic và năng lực vạch ra những mối liên hệ tồn tại giữacác sự vật, hiện tượng Trắc nghiệm cho phép san bằng trong một mức độnào đó ảnh hưởng của trình độ học vấn và kinh nghiệm sống của người đượcnghiên cứu Trắc nghiệm này giúp tách trẻ khó học khỏi trẻ chậm phát triểntrí tuệ
1.4.3 Quy trình chẩn đoán trẻ khó học
1.4.3.1 Cơ sở khoa học của quy trình chẩn đoán trẻ khó học
Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì trẻ khó học đượcxếp vào loại chậm phát triển tâm lý, ranh giới giữa chậm phát triển tâm lý làtrạng thái có cơ sở nhi tính hóa các đặc điểm tâm sinh lý: đây là hình thứcđặc biệt của sự phát triển bệnh lý với những biểu hiện đặc trưng nhưngkhông phải chậm phát triển Vì vậy phải tách trẻ khó học khỏi trẻ chậm pháttriển tâm thần
Theo kết quả của các nhà tâm lý học, giáo dục học, trẻ khó học đangtheo học chương trình phổ thông Vì vậy, việc sàng lọc, phát hiện để chẩnđoán đúng, sớm có thể giúp đỡ về mặt sư phạm
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra khó khăn cho việc học như:
- Tăng động kém chú ý: có thể tồn tại cả khó khăn học tập và tăngđộng kém tập trung Phân biệt tăng động kém tập trung nguyên phát và thứphát sau rối loạn ngôn ngữ, trầm cảm,…là khó khăn
- Chậm phát triển tâm thần: chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹthường chỉ phát hiện vào lúc trẻ học lớp sáu
- Khiếm khuyết giác quan: khiếm thị tiên lượng tốt hơn khiếm thính
vì không ảnh hưởng đến khả năng nghe, khả năng ngôn ngữ
- Vấn đề cảm xúc: 30 – 80% học sinh bị rối loạn cảm xúc có vấn đềhọc tập và hành vi ở trường Lòng tự trọng và hình ảnh bản thân thấp làmnặng lên nguyên nhân khác như khiếm khuyết học tập hay ADHD
Trang 30- Bệnh mãn tính: 50-65% trẻ có bệnh mãn tính gặp khó khăn tronghọc tập Bệnh mãn tính ảnh hưởng đến kết quả học tập như do đau, tác dụngphụ của thuốc, điều chỉnh cảm xúc khó khăn.
- Rối loạn tính khí: trẻ dễ giận dỗi và ấm ức, có khuynh hướng thurút về lĩnh vực xã hội
- Rối loạn cấu trúc gia đình và vấn đề xã hội: cha mẹ chia tay, ly dị,quá bao bọc hay bỏ bê, người thân bệnh hay chết, tâm bệnh học của cha mẹ,lạm dụng thuốc và nghèo khó
- Điều kiện học tập ở trường kém hiệu quả: trường công hay tư, lớplớn hay nhỏ, trường mới hay cũ, tỷ lệ GV/HS, khen ngợi, khích lệ, động viên
Để loại trừ những nguyên nhân trên, chúng ta cần dùng tới nhữngthang đo tâm lý do chuyên viên tâm lý chẩn đoán và sự thăm khám của bác
sĩ chuyên ngành để loại trừ những nguyên nhân trên
1.4.3.2 Quy trình chẩn đoán trẻ khó học
- Sàng lọc trẻ khó học trong số trẻ bình thường đang học ở lớp 6trường THCS Nông Tiến
- Sử dụng các tổ hợp các phương pháp để tách trẻ khó học do nhữngnguyên nhân khác nhau khỏi trẻ chậm phát triển trí tuệ
- Phân tích các kết quả xét nghiệm y học, tiểu sử bệnh cũng như quátrình phát triển chung về thể lực và thần kinh của trẻ Phần này có nhiềuphần tế nhị, bản thân gia đình bệnh nhi cũng muốn dấu, do vậy người hỏiphải nắm bắt ý nghĩa câu trả lời của người bệnh nhân
- Nghiên cứu tỉ mỉ những kết quả học tập, khối lượng các tri thức, kỹnăng, tìm ra được những khó khăn chính của trẻ, phân loại trẻ khó khăn họcđọc, viết hay tính toán
- Ngoài ra trong quá trình chẩn đoán, quyết định về nguyên nhânchậm phát triển tâm lý dẫn đến khó học cần chú ý không chỉ nghiên cứunhận thức đơn thuần về trẻ mà cả mối quan hệ với thầy cô, cha mẹ trẻ, bạn
Trang 31bè trong lớp,… trong trường hợp cần thiết chẩn đoán nguyên nhân gây cảntrở học tập của trẻ.
- Kiểm tra các nguyên nhân tâm lý gây ra vấn đề về việc học của trẻnhư rối loạn cảm xúc, tự đánh giá bản thân thấp,…
Quy trình trên được thực hiện theo các bước sau:
- Bệnh sử hỏi từ cha mẹ, GV và bản thân trẻ về quá trình lúc sinh,các mốc phát triển quan trọng, hành vi hiện tại và trước đây, bệnh sử giađình và xã hội
- Khám thể chất
- Khám tâm thần để tìm vấn đề cảm xúc như trầm cảm, lo lắng, hìnhảnh bản thân thấp
- Đánh giá sự phát triển thần kinh: khảo sát nhiều lĩnh vực như vậnđộng thô, tinh, ngôn ngữ, trí nhớ để tìm điểm yếu gây thất bại trọng học tập
- Xét nghiệm cận lâm sàng: không có xét nghiệm thường quy nàoxác định thất bại học tập trừ các bài test Hơn nữa, cần có chỉ định ở từngtrường hợp cụ thể
- Khảo sát sâu và kết hợp chuyên nghành khác
- Đánh giá của nhà tâm lý – giáo dục rất quan trọng để: tìm điểmmạnh, điểm yếu của trẻ trong học tập, xác định trí thông minh, khả năng giaotiếp, khả năng thích nghi về cảm xúc và xã hội
1.5 Vai trò của cha mẹ và giáo viên đối với trẻ khó học
1.5.1 Vai trò của cha mẹ đối với trẻ khó học
Gia đình là người gần gũi nhất với trẻ, nên hiểu được quá trình pháttriển, nhu cầu, năng lực của trẻ Chính vì vậy, gia đình giữ một vai trò đặcbiệt quan trọng trong việc giúp trẻ đối mặt với những khó khăn do rối loạnnày mang lại, gia đình cần phát hiện sớm và tiến hành giáo dục sớm Nộidung giáo dục sớm thường gồm các vấn đề sau:
+ Luyện nghe cho trẻ, nói đúng, sửa tật phát âm
+ Dạy trẻ tìm hiểu môi trường xung quanh
Trang 32+ Dạy trẻ một số kĩ năng tự phục vụ.
+ Dạy trẻ tham gia trò chơi hay bảo vệ trò chơi
+ Dạy trẻ cách cư xử và giao tiếp với người xung quanh
+ Dạy trẻ tập làm quen với đồ dùng học tập và bộ chữ cái
+ Phát triển các kĩ năng thính giác và thị giác
Khi trẻ đi học, gia đình cần chú ý chuẩn bị tốt thể chất và tâm lý chotrẻ Ví dụ như mua quần áo, sách vở đầy đủ cho trẻ và những đồ dùng họctập như mọi trẻ bình thường khác Tạo điều kiện để trẻ giao lưu tiếp xúc vuichơi với bạn bè bình thường càng nhiều càng tốt Cha mẹ cần phối hợp vớinhà trường, GV chủ nhiệm cùng giúp đỡ trẻ trong việc học hành và giáo dụcnghề nghiệp sau này
Khi trẻ ở nhà, cha mẹ cần yêu cầu khối lượng, mức độ, thời gian họctại nhà phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ Luôn kiên trì hướng dẫn trẻhọc tại gia đình, luôn động viên, khen thưởng trẻ kịp thời với bất cứ sự tiến
bộ nào Nội dung kiến thức gia đình cần dạy cho trẻ tại gia đình: dạy nói, dạyđọc, dạy viết, dạy trẻ thực hiện các phép tính toán Hướng dẫn trẻ tham gia vàocác công việc gia đình và tăng cường dần số lượng công việc, mức độ và thờigian Gia đình cần đạt đến sự tự lực của trẻ trong việc thực hiện một số côngviệc của gia đình Thường xuyên thay đổi môi trường sinh hoạt cho trẻ,…
Gia đình là tế bào của xã hội, là nôi tạo điều kiện, nền tảng giúp trẻphát triển và hòa nhập với đời sống cộng đồng, xã hội Vai trò của gia đìnhđối với sự phát triển của trẻ là đặc biệt quan trọng
1.5.2 Vai trò của giáo viên đối với trẻ khó học
GV là sợi dây liên kết những trẻ khó học này với những nguyên nhângây cản trở đến quá trình tiếp thu kiến thức và những dịch vụ phục hồi sứckhỏe cho trẻ Họ là những người có thể nhận ra dấu hiệu mắc bệnh ở trẻ, xácđịnh được trẻ khó học
Trang 33Nhận ra được khả năng của trẻ: cách học của trẻ, mức độ thành thạongôn ngữ, mức độ tư duy cùng với trình độ đọc hiểu là những khả năng màtrẻ có được Hiểu được những khả năng này của trẻ, GV sẽ lên kế hoạchchương trình học tập riêng cho trẻ nhằm phát huy những điểm mạnh và cảithiện những điểm yếu của trẻ GV hướng dẫn rõ từng trẻ để giúp chúng hiểuđược các khái niệm và những ý tưởng mới GV cũng có thể chia các nhiệm
vụ thành các phần nhỏ để trẻ có thể dễ dàng thực hiện thành công nhiệm vụcủa mình và chính điều đó sẽ giúp trẻ tự tin hơn
Phát triển kĩ thuật giảng dạy hiện đại: kĩ thuật giảng dạy hiệu quả kíchthích động lực học tập và khuyến khích sự say mê học tập của trẻ
Giảng dạy chiến lược học tập: một số trẻ cần phải dạy chiến lược họctập như kỹ năng ghi chép, kỹ năng tư duy, kỹ năng tưởng tượng
Tăng cường sự hứng thú, khả năng ghi nhớ: trẻ khó học thường có cảmgiác tự ti và cảm thấy mình vô dụng, không có năng lực Trẻ có thể từ bỏ mụctiêu một cách dễ dàng và không thể tin mình có thể thành công Trẻ thiếu tựtin thường dễ bị chế nhạo, tức giận, chán nản và cuối cùng dẫn đến tuyệt vọng.Yếu tố tự tin là yếu tố có vai trò quan trọng nhất giúp trẻ thành công
Hỗ trợ trẻ hoàn thành nhiệm vụ: trẻ khó học thường có biểu hiện khóbắt đầu thực hiện nhiệm vụ, bỏ dở nhiệm vụ giữa chừng, hoàn thành nhiệm
vụ không đúng thời gian Vì vậy GV cần hỗ trợ trẻ để trẻ có thể tự hoànthành nhiệm vụ được giao
Giữ liên lạc với cha mẹ trẻ: việc GV giữ liên lạc với cha mẹ trẻ sẽkhuyến khích tập trung theo dõi nhu cầu học tập của trẻ và chính PH làngười hỗ trợ đắc lực cho GV trong việc giáo dục trẻ Mối quan hệ tốt giữa
GV và PH đóng vai trò quan trọng
GV là người hoạt động cho quyền lợi của trẻ: GV là một trong nhữngngười hoạt động cho quyền lợi của trẻ, đặc biệt trong những trường hợp cácbậc PH không nhận ra những khó khăn của trẻ đang gặp phải GV có thể
Trang 34giúp cha mẹ trẻ đưa trẻ tới các chuyên gia để tìm sự giúp đỡ nếu như cha mẹtrẻ không làm điều đó.
1.6 Tiểu kết chương 1
Toàn bộ chương một tôi trình bày những vấn đề cơ bản về trẻ khó họcbao gồm khái niệm, đặc điểm chung, nguyên nhân gây ra những khó khăncho trẻ; phân loại trẻ khó học thành ba loại trẻ trong ba lĩnh vực gồm có: trẻkhó học đọc, trẻ khó học toán, trẻ khó học viết Đây chỉ là những nghiên cứukhái quát về trẻ khó học, nếu có thời gian chúng tôi sẽ nghiên cứu và trìnhbày rõ hơn về trẻ này
Trang 352.1.1 Nghiên cứu lý luận
Là nghiên cứu những tài liệu lý luận có liên quan đến trẻ khó họccủa các tác giả trong và ngoài nước được đang trên các sách, báo, tạp chí,mạng internet, từ đó tổng hợp, phân tích và khái quát thành cơ sở lýluận của đề tài
2.1.2 Nghiên cứu thực tiễn
Quá trình nghiên cứu thực tiễn bao gồm các giai đoạn chính sau đây:Giai đoạn sàng lọc trẻ khó học, giai đoạn làm test Raven, giai đoạn phỏngvấn sâu, giai đoạn nghiên cứu trường hợp, giai đoạn phân tích số liệu, giaiđoạn viết báo cáo nghiên cứu
2.1.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THCS Nông tiến – TP TuyênQuang – tỉnh Tuyên Quang Trường THCS Nông Tiến gồm có 286 HS, đượcchia làm 8 lớp, trong đó có hai lớp 6 Các lớp học đều đảm bảo sĩ số dưới 40
HS Các phòng học rộng, thoáng mát, được trang bị đầy đủ quạt máy và hệthống đèn GV trong trường có trên 60 % tốt nghiệp đại học Trường cókhuôn viên khá rộng và mát là nơi để học sinh vui chơi sau các tiết học Dođiều kiện thời gian trong khuôn khổ khóa luận của mình, tôi chỉ tiến hànhnghiên cứu trên đối thượng là HS khối 6 HS khối 6 gồm có 74 HS, gồm có
35 HS nam và 39 HS nữ Học sinh khối 6 được đánh giá là học sinh ngoantrong 4 khối của nhà trường
Trang 362.1.2.2 Tiến trình nghiên cứu
Tiến tình nghiên cứu bao gồm các giai đoạn sau:
- Chuẩn bị: Nhiệm vụ của giai đoạn này là sưu tâm, nghiên cứu tàiliệu có liên quan đến đề tài trẻ khó học và xây dựng hoàn chỉnh đề cươngnghiên cứu
- Giai đoạn điều tra, khảo sát: Nhiệm vụ của giai đoạn này là áp dụngcác phương pháp nghiên cứu để điều tra, thu thập và xử lý, phân tích kết quảnghiên cứu
- Đưa ra kết luận và kiến nghị
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: hệ thống hóa vấn đề nghiên cứu trên thế giới cũng như ởViệt Nam Từ đó xác lập quan điểm chủ đạo trong việc nghiên cứu đề tài.Xây dựng phiếu sàng lọc cụ thể cũng như nội dung bảng phỏng vấn sâu
- Nội dung nghiên cứu:
+ Tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trongnước và trên ngoài nước về vấn đề trẻ khó học
+ Xây dựng khái niệm về trẻ khó học, đặc điểm của trẻ khó học,nguyên nhân, phân loại và cách chẩn đoán trẻ khó học
+ Trên cơ sở nghiên cứu lý luận xác nhận nội dung nghiên cứu thực tiễn
2.2.2 Phương pháp test
2.2.2.1 Test dành cho GV
- Công cụ: gồm 2 phiếu sàng lọc, bút, sổ ghi chép
- Nội dung của phiếu sàng lọc: trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp cáctài liệu về trẻ khó học (ICD -10, Tâm lý học trẻ em gặp khó khăn) tôi đã xâydựng nên phiếu sàng lọc học sinh khó học (được đính kèm tại phụ lục 1)
Trang 37- Cách tiến hành: Phiếu sàng lọc này không giới hạn thời gian làmphiếu của GV.
+ Nghiệm viên phát phiếu sàng lọc cho hai GV chủ nhiệm của hai lớp6A và 6B
+ Nghiệm viên giải thích cách làm phiếu sàng lọc cho GV: Đây làphiếu sàng lọc giúp tách HS có những biểu hiện khó học ra khỏi các HS bìnhthường trong lớp Phiếu gồm có tên HS và các biểu hiện của HS khó học.Những HS có biểu hiện nào trong các biểu hiện nêu trong phiếu sàng lọc thì
GV ghi tên học sinh đó vào cột họ tên đồng thời tích vào cột biểu hiệntương ứng Biểu hiện nào HS đó không có thì GV để trống
+ Thu phiếu sàng lọc về: Sau khi GV làm xong nghiệm viên tiến hànhthu phiếu về
2.2.2.2 Test Raven dành cho HS
- Mục đích: Trắc nghiệm Raven thuộc loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ,
nó được dùng để đo các năng lực tư duy trên bình diện rộng Test này được
sử dụng nhằm mục đích đánh giá mức độ trí tuệ của học sinh nhằm tách cáchọc sinh khó học ra khỏi nhóm học sinh kém phát triển trí tuệ, thiểu năng
- Dụng cụ gồm: quyển sách trắc nghiệm gồm 60 bài tập, tờ ghi, bảngkhóa chấm điểm, bút
- Nội dung trắc nghiệm: trắc nghiệm gồm 60 bài tập chia là 5 loạt (A,
B, C, D, E), mỗi loạt gồm 15 bài tập Mỗi loạt đều được bắt đầu từ bài tập dễ
và được kết thúc bằng bài tập phức tạp nhất Các bài tập từ loạt này đến loạtbài tập kia cũng phức tạp dần dần như vậy Năm loạt bài tập trong trắcnghiệm được cấu tạo theo nguyên tắc:
+ Loạt A: tính liên tục, trọn vẹn của cấu trúc
+ Loạt B: Sự giống nhau, tính tương đồng giữa các cấu trúc
+ Loạt C: tính tiếp diễn, logic của sự biến đổi cấu trúc
Trang 38+ Loạt D: sự thay đổi logic vị trí của các hình
+ Loạt E: Phân tích các bộ phận trắc nghiệm dùng cho trẻ em từ 8 tuổitrở lên và người lớn Có thể sử dụng trắc nghiệm này cho cá nhân hoặc nhóm
- Cách tiến hành: Thời gian tiến hành bài trắc nghiệm là 60 phút.Nghiệm viên phát tờ giấy và yêu cầu nghiệm thể tự ghi những phần tìm hiểu
về cá nhân trên tờ ghi Sau khi nghiệm thể đã làm xong sẽ phát quyển trắcnghiệm cho nghiệm thể và nói: Trên tất cả các trang trong quyển trắc nghiệmđều có một hình với một mẫu bị cắt Ở mỗi trang bạn cần xác định trong sốnhững hình mẫu cho sẵn ở cuối trang cái nào phù hợp với hình trên Bạn ghikết quả vào tờ ghi của bạn Hãy tiếp tục làm các hình khác cho đến hết quyểnsách Thời gian tiến hành bài trắc nghiệm là 60 phút
- Thang đánh giá mức độ trí tuệ trong trắc nghiệm này được chialàm 5 mức:
+ Mức 1: loại trí tuệ cao nếu điểm tổng của một cá nhân nằm trongkhoảng 95% và trên 95% số người cùng tuổi thọ
+ Mức 2: Trên mức trung bình về khả năng trí tuệ nếu điểm tổng củamột người nằm trong khoảng từ 75% đến hơn 75%
+ Mức 3: Trí tuệ trung bình nếu tổng điểm của họ nằm giữa khoảng25% đến 75%
+ Mức 4: Dưới mức trung bình về khả năng trí tuệ nếu điểm của người
Trang 39dấu hiệu của trẻ khó học Từ đó khái quát lên đặc điểm của đối tượng nghiêncứu và đưa ra kết luận và các kiến nghị để giúp đỡ các em.
- Mục đích: Tìm hiểu hoạt động học tập, vui chơi của HS khối 6 Tìmhiểu các biểu hiện của HS có khó khăn trong học tập
- Đối tượng quan sát: Tiến hành quan sát trên 1 trường hợp HS khóhọc cụ thể
- Nội dung quan sát: Quan sát hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của trẻkhó học trong quá trình học tập trên lớp, tại gia đình và trong quá trình giaotiếp với bạn bè, gia đình, người thân
- Cách thức quan sát: Tiến hành quan sát có chủ định đề nắm bắt thái
- Đối tượng phỏng vấn: GV chủ nhiệm, PH , và HS có biểu hiện củatrẻ khó học và 1-2 HS khác trong lớp
- Cách thức phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượngtheo nội dung xây dựng trước
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu trường hợp (nghiên cứu theo ca) là phương pháp nhà tâm
lý học lâm sàng nghiên cứu một cá nhân cụ thể trong một tình huống lâmsàng để thu thập những thông tin trực tiếp, điển hình và có hệ thống về HSkhó học Đặc biệt những biểu hiện về mặt tâm lý của họ
Trang 40Trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ chọn ra một trường hợp cụ thể đểnghiên cứu.
2.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng toán thống kê ứng dụngtrong nghiên cứu dành cho ngành Khoa học xã hội Kết quả đo lường đượctrình bày trên các bảng số liệu và biểu đồ mang tình trực quan
2.2.7 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về vấn đề xây dựng đề cương, sử dụng test đánhgiá, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, trong toàn bộ quá trình nghiên cứu
2.3 Tiểu kết chương 2
Tóm lại để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một hệ thống gồmcác phương pháp nghiên cứu dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính chính xác vàkhách quan của các kết quả nghiên cứu