1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nét đẹp trong nghệ thuật chạm khắc chùa bút tháp

32 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nét đẹp trong nghệ thuật chạm khắc chùa Bút Tháp
Tác giả Lũ Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Nghệ thuật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHầN Mở ĐầU (1)
    • 1. Lý do chọn đề tài (1)
    • 2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu (2)
    • 3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu (2)
    • 4. Phơng pháp nghiên cứu (2)
    • 5. Dự kiến những đóng góp của đề tài (2)
    • 6. Bố cục của tiểu luận (2)
  • B. PHÇN NéI DUNG (3)
  • CHƯƠNG 1: sự hình thành nghệ thuật kiến trúc tôn giáo chùa bút tháp (3)
    • 1.1. Vài nét về quá trình hình thành chùa Bút Tháp (3)
    • 1.2. Sự cần thiết của nghệ thuật chạm khắc đối với công trình kiến trúc tôn giáo chùa Bút Tháp (5)
  • Chơng 2: nghệ thuật chạm khắc ở chùa bút tháp (8)
    • 2.1. Chất liệu của các bức chạm khắc chùa Bút Tháp (8)
      • 2.1.1. Chất liệu gỗ (8)
      • 2.1.2. Chất liệu đá (9)
    • 2.2. Đề tài của những bức chạm khắc (10)
    • 2.3. Nét đẹp trong kĩ thuật chạm khắc (12)

Nội dung

PHầN Mở ĐầU

Lý do chọn đề tài

Là sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội, sau 4 năm học tập, tôi đã được trang bị kiến thức về lịch sử mỹ thuật Việt Nam và thế giới, từ đó hiểu biết về nghệ thuật kiến trúc cổ và hiện đại, cũng như hội họa Việt Nam và thế giới Những kiến thức này đã giúp tôi làm quen với nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc cổ tại một số đình chùa ở vùng châu thổ sông Hồng.

Văn minh Việt Nam mang đậm bản sắc dân gian và thôn dã, với di sản văn hóa vật chất chủ yếu tập trung vào các công trình tôn giáo Mặc dù Phật giáo không phải là tôn giáo độc tôn, nhưng mỗi ngôi chùa Việt đều thể hiện sự hội tụ và kết tinh của nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật tạo hình.

Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam qua nhiều con đường và tông phái khác nhau, tạo nên sự đa dạng trong nội dung và hình thức của các ngôi chùa Sự ảnh hưởng của xã hội qua từng giai đoạn lịch sử đã dẫn đến sự phát triển của nhiều dạng chùa khác nhau Chùa Bút Tháp là một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển này.

Chùa Bút Tháp, một di tích kiến trúc lịch sử và nghệ thuật quan trọng của Việt Nam, có niên đại từ giữa thế kỷ XVII, thời kỳ phát triển rực rỡ của nghệ thuật Phật giáo Đây là một trong những ngôi chùa đẹp nhất, mang đậm dấu ấn của thời kỳ cực thịnh này Tôi đã chọn chùa Bút Tháp làm đề tài cho bài tiểu luận tốt nghiệp với chủ đề "Những nét đặc sắc trong nghệ thuật chạm khắc chùa Bút Tháp" Việc nghiên cứu ngôi chùa không chỉ giúp tôi tìm hiểu về một giai đoạn của lịch sử mỹ thuật Việt Nam mà còn là cơ hội để nâng cao tri thức cá nhân và góp phần vào việc giới thiệu về chùa Tuy nhiên, với kiến thức hạn chế của một sinh viên, tiểu luận của tôi có thể sẽ không tránh khỏi thiếu sót.

2 thầy, các cô, các anh chị đi trớc và các bạn góp ý, bổ sung để bài tiểu luận của tôi đợc hoàn hảo hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và anh chị đã tận tình chỉ bảo và hỗ trợ tôi, giúp tôi hoàn thành tốt bài tiểu luận này.

Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm ra những nét độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc của chùa Bút Tháp.

- Vận dụng những vấn đề trọng tâm của đề tài vào thực tế sáng tác và giảng dạy.

- Nghiên cứu, học tập vốn cổ của dân tộc. b Nhiệm vụ

Dựa vào chạm khắc trong chùa Bút Tháp để tìm hiểu, nghiên cứu nét đẹp trong nghệ thuật chạm khắc.

Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tợng: nghệ thuật chạm khắc chùa Bút Tháp b Phạm vi: chùa Bút Tháp

Phơng pháp nghiên cứu

- Su tầm những tài liệu lý luận có liên quan

- Nghiên cứu lý luận thông qua tài liệu

- Tổng hợp các tài liệu, t liệu, phân tích, so sánh để chứng minh đề tài

- Tổng hợp các phơng pháp

Dự kiến những đóng góp của đề tài

Giúp sinh viên ngành mỹ thuật nhận thức được vẻ đẹp, sự độc đáo và giá trị nghệ thuật cũng như giá trị thẩm mỹ trong nghệ thuật chạm khắc tại chùa Bút Tháp.

Bố cục của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bài tiểu luận gồm có hai chơng:

Chơng 1: Sự hình thành nghệ thuật kiến trúc tôn giáo chùa Bút Tháp Chơng 2: Nghệ thuật chạm khắc ở chùa Bút Tháp

sự hình thành nghệ thuật kiến trúc tôn giáo chùa bút tháp

Vài nét về quá trình hình thành chùa Bút Tháp

Để hiểu rõ về lịch sử hình thành kiến trúc Phật giáo tại chùa Bút Tháp, việc nghiên cứu quá trình phát triển của ngôi chùa từ các thời kỳ lịch sử trước đó là rất quan trọng.

Trong thời kỳ Lý – Trần, đạo Phật đóng vai trò quan trọng như một ý thức hệ xã hội, giúp giai cấp thống trị tổ chức và quản lý xã hội Các di tích kiến trúc Phật giáo chiếm tỷ lệ lớn trong kiến trúc tôn giáo Tuy nhiên, vào cuối thời Trần, Nho giáo phát triển mạnh mẽ hơn, dẫn đến sự suy giảm ảnh hưởng của Phật giáo Từ thời Lê sơ, giai cấp địa chủ đã thúc đẩy Nho giáo lên vị trí độc tôn, đồng thời bài bác Phật giáo Mặc dù Nho giáo được tôn sùng, tổ chức triều đình Việt Nam vẫn mang tính chất dân chủ và tự trị của làng xã nông thôn, khác với tổ chức xã hội Trung Hoa Điều này đã ảnh hưởng đến sự truyền bá Nho giáo, khiến nó chủ yếu tác động đến tầng lớp trên Cuộc khủng hoảng xã hội vào đầu thế kỷ XVI, với sự lật đổ của nhà Mạc, cho thấy Nho giáo cũng gặp khủng hoảng, khi người dân dần mất niềm tin vào ý thức hệ này Đạo Phật với tâm “Những từ bi” và “Những hỉ xả” đã trở thành cứu cánh cho tầng lớp quý tộc trong bối cảnh đó.

Tinh thần Nho giáo đã trở thành một hệ thống giáo lý khô cứng và suy tàn Trong bối cảnh khủng hoảng tư tưởng, tầng lớp quý tộc và tri thức đã dần tìm về triết lý của đạo Phật.

Tư tưởng của họ trong thơ văn rất phức tạp, mang đậm cốt Nho học nhưng cũng hòa quyện nhiều triết lý của Lão học và Phật học Thế kỷ XVII là thời kỳ mà đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, ở Đàng ngoài, công nghiệp và ngoại thương đã có sự phát triển đáng kể so với trước đây.

Phố Hiến đã trở thành trung tâm giao thương với nước ngoài, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và mỹ thuật Việt Nam Sự giải phóng của nông dân và nô tì tại các điền trang đã tạo điều kiện cho họ tham gia vào các nghề thủ công, góp phần hình thành đội ngũ nghệ nhân tài năng Điều này thu hút sự chú ý của tầng lớp quý tộc đối với các công trình kiến trúc tôn giáo, đặc biệt là chùa chiền, với nhiều nhân vật quyền lực như chúa Trịnh Giang tham gia trùng tu và xây dựng Sự phát triển mạnh mẽ của các tông phái Phật giáo trong giai đoạn này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các kiến trúc Phật giáo quy mô lớn.

Sự trở lại của Phật giáo tại Việt Nam đánh dấu một bước thể nghiệm về vai trò của nó trong xã hội, nhưng chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn vài ba chục năm Phật giáo không còn giữ vị trí độc tôn trong ý thức hệ xã hội như trước Thực tế cho thấy, các ngôi chùa đã dần nhường chỗ cho sự phát triển của đình làng và nghệ thuật dân gian vào cuối thế kỷ XVII Thế kỷ XVII là thời kỳ loạn ly với nhiều mâu thuẫn, từ loạn nhà Mạc đến cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh Nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng đã chỉ ra rằng

Trong thời kỳ phong kiến, mặc dù có nhiều xung đột, làng xã vẫn tự trị và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dân gian, đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ loạn lạc, không chỉ trong những thời điểm hòa bình Chùa Bút Tháp, hay còn gọi là Ninh Phúc Tự, tọa lạc ở phía Tây làng Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km Chùa nằm ở hữu ngạn sông Đuống, được cho là nằm giữa một khu đất hình hoa sen lớn với giới hạn chưa được xác định rõ.

Chùa Bút Tháp, còn được biết đến với tên gọi Hùng Nhất tự, nằm trong làng Tháp, nơi có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp với những cánh đồng lúa xanh mướt và tháp cao sừng sững Truyền thuyết địa phương cho rằng, cách đây 300 năm, một đàn chim nhạn đã bay về đậu trên những hàng cây, từ đó làng Á Lữ được đổi tên thành Nhạn Tháp Tên gọi Ninh Phúc tự cũng được sử dụng phổ biến, nhưng hiện nay, tên làng Tháp vẫn được biết đến nhiều hơn.

Năm 1876, vua Tự Đức đã đến thăm chùa và nhận thấy tháp của chùa có hình dáng giống như một cây bút khổng lồ Từ đó, chùa được gọi là Bút Tháp, và tên làng cũng được người dân đặt theo tên chùa này.

Văn bia (hình 2) ở chùa cho biết đến năm Phúc Thái thứ t và năm (1646-

Vào năm 1647, trong thời kỳ Lê Chân Tôn, chùa đã được xây dựng lớn hơn và rộng rãi hơn nhờ sự tổ chức của sư Minh Hành và sự bảo trợ của Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc Chùa đã trải qua nhiều lần tu bổ, chủ yếu vào năm 1714.

Những tấm bia cổ nhất từ năm 1904 đã xác định niên đại chính xác của chùa, cho thấy sự quan trọng của ngôi chùa trong văn hóa Phật giáo và Việt Nam Ngôi chùa hiện vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, cùng với nhiều di vật và chứng tích kiến trúc, điêu khắc quý hiếm từ thế kỷ XVII.

Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa lớn và khang trang, nằm giữa cánh đồng, tách biệt với xóm làng, và là một trong số ít ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn còn lại ở Đồng bằng Bắc Bộ Toàn bộ kiến trúc chính của chùa được xây dựng theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt, mang ý nghĩa về trí tuệ và bát nhã trong đạo Phật Chùa không chỉ có giá trị về mặt mỹ thuật mà còn chứa đựng nhiều giá trị lịch sử của Phật giáo Việt Nam Với cấu trúc theo kiểu đồ án tiêu biểu của chùa chiền miền Bắc, chùa Bút Tháp trải dài gần hai trăm mét, tạo nên một cảnh quan u tịch, ấm áp và linh thiêng với những lớp mái nhấp nhô và hai tháp đá vút cao, cùng với cây cối xum xuê.

Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm thể hiện giáo lý của đạo Phật, từ nhận thức suy lý đến thực hành chính nghiệm, dẫn đến giác ngộ và giải thoát Các chi tiết kiến trúc và trang trí thế kỷ XVII được bảo tồn tại Tiền đường, Thượng điện, Toà cửu phẩm, Nhà trung, Phủ thờ cùng với các di tích bằng đá.

Sự cần thiết của nghệ thuật chạm khắc đối với công trình kiến trúc tôn giáo chùa Bút Tháp

Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam hơn hai ngàn năm, mang theo tính cách ôn hòa và thần bí Những tư tưởng siêu việt cùng giáo lý từ bi bác ái của Đức Phật rất phù hợp với phong tục tập quán thuần hậu của người Việt.

Đạo Phật đã dễ dàng hòa nhập vào các tập tục dân gian của Việt Nam, từ đó nhanh chóng ăn sâu vào lòng tín ngưỡng của người Việt Sự kết hợp này thể hiện rõ nét trong văn hóa và đời sống tâm linh của cộng đồng.

Trong thời kỳ Lý – Trần, đạo Phật được giai cấp thống trị coi trọng và trở thành quốc giáo, với nhiều nhà sư đóng vai trò cố vấn tin cậy cho nhà vua Tín ngưỡng Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trong xã hội như chính trị, văn học – nghệ thuật, và kiến trúc Những đóng góp của các thầy cô và các anh chị đã để lại cho dân tộc nhiều công trình văn hóa có giá trị lớn.

Nghệ thuật chạm khắc dân gian của người Việt rất đa dạng và độc đáo, luôn song hành với chạm khắc chính thống phục vụ cho cung đình và quý tộc Sự khác biệt giữa hai loại hình này chủ yếu nằm ở những chi tiết nhỏ, như hình tượng con rồng, với rồng của vua chúa có năm móng biểu hiện quyền lực, trong khi rồng dân gian thường chỉ có bốn móng Hệ tư tưởng phong kiến đã ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật chạm khắc, nhưng khi ảnh hưởng này suy giảm, nghệ thuật dân gian lại phát triển mạnh mẽ Khác với các loại hình nghệ thuật khác, chạm khắc dân gian thể hiện qua hình chạm hoa văn về tự nhiên và cuộc sống hàng ngày của người dân Nghệ thuật này có một lịch sử phong phú với những hình tượng độc đáo về thiên nhiên và con người Việt Nam qua các thời kỳ Từ thời sơ sử đến thời Lý-Trần, Mạc, Nguyễn, mỗi thời kỳ đều mang một phong cách riêng, với những đường nét đơn giản nhưng sống động, thể hiện tâm huyết và ước nguyện của người nghệ sĩ Thời kỳ Mạc đã chấm dứt thời hoàng kim của Nho giáo, mang lại tự do cho con người và phát triển mạnh mẽ mỹ thuật dân gian Những nét kế thừa từ thời Trần vẫn còn in đậm trong trang trí kiến trúc chùa, với hình rồng, hoa lá, sóng và bông hoa sen được chạm khắc tinh xảo, đặc biệt là những hình vân ốc lớn nổi bật trong trang trí.

Chùa Bút Tháp, với đặc trưng “Những tiền Phật, hậu Thánh”, thể hiện rõ nét văn hóa chùa chiền của Đồng Bằng Bắc Bộ và sở hữu vẻ đẹp độc đáo riêng Trong tâm thức người dân, Phật mang lại lòng từ bi, trong khi Thánh được coi là linh thiêng Việc thờ Phật và Thánh không chỉ nhằm cầu cho “quốc thái, dân an” mà còn để mong ước cho gia đình và bản thân được những điều tốt đẹp.

“Những tiền Phật, hậu Thánh” là những ngôi chùa lớn và đẹp, nổi tiếng trong và ngoài khu vực, thể hiện trí tuệ của dân tộc và mang lại giá trị cao về kiến trúc và nghệ thuật.

Chùa Bút Tháp, có niên đại giữa thế kỷ XVII, không chỉ là một công trình nghệ thuật mà còn là biểu tượng cho sự phát triển của ý thức hệ xã hội Việt Nam.

nghệ thuật chạm khắc ở chùa bút tháp

Chất liệu của các bức chạm khắc chùa Bút Tháp

Trang trí tại chùa Bút Tháp rất nổi bật, thể hiện rõ nét qua hai loại chất liệu chính là gỗ và đá Các chi tiết kiến trúc và đồ thờ đều mang đậm dấu ấn nghệ thuật, tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho ngôi chùa.

Ván ngưỡng và các đầu kẻ bẩy của toà Tiền đường được chạm khắc hình rồng, vân xoắn, đao mác, hoa cúc, thể hiện những tượng trưng cho các thế lực vũ trụ như nước, lửa, mặt trời và tinh tú Các biểu tượng rùa và lân, đại diện cho sự vĩnh cửu và trí tuệ, nổi bật trong nghệ thuật trang trí, chạm khắc gỗ thế kỷ XVII Bên ngoài chùa, các yếu tố trang trí được thể hiện rõ ràng, trong khi bên trong chỉ sử dụng các đấu gồ ghề mang dấu ấn thô mộc Các vì kèo được làm từ thanh xà lim đẹp, xếp chồng theo kiểu cách Á Đông, với những đường nét đơn giản, tạo nên sự thanh thoát khác biệt so với các chùa khác Khung bằng gỗ với hình rồng chạm khắc tinh xảo ở giữa và hai đầu đỡ bằng khúc gỗ chạm hình thú vật và hoa lá, nối với nhau bằng thanh xà ngang chạm trổ hình trôn ốc Sự đơn giản và những nhịp xà vuông vức gợi cảm giác nhẹ nhàng, thích thú cho toàn bộ khung nhà của ngôi chùa này.

Sách “Những Bắc Ninh phong thổ tạp kí” ghi lại rằng Huyền Quang đã thăm nhiều chùa, trong đó có chùa Bút Tháp, nơi ông cho xây dựng tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao chín tầng, trang trí bằng hoa sen Toà Cửu Phẩm, hay Tích Thiện Am, là kiến trúc ba tầng độc đáo, được thiết kế để đặt tháp quay Cửu Phẩm Liên Hoa, biểu trưng cho chín cấp trong thế giới cực lạc của Đức Phật A Di Đà Tháp cao chín tầng với tám mặt đều đặn thể hiện tám phương của nhà Phật, và các tầng được ngăn cách bởi bức gỗ chạm cánh sen nở Mỗi vòng quay của tháp ứng với 3.542.400 câu niệm Phật, tượng trưng cho chín cấp tu hành chính quả của Phật giáo Được tạo tác từ thế kỷ XVII, tháp vẫn còn hoạt động và các mảng phù điêu cùng pho tượng nhỏ trên tháp làm tăng giá trị nghệ thuật và lịch sử của tháp Cửu Phẩm Liên Hoa, nơi còn lưu giữ nhiều di vật quý giá từ thế kỷ XVII như bia đá năm 1647, tấm gỗ chạm hình rồng phượng và chiếc hương án gỗ.

Kiến trúc chùa Bút Tháp nổi bật với khung gỗ chịu lực và nền bệ lan can bằng đá, nơi có những hình động vật được khắc họa sinh động và độc đáo Lan can của toà Thượng điện có 26 bức chạm khắc đá, trong khi lan can cầu đá nối với toà Tích Thiện Am có 12 bức, và lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức Tổng cộng, chùa Bút Tháp sở hữu 51 bức chạm khắc đá với các đề tài đa dạng, nhưng đều đồng nhất về chất liệu, phong cách và niên đại.

Di vật bằng đá tại chùa Bút Tháp không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn thể hiện giá trị mỹ thuật độc đáo Các bia đá cổ và dãy lan can chạm khắc tỉ mỉ bao quanh Thượng điện, cùng với cây Cầu đá và tháp Báo Nghiêm hình bát giác được xây dựng năm 1647, đều chịu ảnh hưởng nghệ thuật Trung Hoa Tháp Tôn Đức mộ s Minh Hành, được dựng năm 1660, có các mảng chạm mềm mại hơn, thể hiện sự phát triển trong nghệ thuật điêu khắc đá.

Toà Thợng Điện được xây dựng trên nền đá vững chắc, cao hơn mặt sân khoảng 1m30, với khung nhà đơn giản, không cầu kỳ như toà Tiền đường Sự chú ý được dồn vào những bức lan can đá được chạm nổi tinh xảo, kéo dài đến mặt sau nhà và cầu đá Kiến trúc chùa Bút Tháp mang đậm dấu ấn Trung Hoa, thể hiện rõ qua hàng lan can bao quanh toà Thợng Điện và tháp đá Báo Nghiêm Tháp hình bát giác, xây toàn bằng đá, gồm bốn tầng và ngọn tháp chia thành chín nấc, với các bức tường bao đồng tâm và chân tường chạm trổ tinh tế Ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa còn thể hiện qua cầu đá và các bức chạm nổi, như hình ảnh hai con sư tử đang hí cầu, mặc dù kỹ thuật chạm khắc có sự khác biệt so với Trung Quốc.

Chủ đề và cảm hứng nghệ thuật thường xuất phát từ Trung Quốc, nhưng các nghệ nhân điêu khắc Việt Nam đã thể hiện lại những tác phẩm này bằng kỹ thuật độc đáo của riêng mình.

Cầu đá nối từ Thợng điện sang nhà có tháp “Những Cửu Phẩm Liên Hoa” được xây dựng theo kiểu ghép đá vòng cuốn, gồm năm lớp đá dẫn xuống ba cấp bậc Hai trụ đá trên cùng có hình tạc hai con lân dữ tợn, chân phải dẫm lên quả địa cầu, trong khi phía dưới được tạo bởi hình mây cuộn tròn Vòm cầu được kết cấu bằng những tảng đá hình múi, tạo thành một hình vòng cuốn mà không sử dụng mạch vữa trát Văn bia khắc năm 1647 ghi nhận sự nổi tiếng của những chùa cổ Ninh Phúc, đặc biệt là chùa Thảo Lâm ở Trung Quốc Ngôi chùa cổ đổ nát đã được tu sửa lại bằng những tấm đá óng ánh, tạo thành bức lan can cùng với chân nhà được xây dựng vào năm 1646 đến 1647.

Đề tài của những bức chạm khắc

Các bức chạm nghệ thuật chủ yếu xoay quanh chủ đề cỏ cây, hoa lá như tùng, cúc, trúc, mai (Tứ quý), cùng với các loài động vật như ngựa, dê, trâu, khỉ, hổ, cá, cò và những linh vật như long, ly, quy, phụng Những hình ảnh này không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa, được truyền đạt qua sự hướng dẫn của các thầy cô và anh chị.

Trên lan can đá của toà Thượng điện, hình khắc chủ yếu là động vật, được điểm xuyết bởi mây, trời và hoa lá Đặc biệt, những hình ảnh nổi bật bao gồm chim, hươu, khỉ và rồng.

Tại tầng dưới cùng của tháp Báo Nghiêm, có 13 bức chạm đá sinh động, chủ yếu thể hiện các con thú, phản ánh tài nghệ điêu khắc và ghép đá tuyệt vời của người thợ Việt Nam Những hình ảnh này không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn thể hiện sự sáng tạo và tâm huyết của các thầy cô và anh chị đã truyền đạt cho tôi.

Hình tượng rồng, phượng, hoa lá và các loài chim thú đã được thẩm mỹ dân gian chấp nhận làm mẫu mực trang trí Trong khi họa tiết hoa lá chủ yếu bao gồm hình sóng nước, hoa sen và hoa cúc, thì hình tượng động vật lại rất đa dạng với các con rồng, nghê, phượng, voi, và nhiều loài khác Những con vật trong chạm khắc dân gian thường là linh vật, được coi là những sinh vật trong vũ trụ như rồng, phượng, lân, nghê, mang theo những khả năng siêu phàm có thể ảnh hưởng đến cuộc sống con người Mặc dù linh vật không mang hình tượng nhân cách, nhưng chúng hội tụ những chức năng cụ thể nhằm phục vụ cho con người và mối quan hệ giữa nhân sinh và vũ trụ.

Hình ảnh và đường nét chạm khắc trong kiến trúc chùa thể hiện phong cách dân gian đặc trưng, mang đến sự tinh xảo và sâu sắc Thời kỳ này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều chạm khắc dân gian độc đáo, với hoa văn cây cỏ là chủ đề xuyên suốt trong nghệ thuật tạo hình của người Việt Những hình ảnh này không chỉ làm cho ngôi chùa trở nên ấm áp và linh thiêng hơn, mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm và ước mơ về một cuộc sống yên bình, no đủ của con người thời đó Tính chất dân gian trong trang trí, đặc biệt là qua đề tài con người, được bộc lộ rõ ràng trong mọi hình thức nghệ thuật.

Nghệ thuật chạm khắc thể hiện sự điêu luyện qua các đề tài dân gian và cảnh sinh hoạt hàng ngày như chèo thuyền và đánh cờ Các thầy cô và anh chị đã giúp tôi hiểu sâu sắc ý nghĩa của những đề tài này, vượt qua những phi lý của hình thể với tính cách điệu nghệ thuật cao Trong bối cảnh đời sống xã hội, nghệ thuật chạm khắc mang hình thức tượng trưng với tỷ lệ không theo chuẩn mực, nhưng vẫn thể hiện được bố cục sống động.

Hình ảnh chạm khắc tại đây thể hiện sự sống động và ý nghĩa Phật đạo, đồng thời mang đậm tính nghệ thuật thiền Các bức chạm khắc tập trung vào đề tài thiên nhiên phong phú, đặc biệt là Tứ Linh Quý, với hơn 26 bức chạm ở lan can và cầu đá thể hiện đa dạng chủ đề Những hình ảnh về cây cỏ, hoa lá và động vật xen kẽ với các con vật linh thiêng như long, mã, phượng, rồng Một số bức còn khắc họa các tích chuyện từ Trung Quốc Các phiến đá được chạm khắc trang trí theo hình chữ nhật, mỗi bức có một hoặc hai hình Đặc biệt, bố cục trang trí thể hiện quan niệm về quy luật tuần hoàn của vũ trụ và sự diễn biến không ngừng của thiên nhiên, phản ánh phong cách nghệ thuật của người Việt Nam từ thời kỳ Hùng Vương đến nay.

Trần Lâm Biền đã chỉ ra rằng hiện tượng chia ô trong trang trí kiến trúc Huế phản ánh sự khủng hoảng trong quan niệm bố cục mỹ thuật Tuy nhiên, phong cách trang trí này, đặc biệt trên lan can đá chùa và nhang án của chùa Bút Tháp, đã đánh dấu một bước khởi đầu cho nghệ thuật khung Điều này có thể xem là bước mở đầu quan trọng dẫn đến sự phát triển của kiến trúc Huế, biến nó thành một hình thức nghệ thuật tinh tế.

“NhữngHuế – Mỹ thuật Nguyễn - những cái riêng” đã xúc cảm mà phần nào ca tụng những “Nhữngô” , “Nhữnghộc” trên các cửa xây của kinh thành Huế?

Các bức chạm nổi ở chân tường tháp Báo Nghiêm thể hiện nhiều cảnh khác nhau, bao gồm Long lỗ giao tranh, S tử hí cầu, Lân ngựa đuổi hươu, và Trâu cỡi sóng Những hình ảnh này được tạo ra từ đá và lan can đá của Thượng điện Dưới những phiến đá, có hình người trong tư thế đỡ tháp, mô tả một người đang chịu sức nặng lớn, với hai tay đỡ bệ trên, đầu tròn to, mắt trợn tròn, miệng nhăn lại, bụng trương phình to, và hai chân choãi rộng, ống quần bay tỏa bốn phía, thể hiện sự mộc mạc và thô khỏe.

Nét đẹp trong kĩ thuật chạm khắc

Chính diện của khoang dưới tháp Báo Nghiêm được trang trí bằng hai cột đá, trên có hai con rồng cuốn chạm nổi cao theo kiểu Trung Quốc Rồng được chạm khắc với dáng chúc đầu xuống dưới, hàm răng trên nhe ra và từng chi tiết được tỉa tót rất kỹ càng Đỉnh đầu rồng có cụm vân chải nhọn với chiếc sừng cong vút lên trên Cằm rồng có lớp râu hình răng cưa đâm xuống, ôm lấy lớp râu kiểu vân chải và chạy xuống cụm vân hình dấu hỏi ở bên dưới Thân rồng uốn gập nhiều khúc, một hiện tượng ít thấy trong nghệ thuật tạo hình cổ truyền của Việt Nam Đuôi rồng chạm vảy tròn và ở phần cuối toé ra ba nhánh hình cái chĩa ba đầu.

Tháp Báo Nghiêm không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp nghệ thuật trong không gian chùa Bút Tháp Với thiết kế độc đáo giữa những lớp mái nhấp nhô và cây cối xanh tươi, tháp đá vươn cao, thể hiện sự hòa quyện giữa kiến trúc và điêu khắc Từ xa, tháp đá tạo ấn tượng mạnh mẽ, cung cấp thông tin rõ ràng về ngôi chùa, trong khi khi đến gần, chúng ta mới cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế của nghệ thuật điêu khắc.

Cấu trúc hình bát giác của tháp đá tạo ra hiệu ứng ánh sáng mạnh mẽ, với mỗi mặt bắt được ánh sáng mặt trời theo từng thời điểm trong ngày Chất liệu đá không chỉ tạo ra ánh sáng dịu dàng mà còn làm nổi bật vẻ đẹp của ngôi chùa trong không gian rộng lớn Tháp đá hòa quyện với hình ảnh rồng chầu mặt trời trên nóc chùa, cùng với những đầu đao cong vút lấp lánh dưới ánh nắng, tạo nên cảnh sắc biến đổi huyền ảo như trong cõi Phật.

Dụng cụ chạm khắc gỗ bao gồm tràng tách, đục tẩy, đục phá và đục tinh, với bốn tiêu chuẩn thành phẩm: nhất mộc, nhì nhân, tam thân và tứ thế Các kỹ thuật chạm chủ yếu là chạm bong, chạm lộng và chạm nổi, trong đó chạm kênh và chạm kênh bong tạo ra chiều sâu không gian cho tác phẩm Chạm khắc trong chùa thể hiện đỉnh cao của kỹ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam, với chạm lộng là hình thức biểu cảm nhất, tạo ra hiệu quả không gian và khối cao nhất Nghệ thuật chạm lộng không chỉ kế thừa truyền thống mà còn mang đến sự độc đáo nhờ sự sáng tạo của các nghệ nhân Những biến hóa trong ngôn ngữ điêu khắc làm cho chạm lộng trở nên đa chiều, tạo ra sự tương phản giữa sáng và tối, đồng thời giữ được bố cục thẩm mỹ và tính vững chắc Do đó, điêu khắc chạm lộng là sự sáng tạo trong nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại.

Chạm khắc đã phát triển mạnh mẽ khi đề tài được khai thác rộng rãi, mang tính nhân văn và cộng đồng, ít bị ảnh hưởng bởi tôn giáo và quy phạm lễ nghi Từ chạm nông, nghệ thuật này đã chuyển sang chạm bong, với kỹ thuật chạm sâu vào gỗ, tạo ra nhiều lớp không gian mà không còn khái niệm về nền Đây là bước tiến ngoạn mục của chạm khắc truyền thống, với những ưu thế như tạo chiều sâu không gian, hiệu quả tương phản sáng tối, và khả năng đục nhiều tầng, mang lại sự uyển chuyển, sinh động và cảm giác nhẹ nhàng mà không ảnh hưởng đến kết cấu công trình.

Kỹ thuật chạm lộng khoét sâu trong thân gỗ tạo ra những mảng chạm sống động, không còn cảm giác về nền Điều này thể hiện mối quan hệ sinh động với đời sống và sinh hoạt, mang đậm phong vị dân gian và giàu tính lãng mạn.

Thủ pháp không gian và thời gian đồng hiện trong chạm lộng thể hiện nhiều hình ảnh về cuộc sống thường ngày, phản ánh vẻ đẹp tự nhiên và tâm hồn nhân hậu Sự phóng khoáng trong nghệ thuật chạm lộng mang lại cảm nhận mới mẻ và sâu lắng, giúp biến những tỉ lệ thông thường thành điều hợp lý Các nghệ sĩ đã khai thác cảm hứng phong phú để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện tín ngưỡng tôn giáo của người dân Trong chùa, các cột và đầu cân được đục chạm đa dạng, cho phép nghệ nhân thể hiện tài năng qua những chi tiết tinh xảo Chạm lộng phát triển song song với biến đổi của đời sống xã hội, thể hiện rõ nét tính dân tộc trong nghệ thuật dân gian Những mảng thủng trong điêu khắc tạo ra nhịp điệu và sự cân bằng thẩm mỹ, đòi hỏi tay nghề cao để liên kết phần gỗ nền và mặt tác phẩm.

Chạm khắc trên lan can đá thể hiện sự căng và dứt khoát, khác biệt so với chạm khắc gỗ với nhiều kỹ thuật phức tạp Nghệ nhân sử dụng kỹ thuật chạm nông để tạo hình rõ ràng với ba sắc độ nông, sâu đơn giản, tạo nên những tác phẩm tinh xảo và ngoạn mục Lối chạm của Việt Nam kết hợp giữa chất thô khỏe và sự chau chuốt, tạo nên phong cách đặc trưng Cụ thể, hai hệ thống lan can được trang trí bằng năm cụm mây xoắn xen kẽ, với phiến đá đầu tiên chia thành ba cấp, cấp trên cùng có ô chữ nhật lõm với vân xoắn đối xứng, tạo cảm giác trang trí hài hòa.

“Những chân quì dạ cá” có hai ô trang trí ở cấp giữa Ô đầu tiên là một hồ sen, với nước hồ được tượng trưng bằng năm ngọn sóng xen kẽ, mỗi ngọn sóng thể hiện qua nhiều đường chỉ chìm theo kiểu văn chải đặc trưng Bên trái, một lá sen tàn rủ xuống, trong khi cao hơn là một bông hoa đang nở, tạo nên hình ảnh đối lập với lá sen tàn.

Đài sen đã thành hạt, cùng với đôi lá lan dài mềm mại, tạo nên sự mềm mại và phá vỡ sự cứng nhắc trong cách thể hiện của sen Trang trí này phản ánh quy luật “Những vô thường” của đạo Phật: có sinh phải có diệt, có nhân phải có quả Các thầy cô và anh chị đã mang đến cho tôi những hiểu biết quý giá.

Hình trang trí bên cạnh là cụm lá lan dài cách điệu, với vân xoắn tròn ở giữa Các lá lan được thể hiện bằng nhiều đường cong, mang vẻ mộc mạc, thô sơ Phiến đá thứ ba có hình đôi rồng chầu quả cầu lửa, với đặc điểm như sừng ngắn, mắt nổi tròn, mũi s tử và miệng há mở Rồng có thân uốn khúc, chân lớn với bắp thót nhanh và bàn chân có bốn móng Quả cầu lửa mang hình dáng quả trứng gà, với mây đao sáng tỏa bốc lên Bố cục này không thuộc hệ thống rồng truyền thống Việt Nam, thể hiện sự ảnh hưởng của loại rồng đời Minh của Trung Hoa.

Trong một bức trang trí trên phiến đá, văn hóa và nghệ thuật Việt Nam được thể hiện rõ nét Phiến đá thứ t khắc họa hình ảnh đôi cá từ hồ nước vươn lên chầu vào mặt trăng ở giữa, xung quanh là ba cụm vân xoắn hình dấu hỏi như ba lưỡi lửa Hồ nước được tượng trưng bằng nhiều lớp sóng với hình vân chải, trong khi phía trên bên phải có một hình vân xoắn nửa, tạo sự cân đối cho hai con cá nhỏ đang bơi ngược lại Mỗi con cá được chạm khắc chi tiết từ môi há vươn tới mặt trăng cho đến từng cái vây bên mình, gợi nhớ đến bức tranh “Những Lý ng vọng nguyệt” trong tranh dân gian Việt Nam.

Cá chép và mặt trăng thể hiện sự đồng nhất, tượng trưng cho yếu tố âm, phản ánh tầm quan trọng của yếu tố âm trong văn hóa người Việt.

Bức chạm khắc duy nhất có hình ngời trên lan can cầu đá thể hiện một ông già nh đạo sĩ ngồi dưới gốc cây, với vẻ hiền hậu và an nhàn Trước mặt ông là một chiếc đèn tỏa khói cùng với các con vật như rùa, hạc, và hươu Ngoài ra, còn nhiều bức chạm đẹp khác như cảnh cá hóa rồng và đàn cò bay lượn Đặc biệt, hình ảnh con long mã với cuốn sách trên lưng, theo truyền thuyết, là biểu tượng cho sự xuất hiện của những vị đại vương hoặc hiền triết Hình ảnh phượng hoàng, một trong "Tứ linh", cũng được thể hiện, báo hiệu sự ra đời của những nhân vật vĩ đại Những bức chạm khắc này không chỉ mang giá trị thẩm mỹ cao mà còn là những tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam, mặc dù chủ đề chủ yếu lấy cảm hứng từ Trung Quốc.

Ánh sáng vàng rực rỡ chiếu sáng những khối vàng son, tạo nên không khí linh thiêng và trang trọng, thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam truyền thống Những hình chạm không cầu kỳ nhưng đầy sức sống, phản ánh tâm hồn và cốt cách của người Việt qua từng nét chạm đục mạnh mẽ và tinh tế Ý thức lao động nghệ thuật được thể hiện qua bố cục không gian hòa hợp với màu sắc, hình thể và cách sắp xếp kiến trúc, trong đó tác phẩm điêu khắc chiếm lĩnh không gian với các lớp mái nhấp nhô và những ngọn tháp vút lên.

Ngày đăng: 10/07/2023, 09:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w