1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si dinh thi tuyet 20230331102353 e 9744

89 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Đinh Thị Tuyết
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Hương
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Tố Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 739,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂMNGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI (15)
    • 1.1. Khái quát chung về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam (15)
      • 1.1.1. Khái niệm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (15)
      • 1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (15)
    • 1.2. Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi (22)
      • 1.2.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi (22)
      • 1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi (25)
    • 1.3. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 20 1. Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự (27)
      • 1.3.2. Thực hành quyền công tố đối với việc khởi tố bị can (28)
      • 1.3.3. Thực hành quyền công tố việc xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (29)
      • 1.3.4. Thực hành quyền công tố đối với việc tạm giữ (30)
      • 1.3.5. Xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam (30)
      • 1.3.6. Thực hành quyền công tố đối với việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác (31)
      • 1.3.7. Thực hành quyền công tố trong các hoạt động điều tra vụ án hình sự (33)
    • 2.1. Đặc điểm tình hình có liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội (42)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hà Nội (42)
      • 2.1.2. Tình hình giải quyết vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội (43)
      • 2.1.3. Khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội (44)
    • 2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội (45)
      • 2.2.1. Những kết quả đạt được (45)
      • 2.2.2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân (57)
  • CHƯƠNG 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (42)
    • 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi (62)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi (63)
      • 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật (63)
      • 3.2.2. Giải pháp về thực thi pháp luật (67)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂMNGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Khái quát chung về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 Hành vi này được hướng dẫn áp dụng theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, liên quan đến các Điều 141, 142, 143, 144, và 145.

Theo Bộ Luật hình sự 146, 147, hiếp dâm người dưới 16 tuổi được định nghĩa là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân Hành vi này bao gồm cả việc giao cấu và thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác với người chưa đủ tuổi.

13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái ý muốn của nạn nhân hoặc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới mười ba tuổi

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Hành vi phạm tội xâm phạm quyền bảo vệ thân thể, nhân phẩm và danh dự của người dưới 16 tuổi, đặc biệt là hành vi hiếp dâm, không chỉ đe dọa tính mạng và sức khỏe của nạn nhân mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội Hành vi này làm tổn hại đến thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em dưới 16 tuổi.

- Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau đây:

Hành vi dùng vũ lực bao gồm việc sử dụng sức mạnh vật chất như trói, gây thương tích, vật ngã, xé quần áo, bóp cổ, bịt mồm, và đút dẻ vào mồm để ngăn cản nạn nhân kêu cứu Những hành động này nhằm mục đích đè bẹp sự chống cự của người bị hại.

16 tuổi để giao cấu với người dưới 16 tuổi đó

Hành vi đe dọa dùng vũ lực, như việc người phạm tội giao cấu đe dọa gây thương tích, đe dọa giết người thân của nạn nhân, hoặc đe dọa trả thù, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần, khiến nạn nhân sợ hãi và tê liệt ý chí phản kháng.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân là hành vi mà người phạm tội thực hiện giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác khi nạn nhân rơi vào các hoàn cảnh không thể chống cự, như bị tai nạn, ngất xỉu, bị trói hoặc khuyết tật Ngoài ra, nạn nhân cũng có thể bị hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do say rượu, bia, thuốc ngủ, ma túy, hoặc các chất kích thích khác, dẫn đến việc không thể phản kháng.

Hành vi sử dụng thủ đoạn để giao cấu với nạn nhân bao gồm việc đầu độc, cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, hoặc các chất kích thích mạnh khác, khiến nạn nhân mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Ngoài ra, việc hứa hẹn về việc tốt nghiệp, đi học, thi đấu, hoặc biểu diễn ở nước ngoài cũng được coi là thủ đoạn để thực hiện hành vi quan hệ tình dục.

Hành vi quan hệ tình dục khác được hiểu là hành vi giữa những người cùng hoặc khác giới, trong đó sử dụng bộ phận sinh dục nam hoặc các bộ phận khác trên cơ thể như ngón tay, ngón chân, lưỡi, hoặc dụng cụ tình dục để xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hoặc hậu môn của người khác Các hành vi này bao gồm: (a) Đưa bộ phận sinh dục nam vào miệng hoặc hậu môn của người khác; (b) Sử dụng các bộ phận khác trên cơ thể hoặc dụng cụ tình dục để xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ hoặc hậu môn của người khác.

Giao cấu với người dưới 16 tuổi, bao gồm cả hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, được coi là hành vi vi phạm pháp luật Đặc biệt, giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã xảy ra, bất kể có xâm nhập hay không.

Trái với ý muốn của nạn nhân, hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội diễn ra khi người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí Để xác định liệu người bị hại dưới 16 tuổi có đồng ý hay không, cần xem xét các yếu tố như mức độ bạo lực hoặc hành vi khác mà người phạm tội sử dụng để làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân Thái độ phản kháng của nạn nhân trước, trong và sau khi bị hiếp dâm, bao gồm các biểu hiện như kêu khóc, gào thét, chửi bới, cấu xé, vận lộn và đánh lại, cũng cần được đánh giá Cuối cùng, hiện trường nơi xảy ra hành vi hiếp dâm cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định tính chất của vụ việc.

Mọi hành vi giao cấu với người dưới 13 tuổi, bất kể có sử dụng vũ lực, đe dọa hay không, đều bị coi là tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Nếu người phạm tội phải từ bỏ hành vi do bị chống trả hoặc có nguy cơ bị phát hiện, họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp tự ý chấm dứt hành vi, người phạm tội chỉ bị xử lý về những hành vi đã gây ra cho nạn nhân, như tội làm nhục hoặc cố ý gây thương tích Đối với người từ 13 đến dưới 16 tuổi, nếu có sự thỏa thuận trong giao cấu, người đó có thể bị truy cứu về tội giao cấu với người dưới 16 tuổi.

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình Họ có thể biết hoặc không biết rằng nạn nhân dưới 16 tuổi, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đó.

Chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi bao gồm bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự, không phân biệt giới tính, có thể là nam hoặc nữ Mặc dù thường thấy nam giới là người phạm tội, nhưng phụ nữ cũng có thể đóng vai trò đồng phạm, bao gồm tổ chức, giúp sức hoặc xúi giục hành vi hiếp dâm.

Khung hình phạt cho tội phạm được quy định như sau: Tại khoản 1, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 đến 15 năm Tại khoản 2, nếu phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng như loạn luân, làm nạn nhân có thai, gây thương tích từ 31% đến 60%, hoặc đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, phạt tù sẽ từ 12 đến 20 năm Ngoài ra, nếu người phạm tội tái phạm từ 02 lần trở lên hoặc phạm tội đối với 02 người trở lên mà chưa bị xử lý hình sự, sẽ bị truy tố và xét xử cùng một lúc, với các tình tiết tăng nặng theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp có từ hai người trở lên thực hiện tội phạm hai lần trở lên, người phạm tội sẽ bị áp dụng hai tình tiết định khung hình phạt tăng nặng theo điểm đ và e khoản 2 Điều 142 BLHS Tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS, áp dụng cho những người đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích Nếu người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo các điểm a, b, c, d, đ, e khoản Điều 142 BLHS, họ sẽ bị áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” và các điểm tương ứng trong khoản 2 Điều 142 BLHS.

Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng được VKS thực hiện bằng các khâu công tác cụ thể Trong TTHS, Viện kiểm sát THQCT và kiểm hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi có vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình giải quyết vụ án của CQĐT Như vậy, có thể thấy VKSND thực hiện đồng thời hai chức năng: THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra

THQCT là một trong hai chức năng cơ bản của VKS, và QCT luôn gắn liền với THQCT trong cả lý luận khoa học luật hình sự và thực tiễn thi hành Khi bàn về QCT, cần phải liên kết nó với hoạt động THQCT để có ý nghĩa đầy đủ Việc tách bạch QCT với THQCT chỉ nhằm nhấn mạnh từ góc độ lý luận, trong khi thực tiễn cho thấy chúng luôn song hành với nhau.

Công tố, theo từ điển tiếng Việt, là hành động truy tố và buộc tội bị cáo, đồng thời phát biểu ý kiến trước Tòa án nhân danh Nhà nước Quyền công tố (QCT) thể hiện quyền của Nhà nước trong việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, đồng thời là quyền buộc tội và trình bày ý kiến về hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong khoa học pháp lý, công tố là quyền lực công của Nhà nước nhằm truy tố người bị tình nghi phạm tội ra trước pháp luật Đây là bổn phận của Nhà nước trong việc xử lý tội phạm, bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội, cho thấy Nhà nước độc quyền trong các hoạt động này Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện bởi cơ quan có chức năng THQCT, yêu cầu sự kiện có dấu hiệu tội phạm phải trải qua nhận thức, đánh giá và áp dụng các quy định pháp luật để có thể tuyên bố đó là hành vi phạm tội và xử phạt đối tượng liên quan.

Quá trình nhận thức trong pháp luật hình sự được hình thành qua việc thu thập, xác định và đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Quyền công tố (QCT) là quyền lực của Nhà nước, được giao cho cơ quan chuyên trách thực hiện QCT chỉ áp dụng cho các cơ quan có thẩm quyền, không phải cho hành vi phạm tội Để đảm bảo QCT được thực hiện hiệu quả và tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thực hiện QCT.

Quyền công tố (QCT) được hiểu là quyền của cơ quan công tố đại diện cho công quyền, thực hiện việc truy tố và buộc tội đối với người phạm tội, đồng thời bảo vệ các cáo buộc trước Tòa án.

Theo từ điển tiếng Việt, “thực hành” có nghĩa là áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, trong khi “công tố” là việc truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án Tuy nhiên, cụm từ “thực hành quyền công tố” không được giải thích rõ ràng Theo từ điển luật học, “thực hành quyền công tố” là việc sử dụng các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Tuy nhiên, định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác Để quyền công tố được thực hiện hiệu quả, Nhà nước cần có các văn bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ, đảm bảo tôn trọng quyền tự do và dân chủ của công dân trong quá trình tố tụng hình sự.

Đề tài khoa học cấp Bộ mang tên “Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp” do ông Hoàng Nghĩa Mai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Hà Nội vào năm 2014.

3 Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Đại học luật Hà Nội, 2008, trang 53

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan công tố, cùng với việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn, được hiểu là hoạt động của Thực hành quyền công tố (THQCT).

Thực hành quyền công tố là hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan công tố trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Tòa án.

Trong quá trình tố tụng hình sự, cơ quan công tố có trách nhiệm thu thập đầy đủ tài liệu và chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Khi đã có đủ chứng cứ, cơ quan công tố sẽ quyết định truy tố bị can ra tòa án có thẩm quyền và bảo vệ sự buộc tội trong phiên tòa Do đó, đối tượng của tố tụng hình sự là hành vi phạm tội của bị can, bị cáo, và nội dung của tố tụng là sự buộc tội đối với họ.

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKSND nhằm buộc tội người phạm tội, diễn ra sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn điều tra bắt đầu khi Cơ quan điều tra tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật TTHS, nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội, từ đó đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách chính xác.

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm buộc tội người xâm hại quyền được tôn trọng, bảo vệ sức khoẻ và danh dự của nạn nhân Quá trình này bắt đầu khi Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra, đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án theo quy định pháp luật.

1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Căn cứ vào Luật tổ chức VKSND năm 2014 và pháp luật TTHS, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi có những đặc điểm riêng biệt.

THQCT là chức năng hiến định của VKSND trong việc thực thi quyền lực Nhà nước, đặc biệt trong việc truy cứu TNHS đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi Trong giai đoạn điều tra, VKSND hoạt động dưới sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKSND các cấp và sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC.

Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 20 1 Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự

1.3.1 Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong quá trình tố tụng hình sự, diễn ra khi cơ quan điều tra (CQĐT) tiếp nhận và xác minh thông tin về tội phạm từ các nguồn khác nhau Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự được đưa ra dựa trên kết quả kiểm tra này Sự phối hợp giữa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra và Viện kiểm sát (VKS) là rất quan trọng trong quá trình này, nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của các hoạt động điều tra.

VKS thực hiện quyền công tố nhằm đảm bảo rằng các quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT và các cơ quan điều tra khác đều có căn cứ pháp lý, ngăn chặn oan sai và bỏ lọt tội phạm Qua việc xem xét tài liệu và chứng cứ liên quan, VKS sẽ đánh giá và thông báo bằng văn bản cho CQĐT về tính hợp pháp của quyết định khởi tố Nếu quyết định khởi tố không có căn cứ, VKS sẽ yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định đó Trong trường hợp CQĐT không đồng ý, VKS sẽ căn cứ theo Điều 161 BLTTHS năm 2015 để ra quyết định hủy bỏ theo quy định.

Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về việc phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện một số quy định.

Bộ luật tố tụng hình sự (TTLT 04/2018/TTLT) quy định rằng nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự không đúng hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố, VKS có quyền yêu cầu cơ quan đã khởi tố thay đổi hoặc bổ sung quyết định Nếu không đồng ý, VKS sẽ tự ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung Theo Điều 161 BLTTHS năm 2015, nếu quyết định khởi tố không có căn cứ, VKS có thể yêu cầu hủy bỏ quyết định đó Do đó, việc thực hiện tốt công tác THQCT trong khởi tố vụ án hình sự là rất quan trọng để chống oan, sai và là tiền đề cho việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can.

1.3.2 Thực hành quyền công tố đối với việc khởi tố bị can

Theo Điều 179 BLTTHS năm 2015, khi có đủ căn cứ xác định một người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội, CQĐT sẽ ra quyết định khởi tố bị can Thủ tục này nhằm điều tra và làm rõ lỗi của người đó trong việc thực hiện tội phạm VKS kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố; nếu hợp lệ, sẽ phê chuẩn và gửi cho cơ quan khởi tố Nếu chưa rõ căn cứ, VKS yêu cầu bổ sung tài liệu KSV có thể hỏi cung bị can và lấy lời khai để làm rõ trước khi phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố Nếu phát hiện thêm người khác có hành vi phạm tội, VKS sẽ yêu cầu khởi tố họ Nếu hết thời hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ, VKS sẽ hủy quyết định khởi tố và yêu cầu trả tự do cho người bị tạm giữ Trong quá trình THQCT, nếu hành vi của bị can không phạm tội đã khởi tố mà vi phạm tội khác, VKS có thể yêu cầu CQĐT thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố.

1.3.3 Thực hành quyền công tố việc xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Điều 110 BLTTHS năm 2015 quy định về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; khi người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS, trong mọi trường hợp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn

Theo Điều 110 BLTTHS năm 2015 và Quy chế số 111, ngay sau khi nhận hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, KSV được phân công phải kiểm tra hồ sơ, đảm bảo đầy đủ tài liệu, chứng cứ Nếu thiếu, KSV yêu cầu bổ sung và xác định thẩm quyền giữ người theo quy định Trong trường hợp có dấu hiệu lạm dụng hoặc chưa đủ căn cứ, KSV phải hỏi người bị giữ trước khi báo cáo lãnh đạo Khi cần hỏi, KSV thông báo cho cơ quan điều tra để phối hợp Biên bản ghi lời khai phải tuân thủ quy định và được đưa vào hồ sơ vụ án Lãnh đạo VKS phải quyết định phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ, tính liên tục cả ngoài giờ làm việc.

1.3.4 Thực hành quyền công tố đối với việc tạm giữ

Ngay sau khi nhận quyết định tạm giữ, KSV kiểm tra tính hợp pháp và căn cứ của việc tạm giữ để báo cáo lãnh đạo Nếu không có căn cứ, KSV sẽ hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu trả tự do cho người bị tạm giữ theo Điều 117 BLTTHS năm 2015 Nếu việc gia hạn tạm giữ có căn cứ, lãnh đạo VKS phải phê chuẩn trong vòng 12 giờ Ngược lại, nếu không cần thiết, VKS sẽ không phê chuẩn và yêu cầu trả tự do theo Điều 118 BLTTHS năm 2015 Trong trường hợp VKS đã phê chuẩn gia hạn lần đầu nhưng không phê chuẩn lần hai, VKS sẽ ra quyết định trả tự do.

1.3.5 Xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam

Theo quy định tại Điều 113, Điều 119, Điều 173 BLTTHS năm 2015 và Điều 17 Quy chế số 111, khi khởi tố bị can, nếu có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, CQĐT sẽ ra lệnh tạm giam hoặc lệnh bắt bị can để tạm giam và đề nghị VKS phê chuẩn VKS có trách nhiệm kiểm tra tài liệu trong vòng ba ngày kể từ khi nhận được đề nghị và quyết định việc phê chuẩn Nếu chưa có căn cứ, VKS yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu Nếu CQĐT không ra lệnh bắt bị can, VKS sẽ ra lệnh bắt và chuyển cho CQĐT thực hiện VKS cũng phải kiểm sát việc thi hành lệnh bắt và thời hạn tạm giam; nếu biện pháp tạm giam không còn cần thiết, VKS yêu cầu CQĐT đề nghị hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giam.

Trước khi hết thời hạn tạm giam 10 ngày, nếu CQĐT chưa có văn bản đề nghị gia hạn tạm giam, KSV cần yêu cầu ĐTV báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT để có văn bản đề nghị gia hạn hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam KSV phải hoàn thành báo cáo và đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam để xem xét việc thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.

1.3.6 Thực hành quyền công tố đối với việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác

Theo BLTTHS năm 2015, các biện pháp ngăn chặn khác bao gồm bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, và tạm hoãn xuất cảnh KSV thụ lý vụ án phải kiểm sát chặt chẽ các căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn theo Điều 125 BLTTHS Khi xem xét hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, KSV cần báo cáo và đề xuất lãnh đạo VKS giải quyết Đối với quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không do VKS phê chuẩn, VKS yêu cầu cơ quan điều tra hủy bỏ; nếu không thực hiện, VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ Đối với quyết định do VKS phê chuẩn, VKS cũng sẽ ra quyết định hủy bỏ Việc đặt tiền để bảo đảm được thực hiện theo TTLT số 06/2018, quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, và việc hoàn trả, tịch thu số tiền đã đặt.

Khi xem xét hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn (BPNC) theo quy định tại khoản 2 Điều 125 BLTTHS, KSV cần báo cáo và đề xuất lãnh đạo VKS giải quyết Đối với quyết định áp dụng BPNC không do VKS phê chuẩn, nếu không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng BPNC khác mà cơ quan điều tra không hủy bỏ, VKS sẽ yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế Nếu cơ quan điều tra hủy bỏ hoặc thay thế nhưng VKS cho rằng không có căn cứ và trái pháp luật, VKS sẽ yêu cầu hủy bỏ; nếu cơ quan điều tra không thực hiện, VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ.

VKS có quyền hủy bỏ hoặc thay thế quyết định áp dụng BPNC mà mình đã phê chuẩn hoặc ban hành Điều này áp dụng trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giữ chưa hết.

Cơ quan có thẩm quyền điều tra quyết định khởi tố vụ án và bị can, nếu không cần thiết tạm giữ, sẽ căn cứ vào khoản 2 Điều 125 BLTTHS năm 2015 để yêu cầu VKS hủy bỏ biện pháp tạm giữ Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, VKS sẽ yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện, VKS sẽ tự thực hiện.

1.3.7 Thực hành quyền công tố trong các hoạt động điều travụ án hình sự 1.3.7.1 Đề ra yêu cầu điều tra

KSV được phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cần chủ động trao đổi với ĐTV về các vấn đề điều tra ngay từ khi kiểm sát việc KNHT và trong suốt quá trình điều tra KSV có thể đề ra yêu cầu điều tra (YCĐT) bằng lời nói trong các hoạt động như khám nghiệm tử thi, hỏi cung, và lấy lời khai Đối với các trường hợp khác, YCĐT phải được lập thành văn bản, nêu rõ các vấn đề cần điều tra để thu thập chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 Văn bản YCĐT cần rõ ràng, cụ thể và khả thi, đồng thời phải được lưu vào hồ sơ vụ án Trong quá trình THQCT, KSV phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của ĐTV, đảm bảo các YCĐT được thực hiện đầy đủ Nếu có vấn đề cần điều tra thêm, KSV kịp thời đề ra YCĐT tiếp theo, và trong trường hợp không nhất trí với ĐTV, cần báo cáo lãnh đạo để thống nhất nội dung YCĐT Nếu không thể thực hiện đầy đủ các YCĐT do điều kiện khách quan, lý do phải được nêu rõ trong Bản kết luận điều tra theo quy định.

1.3.7.2 Thực hành quyền công tố đối với việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể; thực nghiệm điều tra, giám định

Đặc điểm tình hình có liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hà Nội

Thủ đô Hà Nội nằm ở phía tây bắc của đồng bằng sông Hồng, với tọa độ từ 20°34' đến 21°18' vĩ độ Bắc và từ 105°17' đến 106°02' kinh độ Đông Thành phố tiếp giáp với 8 tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông; và Hòa Bình cùng Phú Thọ ở phía Tây Hiện tại, Hà Nội có diện tích 3358,6 km², chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên của cả nước, đứng thứ 41 về diện tích trong 63 tỉnh, thành phố và là một trong 17 thủ đô có diện tích trên 3000 km².

Thủ đô Hà Nội, trái tim của cả nước, được xếp vào đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt với 30 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 12 quận, 17 huyện và 1 thị xã Tính đến năm 2019, Hà Nội có 8,05 triệu dân cư, trong đó 49,2% là người thành thị, với mật độ dân số 2.398 người/km², nhưng phân bố không đồng đều giữa các quận, huyện và giữa thành thị với nông thôn Với điều kiện địa lý và kinh tế thuận lợi, Hà Nội đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự, do sự gia tăng tội phạm ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa và xã hội.

Thủ đô đang đối mặt với tình trạng thất thoát nghiêm trọng về thời gian, sức lao động và tài sản của nhân dân, dẫn đến sự suy đồi về tư tưởng và đạo đức, cũng như tha hóa nhân cách con người Điều này là nguyên nhân chính phát sinh các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm xâm phạm tính mạng và sức khỏe con người, trong đó có tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi.

2.1.2 Tình hình giải quyết vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hà Nội, trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và kinh tế của cả nước, đã chứng kiến sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm Tuy nhiên, sự phát triển này cũng dẫn đến phân hóa giàu nghèo và hình thành một bộ phận người lười lao động Là thành phố thu hút nhiều người từ khắp nơi đến học tập và sinh sống, Hà Nội gặp khó khăn trong quản lý tạm trú và an ninh xã hội Theo số liệu từ VKSND thành phố Hà Nội, tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi, đang trở nên phức tạp Báo cáo số 741-BC/TU ngày 30/9/2020 đã tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT-TW về tăng cường lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm.

Hà Nội đã kiểm soát tình hình tội phạm, với số vụ phạm tội hàng năm dao động từ 5000-6000 vụ Các vụ án nghiêm trọng như giết người, cướp tài sản và hiếp dâm không còn tồn tại các tụ điểm tệ nạn xã hội, và các ổ nhóm tội phạm đã bị triệt phá Tuy nhiên, một số nhóm tội phạm mới đang nổi lên, bao gồm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe và danh dự của con người, cũng như tội phạm xâm hại tình dục trẻ em vẫn diễn biến phức tạp Mặc dù tội phạm xâm phạm sở hữu có xu hướng giảm, nhưng tính chất của chúng ngày càng liều lĩnh và manh động.

Từ năm 2018 đến giữa năm 2022, tại thành phố Hà Nội đã khởi tố tổng cộng 112 vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi, với 115 bị can Cụ thể, năm 2018 ghi nhận 25 vụ với 26 bị can, năm 2019 có 22 vụ và 22 bị can, năm 2020 là 27 vụ với 27 bị can.

2021 là 25 vụ/ 25 bị can; 06 tháng đầu năm 2022 là 13 vụ/15 bị can (Số liệu chi tiết được nêu ở các biểu phần phụ lục)

2.1.3 Khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội

VKSND hai cấp thành phố Hà Nội được tổ chức theo địa giới hành chính, tương ứng với hệ thống TAND và CQĐT trong Công an nhân dân Hiện tại, VKSND thành phố Hà Nội có 13 phòng nghiệp vụ, Văn phòng và 14 VKSND cấp huyện với tổng số 916 cán bộ, công chức, trong đó có 102 Thạc sĩ luật và 664 Cử nhân luật Đội ngũ KSV chiếm 52,6% tổng số cán bộ, với 482 KSV, bao gồm 1 KSV cao cấp, 163 KSV trung cấp và 318 KSV sơ cấp Cơ cấu VKS hai cấp thành phố Hà Nội gồm 45 đơn vị, trong đó có 30 VKSND quận, huyện, thị xã và 15 phòng nghiệp vụ Cơ sở vật chất đã được cải thiện, với mạng lưới công nghệ thông tin hiện đại phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ và quản lý 11 trụ sở VKS cấp huyện mới đã được xây dựng, cùng với việc sửa chữa, nâng cấp 14 trụ sở VKS cấp quận huyện và Trụ sở VKSND thành phố, đảm bảo đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Trong những năm qua, Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hà Nội đã tích cực thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW và các chỉ thị liên quan Đặc biệt, Viện đã chú trọng đến việc tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra, thông qua việc nâng cao năng lực cán bộ và đào tạo kỹ năng cho kiểm sát viên Công tác thực hành quyền công tố (THQCT) trong giai đoạn điều tra, đặc biệt đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi, đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong công tác THQCT, chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngày đăng: 22/07/2023, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2003), Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
3. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2006), Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TWcủa Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010)
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
4. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2007), Kế hoạch số 06-KH/CCTP về sơ kết Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 06-KH/CCTP về sơ kết Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
6. Bộ trưởng Bộ Công an(2018) ban hành “Hướng dẫn công tác phòng ngừa nghiệp vụ, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố về tội phạm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác phòng ngừa nghiệp vụ, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố về tội phạm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Công an
Năm: 2018
7. Bộ Công an, Cục C02 (2020) “Phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi giai đoạn 2021-2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi giai đoạn 2021-2025
Tác giả: Bộ Công an, Cục C02
Năm: 2020
9. Bộ trưởng Bộ Y tế (2020),Quy trình giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi ngờ bị xâm hại tình dục ban hành kèm theo Quyết định số 5609/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi ngờ bị xâm hại tình dục
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Y tế
Năm: 2020
10.Duy Tân (2021) “Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em”. Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em
Tác giả: Duy Tân
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2021
11. Đảng cộng sản Việt nam (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
12. Đảng cộng sản Việt nam (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
13. Đảng cộng sản Việt nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
14. Đảng cộng sản Việt nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng cộng sản Việt nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
16. Đảng cộng sản Việt nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
19. Đảng cộng sản Việt nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng cộng sản Việt nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
21. Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp” do Ông Hoàng Nghĩa Mai, nguyên PVTTT VKSNDTC chủ nhiệm đề tài, Hà Nội năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Ông Hoàng Nghĩa Mai
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
22. Đề tài khoa học cấp cơ sở- Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Tội phạm xâm hại tình dục theo Bộ luật hình sự năm 2015- Một số vấn đề pháp lý hình sự và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm xâm hại tình dục theo Bộ luật hình sự năm 2015- Một số vấn đề pháp lý hình sự
Tác giả: Đề tài khoa học cấp cơ sở- Viện kiểm sát nhân dân tối cao
23. GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) Quyển 1, Nxb Tư pháp năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) Quyển 1
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê số vụ án và số bị can phạm tội “Hiếp dâm người dưới - Luan van thac si dinh thi tuyet 20230331102353 e 9744
Bảng 2.1. Bảng thống kê số vụ án và số bị can phạm tội “Hiếp dâm người dưới (Trang 86)
Bảng 2.2. Số bị can VKS không phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong các - Luan van thac si dinh thi tuyet 20230331102353 e 9744
Bảng 2.2. Số bị can VKS không phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn trong các (Trang 87)
Bảng 2.3. Số vụ án “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” tạm đình chỉ trong giai - Luan van thac si dinh thi tuyet 20230331102353 e 9744
Bảng 2.3. Số vụ án “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” tạm đình chỉ trong giai (Trang 88)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm