Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức đối với người nhà trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm 2018 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Trang 1TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN NGHỆ AN NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2018
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN NGHỆ AN NĂM 2018
Chuyên ngành: Điều dưỡng chuyên khoa I Tâm thần
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S Vũ Thị Là
NAM ĐỊNH - 2018
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô trong Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Tâm thần kinh trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện cho em được học tập tại trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định để em được rèn luyện, phấn đấu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Bệnh viện Tâm Thần Tỉnh Nghệ
An, lãnh đạo khoa, phòng cùng toàn thể các bác sỹ và điều dưỡng tại bệnh viện Tâm Thần Nghệ An, nơi tôi công tác và làm việc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc nhất đến thầy giáo Trương Tuấn Anh phó hiệu trưởng, trưởng bộ môn Tâm Thân Kinh trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, người thầy đã trực tiếp giảng dạy, tận tâm hướng dẫn
em nhiệt tình, chỉ bảo và cung cấp tài liệu và những kiến thức quý báu giúp em học tập và thực hiện chuyên đề này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy cô của trường Đại học điều dưỡng Nam Định, đặc biệt là thầy cô ở Bộ môn Tâm thần kinh của trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định đã tạo điêu kiện cho em được học tập, rèn luyện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè, nhưng người đã luôn luôn động viên, ủng hộ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề này
Nghệ An, ngày 20 tháng 08 năm 2018
Nguyễn Quốc Tính
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục Danh mục chữ viết tắt Danh mục bảng Danh mục hình (biểu đồ, sơ đồ, ảnh)
2.1.3 Các giả thuyết bệnh nguyên, bệnh sinh bệnh TTPL 5
2.1.5 Điều trị bệnh TTPL
11 2.2 Cơ sở thực tiễn
15 2.2.1 Một số hướng dẫn chăm sóc người bệnh TTPL tại cộng đồng
15 2.2.2 Các mô hình chăm sóc SKTT
17
3 Thực trạng kiến thức chăm sóc người bệnh TTPL của người nhà người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An
19 3.1 Tổng quan về Bệnh viện Tâm thần Nghệ An
19 3.2 Tình hình công tác chăm sóc bệnh nhân tâm thần nói chung và bệnh
20 nhân TTPL nói riêng tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An
3.3 Thực trạng kiến thức của người nhà người bệnh về chăm sóc người
22 bệnh bị bệnh TTPL tại Bệnh viện tâm thần Nghệ An
29 3.5 Nguyên nhân, hạn chế
Trang 53.1 Giải pháp đối với bệnh viện
33 3.2 Giải pháp đối với người nhà người bệnh
33 KẾT LUẬN
35 4.1 Thực trạng khảo sát về kiến thức của người nhà người bệnh trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm 2018
35 4.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức đối với người nhà trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm
2018
36 TÀI LIỆU THAM KHẢO:
NC Nghiên cứu
NB Người bệnh
DANH MỤC BẢNG Trang
Bảng 1 Số lần vào viện
24
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6Bảng 2 Thời gian bị bệnh
25 Bảng 3 Nguyên nhân tái phát
25 Bảng 4 Kiến thức về sử dụng thuốc ATK
26 Bảng 5 Kiến thức về theo dõi tác dụng phụ của thuốc ATK
27 Bảng 6 Nguyên nhân bỏ trị
27 Bảng 7 Kiến thức về thời gian điều trị
28 Bảng 8 Tiến triển của bệnh TTPL
29 Bảng 9 Kiến thức về tái khám bệnh TTPL
29
DANH MỤC BIỂU, HÌNH Trang
Biểu đồ 1 Theo nhóm tuổi
23 Biểu đồ 2 Trình độ học vấn
23 Biểu đồ 3 Nghề nghiệp
24 Biểu đồ 4 Kiến thức về bệnh TTPL
26 Biểu đồ 5 Kiến thức về phác đồ điều trị bệnh TTPL
28
Hình 1 Hình ảnh Bệnh viện Tâm thần Nghệ An
19 Hình 2 Cán bộ Y tế đang chăm sóc người bệnh
20 Hình 3 Hội thi văn nghệ của người bệnh tâm thần
21
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) là rối loạn tâm thần nặng, tiến triển, khuynh
hướng mạn tính, căn nguyên chưa rõ, làm cho người bệnh tách dần khỏi cuộc sống
thực tại bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong; cảm xúc khô lạnh, tư duy nghèo nàn lệch lạc trầm trọng về hình thức và nội dung, khả năng làm việc, học tập ngày một sút kém, hành vi tác phong kỳ dị, khó hiểu
Bệnh tâm thần phân liệt là bệnh tâm thần được biết đến từ sớm và khá phổ biến
ở nước ta cũng như trên thế giới Theo các số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, số bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm 0,3 - 1,2% dân số Theo H.Hafner thì TTPL ở Italia là 0,8%, ở Anh, Áo và Canada là 1 - 2%, ở Đan Mạch là 0,8%, ở Pháp 0,65 - 0,83% và Đức 0,85%
Ở Việt Nam, theo báo cáo của Chương trình Quốc gia năm 2012 về điều tra cơ bản từ 63 tỉnh thành trong cả nước, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 0,3-1% Bệnh TTPL thường biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và phức tạp, nguyên nhân gây bệnh chưa
rõ ràng, bệnh có xu hướng tiến triển mạn tính và thường có những đợt tái phát cấp Điều trị bệnh TTPL phải điều trị lâu dài Phương pháp điều trị bệnh TTPL sẽ rất khả thi là khi kết hợp đồng bộ các liệu pháp sinh học, tâm lý liệu pháp và phục hồi chức năng Tuy nhiên người bệnh chỉ vào viện điều trị nội trú khi có diễn biến nặng trong những đợt cấp, còn chủ yếu là điều trị ngoại trú tại cộng đồng
Điều tra nhận thức của gia đình bệnh nhân về tâm thần phân liệt giúp chúng ta biết được những sai lầm trong nhận thức của người nhà người bệnh gia đình về bệnh này, từ đó có cách tiếp cận và hỗ trợ, tư vấn cho người nhà về kiến thức bệnh TTPL
để tránh các biến chứng và nguy cơ tái phát Tuy nhiên ở Việt Nam hiện công trình nghiên cứu về khía cạnh này còn ít Ở Bệnh viện Quân Y 103 năm 2015 có nhóm nghiên cứu tại Khoa Tâm thần về đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt” cho thấy kiến thức hiểu rõ về bệnh tâm thần phân liệt là bệnh tâm thần còn hạn chế và kiến thức tuân thủ phác đồ điều trị (Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Xuân Trường; Nguyễn Văn Doanh – Bộ môn Thần kinh – Bệnh viện Quân Y 103 năm 2015)
Để nâng cao nhận thức của người nhà người bệnh trong công tác chăm sóc bệnh nhân TTPL tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Khảo sát một số kiến thức của người nhà người bệnh trong chăm sóc người
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8bệnh tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm 2018” với 02 mục tiêu sau:
1 Khảo sát một số kiến thức của người nhà người bệnh trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Nghệ An năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức đối với người nhà trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt
`
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 92 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm, lịch sử nghiên cứu Tâm thần phân liệt
Thuật ngữ “schizophrenia” được gọi là “tâm thần phân liệt” bắt nguồn từ chữ
Hy Lạp: “schizo” có nghĩa là chia tách, phân rời và “phrenia” có nghĩa là tâm thần Tâm thần phân liệt là một bệnh hay chính xác hơn là một nhóm bệnh có bệnh sinh khác nhau Bệnh tương đối phổ biến, nguyên nhân chưa rõ ràng, tiến triển và tiên lượng rất khác nhau và thường hay khởi phát ở lứa tuổi trẻ
Bệnh tâm thần phân liệt được nhà tâm thần học người Đức Griesinger mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ XVII với tên gọi “Sa sút tiên phát ” (Primary dementia) Nhà tâm thần học người Pháp Morel B.A dùng thuật ngữ “Sa sút sớm” (Demence précoce) để chỉ những bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trẻ và tiến triển đến sa sút tâm thần Năm 1871 Hecker E mô tả một thể bệnh gọi là “Thanh xuân” (Hebephrenia) Năm 1874 Kalbaum K.L gọi là “Căng trương lực” (Catatonia) Năm 1882, nhà tâm thần học Nga Candinxki đưa ra khái niệm bệnh tâm thần tư duy (ideophrenia), được
mô tả là một bệnh độc lập, mà triệu chứng học dựa trên những nét cơ bản phù hợp với bệnh tâm thần phân liệt hiện nay
Năm 1898 Kraepelin E, nhà tâm thần học người Đức đã thống nhất các thể bệnh độc lập của các tác giả dưới tên gọi: Bệnh sa sút sớm (Demence précoce) Đến năm 1911 Bleuler D.E, nhà tâm thần học người Thụy Sỹ dựa trên cơ sở phân tích sa sút sớm về bệnh học tâm thần, đã đi đến kết luận rằng, rối loạn chủ yếu nhất trong
đó là sự chia cắt, phân liệt, không thống nhất về các hoạt động tâm thần và đề xuất tên gọi mới là “tâm thần phân liệt- schizophrenia” Tên tâm thần phân liệt được chấp nhận và sử dụng cho đến ngày nay
Trước đây, theo quan điểm của các tác giả Liên Xô cũ thường dựa vào các triệu chứng âm tính để chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt: tự kỷ, thế năng tâm thần giảm sút Tuy nhiên đây là những triệu chứng rất dễ nhầm lẫn với các triệu chứng của hội chứng trầm cảm, sa sút trí tuệ
Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), các triệu chứng dương tính đặc trưng của bệnh là các rối loạn về tư duy như các hoang tưởng, rối loạn tri giác như là các ảo thanh và các hiện tượng tâm thần tự động và là triệu chứng quyết định chẩn đoán; các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp cũng đóng vai trò trong việc xác định bệnh
Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng tiến triển mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa được làm rõ Những biểu hiện của bệnh gồm các triệu chứng rối loạn về tư duy, nhận thức, cảm xúc, tri giác gây khó khăn trong việc giao tiếp với mọi người xung quanh Biểu hiện đặc trưng của bệnh là những triệu chứng loạn thần như hoang tưởng nhất là hoang tưởng bị chi phối, ảo giác; nhất là ảo thanh bình phẩm hoặc ảo thanh ra lệnh; hội chứng tâm thần tự động… Nếu không được điều trị sớm và tích cực, bệnh sẽ làm biến đổi nhân cách người bệnh một cách sâu sắc, làm cho người bệnh khó khăn trong học tập, giảm khả năng lao động nghề nghiệp và khả năng tự lập trong cuộc sống
2.1.2 Dịch tễ học bệnh TTPL
TTPL là một bệnh tương đối phổ biến trên thế giới Theo các thống kê của nhiều nước, tỷ lệ bệnh chiếm 0,3 – 1,5% dân số Tuy nhiên tỷ lệ này rất khác nhau ở những quốc gia khác nhau và tùy từng nghiên cứu của các tác giả khác nhau Theo H.Hafner (1998) thì TTPL ở Italia là 0,8 %, ở Anh, Áo và Canada là 1-2%, ở Đan Mạch là 0,8%, ở Pháp 0,65 - 0,83% và Đức 0,85% Ở Mỹ và Canada khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán DSM – IV nghiên cứu thì cho thấy có 0,25 - 0,5% dân số được điều trị TTPL hàng năm, trong đó có tới 2/3 các bệnh nhân được điều trị nội trú trong các bệnh viện chuyên khoa
Ở Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,7% dân số, Hà Bắc 1%, Biên Hòa 1,2%
và Đà Nẵng 0,52% (điều tra 10000 dân ở một khu phố Đà Nẵng) Bệnh có xu hướng phát triển kéo dài và hàng năm gia tăng thêm 1,5/10000 dân Năm 1981 Trần Văn Cường, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hòa Bình Nguyễn Thị Mai và
CS điều tra về các bệnh tâm thần tại phường Lê Đại Hành, Hà Nội Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã phường Hà Nội, năm 1994 được
sự giúp đỡ của TCYTTG khu vực Tây Thái Bình Dương, ngành Tâm thần Việt Nam đã tiến hành điều tra tâm thần tại 3 điểm: Tự Nhiên, Quất Động, Tiên Kiên Các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ mắc TTPL dao động từ 0,3- 1% dân số
Bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi trẻ (từ 20 – 40): trong đó có tới 48% khởi phát ở lứa tuổi 20 - 29 tuổi Theo số liệu thống kê của ngành tâm thần học Việt Nam
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11(2002), tỷ lệ mắc bệnh TTPL trên 67.380 dân được điều tra là 0,47% và 90% bệnh nhân TTPL được điều trị trong độ tuổi từ 15 – 54 tuổi
Ở cả hai giới (nam và nữ), tỷ lệ mắc bệnh tương đương nhau, song nữ có xu hướng khởi phát muộn hơn nam (ở nam từ 15 – 25 tuổi, trung bình là 20 tuổi; ở nữ
25 – 35 tuổi, trung bình là 30 tuổi)
2.1.3 Các giả thuyết bệnh nguyên, bệnh sinh bệnh tâm thần phân liệt
2.1.3.1 Giả thuyết về di truyền học
Các công trình nghiên cứu về miễn dịch và di truyền học cho thấy TTPL là một bệnh có bản chất sinh học Người ta cho rằng yếu tố di truyền trong TTPL không phải theo mẫu di truyền cổ điển của Mendel mà là đa gen, mỗi gen gây ra một hậu quả Theo Kallmann: Nếu cha hoặc mẹ một người mắc bệnh tâm thần phân liệt thì 16,4% số con mắc bệnh này; khi cả hai cha mẹ cùng mắc bệnh thì tỷ lệ đó tăng tới 68,1% 14,3% các anh chị em ruột của người mắc bệnh tâm thần phân liệt bị mắc bệnh này Nếu một đứa trẻ sinh đôi cùng trứng mắc bệnh TTPL thì 86,2% trẻ kia cũng mắc bệnh Ở những đứa trẻ sinh đôi hai trứng tỷ lệ này giảm xuống 16,4%
Trong khi tỷ lệ bệnh TTPL phổ biến ở cộng đồng là 1% thì nguy cơ bị bệnh ở những người họ hàng cùng huyết thống mức độ I (bố me, ông bà, anh chị em ruột) của bệnh nhân TTPL là từ 3 đến 7%
2.1.3.2 Giả thuyết các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển trong thời kỳ thai sản
Các yếu tố nguy cơ trong kỳ mang thai: Mẹ trong thời kỳ mang thai bị nhiễm vi rút, thiếu dinh dưỡng Suy thai là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh như liệt hoặc chậm phát triển tâm thần Những người bị tiền sản giật con của họ có nguy cơ
bị bệnh TTPL cao hơn nhiều so với người bình thường Cân nặng của trẻ sơ sinh thấp cũng có liên quan tới sự gia tăng nguy cơ bị bệnh TTPL
2.1.3.3 Giả thiết về yếu tố môi trường văn hóa
Môi trường gia đình
Nhiều tác giả cho tác động qua lại trong môi trường gia đình là một yếu tố bệnh sinh quan trọng của bệnh tâm thần phân liệt Gia đình có bố mẹ luôn công kích lẫn nhau, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình rất lạnh lùng, không khăng khít đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh TTPL
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12Môi trường văn hóa
Môi trường văn hoá trong việc phát sinh bệnh TTPL đã được nghiên cứu và giải thích khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn, có ý kiến cho rằng bệnh nhân sinh
ở thành phố có nguy cơ dễ mắc bệnh TTPL cao hơn ở nông thôn 2 lần, một số tác giả cho rằng điều kiện kinh tế, yếu tố dinh dưỡng, vệ sinh và chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là chính chứ không phải là sự khác biệt về văn hoá
2.1.3.4 Các giả thuyết về sinh hóa
Giả thuyết dopamine: Người ta nhận thấy có sự rối loạn hoạt động của hệ
thống dopaminergic (DA) ở trong não của các bệnh nhân TTPL bao gồm: sự giải phóng quá nhiều dopamin ở màng trước sinap các thuốc giảm hoạt tính thụ thể dopamin như các thuốc an thần kinh đều làm giảm triệu chứng của bệnh
Giả thuyết về hệ serotonin: Hệ tiết serotonin (5HT) trung ương có chức năng kiểm
soát sự tổng hợp DA ở thân tế bào Trong bệnh TTPL người ta nhận thấy sự mất cân bằng giữa hệ tiết dopamin và serotonin trung ương
Một số các giả thuyết về các chất dẫn truyền thần kinh khác như: Glutamate,
hệ thống GABA có liên quan đến phát sinh bệnh TTPL
2.1.4 Biểu hiện lâm sàng của Tâm thần phân liệt
2.1.4.1 Nhóm triệu chứng âm tính
Theo quan điểm của Bleuler P.E., triệu chứng âm tính là nền tảng của quá trình phân liệt Đó là các triệu chứng thể hiện sự tiêu hao mất mát các hoạt động tâm thần, mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần Những triệu chứng
âm tính thường gặp là:
Các rối loạn cảm xúc: Cảm xúc cùn mòn, cảm xúc không thích hợp, các biểu
hiện khác
Các rối loạn tư duy: Ngôn ngữ nghèo nàn: cứng nhắc, giảm vốn từ, lượng từ
khi giao tiếp, giảm sút các ý tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài, đơn điệu, đôi khi vô nghĩa Tư duy chậm chạp, tư duy ngắt quãng
Rối loạn hoạt động có ý chí: Thiếu ý chí, thụ động, thiếu sáng tạo, giảm khả
năng duy trì và kiểm soát hoạt động có ý chí, tác phong ngày càng trở nên tha hoá, giảm, mất hoạt động chăm sóc bản thân
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 132.1.4.2 Nhóm triệu chứng dương tính
Rối loạn hình thức tư duy: Tư duy phi tán, tư duy dồn dập quá trình liên tưởng
của BN rất nhanh, các ý tưởng xuất hiện nối tiếp nhau nhưng nội dung nông cạn, xuất hiện dồn dập đủ mọi ý nghĩ ngoài ý muốn của BN
Rối loạn nội dung tư duy: Hoang tưởng là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân
TTPL Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, phong phú Hoang tưởng hay gặp là hoang tưởng bị chi phối Các loại khác như hoang tưởng bị hại, hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng phát minh, hoang tưởng được yêu, hoang tưởng kỳ quái cũng thường gặp
Các rối loạn tri giác: Ảo thanh; người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các
bộ phận trên cơ thể Đây là những ảo thanh khá điển hình trong bệnh TTPL; Ảo thị: cũng thường gặp và hay kết hợp với ảo thanh, ảo giác vị giác và ảo giác xúc giác hiếm gặp
Các rối loạn hoạt động: Rối loạn hoạt động ở bệnh nhân TTPL rất đa dạng và
phong phú Có thể có những hành vi thô bạo, hung hãn, đi lại không mục đích , các rối loạn này có thể là do hoang tưởng, ảo giác chi phối Kích động: là những động tác si dại, lố bịch, vô nghĩa, nhảy nhót, gào thét, đập phá, đánh người Kích động căng trương lực: với những động tác dị thường, vô nghĩa định hình, giữ nguyên dáng, có khi là những xung động bất thường xen lẫn bất động
Các rối loạn hoạt động bản năng: rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, rối loạn
bản năng tình dục; những xung động bản năng như: xung động đi lang thang, xung động trộm cắp, xung động đốt nhà, xung động giết người
2.1.4.3 Chẩn đoán Tâm thần phân liệt
Hiện nay bệnh TTPL thường được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới hoặc Hội Tâm thần học Mỹ
Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL của Tổ chức Y tế Thế giới
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL của Tổ chức Y tế Thế giới
Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) 1992 chẩn đoán bệnh TTPL phải dựa vào 9 nhóm triệu chứng lâm sàng sau và thời gian tồn tại các triệu chứng này ít nhất là một tháng:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14(a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị phát thanh
(b) Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng
(c) Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận nào đó của thân thể
(d) Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hóa và hoàn toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân (thí dụ: có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc với những người của thế giới khác)
(e) Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng
(f) Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan, lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt
(g) Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp, phủ định, không nói, sững sờ
(h) Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm sút hiệu suất lao động xã hội, phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay do thuốc an thần kinh gây ra
(i) Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mê mải suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội
Không chẩn đoán bệnh TTPL nếu có triệu chứng trầm cảm hay hưng cảm mở rộng, tổn thương thực thể, động kinh hay trạng thái nhiễm độc rượu, chất ma tuý
* Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Yêu cầu của một chẩn đoán bệnh nhân tâm thần phân liệt là ít nhất phải có một triệu chứng rất rõ (nếu ít rõ thường phải hai triệu chứng hay nhiều hơn nữa) thuộc vào các nhóm các triệu chứng liệt kê từ (a) đến (d) ở trên hoặc có ít nhất là hai trong
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15các nhóm triệu chứng liệt kê từ (e) đến (h) Các triệu chứng ở trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu hơn
2.1.4.4 Tiến triển và tiên lượng Tâm thần phân liệt
Tiến triển tâm thần phân liệt
Bệnh nhân TTPL nếu không được phát hiện sớm và điều trị hợp lý, bệnh tiến triển mạn tính với sự mất mát tăng dần, có những giai đoạn cấp có các triệu chứng dương tính rầm rộ Trong quá trình tiến triển, các triệu chứng dương tính nghèo dần
đi, các triệu chứng âm tính ngày càng sâu sắc hơn
Có tác giả cho rằng nếu được điều trị sớm bằng an thần kinh thì bệnh tiến triển thuận lợi, ít dẫn đến sa sút tâm thần; Theo M.Bleuler (1941) nghiên cứu 500 bệnh nhân TTPL theo dõi trong 15 năm thấy 25% số BN khỏi bệnh, 25% số BN thiếu sót nhẹ trong hoạt động tâm thần, 25% BN có thiếu sót rõ rệt, 25% BN còn lại tiến triển nặng có thiếu sót rõ rệt
Theo ICD-10, để đánh giá tiến triển TTPL cần theo dõi tối thiểu là một năm sau cơn khởi phát bệnh Mỗi thể bệnh có có thể có 7 kiểu tiến triển:
1- Tiến triển liên tục 2- Từng giai đoạn thiếu sót tăng dần 3- Từng giai đoạn thiếu sót ổn định 4- Từng giai đoạn thiếu sót thuyên giảm 5- Thuyên giảm không hoàn toàn
6- Thuyên giảm hoàn toàn 7- Thời kỳ theo dõi dưới một năm Tuy nhiên thường gặp thì Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) có đặc điểm là tiến triển mạn tính và hay tái phát
* Đặc điểm tiến triển mạn tính Nếu thời gian mắc bệnh ngắn từ lúc khởi phát đến hiện tại là dưới 6 tháng thì gọi
là trạng thái bệnh cấp tính; từ 6 tháng đến 2 năm thì gọi là bán cấp tính; trên 2 năm thì gọi là mạn tính Khoảng 90% số bệnh nhân TTPL tiến triển mạn tính Tuy nhiên ở một vài đợt cấp tính, thậm chí sau 2-3 năm với nhiều đợt tái phát
Sau mỗi đợt cấp tính, bệnh TTPL có thể tiến triển theo các kiểu sau đây:
Thuyên giảm hoàn toàn: tức là người bệnh trở lại bình thường về lời nói, ứng
xử, học tập, lao động như trước khi mắc bệnh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16Thuyên giảm một phần: tức là các biểu hiện bệnh (kích động, hoang tưởng, ảo
giác ) tan biến hết, song vẫn còn một số thiếu sót như thiếu linh hoạt, thiếu chủ động trong giao tiếp với người xung quanh
Thuyên giảm ít: tức là các biểu hiện bệnh tồn tại liên tục, không thấy rõ sự
thuyên giảm Kiểu thuyên giảm ít thường gặp ở các trường hợp khởi phát âm ỉ (sau nhiều tháng bệnh mới biểu hiện rõ, khởi phát sớm ở lứa tuổi trẻ dưới 20), các triệu chứng âm tính nổi trội (như xa lánh, không tiếp xúc với mọi người, cảm xúc thờ ơ ) bệnh ít đáp ứng với thuốc an thần kinh
Đặc điểm tái phát
Bệnh tâm thần phân liệt rất hay tái phát (95- 98% trường hợp)
Sau một đợt bệnh cấp diễn, rầm rộ được điều trị sớm, hợp lý, bệnh nhanh chóng thuyên giảm đến mức gần như bình thường hoặc còn một số thiếu sót (như lì
xì, ít nói, cô đơn ) Trong giai đoạn bệnh thuyên giảm và ổn định như vậy, lại xuất hiện một đợt cấp diễn khác Đó là đợt tái phát của bệnh tâm thần phân liệt Tái phát mau sẽ làm cho trạng thái tâm thần của người bệnh xấu đi (như suy nghĩ trở lên nghèo nàn, giảm ý chí thu mình, xúc cảm thờ ơ, lao động giảm ) Vì vậy cần tìm hiểu các nhân tố đễ duy trì sự ổn định, dễ thích ứng xã hội
Những nhân tố dẫn đến tái phát Hiện nay, căn nguyên của bệnh tâm thần phân liệt chưa rõ nên chưa có biện pháp phòng bệnh tuyệt đối và điều trị tiệt căn Song nắm được các nhân tố dẫn đến tái phát thì có thể áp dụng các biện pháp đề phòng tái phát
Dùng thuốc an thần kinh (ATK) không đều đặng theo chỉ định của bác sỹ chuyên
khoa tâm thần Những bệnh nhân không dùng thuốc ATK dễ bị sàng chấn căng thẳng hơn các bệnh nhân có dùng thuốc ATK và dễ bị tái phát hơn
Yếu tố nâng đỡ kém
Bệnh nhân tâm thần phân liệt sống trong các môi trường nâng đỡ tốt thì ít bị tái phát Nếu có thì thường là đợt tái phát nhẹ và ngắn Yếu tố nâng đỡ bao gồm hệ thống nâng đỡ của gia đình và xã hội về các mặt sinh hoạt, nhà ở, việc làm, chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, thái độ tôn trọng, tình cảm ấm áp, không bỏ mặc, hắt hủi, hành hạ
Muốn thúc đẩy các nhân tố này, cộng đồng cần chuyển biến về các mặt sau đây:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17- Cộng đồng hiểu rõ bản chất và nguyên nhân của bệnh tâm thần và thay đổi thái độ từ tiêu cực trở thành tích cực, từ chán nản, bỏ mặc thô bạo trở thành quan tâm giúp đỡ, tình cảm ấm áo, đối xử dịu dàng
- Cộng đồng (bao gồm gia đình bệnh nhân, xóm làng, chính quyền, đoàn thể
xã, phường, trạm y tế cơ sở ) xác định việc chăm sóc bệnh nhân tâm thần không phải chỉ có thuốc là đủ mà phải toàn diện đặc biệt là các yếu tố tâm lý xã hội, phục hồi chức năng từ đó phải xác định đây là trách nhiệm của cả cộng đồng chứ không phải chỉ riêng của chuyên khoa tâm thần hay của ngành y tế
Các dấu hiệu báo hiệu bệnh tái phát:
+ Thấy căng thằng ngày một tăng + Thấy lo lắng viển vông không thể thư giãn + Rối loạn giấc ngủ (mất ngủ, rối loạn nhịp thức ngủ ) + Mệt mỏi
+ Dễ kích thích cáu bẳn + Hoảng sợ không có lý do + Thu mình, từ chối giao tiếp, ăn uống
+ Thờ ơ với mọi người và với bản thân, không tự chăm sóc
Tiên lượng tâm thần phân liệt Các yếu tố tiên lượng tốt: Khởi phát muộn; có nhân tố thúc đẩy rõ rệt; khởi
phát cấp diễn; thể paranoid hoặc có rối loạn cảm xúc, có nhiều triệu chứng dương tính; ít có yếu tố di truyền; tiến triển không liên tục, được điều trị sớm
Các yếu tố tiên lượng xấu: Khởi phát sớm, khởi phát âm ỉ, không có nhân tố thúc
đẩy; trước khi mắc bệnh có tính cách cô độc, khép kín; không có nhân tố thúc đẩy; tiền sử gia đình có bệnh tâm thần phân liệt; có triệu chứng âm tính chiếm ưu thế
2.1.5 Điều trị tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một bệnh chưa rõ nguyên nhân, điều trị triệu chứng là chủ yếu: Hóa dược liệu pháp có vai trò quan trọng, đặc biệt với các triệu chứng dương tính, cần phối hợp nhiều liệu pháp điều trị (thuốc, tâm lý, lao động, và tái thích ứng xã hội )
Trang 18nhân, đặc biệt đối với các triệu chứng âm tính; Phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và gia đình, với cộng đồng trong việc chăm sóc bệnh nhân; Phát hiện và giải quyết kịp thời các yếu tố thúc đẩy bệnh tái phát; Giáo dục gia đình và cộng đồng thay đổi thái
độ đối vơí bệnh nhân tâm thần phân liệt (tránh mặc cảm, xa lánh, sỉ nhục người bệnh); Chăm sóc bệnh nhân lâu dài đảm bảo cơ thể khỏe mạnh
2.1.5.2 Các liệu pháp điều trị
Liệu pháp hóa dược
Liệu pháp hoá dược đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong điều trị tâm thần phân liệt nói chung, mà chủ yếu là điều trị bằng các thuốc chống loạn thần, với vai trò là thuốc điều trị các triệu chứng như các hoang tưởng, ảo giác, các rối loạn cảm xúc Các thuốc chống loạn thần thường làm giảm hoặc thanh toán các triệu chứng dương tính Các triệu chứng âm tính thường ít đáp ứng với các thuốc chống loạn thần điển hình Các thuốc chống loạn thần không điển hình (thế hệ mới) mới cải thiện tốt triệu chứng âm tính và ít nguy cơ gây tác dụng ngoại tháp
* Nguyên tắc sử dụng thuốc an thần kinh
+ Xác định đầy đủ các triệu chứng cần phải điều trị, chỉ đinh điều trị và loại trừ các trường hợp chống chỉ định Lựa chọn đúng thuốc, đúng liều thích hợp cho người bệnh và từng thể bệnh
+ Kiểm tra các thông số sinh lý về máu, nước tiểu, huyết áp, nhiệt độ v v và theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc để xử lý kịp thời
+ Giảm liều từ từ trong quá trình điều trị để giữ được trạng thái ổn định của bệnh nhân Phối hợp điều trị duy trì bằng thuốc với giáo dục cho gia đình bệnh nhân
về kỹ năng chăm sóc, quản lý thuốc và cho thuốc uống đều hàng ngày, biết cách phát hiện sớm bệnh tái phát để can thiệp sớm
Ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng các thuốc An thần kinh điển hình (cổ điển) được sử dung rộng rãi; Chương trình mục tiêu bảo vệ sức khỏe tâm thần đa
số thuốc sử dụng là an thần kinh cổ điển (aminazine, haloperidone ) vẫn có tác dụng duy trì với bệnh nhân tâm thần phân liệt
Liệu pháp sốc điện
Sốc điện làm giảm hoạt hoá cấu trúc lưới, tức là làm giảm ngưỡng hoạt hoá của hệ acetlcholiergic, đồng thời giảm hoạt động hệ Dopamin trung não – hồi viền, tức là làm giảm hoặc mất các triệu chứng dương tính (hoang tưởng, ảo giác, kích động)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19Các tác giả cho rằng, một đợt sốc điện đã tạo nên sự cân bằng dẫn truyền của các hệ Noradrenergic – Serotoningic – Cholinergic, sau một đợt sốc điện đã làm thay đổi các chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitters), làm giảm các receptor beta-adrenergic sau synáp, làm giảm các receptor muscarin ở hồi cá ngựa của acetylcholin thuộc hệ cholinergic Sốc điện làm giảm tổng hợp GABA (Gama – amino – butiric acid) và làm tăng hoạt động Opioid nội sinh (Endorphin, Phenyletylamin và Betacarbolin)
Sốc diện có thể có hiệu quả trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt (vd: căng trương lực, ý tưởng và hành vi tự sát do trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác chi phối các cơn kích động v.v mà điều trị bằng thuốc lâu ngày vẫn không hiệu quả
Liệu pháp tâm lý
Liệu pháp tâm lý rất quan trọng vì trong hệ thống triệu chứng của bệnh có những triệu chứng có tính chất nội sinh, nhưng cũng có triệu chứng do xã hội, do bệnh viện, gia đình gây nên
Có nhiều phương pháp tâm lý nhưng liệu pháp hành vi rất quan trọng đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt, liệu pháp này có hiệu quả phòng ngừa chức năng do
ảo tưởng, ảo giác dai dẳng và các triệu chứng âm tính gây nên
Liệu pháp lao động và phục hồi chức năng
Nguyên lý then chốt là do bệnh nhân bắt đầu hoạt động với cường độ và chức năng của họ cho phép đoạt được để xây dựng lại lòng tin
Lao động làm cho bệnh nhân quên đi những cảm giác khó chịu do hoang tưởng, ảo tưởng gây ra, bớt lo lắng về bệnh tật, làm mất những ý nghĩ đen tối khi rỗi rãi không có việc làm, gắn liền với tập thể, tăng tính tổ chức và kỷ luật, làm cho bệnh nhân khoan khoái trước sản phẩm của mình, vui vẻ, lạc quan, tin vào khả năng giúp ích xã hội của mình, ăn ngon hơn, ngủ yên hơn, đặc biệt là khôi phục và duy trì thói quen nghề nghiệp để sau khi ra viện bệnh nhân có thể tiếp tục công tác, sản xuất được Kết quả lao động có thể giúp bệnh nhân tự túc về kinh tế, đỡ gánh nặng cho gia đình và xã hội
2.1.5.3 Nội dung chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt
Trang 20trầm cảm có hoang tưởng bị tội dẫn tới hành vi tự sát Ở giai đoạn này thông thường bệnh nhân phủ định bệnh không chấp nhận điều trị và tìm cách trốn viện
Giai đoạn thuyên giảm: các triệu chứng lâm sàng trên không còn điển hình nữa, bệnh nhân có thể tiếp xúc được, tác phong hài hoà hơn nhưng vẫn chưa hoàn toàn ổn định, đôi khi vẫn có những biểu hiện kỳ dị khó hiểu, nói chung ở giai đoạn này bệnh nhân ăn được, ngủ được, ý thức được bệnh của mình và tự giác uống thuốc
Giai đoạn ổn định: các triệu chứng ở giai đoạn cấp giảm nhiều, bệnh nhân ý thức được bệnh của mình, tiếp xúc tốt, sinh hoạt trở lại gần như bình thường, một số bệnh nhân trở lại làm việc như cũ tuy vẫn phải uống thuốc duy trì
Một số bệnh nhân mạn tính điều trị tuy ổn định nhưng không làm được việc như cũ, sống phụ thuộc vào gia đình, đôi khi có biểu hiện bất thường về tính cách nhưng nếu duy trì uống thuốc đều thì lại ổn định
Một số bệnh nhân bị bệnh lâu năm hoặc không được điều trị chu đáo dẫn đến giai đoạn cuối là sa sút trí tuệ, sống cuộc sống bản năng
Những vấn đề cần chăm sóc:
- Người bệnh không tự chăm sóc được bản thân
- Người bệnh có nguy cơ gặp nguy hiểm
- Người bệnh nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng
- Người bệnh không dùng thuốc theo chỉ dẫn
- Người bệnh có nguy cơ gây nguy hiểm cho người xung quanh
- Người bệnh có ý tưởng và hành vi tự sát
Lập kế hoạch chăm sóc:
Theo dõi đánh giá các triệu chứng để phân loại bệnh nhân, từ đó có kế hoạch chăm sóc cụ thể, những bệnh nhân kích động mạnh phải cho nằm buồng riêng với chế độ chăm sóc đặc biệt, trong phòng bệnh chỉ trang bị những dụng cụ thật cần thiết cho sinh hoạt như giường nằm, chiếu, chăn màn, những bệnh nhân đã ổn định cho nằm buồng chung, chăm sóc bệnh nhân về vệ sinh, ăn uống, trang phục, giúp đỡ bệnh nhân tái thích ứng với xã hội, thực hiện đúng, kịp thời y lệnh, chuẩn bị thuốc, máy sốc điện và các phương tiện cấp cứu
Theo dõi diễn biến của bệnh, các biến chứng khi dùng thuốc
Thực hiện kế hoạch chăm sóc:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21Những bệnh nhân kích động phải cho nằm buồng riêng, trang bị những thứ thật cần thiết như giường chiếu, chăn màn, hệ thống điện phải ở trên cao đề phòng người bệnh tự sát, tiêm thuốc kịp thời, chăm sóc ăn uống đầy đủ
Những bệnh nhân ở mức độ trung bình cho nằm phòng chung, không cho mang các thứ nguy hiểm vào trong phòng bệnh, các dụng cụ sinh hoạt dùng bằng đồ nhựa Theo dõi sát tình trạng bệnh nhân sau khi dùng thuốc
Những bệnh nhân không chịu ăn do hoang tưởng, ảo giác chi phối cần động viên cho bệnh nhân ăn, nếu không được phải đặt ống thông dạ dày để bơm thức ăn, dùng liệu pháp tâm lý để bệnh nhân yên tâm chữa bệnh và thực hiện đầy đủ nội quy buồng bệnh, hướng dẫn bệnh nhân thực hiện tốt liệu pháp lao động, tái thích ứng xã hội, thường xuyên theo dõi sát người bệnh, phát hiện kịp thời những diễn biến của bệnh để báo cáo thầy thuốc xử lý kịp thời Hướng dẫn người bệnh thực hiện tốt liệu pháp lao động
Những bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát cần phải: loại bỏ các vật dùng
có thể gây nguy hiểm, theo dõi sát, ngăn chặn kịp thời, thực hiện uống thuốc đầy đủ, nếu cần phải làm sốc điện
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Một số hướng dẫn chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng
(Theo hướng dẫn của Bộ lao động Thương binh và Xã hội về Đánh giá thực trạng
hệ thống chăm sóc sưc khỏe tâm thần)
* Thái độ tiếp xúc
1.Những điều nên làm
- Đối xử với bệnh nhân tâm thần như những người bình thường
- Khi tiếp xúc nên tạo không khí thân mật
- Nên lắng nghe ý kiến trình bày của bệnh nhân
- Bạn nên nhớ rằng bệnh nhân tâm thần họ còn nhận thức được thái độ của họ
và có tình cảm, sở thích riêng, chúng ta nên tôn trọng họ
2 Những điều không nên làm
- Sợ, ghê tởm, khinh bỉ bệnh nhân nên không muốn tiếp xúc
- Tức giận, ruồng bỏ họ vì sợ bệnh nhân làm phiền bạn
- Lấy bệnh nhân làm trò đùa, diễu cợt bệnh nhân
- Không tin vào những điều bệnh nhân nói
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22* Đối với cộng đồng xã hội và gia đình
Đặc điểm bệnh nhân tâm thần có khuynh hướng xa lánh dần xã hội, mất dần thói quen nghề nghiệp, tự ti mặc cảm, bởi vậy cộng đồng xã hội và gia đình cần phải giúp đỡ họ thoát khỏi tình trạng trên
Đối với cộng đồng xã hội Cần hiểu biết về bệnh tâm thần và tích cực tham gia vào việc chữa bệnh và phục hồi chức năng cho bệnh nhân
Tạo điều kiện xây dựng cơ sở y tế, trang thiết bị, thuốc chữa bệnh, chế độ chăm sóc cả vật chất lẫn tinh thần cho bệnh nhân
Phục hồi chức năng giao tiếp, tạo điều kiện cho bệnh nhân vui chơi giải trí như mọi người Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của bệnh nhân không nên tranh luận Giúp
đỡ họ khi họ gặp khó khăn
Phục hồi chức năng lao động, tạo cho bệnh nhân có việc làm phù hợp với khả năng của họ Mục tiêu là làm sao người bệnh cảm thấy mình vẫn là người có ích, không đặt cao chất lượng và năng suất lao động đối với bệnh nhân
Đối với gia đình Cần làm những việc giúp bệnh nhân:
- Dùng thuốc cho người bệnh theo chỉ dẫn của Bác sĩ, hàng tháng phải đến trung tâm y tế lấy thuốc cho người bệnh uống đều đặn, không được bỏ thuốc
- Gia đình cần có thái độ xem bệnh nhân như những thành viên khác, không phân biệt đối xử
- Gia đình cần chấp nhận những hành vi kỳ dị của người bệnh, cần tỏ rõ tình thương đối với bệnh nhân, làm như vậy người bệnh mới có cảm giác mình được đảm bảo yêu thương Khuyến khích bệnh nhân làm một số công việc trong gia đình, hoặc tạo cho họ có việc làm mới phù hợp với khả năng của bệnh nhân Không để cho bệnh nhân ngồi không Cần kiên trì giúp đỡ bệnh nhân, không bi quan chán nản Không nên cưỡng ép, giận dữ, nên dịu dàng hướng dẫn bệnh nhân trong xử sự giao tiếp Không nên phê bình ngay khi bệnh nhân sai trái, tránh tranh cải, lý lẻ, trừng phạt mà nên dịu dàng khuyên bảo từ từ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 232.2.2 Các mô hình CSSK tâm thần
* Một số mô hình CSSK tâm thần ở các nước trên thế giới:
Từ những năm 1960, nghành Tâm thần học thế giới có những bước chuyển biến quan trọng đó là :
- Chủ trương không xây dựng các bệnh viện Tâm thần lớn ( 1000- 1500 giường) tập trung cách ly khu vực dân mà xây dựng các bệnh viện tâm thần cỡ nhỏ (100 – 500 giường ) ở gần khu vực khu dân cư
- Xây dựng mô hình CSSK hướng về cộng đồng và lồng ghép vào y tế cộng đồng và chăm sóc sức khỏe ban đầu
- Thành lập đội nhóm chăm sóc sức khỏe đa chuyên nghành : Bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học, cán bộ xã hội …
- Ở Pháp : Từ năm 1960 quy định khu vực tâm thần tương ứng với khu vực địa
lý và dân số 67.000 dân nhằm : + Người bệnh được chăm sóc gần nơi mình sống
+ Người bệnh được chăm sóc liên tục từ Bệnh viện về cộng đồng của cùng một nhóm chăm sóc ( Bác sĩ, y tá, tâm lý, cán bộ xã hội …)
+ Có nhiều mô hình đáp ứng nhu cầu khác nhau của người bệnh như : Bệnh viện, Bệnh viện ban ngày, phòng khám Y – Tâm lý, giáo dục …
+ Khu vực tâm thần trẻ em tương đương 2 khu vực tâm thần người lớn
- Ở Mỹ : Năm 1963 chia theo khu vực dịch tễ học ( ECA) quản lý khu vực địa lý tương đương với 200.000 dân Nhiệm vụ giống khu vực tâm thần ở Pháp
Thực tế ngày nay áp dụng : Quản lý theo ca bệnh, lồng ghép mô hình …
* Thực trạng công tác CSSKTT tại Việt Nam:
Với sự phát triển của nền kinh tế mở cửa và sự phát triển như vũ bão của tiến
bộ kỹ thuật thông tin, đã có tác động không ít đến sức khỏe tâm thần trong toàn dân Qua điều tra dịch tễ lâm sàng 10 bệnh tâm thần ở 8 địa điểm tại các vùng địa
lý, kinh tế, xã hội khác nhau trong cả nước Với dân số điều tra là 67.380 người Trong thời gian 3 năm (2000-2002) cho kết quả như sau:
Công tác bảo vệ sức khỏe tâm thần không đơn thuần chỉ là việc chữa bệnh tâm thần, mà còn là phòng bệnh, phát hiện sớm, can thiệt sớm các rối loạn tâm thần tại cộng đồng Can thiệp đi đối với phục hồi chức năng tâm lý xã hội làm cho người bệnh nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và xã hội, làm giảm tỷ lệ mãn tính, tàn phế và giảm tỷ lệ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si