1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lạm phát và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

46 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm phát và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 282,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

của quốc gia, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao, quan điểm này quá coi trọng cơ sở đảm bảo bằng vàng bạc,ngoại tệ cho tiền trong nước và người

Trang 1

CHƯƠNG 1 LẠM PHÁT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG

VIỆC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT1.1 Các quan điểm về lạm phát

1.1.1 Các quan điểm về lạm phát trong lịch sử

Lạm phát (Inflation) là một phạm trù kinh tế vĩ mô, chứa đựng nội hàm phức tạp.

Lạm phát là một căn bệnh tiềm ẩn đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường,

nó xuất hiện khi nền kinh tế có các dấu hiệu mất cân đối, mất cân đối giữa cung - cầuhàng hóa, mất cân đối giữa cung-cầu tiền… Lạm phát là một vấn đề lớn, khó và phứctạp nên mỗi khi nó xuất hiện lại đòi hỏi nhiều tâm trí, sức lực của các nhà kinh tế, cácnhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà quản lý để tìm ra những giải pháp kiềm chế,tránh hậu quả do nó gây ra Trong lịch sử nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và đưa ranhững quan điểm khác nhau về lạm phát :

Quan điểm 1: Quan điểm đồng nhất giữa lạm phát và tăng giá - gọi là lý thuyết

về lạm phát và tăng giá

Các nhà kinh tế học Mỹ như J.P Luthebing, L.V Chandeler và D.C Clinder chorằng: “Thời kỳ mà giá hàng tăng, không kể sự biến động ấy là lâu dài, có tính chất chu

kỳ hoặc ngoại lệ là thời kỳ lạm phát”

Nhà kinh tế Thụy Điển, Bentet Hanxen viết “Khi chúng ta nói đến lạm phát tức làchúng ta quyện nó vào việc nâng giá” Nhà kinh tế Pháp Emin Giam nói: “Hiện tượng

cơ bản của lạm phát là sự tăng giá” còn nhà kinh tế người Đức Euyun Danner thì chorằng “Lạm phát là sự nâng giá kéo dài”

Theo quan điểm thì lạm phát là sự tăng giá nói chung của chỉ số hàng hóa Người

ta thường dựa vào chỉ số giá cả hàng tiêu dùng (CPI) để xác định mức độ lạm phát

Quan điểm 2: Lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức đảm bảo bằng vàng bạc, ngoại tệ của quốc gia, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả

hàng hóa bị đẩy lên cao, quan điểm này quá coi trọng cơ sở đảm bảo bằng vàng bạc,ngoại tệ cho tiền trong nước và người ta cho rằng để chống lạm phát cần phục hồi lại chế độ tiền giấy chuyển đổi ta vàng theo một mức giá qui định

Quan điểm 3: Lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối với tiền lớn hơn hàng khiến cho giá cả hàng hóa tăng lên ở

mọi lúc mọi nơi Để khắc phục tình trạng này cần dùng một biện pháp để thiết lập lại sựcân đối giữa tiền và hàng hóa trong nền kinh tế

Trang 2

Việc nhìn nhận lạm phát bằng một định nghĩa này hay định nghĩa khác khó đi đếnthống nhất theo từng quan điểm riêng biệc Tuy nhiên dù sao lạm phát cũng thể hiệnqua những đặc trưng cơ bản như:

-Sự thừa tiền quá mức

- Sự tăng giá đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy

- Sự phân phối lại qua giá cả

- Sự bất ổn về kinh tế - xã hội

Như vậy, lạm phát được hiểu là:

“Hiện tượng giá cả tăng nhanh trong thời gian dài dưới tác động của một hoặc tổng hòa nhiều yếu tố; gây ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước xảy ra lạm phát nếu không có những giải pháp kiểm soát kịp thời”.

1.1.2 Biểu hiện của lạm phát trong nền kinh tế hiện đại

Trong điều kiện hiện đại khi mà nền kinh tế của một nước luôn được gắn liền vớinền kinh tế thế giới thì biểu hiện của lạm phát được thể hiện qua một số yếu tố mới:

a Sự mất giá của các loại chứng khoán có giá

Song song với việc tăng giá cả các loại hàng hóa, giá trị các loại chứng khoán cógiá trị bị sụt giảm nghiêm trọng, vì việc mua tín phiếu là nhằm để thu các khoản lợi khiđáo hạn Nhưng vì giá trị đồng tiền sụt giảm nghiêm trọng nên người ta không thíchtích lũy tiền theo hình thức mua tín phiếu nữa Người ta tích trữ vàng và ngoại tệ

b Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng

Trong điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế, vàng và ngoại tệ mạnh được coi như làtiêu chuẩn để đo lường sự mất giá của tiền quốc gia Đồng tiền càng giảm giá so vớivàng và USD bao nhiêu nó lại tác động nâng giá hàng hóa lên cao bấy nhiêu Ở đóngười ta bán hàng dựa trên cơ sở “quy đổi” giá vàng hoặc ngoại tệ mạnh để bán màkhông căn cứ vào giá trị tiền quốc gia

1.2 Các cấp độ lạm phát

Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát các nhà kinh tế thường chia lạm phát thành ba loại: lạmphát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

1.2.1 Lạm phát vừa phải (Moderate inflation) là loại lạm phát một số (sigit-digit

inflation).Tỷ lệ tăng giá thấp, dưới 10%/năm.Có thể nói giá cả tương đối ổn định, bởi

vì sự thay đổi của nó hầu như rất khó nhận biết Dân chúng tin tưởng vào giá trị đồngtiền Do đó người ta sẽ không lãng phí thời gian và sức lực trong việc cố gắng bảo tồncủa cải dưới các dạng tài sản khác với tiền

Trang 3

1.2.2 Lạm phát phi mã (Galloping iflation) là loại lạm phát hai hay ba số, tức trong

khoảng hơn 10%, 50%, 200%, 800% một năm

Trong thập niên 1980 đã có nhiều nước lâm vào tình trạng lạm phát phi mã đến700% chẳng hạn Argentina, Brazil, Việt Nam… Đồng tiền bị mất giá một cách nhanhchóng, lãi suất thực thường âm Trong điều kiện đó, không ai cho vay với mức lãi suấtbình thường Phần lớn các hợp đồng kinh tế được chỉ số hóa theo tỷ lệ lạm phát hoặcđược tính toán theo ngoại tệ mạnh hay theo vàng Ít có ai nắm giữ lượng tiền mặt quámức tối thiểu cần thiết cho việc giao dịch hàng ngày, ngược lại hàng hóa sẽ được ưachuộng hơn, nhất là các hàng hóa lâu bên Chính điều đó làm cho lạm phát càng cónguy cơ tăng tốc,đôi khi dẫn đến hiện tượng xoáy trôn ốc rất nguy hiểm Lúc này thịtrường tài chính có nguy cơ lụn bại Mặc dầu vậy, phần lớn các nước có lạm phát phi

mã vẫn có khả năng cứu vãn được mà không cần đến những biện pháp cực đoan.Hơnnữa,một số nước vẫn tăng trưởng tốt với tỷ lệ lạm phát 100-200%, điển hình là Brazil

và Ixaren vào thập niên 1970 Tuy nhiên sự tăng trưởng đó đã bị biến dạng, bởi vì phầnlớn đầu tư được đưa ra nước ngoài, làm giảm đầu tư trong nước

1.2.3 Siêu lạm phát (Hyperainflation) với tỷ lệ trên 1000% Các cuộc siêu lạm phát

điển hình như ở Bolivia vào 1985 với tỷ lệ 50000%, ở Đức xảy ra vào tháng 11 năm

1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% so với tháng 1 năm 1982 Zimbabwe hiện là một trongnhững quốc gia có tình trạng siêu lạm phát tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới với tỷ lệvượt mức 40 triệu % Tỷ lệ lạm phát tăng từ 1000% vào năm 2006 lên đến 12000% vàonăm 2007 Chính phủ phải bỏ đi 10 chữ số 0 trên tờ tiền Zimbabwe để đảm bảo máytính có thể tính được Quả thật không thể nói bất cứ điều tốt lành nào trong các cuộcsiêu lạm phát cả Người ta bị chìm ngập trong khối tiền tệ trong khi mọi thứ hàng hóa đềukhan hiếm Chức năng sơ đẳng nhất của tiền là làm phương tiện trao đổi cũng có thể bịmất đi Có tiền chưa chắc mua được hàng bởi vì không ai muốn bán hàng để lấy nhữngđồng tiên vô giá trị Nền tài chính hoàn toàn bị lụn bại, nhiều giao dịch diễn ra trên cơ sởđổi hàng Thông thường, siêu lạm phát chỉ có thể được cứu chữa bằng chính sách cải cáchtiền tệ, là biện pháp cực đoan mà chính phủ các nước phải sử dụng khi lạm phát cao đếnmức không thể cứu vãn nổi

Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát:

Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp

định

Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau

Trang 4

Trong đồ thị tổng cầu, tổng cung

Lạm phát cầu kéo xuất hiện khi

có sự dịch chuyển sang bên phải của tổng cầu (AD0 dịch chuyển lên AD1)

AS0

AD1 AD0

E1 E

1.3 Nguyên nhân của lạm phát

1.3.1.  Lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy

1.3.1.1 Lạm phát cầu – kéo (Demand pull inflation)

Nguyên nhân này xảy ra khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng cung trongcùng thời điểm đó Trường hợp này xuất hiện có thể là do tổng cầu tăng nhưng tổngcung không đổi, hoặc tổng cung cũng tăng nhưng tăng không bằng tổng cầu

Khái niệm Cầu–Demand được hiểu khác với nhu cầu-Need, trong đó nhu cầu làtrạng thái tâm lý chỉ sự ham muốn, cần thiết, ước muốn của con người, mà những cáinày của con người thì vô cùng vô tận muôn màu muôn sắc, còn Cầu-Demand là lượnghàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua tại mỗi mức giá tương ứng

Lạm phát cầu kéo giải thích rằng: khi tổng cầu tăng tức là có nhiều người muốnmua và sẵn sàng mua hàng hóa, trong khi đó lượng cung không tăng hoặc tăng khôngbằng tổng cầu, thì đương nhiên trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa,theo quy luật cung cầu thì trong trường hợp này giá cả thị trường tăng lên là điều tấtyếu Như vậy đã xuất hiện lạm phát

ĐỒ THỊ 1.1: MÔ HÌNH LẠM PHÁT CẦU KÉO

Trang 5

P1

P0

AS0

AD0 E0

yếu tố của tổng cầu Nếu gọi tổng cầu là AD thì: AD = C + I + G + X - M Tổng cầutăng có thể do một hoặc một số các yếu trong vế bên phải của biểu thức tăng lên

- Các hộ gia đình tăng chi tiêu do thu nhập tăng, hoặc được chính phủ giảm thuế,tăng trợ cấp hoặc cảm thấy các chế độ an sinh xã hội hay bảo hỉểm tốt nên quyết địnhcắt giảm tiết kiệm để chi tiêu

- Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu

tư cũng làm tăng tổng cầu

- Các doanh nghiệp tăng đầu tư do xuất hiện nhiều cơ hội kinh doanh hấp dẫn

- Kim ngạch XNK thay đổi theo hướng chênh lệch (X-M) ngày càng tăng do đồngnội tệ mất giá so với ngoại tệ, chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn nên bán đượcnhiều hơn

1.3.1.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Cost push inflation)

Lạm phát loại này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lựcsản xuất của nền kinh tế giảm sút Chi phí đầu vào tăng có thể do giá các nguồn nguyênliệu đầu vào cho sản xuất tăng giá Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi nhiều chiphí hơn; thiên tai mất mùa lụt bảo động đất làm giảm năng lực sản xuất; khủng hoảngngành dầu mỏ do các liên minh dầu mỏ tăng giá hoặc chiến tranh vùng vịnh làm tănggiá, giá dầu tăng làm tăng chi phí trong ngành năng lượng, từ đó làm tăng chi phí đầuvào trong các ngành khác Các chi phí sản xuất tăng làm tăng giá thành sản phẩm vàbuộc doanh nghiệp tăng giá bán để bù đắp chi phí Giá bán tăng tạo lạm phát Nhưngmặt khác giá bán tăng, theo quy luật cung cầu sẽ làm tổng cầu giảm xuống, các doanhnghiệp sẽ cắt giảm sản xuất sa thải nhân công Hậu quả dẫn đến cho nền kinh tế lúc này

là vừa xuất hiện lạm phát lại vừa bị suy thoái Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi

là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát kèm suy thoái

ĐỒ THỊ 1.2: MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHI PHÍ ĐẨY

P

Y1 Y* Y

Trang 6

Ba loại chi phí có thể gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyênliệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy mạnh tiền lương lên cao, cácdoanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy đi lêntiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chỉnh phủ tìm cách tránh suythoái bằng cách mở rộng tiền tệ.

Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sảnxuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại

lệ phí bắt buộc) đóng vai trò quan trọng vì chúng trực tiếp tác động tới giá cả hàng hóa.Đối với nền kinh tế nhập khẩu nhiều nguyên liệu, cấu kiện cần thiết mà nền côngnghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá cả của chúng (có thể do giáquốc tế thay đổi hoặc tỷ giá biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạmphát trong nước

Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức vừa phải là một điều kiện rất tốt cho nền kinh tế,

nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, người ta còn ví nó như một chất dầu mở dùng

để bôi trơn cho bộ máy kinh tế Nhưng lạm phát chi phí đẩy thì dù bất kỳ mức độ nàocũng đều không tốt, vì bản thân nó đã mang trong mình sự suy thoái kinh tế Cùng mộthiện tượng là lạm phát, nhưng bản chất và nguyên nhân khác nhau nên tác động củachúng là khác nhau

1.3.2 Lạm phát do thiên lệch cơ cấu

Lạm phát do sự thiên lệch trong cơ cấu kinh tế hoặc do bóp méo giá cả Dễ thấynhất là khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nông nghiệp Mỗi khi có thiên tai, mất mùa,dịch bệnh gây hại nguồn thực phẩm chính đều gây ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ đếntăng giá; bắt đầu từ lương thực,thực phẩm sau đó là phản ứng dây chuyền đến nhiềuloại hàng hóa khác Tình trạng lạm phát của Việt Nam trong các năm từ 1979 đến 1986

và đến 1990, đều có nguyên nhân từ lương thực, do cơ cấu kinh tế lúc ấy phụ thuộc lớnvào nông nghiệp và sản xuất lúa gạo Lạm phát do cơ cấu còn do nguyên nhân khó thấyhơn, là sự thiên lệch trong chính sách Việc khuyến khích một ngành này bằng cách tậptrung các nguồn lực có thể làm nhiều ngành khác không có điều kiện để phát triển Giá

cả của hàng hóa được khuyến khích có thể rẻ tương đối, nhưng nhiều loại hàng hóa cầnthiết khác lại quá đắt làm cho cơ cấu giá cả bị bóp méo Chính sách bảo hộ hàng trongnước không chỉ làm cho giá hàng hóa được bảo hộ có mức giá cao gây méo mó cơ cấugiá mà còn tạo ra kênh phân phối độc quyền Với các chủng loại hàng hóa tiêu dùngthiết yếu, thì hệ thống phân phối này sẽ thường xuyên làm “giá” với bất kỳ lý do nào-

Trang 7

từ chính sách trong nước,từ tỷ giá hay việc nhập khẩu trở nên khó khăn.

Lạm phát do cơ cấu kinh tế lạc hậu sẽ thay đổi khi cơ cấu kinh tế thay đổi Nhưnglạm phát do dự thiên lệch trong chính sách thì sự thay đổi phức tạp hơn nhiều

1.3.3 Lạm phát do mức cung tiền tệ tăng cao liên tục

Đây là quan điểm của các nhà kinh tế theo trường phái trọng tiền Quan điểm nàycho rằng lạm phát là kết quả của  việc tăng thêm tiền với một tỉ lệ cao Nó cũng chorằng lạm phát là kết quả của tăng trưởng tiền tệ cao song cũng phải thừa nhận lạm phátcao kéo theo sự tăng trưởng tiền tệ cao Milton Friedman đưa ra một câu trả lời nổi tiếngtrong ý kiến đề xuất của mình để dập tắt lạm phát trong những năm 60 ở Mỹ: “Lạm phátbao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ” Có thể nói đây là sự đồng nhất giữaJ.M.Keynes và M Friedman trong phân tích nguyên nhân và bản chất của lạm phát.M.Friedman nói “Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiềntrong lưu thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất” Ông chi rằng trongmọi trường hợp mà tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao thì tỷ lệ tăng trường củacung ứng tiền tệ cũng cực kỳ cao Thực ra kết luận này dựa trên hai điều Thứ nhất, cácnhà tiền tệ cho rằng lạm phát gây ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung, vànguyên nhân của sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông Nếu cách giảithích này đúng về mặt lịch sử, thì nó khẳng định rằng lạm phát gây ra bởi sức ép từphía cầu, chứ không phải từ phía cung Thứ hai, nó giả sử rằng mối quan hệ nhân quảbắt nguồn từ tác động của cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải ngược lại là giá

cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng Để hiểu mối quan hệ đó chúng ta phải xemxét cơ chế lan truyền Với giả thiết về thị trường cân bằng, và bắt đầu từ vị trí cân bằngtrên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trong cung tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằngtrên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừađược dùng để mua hàng hóa,dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượng hàng hóa và dịch vụ đượcquy định bởi các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế, do đó xuất hiện dư cầu trênthị trường hàng hóa Điều này đến lượt nó sẽ gây áp lực làm giá cả tăng lên để thiết lậptrạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hóa Trong mô hình tổng cầu-tổng cung,

sự gia tăng mức cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sang bên phải của đườngtổng cầu và làm tăng mức giá do đường tổng cung thẳng đứng trong dài hạn

Điểm khởi đầu cho lý thuyết số lượng là quan sát cho thấy dân cư giữ tiền chủ yếu

để mua hàng hóa và dịch vụ Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trongmột năm và P là mức giá của một đơn vị sản phẩm điển hình, khi đó số đồng được trao

Trang 8

đổi trong năm bằng PxY Vì tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thôngtin này để dự đoán số lần mà tờ giấy bạc điền hình trao tay trong năm Nếu chúng ta kýhiệu V là tốc độ chu chuyển, tức số lần trung bình mà một tờ giấy bạc điền hình được

sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong một năm, và M là cung tiền, thì số đơn vịtiền tệ trao đổi trong năm cần phải là MxV Do vậy, chúng ta có đồng nhất thức:

MxV=PxY

Đó là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiềncung ứng (M) và GDP danh nghĩa (PxY) Phương trình số lượng này cho thấy sự giatăng lượng tiền trong nền kinh tế phải được phải ánh ở một trong ba biến số khác: mứcgiá phải tăng, sản lượng phải tăng,hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm

Nhìn chung, tốc độ chu chuyền tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi đó,lạm phát (P tăng) chỉ có thể xảy ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơn sảnlượng (Y): tốc độ tăng cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các nhân tốkhác không thay đổi) Đồng thời, các biện pháp chính sách mà một nước cần thực hiện

để giảm lạm phát chính là cắt giảm tốc độ cung ứng tiền tệ Như vậy, theo quan điểmnày, chính sách tiền tệ là chính sách then chốt nhằm kiểm soát lạm phát; và chính sáchtài khóa cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát bởi vì thâm hụt ngân sách của chính phủ

có xu hướng làm tăng cung tiền

Có thể nói quan điểm về lạm phát “Lưu thông tiền tệ được cả những người theochủ nghĩa tiền tệ (M.Friedman) và cả những người theo trường phái J.M.Keynes thừanhận đã chứng tỏ phần nào sự đồng nhất trong việc phân tích nguyên nhân và bản chấtcủa lạm phát Ở đây người ta tin rằng lạm phát cao là kết quả của tăng trưởng tiền tệcao song cũng phải thừa nhận “nhân quả ngược” tức lạm phát cao kéo theo một sự tăngtrưởng tiền tệ cao

1.3.4.2 Lạm phát do tỷ giá hối đoái

Trang 9

Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng lànguyên nhân gây ra lạm phát

Thứ nhất, khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lý của

những người sản xuất trong nước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hốiđoái

Thứ hai, khi tỷ giá tăng, giá nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu cũng tăng cao, đẩy

chi phí về phía nguyên liệu tăng lên, lại quay trở về lạm phát chi phí đẩy như đã phântích ở trên Việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu thường gây ra phảnứng dây chuyền, làm tăng giá cả ở rất nhiều các hàng hóa khác, đặc biệt là các hànghóa của những ngành sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những ngành có mối liên hệchặt chẽ với nhau (nguyên liệu của ngành này là sản phẩm của ngành khác)

1.3.4.3 Lạm phát do tâm lý

Khi thông tin trên thị trường không hoàn hảo gây ra tình trạng xao động tâm lýtrong tầng lớp dân cư và doanh nghiệp Đặc biệt, thông tin sai lệch này lại do các nhàđầu cơ gây ra nhằm găm hàng để trục lợi Lạm phát do tâm lý thường xảy ra ở nhữngquốc gia có mạng lưới kiểm tra, kiểm soát thị trường không hoàn hảo tạo điều kiện chocác hành vi gian lận thương mại diễn ra

1.4 Tác động của lạm phát tới nền kinh tế

Trên thực tế, nhiều nước chứng tỏ không thể triệt tiêu được lạm phát trong kinh tếthị trường dù đạt trình độ phát triển rất cao và lực lượng sản xuất Nếu giữ được lạmphát ở mức độ nền kinh tế chịu được thì sẽ có những tác động tốt đến mọi mặt của nềnkinh tế Tuy nhiên, để lạm phát lên cao sẽ gây nguy hại đến nền kinh tế, thể hiện ởnhững khía cạnh sau:

1.4.1 Lạm phát tác động tới tăng trưởng kinh tế

1.4.1.1 Ảnh hưởng tới thu nhập, tâm lý người dân

Lạm phát có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thu nhập thực tế của người dân Một nước

có tỷ lệ lạm phát ở mức cao sẽ làm thu nhập thực tế của người dân giảm xuống Lạmphát còn làm cho người dân lo lắng về đồng tiền quốc gia từ đó sùng bái ngoại tệ, tạo

ra một tâm lý xấu trong nền kinh tế

1.4.1.2 Ảnh hưởng tới họat động thương mại, đầu tư

Việc gia tăng tỷ lệ lạm phát khiến cho họat động đầu tư trong nước bị suy giảm.Các nước có tỷ lệ lạm phát cao đa phần là những nước bị thâm hụt về cán cân thươngmại Họat động đầu tư sẽ bị ảnh hưởng do tâm lý ngại đầu tư từ các nhà đầu tư nước

Trang 10

ngoài, đồng thời nguồn vốn huy động trong nước trở nên khan hiếm do người dân có

xu hướng chuyển sang mua vàng và tích trữ ngoại tệ thay vì gửi tiết kiệm ở các ngânhàng thương mại Điều này làm ngân hàng thương mại khó khăn trong huy động vốn,

do đó đẩy lãi suất cho vay tăng cao ảnh hưởng tới các hoạt động đầu tư của các doanhnghiệp trong nước Tại các nước có tỷ lệ lạm phát cao, hoạt động thương mại cũng bịảnh hưởng khi mà hàng hóa trong nước sẽ mất ưu thế so với hàng hóa các nước có tỷ lệlạm phát ở mức trung bình

1.4.1.3 Ảnh hưởng tới nợ nước ngoài và chi tiêu chính phủ

Việc gia tăng tỷ lệ lạm phát làm cho nợ nước ngoài của chính phủ tăng cao.Nguyên nhân là do lạm phát tăng làm tỷ giá tăng và đồng tiền trong nước trở nên mấtgiá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ Lạm phát cao buộcchính phủ cũng phải áp dụng hàng loạt các biện pháp miễn giảm thuế, tăng chi cho kíchthích kinh tế và an sinh xã hội dấn tới tình trạng thâm hụt ngân sách

1.4.2 Lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp

Khi nhắc đến mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp người ta thường nhắc đếnđường cong Phillips Nó thể hiện mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệlạm phát Khi thất nghiệp thấp thì lạm phát gia tăng (do mức lương tăng), và ngược lại.Điều đó được giải thích rằng: Thất nghiệp thấp gắn với tổng cầu cao, tạo áp lực đẩytiền lương và giá cả tăng lên của toàn nền kinh tế Điều đó có nghĩa là có thể điều chỉnhlạm phát thông qua tỷ lệ thất nghiệp nhờ việc tác động trực tiếp lên tổng cầu bằng cácchính sách tài chính hay tiền tệ

Mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp cho thấy nền kinh

tế luôn phải đối mặt với sự hi sinh, đánh đổi giữa hai chỉ tiêu này Việc đạt được cả haichỉ tiêu đều thấp có thể nói là điều không tưởng Tuy nhiên có một điều đáng lưu tâm

là tình trạng “lạm phát đi kèm suy thoái” Thông thường đó là do các cú sốc cung trựctiếp tác động lên chi phí sản xuất của hàng hoá, dịch vụ Xét cú sốc cung bất lợi, chiphí tăng lên làm đẩy tổng cung dịch trái đồng nghĩa giá cả tăng và sản lượng giảm.Tình trạng này chính là lạm phát gia tăng nhưng thất nghiệp cũng gia tăng Chúng taphải chấp nhận mức lạm phát cao hơn ở mỗi mức thất nghiệp như trước Khi này nềnkinh tế rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” Lúc này nếu cắt giảm tổng cầu đểchống lạm phát sẽ đẩy nền kinh tế lún sâu vào lạm phát và thất nghiệp Nhưng sử dụngbiện pháp kích cầu để cắt giảm thất nghiệp thì sẽ đẩy lạm phát tiếp tục tăng lên

Trang 11

1.4.3 Lạm phát và sự phân phối lại thu nhập

Tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập phụ thuộc vào kết quả

dự tính tỷ lệ lạm phát, tính linh hoạt của tiền lương, sự chênh lệch về tốc độ tăng giágiữa các loại hàng hóa và dịch vụ… Ta thử khảo sát một số hướng phân phối lại điểnhình:

1.4.3.1 Giữa người cho vay và người vay

Khi có lạm phát, mối quan hệ giữa người vay và người cho vay cần được xem xéttheo lãi suất thực (real-interest rate)

Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa-Tỷ lệ lạm phát

Trong đó lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất được ấn định theo thị trường

Giả sử chúng ta cho vay (người vay sẵn sàng vay) 10 triệu đồng với lãi suất thực

là 10%/năm Khi lạm phát dự tính là 12% năm thì chúng ta chỉ đồng ý cho vay khi lãisuất danh nghĩa là 22%/năm

Khi cho vay, nếu:

- Tỷ lệ lạm phát thực tế bằng đúng mức đã dự kiến thì không có sự phân phối lạithu nhập Người vay và người cho vay đều không được hưởng lợi mà cũng ko bị thiệt

- Tỷ lệ lạm phát thực tế cao hơn mức dự kiến, giả sử 25%/năm thì người cho vay

sẽ bị thiệt hại, bởi vì lãi suất thực lúc này chỉ còn 7%/năm Phần bị mất 3% lọt vào tayngười đi vay

- Tỷ lệ lạm phát thực tế thấp hơn mức dự kiến thì người cho vay được lợi, người

đi vay bị thiệt

Chênh lệch giữa tỷ lệ lạm phát dự kiến và tỷ lệ lạm phát thực tế càng cao thì mức

độ phân phối lại thu nhập càng lớn

1.4.3.2 Giữa người hưởng lương và người trả lương

Nếu tiền lương được chỉ số hóa theo giá cả, nghĩa là giá tăng bao nhiêu tiền lươngcũng tăng bấy nhiêu lần thì không có sự phân phối lại thu nhập Nhưng nếu tiền lương tăngchậm hơn tỷ lệ lạm phát thì người hưởng lương bị thiệt Chẳng hạn khi giá hàng hóa tăng8% trong khi lương chỉ tăng 5% thì chênh lệch 3% lọt vào tay người trả lương Ở ViệtNam hầu hết người hưởng lương đều bị thiệt hại bởi vì tốc độ tăng lương vô cùng chậmchạp so với tốc độ tăng giá

1.4.3.3 Giữa người mua và người bán tài sản tài chính

Các loại tài sản tài chính như trái phiếu, tín phiếu của chính phủ, các chứng khoáncủa công ty, đa số có mức lãi suất danh nghĩa cố định Như vậy khi mua chúng, nếu có

Trang 12

lạm phát xảy ra đương nhiên sẽ bị thiệt thòi Phần lớn lọt vào tay chính phủ và công ty

1.4.3.4 Giữa người mua và bán tài sản hiện vật

Nếu bán tài sản hiện vật như nhà cửa, đất đai, vàng… để lấy tài sản tài chínhtrước khi lạm phát xảy ra, thì trong cuộc lạm phát đó ta đã tặng không cho người muamột số tiền Đặc biệt, nếu chúng ta là những người bán hàng trả góp nếu lạm phát xảy

ra thì ta là người bị thiệt

Tương tự, nếu bán hàng cho những người đầu cơ trước cuộc lạm phát thì sẽ bịthiệt Cái thiệt đó trở thành cái lợi của nhà đầu cơ

1.4.3.5 Giữa các doanh nghiệp với nhau

Trong lạm phát, tỷ lệ tăng giá của các mặt hàng không giống nhau Doanh nghiệpnào sản xuất và tồn kho các loại hàng có tỷ lệ tăng giá chậm sẽ bị thiệt Phần lớn lợi thếthuộc về các doanh nghiệp có loại hàng tăng giá nhanh

1.4.3.6 Giữa chính phủ và dân chúng

Trong đa số các trường hợp có lạm phát thì chính phủ thường được lợi, bởi vì:Một là chính phủ nợ của dân chúng chủ yếu là dưới dạng tài sản tài chính và món nợvay không nhỏ Hai là các khoản chi trả lương, trợ cấp, hưu trí… thường cố định trongthời gian dài, hoặc nếu thay đổi thì cũng không theo kịp tốc độ tăng giá Ba là các loạithuế lũy tiến như thuế thu nhập sẽ tăng lên nhanh chóng vì lạm phát đẩy thu nhập củangười dân lên mức cao (về mặt danh nghĩa), buộc phải chịu thuế suất cao hơn

1.5 Khái niệm về chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất

mà Nhà nước giao cho Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) thực hiện Ở mỗi quốc giakhác nhau có đề cập tới CSTT với những quan điểm khác nhau

Theo quan điểm của của Frederic S.Mishkin - trường Đại học Columbia (Mỹ) –

thì CSTT chính là việc mà Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve System - FED)

sử dụng đến ba công cụ để điều tiết cung ứng tiền tệ: nghiệp vụ thị trường tự do,nghiệp vụ này ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ; thay đổi lãi suất chiết khấu, thay đổi nàyảnh hưởng đến cơ số tiền tệ, bằng cách này ảnh hưởng đến lượng vay chiết khấu; vàthay đổi DTBB, thay đổi này ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ

Quan điểm của NHTƯ Châu Âu (ECB) về CSTT như sau: công cụ chính là lãisuất ngắn hạn để thực hiện mục tiêu chính của CSTT là ổn định giá cả khu vực Châu

Âu trong thời kì trung hạn

Trang 13

Theo quan điểm của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc: mục tiêu của CSTT là ổnđịnh giá trị đồng tiền và theo cách đó đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế.

Còn ở Việt Nam, theo điều 2, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN VN)năm 2003, số 06/1997/QHX, qui định: CSTT quốc gia là một bộ phận của chính sách

kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm

phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

và nâng cao đời sống của nhân dân

Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng; có chính sách đểđộng viên các nguồn lực trong nước là chính, tranh thủ tối đa nguồn lực ngoàinước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò chủđạo và chủ lực của các tổ chức tín dụng (TCTD) nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ vàhoạt động ngân hàng; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia;

mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau về CSTT nhưng về cơ bản thì CSTT làchính sách kinh tế vĩ mô mà NHTƯ thực hiện nhằm tác động vào cung cầu tiền tệ,đảm bảo mục tiêu ổn định hay tăng trưởng kinh tế

Có thể nói sử dụng CSTT sao cho hiệu quả là một vấn đề hiện đang được tranhcãi rất nhiều vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế Tuy điều hànhCSTT giữa các thời kỳ, các giai đoạn phát triển kinh tế ở mỗi nước rất khác nhau songviệc xây dựng và thực thi CSTT của các NHTƯ đều hướng đến mục tiêu tăng trưởnghay ổn định nền kinh tế

1.6 Công cụ của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

1.6.1 Công cụ dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tàikhoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHTƯ Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần trămnhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó Mức DTBB đượcquy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt độngcủa NHTM

Cơ chế điều hành: trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ nâng tỷ lệ

DTBB, qua đó làm lãi suất các khoản vay của NHTM tăng lên, các doanh nghiệp bịhạn chế về khả năng tiếp cận vốn, khả năng mở rộng sản xuất giảm đi Từ đó dẫn đếnsản lượng hàng hóa cung ứng sụt giảm và làm giảm áp lực cầu tiền

Trang 14

Ưu điểm: công cụ này có thể tác động một cách đầy quyền lực và như nhau đến

tất cả các NHTM Cụ thể là, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ DTBB thì tác độngcủa nó đến khối lượng tiền tệ là rất lớn Vì đây là biện pháp mang tính bắt buộc nên lãisuất của các NHTM chắc chắn tăng hoặc giảm

Nhược điểm: công cụ DTBB có thể gây ra các tác động tiêu cực đến nền kinh tế.

Khi các NHTƯ muốn thay đổi cung tiền tệ ở biên độ nhỏ thì khó có thể thực hiện đượcnếu sử dụng công cụ này Bên cạnh đó, việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khảnăng thanh khoản của các NHTM có mức dự trữ vượt quá ở mức thấp, nền kinh tế rơivào tình trạng thiếu vốn và rơi từ khó khăn này đến khó khăn khác Hơn nữa nếuthường xuyên thay đổi tỷ lệ DTBB cũng gây ra tình trạng không ổn định cho cácNHTM và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng này gặp khókhăn Công cụ này còn có độ trễ về mặt thời gian nên một sự gia tăng hay giảm tỷ lệDTBB đòi hỏi NHTƯ phải nghiên cứu trước sự chịu đựng của các NHTM, cũng cầnphải để thời gian cho các NHTM đủ để tăng khoản dự trữ lên mức bắt buộc mới

1.6.2 Công cụ chiết khấu

Công cụ chiết khấu là công cụ của NHTƯ trong việc thực thi CSTT, bằng cách chovay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh Khi NHTƯ cho các ngân hàng vay đểkinh doanh làm tăng thêm tiền dự trũ cho hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêmlượng tiền cung ứng NHTƯ kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá

cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu)

Cơ chế điều hành: trong nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ nâng lãi suất tái chiết

khấu khiến khả năng cho vay của các NHTM bị hạn chế, dẫn tới các doanh nghiệp khókhăn trong việc tiếp cận các khoản vay để duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh, kết quả là lượng hàng hóa cung ứng giảm đi làm giảm áp lực cầu tiền giúp giảm

áp lực của lạm phát

Ưu và nhược điểm: công cụ này được thực hiện nhanh chóng nhưng khối lượng

tiền tệ cung ứng trong nền kinh tế có thể tăng hoặc có thể giảm, phụ thuộc rất nhiềuvào nhu cầu của khách hàng là có muốn vay hay không muốn vay Hơn nữa, nếu dòngvốn là tự do linh hoạt giữa các quốc gia, khi nâng lãi suất ở các nước có lạm phát, làmcho dòng vốn nước ngoài đổ vào các quốc gia này sẽ tăng lên, nhưng một khi kinh tế

ổn định thì một khối lượng dòng vốn khổng lồ sẽ chảy ra khỏi nước gây ra những bất

ổn về kinh tế và chính trị Bên cạnh đó, chính sách này cần có thời gian mới có hiệuquả, nên nó có độ trễ về thời gian

Trang 15

1.6.3 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) phản ánh việc NHTƯ mua hoặc bán các giấy

tờ có giá trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt được mục tiêu điều chỉnh lượngtiền trong lưu thông Các giấy tờ có giá đó là: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,thương phiếu, v.v Trong đó, tín phiếu kho bạc được tham gia rộng rãi nhất Các thànhviên tham gia thị trường mở là các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cácdoanh nghiệp Thành viên tham gia phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn để được cấpgiấy phép tham gia thị trường mở

Cơ chế điều hành: Khi nền kinh tế có lạm phát, NHTƯ bán các giấy tờ có giá trên

thị trường mở, qua đó làm cho lượng tiền cung ứng cho vay của các NHTM giảm, cácdoanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay dẫn tới sự khó khăn tronghoạt động sản xuất kinh doanh khi chi phí đầu vào sản xuất tăng lên Lượng hàng hóacung ứng giảm khiến cho áp lực về cầu tiền đối với các hoạt động thanh toán giảm vàkết quả cuối cùng là giảm áp lực về lạm phát

Ưu điểm: công cụ này có thể điều tiết lượng tiền cung ứng chính xác nhất, cao

nhất, hiệu quả nhất so với các công cụ khác của CSTT vì NHTƯ có thể chủ động tiếnhành mà không phải lệ thuộc vào nhu cầu của các NHTM Bên cạnh đó, công cụDTBB và lãi suất chiết khấu không thể thay đổi theo ngày nhưng NVTTM hoàn toàn

có thể thay đổi theo ngày, theo các phiên giao dịch Công cụ này tương đối linh hoạt vàchính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ mức độ nào Nếu mong muốn của NHTƯ là thay đổi

dự trữ của các NHTM ở biên độ lớn, nó có thể mua hoặc bán các giấy tờ có giá vớikhối lượng lớn, và ngược lại, nếu mong muốn NHTƯ thay đổi dự trữ của NHTM ởbiên độ nhỏ, NHTƯ sẽ thực hiện việc mua và bán ra ít chứng khoán hơn

Nhược điểm: để công cụ này hoạt động có hiệu quả đòi hỏi hầu hết tiền trong

lưu thông phải nằm trong tài khoản của các ngân hàng, phải có sự phát triển cao của cơchế thanh toán không dùng tiền mặt Bên cạnh đó, công cụ này cần một thị trường tàichính phát triển cao, mà điều này chỉ có ở các nước có nền kinh tế - công nghiệp ngânhàng phát triển

1.6.4 Công cụ lãi suất

Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sựthay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưuthông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1 công cụ rất lợi hại Cơchế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp

Trang 16

cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tíndụng trong từng thời kỳ nhất định.

Các mức lãi suất thường công bố:

- Lãi suất chiết khấu

- Lãi suất NHTƯ đối với nền kinh tế mang tính quản lý: khung lãi suất, trần lãisuất…

- Lãi suất mang tính tham lãi: lãi suất liên NH thị trường Singapore, London…

- Lãi suất công bố theo năm, kỳ, tháng, ngày

Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tớiquy mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổitheo

Ưu điểm: Giúp cho NHTƯ thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu

của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huytác dụng của các công cụ gián tiếp khác

Nhược điểm: Nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì

thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệcung cầu về vốn trong nền kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất

dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình

1.6.5 Công cụ hạn mức tín dụng

NHTƯ quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượngnào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mứccung tiền của mình Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sởcác chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm phát…) sau đó NHTƯ sẽ phân bổcho các NHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTƯ quy định

Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng

tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế cóquan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi các

Trang 17

công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong nhữnggiai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế.

Nhược điểm: Triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả

phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểmsoát của NHTƯ và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triểnkinh tế tăng lên

1.6.6 Công cụ tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nó vừaphản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giáhối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuấtnhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác độngmột cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tàichính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước Vềthực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thayđổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nềnkinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ

Cơ chế điều hành: NHTƯ trực tiếp mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM NHỮNG

NĂM QUA (2007-2010)2.1 Lạm phát Việt Nam trong bối cảnh hậu suy giảm kinh tế (2007-2010)

2.1.1 Diễn biến lạm phát 2007-2010

Khởi đầu kế hoạch 2006-2010, với tỷ lệ lạm phát 2006 là 6,6% Đây là con số lý

tưởng báo hiệu cho một thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam Tuynhiên bước sang năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%.Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới nhưTrung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồngEuro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn Nhìn vàobiểu đồ có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát năm 2007 tăng dần qua các tháng với mức đỉnhđiểm là tháng 12 với tỷ lệ 2,9% Lạm phát 2007 báo hiệu một năm đầy khó khăn chonền kinh tế trong 2008

Hình 2.1: CPI qua các tháng năm 2007-2010

Bước sang năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp Thời kỳ này lạm phát chia

làm 3 giai đoạn: Lạm phát nóng, kiềm chế lạm phát và giai đoạn giảm phát

Giai đoạn 1: Lạm phát nóng

Trong hơn nửa đầu năm 2008, lạm phát là vấn đề số một của nền kinh tế ViệtNam Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vào tháng

Trang 19

2 và tháng 5 (tăng trên 3%) Lạm phát được xác định là do cả 3 nhân tố: chi phí đẩy,cầukéo và tăng cung tiền

Giai đoạn 2: Kiềm chế lạm phát

Trước những ảnh hưởng sâu rộng của lạm phát, chính phủ đã đưa ra 8 nhóm giảipháp kiềm chế lạm phát, tập trung vào việc thắt chặt cung tiền và giảm bớt đầu tư công

và hạn chế nhập siêu Được sự trợ giúp từ việc hàng hóa trên thế giới bắt đầu giảm từmức đỉnh tháng 6/2008, tốc độ tăng lạm phát đưa xuống mức dưới 2%/tháng (tháng 7-8/2008) và xấp xỉ 0%/tháng trong tháng 9/2008

Giai đoạn 3: Giảm phát

Cuộc khủng hoảng tài chính tòan cầu bước vào giai đoạn bùng phát vào tháng9/2008 và nhanh chóng lan tỏa tới các lĩnh vực kinh tế khác, dẫn đến suy thoái kinh tếtoàn cầu Việc cắt giảm đầu tư và tiêu dùng dẫn tới một sự giảm đột ngột về cầu khiếncho giá nhiều mặt hàng giảm mạnh Tính trong 4 tháng từ tháng 8 đến tháng 11/2008,giá nguyên liệu thế giới giảm 58% với đà giảm gia tăng Giảm phát ở Việt Nam có độtrễ 2 tháng so với nước ngoài và chính thức bắt đầu từ tháng 10/2008, với một trongnhững nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp nhập khẩu với giá cao trong nhữngtháng trước (phân bón,sắt thép…) cố gắng giữ giá bán để giảm thiểu thiệt hại do chi phíđầu vào lớn hơn giá bán hoặc tăng giá bán (sữa…) Giống như nhiều nước khác, mối longại của Việt Nam đã chuyển trạng thái từ lạm phát sang giảm phát khi giảm phát xảy

ra trong 3 tháng của quý IV/2008

Năm 2009, mở ra với bao khó khăn đối với nền kinh tế, tuy nhiên bằng những

giải pháp và quyết sách kịp thời chính phủ đã kiềm chế lạm phát ở mức thấp với tỷ lệlạm phát là 6,52% Diễn biến lạm phát qua giai đoạn này cũng ko có gì phức tạp khi mà

tỷ lệ lạm phát cao nhất chỉ là 1,38% (Tháng 12) Trong 8 tháng đầu tiên, diễn biến chỉ

số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và cho cảm nhận an toàn.Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc nhẹ, báo hiệu những đột biến, đểrồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng của năm, hiện thực hóa phần cảmnhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát

Năm 2010, là năm diễn biến lạm phát có nhiều đột biến, khi có đến nửa số tháng

trong năm 2010, mức tăng CPI đã vượt qua 1% Các tháng từ 9 đến 11, chỉ số giá tiêudùng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây

Đột biến thứ nhất: Xuống chậm sau Tết

Tết Canh Dần rơi vào đầu tháng 2/2010, các mức tăng CPI hai tháng đầu năm đều

Trang 20

trên 1% và tiến gần 2% cũng không phải quá bất thường, nhưng khác biệt trong lại rơivào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các năm trước

So với tháng 12/2009, CPI tháng 3/2010 đã tăng 4,12% Đây là điều rất đáng longại, bởi ở những năm bình thường, chỉ số giá tiêu dùng quý 1 thường chiếm khoảngmột nửa mức tăng cả năm

Đột biến thứ hai: “Giấc ngủ” kéo dài

Việc “nằm sàn” trong 5 tháng kế tiếp cũng là một đột biến đáng nhắc đến của lạmphát 2010 Trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng liên tụctăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6) Xét về cao

độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004 đến nay

Đột biến thứ ba: “Bốc đầu” tăng mạnh

4 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao Có tới 3 thángđạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát Mức tăng chỉ số giá tiêu dùngtrong tháng 12 là 1,98% góp phần đưa tốc độ tăng cả năm lên gần 12% Như vậy, mứclạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức được khẳng định, vượt

so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra đầu năm gần 5%

Tính chung trong cả năm 2010, giáo dục là nhóm tăng giá mạnh nhất trong rổhàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệu xây dựng(15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6%trong năm 2010

Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là 1,83%

và 1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn biến khá bấtngờ Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong tháng (khoảng 2%)

là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 21

Xét giai đoạn 2001-2010 thì bình quân 4 năm 2007-2010 chỉ số giá tiêu dùng tăng12,70%/năm gấp gần 2,5 lần so với tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2001-2006 (5,38%).

Việc tỷ lệ lạm phát gia tăng và biến động thất thường trong giai đoạn này là một mối nguy hại lớn đối với nền kinh tế Vậy đâu là nguyên nhân làm cho lạm phát có biến động lớn như vậy ?

2.1.2 Nguyên nhân lạm phát giai đoạn này

2.1.2.1 Ảnh hưởng bởi sự biến động kinh tế thế giới

Thứ nhất: Giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên tục gia

tăng: Trong 5 năm từ 2003-2007 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao, đặc biệt lànhóm các nước “mới nổi” ở khu vực Châu Á, nhất là Trung Quốc đã đẩy nhu cầu nănglượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung đột chính trị quân sựtại khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầu lên cao chưa từng cótrong lịch sử 147 USD/thùng trong tháng 7/2008, đồng thời giá các nguyên vật liệu đầuvào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục gia tăng

Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng: xuất phát từ quá trình biến

đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng với những năm tăngtrưởng kinh tế mạnh trên thế giới - là những năm quá trình công nghiệp hoá được đẩymạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thu hẹp Tất cả nhữngđiều trên làm sản lượng lương thực - thực phẩm ngày càng giảm mạnh

Thứ ba: Một khối lượng tiền lớn được đưa ra nền kinh tế toàn cầu: Trước việc giá

dầu và giá lương thực - thực phẩm liên tục leo thang đã tạo nên cú sốc cung rất lớn đẩylạm phát toàn cầu tăng cao, tình hình này đã buộc các NHTW phải tăng các mức lãisuất chủ chốt để kiềm chế lạm phát Trước bối cảnh lạm phát gia tăng và kinh tế toàncầu rơi vào suy thoái, các NHTW không còn cách nào khác là phải bơm một lượng tiềnkhổng lồ để cứu vãn nền kinh tế, trong đó riêng Mỹ từ tháng 8/2007 đến những thángđầu năm 2008 đã phải đưa ra nền kinh tế trên 2.300 tỷ USD, trong đó có 800 tỷ USDtiền mặt để cứu vãn hệ thống ngân hàng, cùng với việc một số NHTW phải thực hiệncắt giảm lãi suất từ tháng 8/2007 trở lại đây như Mỹ, Anh, Canada Việc cứu vãn nềnkinh tế thế giới rơi vào suy thoái bằng biện pháp đưa hàng nghìn tỷ USD ra nền kinh tếlại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tục tăng cao

2.1.2.2 Nguyên nhân xuất phát từ nội tại nền kinh tế

Thứ nhất: Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng

đã tác động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ

Trang 22

như xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu - là những nguyên nhiên vật liệu đầuvào chính của sản xuất Mặc dù Chính phủ đã cố gắng kiểm soát, nhưng do chênh lệchgiá với thị trường thế giới, giá xăng dầu vẫn phải điều chỉnh tăng Điều này đã tác độnglàm chi phí sản xuất tăng cao

Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên thế

giới không những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng

nề Chỉ trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp, trong khi

đó dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở mồm longmóng ở lợn, vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồn cung lương thực

- thực phẩm bị sụt giảm Trong khi nhóm này có quyền số 42,85%, lớn nhất trong rổhàng hoá CPI, có thể nói đây là nguyên nhân chủ yếu tác động làm CPI tăng mạnh

Thứ ba: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ 2001-2007

nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và đây cũng là nhân tố góp phần khiến lạm phátbình quân từ 2006 đến 2010 tăng gần 11.5 %

Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và CPI

Tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế tăng mạnh trong một thời gian dài nhằm phục

vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một nguyên nhân quan trong làm gia tăng tổngphương tiện thanh toán trong nền kinh tế, gây sức ép rất lớn làm gia tăng lạm phát

Thứ tư: Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: bắt đầu từ cuối năm

2006 khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới(WTO), cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trường đầu tư đã tạo điềukiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh Tính tích lũy từ khithực hiện Luật đầu tư (năm 1987) đến nay, theo số liệu của Bộ kế hoạch-đầu từ, nước

ta thu hút được khoảng 170 tỷ USD, trong đó chỉ tính riêng 3 năm 2007-2009, con sốnày đã đạt khoảng 112,78 tỷ USD, tương đương 65% Tuy nhiên hiệu quả đầu tư cònthấp (thể hiện qua chỉ số ICOR), tính bình quân từ năm 2006 đến nay , hệ số ICOR là6,38 lần Riêng năm 2008 có ICOR là 6,97 và năm 2009 ICOR là 8,12 Từ kết quả trên

Trang 23

cho thấy để tăng 1% GDP cần phải có tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP nhiều hơn Điềunày ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng là một yếu tố tiềm ẩn gây nguy cơ tái lạmphát.

2.1.3 Tác động của lạm phát đến một số biến số kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2010

2007-Tỷ lệ lạm phát cao trong giai đoạn này tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng của nềnkinh tế Việt Nam Phải gánh chịu tỷ lệ lạm phát cao trong giai đoạn 2007-2010 (11.5%)

đã làm cho nền kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bình quân thấp đạt 6.7%/năm

so với 7,8% giai đoạn 2002-2006

Ngày đăng: 06/07/2023, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w