1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thế giới nghệ thuật tiểu thuyết y điêng

104 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Tieu Thuyết Y Điêng
Tác giả Phan Đình Huy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Đấu
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 4. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 5. Đóng góp của luận văn (12)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (12)
  • Chương 1.NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG (0)
    • 1.1. Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng (14)
      • 1.1.1. Con người cộng đồng (14)
      • 1.1.2. Con người nghệ sĩ (18)
      • 1.1.3. Con người bất hạnh (21)
      • 1.1.4. Con người tha hóa (24)
    • 1.2. Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng (27)
      • 1.2.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật (27)
      • 1.2.2. Miêu tả hành động nhân vật (31)
      • 1.2.3. Miêu tả ngôn ngữ nhân vật (33)
      • 1.2.4. Miêu tả tâm lý nhân vật (39)
  • Chương 2. KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG (0)
    • 2.1. Không gian nghệ thuật (44)
      • 2.1.1. Không gian thiên nhiên (44)
      • 2.1.2. Không gian sinh hoạt (50)
    • 2.2. Thời gian nghệ thuật (61)
      • 2.2.1. Thời gian lịch sử tuyến tính (62)
      • 2.2.2. Thời gian tâm trạng (63)
    • 3.2. Giọng điệu (86)
      • 3.2.1. Giọng điệu ngợi ca (87)
      • 3.2.2. Giọng điệu cảm thương, xót xa (89)
      • 3.2.3. Giọng điệu căm thù, tố cáo (91)
  • KẾT LUẬN (96)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình

Vận dụng những đặc điểm về thể loại tiểu thuyết để nghiên cứu những vấn đề có liên quan

4.2 Lý thuyết thi pháp học luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Vận dụng lý luận của thi pháp học để nghiên cứu những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Y Điêng

4.3 Phương pháp phân tích, khái quát

Việc phân tích, miêu tả cụ thể kết hợp tổng hợp, khái quát giúp tìm ra những nét đặc sắc trong tiểu thuyết Y Điêng

Tiểu thuyết Y Điêng thể hiện sự phát triển phong cách độc đáo của tác giả khi so sánh với các tác phẩm khác của ông Đồng thời, việc đối chiếu với các tác giả dân tộc khác giúp làm nổi bật "dòng riêng giữa nguồn chung" của nhà văn Qua đó, tiểu thuyết Y Điêng khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo và đóng góp quan trọng của nó đối với nền văn học Tây Nguyên cũng như văn học hiện đại Việt Nam.

Đóng góp của luận văn

Đề tài "Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Y Điêng" khảo sát và phân tích bốn cuốn tiểu thuyết của Y Điêng nhằm tìm hiểu các kiểu nhân vật, đặc điểm không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu của tác phẩm Qua đó, bài viết làm nổi bật nét riêng và vị trí của Y Điêng trong văn xuôi Tây Nguyên cũng như văn xuôi hiện đại của dân tộc Luận văn cũng cung cấp tài liệu tham khảo quý giá về tác giả Y Điêng, hỗ trợ cho việc giảng dạy văn học địa phương trong nhà trường.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 của tiểu thuyết Y Điêng khám phá các nhân vật chính, làm nổi bật sự phát triển và mối quan hệ của họ Chương 2 tập trung vào không gian và thời gian nghệ thuật, phân tích cách chúng ảnh hưởng đến cốt truyện và cảm xúc của nhân vật Cuối cùng, Chương 3 xem xét ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật, nhấn mạnh sự sáng tạo trong cách diễn đạt và phong cách viết của tác giả.

Chương 1 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG

Trong tiểu thuyết, nhân vật là yếu tố quan trọng nhất mà nhà văn xây dựng, đóng vai trò trung tâm trong việc giải quyết mọi vấn đề Nhân vật không chỉ là hình ảnh cụ thể mà còn là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học, theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học.”

Theo Giáo trình lý luận văn học, nhân vật văn học được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà còn bao gồm các sự vật và loài vật khác nhau, mang tính cách của con người Những nhân vật này được sử dụng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đôi khi, nhân vật không phải là những con người hay sự vật cụ thể, mà chỉ là hiện tượng liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm.

Theo Trần Đình Sử, nhân vật trong văn học không chỉ là đối tượng mà còn là phương tiện phản ánh hiện thực Việc sáng tạo và hư cấu nhân vật nhằm khái quát tư tưởng và thái độ của nhà văn đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật đồng nghĩa với việc ca ngợi đời sống, trong khi lên án nhân vật là lên án thực tại Sự xót xa cho nhân vật cũng phản ánh nỗi xót xa cho cuộc đời Do đó, việc tìm hiểu nhân vật là cách để hiểu về cuộc sống và con người, cũng như tư tưởng và tình cảm của tác giả.

Ông nhấn mạnh rằng con người không chỉ là yếu tố nhận thức quan trọng trong văn học mà còn là mục tiêu mà các tác phẩm văn học hướng tới Những sáng tạo về phương pháp, phong cách, thể loại ngôn ngữ và kết cấu đều đóng góp vào việc hình thành hình tượng nghệ thuật mới mẻ.

VẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG

Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

Người Ê Đê và đồng bào Tây Nguyên từ lâu đã gắn bó với núi rừng, nương rẫy và buôn làng, tạo nên một lối sống cộng đồng mạnh mẽ Cuộc sống mưu sinh và những thử thách từ thiên nhiên đã giúp họ phát triển tình yêu thương, sự đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong những khó khăn cũng như niềm vui trong mùa màng và lễ hội Tinh thần cộng đồng không chỉ là cách sống mà còn là chuẩn mực đạo đức, góp phần hình thành nét văn hóa đặc trưng của người Ê Đê và Tây Nguyên.

Y Điêng, con của dân tộc Ê Đê và núi rừng Tây Nguyên, yêu mảnh đất này như máu thịt của mình Ông đã cống hiến tâm huyết và cuộc đời cho quê hương và con người nơi đây, với từng trang văn lấp lánh vẻ đẹp của tình người và tinh thần cộng đồng.

Trong tác phẩm "Chuyện trên bờ Sông Hinh", tác giả khắc họa rõ nét tinh thần đoàn kết của đồng bào từ những sinh hoạt thường ngày cho đến những lúc chiến tranh xảy ra Khi bị dồn vào ấp chiến lược, con người vẫn sát cánh bên nhau, thể hiện qua những cuộc vui trong lễ hội “ăn năm uống tháng” Ngay cả khi có người mất, cả làng đều tự nguyện chung tay lo liệu mọi việc mà không cần ai nhắc nhở.

Mùa “ăn năm uống tháng” là hoạt động được người Ê Đê và người Tây Nguyên mong đợi nhất trong năm, mang tính cộng đồng cao Tác giả miêu tả cảnh tổ chức tại nhà Ma Thin, nhưng lại gợi nhớ đến một ngày hội chung của cả buôn làng, với âm thanh tiếng chiêng trống vang lên từ buôn Doan, tạo nên không khí vui tươi và đoàn kết.

Các chàng trai và cô gái đã chuẩn bị cho nhà ông Ma Thin thêm rực rỡ, với con trai lo sửa lại sạp và hiên nhà, trong khi các cô gái kiếm củi, giã gạo và hái lá chuối để gói cơm Họ còn chuẩn bị đón các trai gái làng khác đến dự hội Trong những ngày qua, nhà ông Ma Thin luôn tấp nập người qua lại, từ việc mang lá nhét ché rượu đến khiêng nồi bung đi múc nước.

Người Ê Đê nổi tiếng với lòng hiếu khách, coi khách của một gia đình là niềm vui chung của cả buôn làng Thói quen mến khách của họ thể hiện rõ qua việc khi có khách đến, người làng sẽ kéo đến đông đảo, tạo nên không khí ấm cúng Dù gia đình có điều kiện kinh tế ra sao, họ luôn chuẩn bị ché rượu và con gà để đãi khách Nếu chủ nhà không có khả năng tiếp đãi, buôn làng sẽ sẵn sàng hỗ trợ, thể hiện tinh thần cộng đồng mạnh mẽ của người Ê Đê.

Tinh thần cộng đồng trở nên mạnh mẽ hơn khi một người con của buôn làng ra đi, mọi người đều chung tay hỗ trợ lẫn nhau, không phân biệt giàu nghèo Y Điêng đã thể hiện tình người sâu sắc qua những câu văn viết về sự ra đi của ma Hơ Linh.

Làng nghèo nhưng luôn đoàn kết, cùng nhau hỗ trợ trong lúc khó khăn Khi Ma Hơ Linh qua đời, mọi người đều nhốn nháo, chạy đi mượn trống, chiêng để tạo không khí cho đêm tang lễ Trong khi đó, người thân lo lắng chuẩn bị cho người đã khuất, từ việc lấy gạo cho vào miệng người chết đến việc chuẩn bị trang phục Tất cả mọi người trong buôn làng đều chung tay, mỗi người một việc, từ nấu cơm đến cúng tế Đây là truyền thống của làng, khi gia đình gặp khó khăn, mọi người sẽ giúp đỡ lẫn nhau Con trai lo múc nước, con gái nấu cơm, và cả buôn làng thức trắng đêm để hỗ trợ nhau trong lúc tang thương.

Hay trong đêm con trai ông chủ bến nước mất:

Khi nghe tiếng khóc của hai ông bà chủ bến nước, mọi người trong làng lập tức chạy đến Họ cùng nhau chuẩn bị cho lễ tang: người thui gà, người mang rượu, người đánh trống Các chàng trai đánh chiêng, trong khi cha mẹ và họ hàng mặc áo mới cho người đã khuất Mọi người tự giác tham gia, từ việc giết bò, chở nước, đến chặt củi và ôm tranh khô để thui bò Làng góp rượu, nhét lá vào ché, và sau mỗi công việc hoàn thành, tiếng chiêng trống vang lên Âm thanh không kéo dài như trong các lễ hội, mà mang nặng không khí trang nghiêm Mỗi gia đình trong làng đều có người đến viếng, mang theo rượu, gạo, gà hoặc trứng, và cả vòng đồng để tặng cho người đã mất.

Tinh thần cộng đồng thể hiện mạnh mẽ khi con người gặp khó khăn, như trường hợp của mẹ con Hơ Linh bị vu khống và phải rời bỏ buôn Thu Khi đến buôn Doan, họ không cảm thấy cô đơn, vì ngay lập tức đã nhận được sự giúp đỡ từ bà con nơi đây trong việc chọn đất và xây dựng nhà mới.

Mỗi người đều có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người bạn mới, và ai cũng muốn thể hiện mình là người đi trước và làm việc tốt nhất Khi thực hiện công việc, các cô gái trong làng sẽ tạm hoãn công việc hàng ngày của mình để đến giúp đỡ Mặc dù họ không thể đốn cây, chặt tre, nhưng họ có thể cắt tranh, vác cây, nấu nước hoặc chuyển những thứ khác một cách dễ dàng.

Trong lao động sản xuất, các gia đình và thành viên trong buôn làng thường hỗ trợ lẫn nhau, tạo nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng Khi làm rẫy, họ thường kết cặp nam nữ để hỗ trợ nhau trong công việc Jacques Dounes cho rằng nhiều làng ở Tây Nguyên là những thị tộc gia đình, từ đó hình thành tính cộng đồng mạnh mẽ, thể hiện qua sự tương trợ và việc phân phối công bằng Tây Nguyên nổi bật với tính cộng đồng cao, không nơi nào có sự gắn kết như ở đây.

Tinh thần cộng đồng thể hiện mạnh mẽ nhất trong thời kỳ chiến tranh Khi giặc Pháp xâm lược, người dân trong làng bị dồn vào ấp chiến lược, nhưng từ già đến trẻ, không phân biệt giới tính, tất cả đều đoàn kết và thông minh trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù.

Bữa lũ Tây đến là thời điểm mà đồng bào, đặc biệt là đàn ông và phụ nữ, cùng nhau đứng lên đấu tranh để trở về buôn cũ Trong khi trẻ con khóc, người mẹ không dỗ mà lại dùng khuỷu tay để làm chúng đau hơn, khiến tiếng khóc càng thêm ồn ào Nhiều phụ nữ có con nhỏ phải rời khỏi cuộc họp khi con khóc, lần lượt trở về nhà Các ông cũng đứng dậy, nhưng không ai lắng nghe.

Để tồn tại trong môi trường núi rừng và đối phó với thiên tai, đồng bào Tây Nguyên đã thể hiện tinh thần đoàn kết mạnh mẽ nhằm bảo vệ bản thân và buôn làng Điều này không chỉ tạo nên nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Ê Đê và Tây Nguyên mà còn khẳng định vai trò quan trọng của con người cộng đồng trong việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng.

Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Y Điêng

Nhân vật trong văn học phản ánh quan niệm và tư tưởng của nhà văn về con người và cuộc sống Để khắc họa nhân vật một cách sâu sắc, nhà văn thường chú trọng vào việc miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ và tâm lý của nhân vật, từ đó truyền tải những thông điệp mà họ muốn gửi gắm.

1.2.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật Để miêu tả nhân vật, thủ pháp mang tính truyền thống và tạo ấn tượng trước hết đó là ngoại hình nhân vật Do đó không phải ngẫu nhiên các tác phẩm văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Y Điêng nói riêng, nhân vật thường được trau chuốt kĩ về mặt ngoại hình Ở đâu và khi nào người phụ nữ cũng luôn là tâm điểm của cuộc sống Trong các tiểu thuyết của mình, Y Điêng đã dành tất cả tình yêu, sự trân trọng của mình đối với người phụ nữ Chính ông kể rằng: “Con gái quê ông đẹp lắm, đẹp đến nỗi đi nhiều nơi, ông vẫn thấy không nơi nào hơn, ông vẫn thấy con gái quê ông là nhất… con gái Tây Nguyên khi còn trẻ đều để ngực trần, cái đẹp lồ lộ tự nhiên như trời đất, như núi như đồi như bầu như bí” [28] Phải chăng vì vậy mà trong tất cả các tiểu thuyết của ông, ta không thấy có người phụ nữ nào xấu cả, họ đẹp từ ngoại hình đến tính cách, tâm hồn

Hơ Linh là nhân vật nổi bật trong "Chuyện trên bờ Sông Hinh", được tác giả miêu tả với vẻ đẹp cuốn hút: "Khuôn mặt của Hơ Linh chị trăng cũng phải nghẹn, đôi mắt đón nắng sớm như đóa hoa aring." Mỗi khi cô nói cười, hai dấu “cua bấm” trên má như dòng nước xoáy tròn trịa, gây sóng sánh trong lòng các chàng trai Vẻ đẹp của cô còn được so sánh với ánh trăng, với cặp lông mày như đôi chim én và đôi môi mím lại như hoa sắp nở Dù Hơ Ninh, cô gái xấu số bị chết trong trận bom, nhưng vẻ đẹp của cô vẫn sống mãi trong lòng người đọc: "thân hình nhỏ nhắn, nước da như trái cơ-chin chín vàng sẫm, đôi mắt tròn."

Trong tác phẩm "Hờ Giang", nhân vật nữ anh hùng được khắc họa một cách tỉ mỉ, để lại ấn tượng sâu sắc với nụ cười rạng rỡ, đặc trưng bởi “hai hàm răng đều dặn như hoa dăm ké”.

Đôi mắt của em sắc sảo, làn da màu trái ê mau làm cho thân hình em trở nên rắn rỏi Đôi môi khô đã biến mất, giờ đây chỉ còn lại nụ hoa dăm ké Mái tóc dài tha thướt như lớp mây giăng qua đỉnh núi xanh, và con suối chảy từ trên đỉnh núi cũng không thể sánh bằng Đôi mắt của em, với vẻ tinh khiết, vẫn còn sót lại nhụy hoa trên cành Nước da trái ê mau của em mịn màng và hồng hào, tạo nên vẻ đẹp cuốn hút.

Trong tiểu thuyết của Y Điêng, bên cạnh Hơ Linh và Hơ Giang, còn có nhiều người phụ nữ xinh đẹp, gây ấn tượng mạnh mẽ Những nhân vật như cô Hơ Nhao trong "Chuyện trên bờ Sông Hinh", cô Hơ Yông và Hơ Tang trong "Hờ Giang", cùng nàng Hơ Nhí, Hơ Ban, Hơ Bia Rế trong "Ba anh em" đều góp phần làm phong phú thêm bức tranh về vẻ đẹp và sức hút của phụ nữ trong tác phẩm.

Xuân, H’Guê trong Trung đội người Bah Nar thể hiện tình yêu sâu sắc của Y Điêng dành cho những cô gái Tây Nguyên Những câu văn gợi cảm của ông về vẻ đẹp của người con gái quê hương cho thấy sự trân trọng và tự hào Thiên nhiên Tây Nguyên với những thắng cảnh hoang sơ, kỳ vĩ được tô điểm bởi những cô gái như bông hoa aring, kơ tinh, làm say đắm lòng người và góp phần làm đẹp cho núi rừng.

Những chàng trai Tây Nguyên mang vẻ đẹp huyền thoại, với hình dáng mạnh mẽ và cương nghị Nguyên Ngọc miêu tả nhân vật với trán rộng, đôi mắt sáng và khuôn ngực vạm vỡ, thể hiện tính cách kiên cường Trong khi đó, Y Điêng chú trọng đến làn da nâu rám nắng của những người lao động vất vả dưới cái nắng khắc nghiệt Ví dụ, Y Thoa trong "Chuyện trên bờ Sông Hinh" được mô tả với làn da trái ê-nâu, còn Y Nguyên và Y Khăm trong "Ba anh em" có làn da rắn chắc của người làm nương rẫy.

Người anh Huyện đội trưởng trong Trung đội người Bah Nar có thân hình to lớn, khỏe mạnh như một khúc gỗ cà te lõi, với dáng vẻ vững chãi khi nhìn về phía trước, như thể anh đang mang cả một chòi lúa một cách nhẹ nhàng Nước da của anh ngăm đen và chắc khỏe.

Hình ảnh làn da nâu, đen gợi lên những chàng trai lao động vất vả, trong khi cánh tay và bắp chân to khỏe thể hiện sức khỏe phi thường và sự dũng mãnh như những anh hùng trong sử thi Y Thoa trong "Chuyện trên bờ Sông Hinh" được miêu tả với "bắp thịt của các cánh tay nở phồng mạnh khỏe" Trong "Ba anh em", Y Nguyên, Y Khăm và Y Rin có hình dáng cao thấp như chọn lựa, với chiều ngang tròn lẳn khỏe mạnh, trong đó Y Rin có nước da bánh mật, đi đầu trần đội nắng mưa, chân đi không, đạp núi, lội sông, ra đi mà chưa hẹn ngày trở về.

Miêu tả ngoại hình không chỉ giúp người đọc hình dung chân dung các nhân vật mà còn thể hiện tính cách của họ Các nhân vật chính diện được Y Điêng miêu tả bằng những câu văn đẹp, gợi cảm, trong khi các nhân vật phản diện lại hiện lên với ngoại hình dị dạng, méo mó, phản ánh "tâm địa quỷ" của những kẻ tàn bạo Những nhân vật như Y Sô trong "Chuyện trên bờ Sông Hinh" và Ma Sa, Ma Lóa, Y Soa, Y La trong "Hờ Giang" là ví dụ điển hình cho sự tương phản này.

Trong toàn bộ sáng tác của Y Điêng, nhân vật Y Sô là hình mẫu phản diện được khắc họa một cách tỉ mỉ và sâu sắc nhất Chỉ cần nhìn vào ngoại hình của hắn, chúng ta có thể cảm nhận được bản chất và tâm tính của nhân vật này.

Hắn cao dong dỏng như cây tre, chỉ mặc một cái khố mới còn thơm mùi nước chàm Ánh lửa làm cho làn da hắn khô và mốc, giống như da cây tre Khuôn mặt hắn có hình dáng nhỏ hẹp, với những sợi tóc che kín trán, tạo nên vẻ ngoài ít hiểu biết.

Y Điêng đặc biệt chú trọng vào chi tiết “cái trán” của Y Sô để tố cáo bản chất ít học của hắn, điều này có thể là nguyên nhân chính gây ra nhiều đau khổ cho buôn làng Hình ảnh ám ảnh về “cái cười” của Y Sô, với hàm răng bị cưa tận lợi đỏ, khiến người khác sợ hãi, cùng với mùi rượu chua pha lẫn mùi thối khó chịu mỗi khi hắn nói, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.

[19, 87] Ngoại hình đó giúp người đọc phần nào nhận diện bản chất đê tiện, tàn độc và hèn hạ của Y Sô

Ma Lóa, người lính từng phục vụ cho Pháp, giờ đây lại làm tình báo cho Ngụy, được mô tả với làn da đỏ như mẻnh khi ăn lá giang Trong khi đó, Y La, chỉ huy bọn biệt kích, có ngoại hình dị dạng với gương mặt đầy sẹo, khiến mọi người phải tránh xa Giọng nói của hắn mê hoặc, ồn ào như tiếng phượng hoàng, với âm điệu trầm bổng, dễ dàng lọt vào tai những người nhẹ dạ.

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT Y ĐIÊNG

Ngày đăng: 24/07/2023, 03:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1979), “Văn xuôi về đề tài chiến tranh và hình thức sử thi”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi về đề tài chiến tranh và hình thức sử thi
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn nghệ quân đội
Năm: 1979
[2] Lại Nguyên Ân (1980), “Vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại”, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1980
[3] Lại Nguyên Ân (1986), “Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám - Một nền sử thi hiện đại”, Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám - Một nền sử thi hiện đại
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1986
[4] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[5] M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), NXB Văn hóa thông tin và thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin và thể thao
Năm: 1992
[6] Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
[7] Hữu Bình, “Y Điêng - nhà văn của buôn làng sông Hinh”, http://www.nhavantphcm.com.vn/, 7/9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y Điêng - nhà văn của buôn làng sông Hinh
Tác giả: Hữu Bình
Nhà XB: NHÀ VĂN TPHCM
Năm: 2014
[8] Triệu Lam Châu (2004), “Một ánh núi Y Điêng”, http://www.thuvienhaiphu.com.vn/, 30/01/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một ánh núi Y Điêng
Tác giả: Triệu Lam Châu
Năm: 2004
[9] Nguyễn Văn Dân (2000), Lý luận văn học so sánh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[10] Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
[11] Hồng Diệu (1993), Nhà văn và trang sách, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và trang sách
Tác giả: Hồng Diệu
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1993
[13] Phan Cự Đệ (1974,1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Đại học luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học
Năm: 1974, 1975

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN