Đây lànhững thông tin quan trọng đặc biệt trong các tổ chức kinh doanh... Tuy nhiên trong tổ chức người ta thườngquan tâm đến kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác ngh
Trang 1Lời mở đầu
Quản lý kinh tế là một hoạt động không thể thiếu trong mọi tổ chứckinh doanh Hoạt động này giúp cho tổ chức tồn tại và phát triển Trong quảnlý kinh tế, có thể nói lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cũng là một chứcnăng quan trọng Kế hoạch có một vai trò hết sức quan trọng, có thể nói kếhoạch là nền tảng trong kinh doanh và cũng là công việc không thể thiếutrong bất cứ hoạt động nào của tổ chức Vai trò quan trọng của kế hoạch thểhiện ở chỗ lập kế hoạch tốt sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tổ chức phát triển theomột con đường định trước, lập kế hoạch không chỉ xác định mục tiêu cho tổchức mà nó còn vạch ra phương thức để thực hiện mục tiêu đó Xuất phát từnhững lập luận đó cùng với thực tế tại nơi thực tập - công ty xây dựng 201 -
mà em chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công ty xây dựng
201”.
Đề tài ngoài mục đích nhằm củng cố và nâng cao những kiến thức đãhọc Đồng thời áp dụng những lý thuyết đã học vào thực tiễn nhằm giải quyếtnhững vấn đề vướng mắc Qua đó, kiểm nghiệm và nâng cao những lý thuyết,lý luận đã học Ngoài ra việc nghiên cứu đề tài cũng giúp tích lũy và đúc rútkinh nghiện trong thực tiễn trong quản lý nói chung và trong công tác lập kếhoạch nói riêng
Với đề tài đó nhiệm vụ đặt ra là làm sáng tỏ lý luận của công tác lập kếhoạch Đồng thời làm nổi bật công việc lập kế hoạch qua thực tế tại công tyxây dựng 201 Qua đó, nhằm đánh giá những mặt tích cực cũng như nhữngvướng mắc còn tồn tại ở công ty Nhiệm vụ cuối cùng của đề tài là đưa ranhững đề nghị, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch tại công tyxây dựng 201 trong thời gian hiện nay
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng hai phương pháp chủ yếu làphương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp điều tra.
Trong quá trình nghiên cứu, có thể gặp những sai sót nhất định rấtmong được sự chỉ dẫn, góp ý nhiệt tình của các thầy cô và đơn vị thực tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh Viên Vũ Quang Huy
Trang 3Chương I Tổng quan về lập kế hoạch
I Lập kế hoạch
1 Khái niệm
Trong mọi tổ chức, thì công việc quản lý là một công việc cốt lõi khôngthể thiếu Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó Trongquản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểmtra Có thể nói lập kế hoạch là công việc đầu tiên của một nhà quản lý cũng làmột công việc quan trọng, cần thiết và cũng rất khó khăn trong mọi tổ chứcnói chung nhưng đó cũng là công việc nền tảng trong mọi tổ chức Có nhiềucách hiểu khác nhau về công tác lập kế hoạch tùy thuộc vào từng góc độnghiên cứu Có thể đưa ra một số khái niệm về lập kế hoạch:
“ Lập kế hoạch là một quá trình xây dựng những quy tắc và chính sáchnhất quán về mặt nội dung để thể hiện những mục tiêu đề ra”(1)
“ Lập kế hoạch là một quá trình ra quyết định và lựa chọn các phươngán khác nhau để sử dụng nguồn lực có hạn để đạt được mục tiêu đề ra chomột thời kỳ nhất định trong tương lai”(2)
“ Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tươnglai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ”(3)
Hay có thể tiếp cận “ Lập kế hoạch là quyết định trước xem trongtương lai phải đạt được gì? Phải làm gì? Làm như thế nào? Bằng công cụ gì?Khi nào làm và ai làm?”(4)
1,2 Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Quản lý học kinh tế Quốc Dân tập I – GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, TS Mai Văn Bưu (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2001.
2
3 Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Khoa học quản lý tập I – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2004.
4
Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Chính sách kinh tế – xã hội – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà,
PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2006.
Trang 4Hay “ Lập kế hoạch là quá trình tiếp diễn phản ánh và thích ứng đượcvới những biến động diễn ra trong môi trường của tổ chức”(5).
Có nhiều cách hiểu như vậy, tuy nhiên, đứng trên góc độ của một nhàquản lý thì công tác lập kế hoạch được xem xét “ Lập kế hoạch là quá trìnhxác định mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được mục tiêu đó”(().Đây cũng là quan điểm của tôi trong quá trình viết chuyên đề
Theo quan điểm này thì lập kế hoạch là công cụ của nhà quản lý vàcũng là chức năng đầu tiên chức năng quan trọng của nhà quản lý
Trước tiên cần phải hiểu rằng lập kế hoạch là một quá trình nó có mởđầu và có kết thúc rất rõ ràng Mở đầu của công tác lập kế hoạch là ngay từlúc phát hiện và nghiên cứu vấn đề và kết thúc của lập kế hoạch là chọn đượcmột phương án tối ưu và ra quyết định Trong quá trình đó thì lập kế hoạchphải giải quyết được hai nhiệm vụ cơ bản là: Thứ nhất là xác định và xâydựng mục tiêu cho tổ chức cần hướng tới, cần đạt được trong tương lai.Nhiệm vụ thứ hai là phải đưa ra được những phương thức để đạt được mụctiêu đó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
Tùy thuộc vào tình hình thực tế, tùy thuộc vào hoàn cảnh và môi trườngcủa tổ chức mà tổ chức có những mục tiêu cụ thể cần vươn tới Đó là nhữngcông việc mà tổ chức phải làm trong tương lai Những công việc đó chính làmục tiêu của tổ chức mục tiêu có thể là mục tiêu dài hạn (> 5 năm), có thể làmục tiêu trung hạn ( từ 1 →5 năm) và cũng có thể là mục tiêu ngắn hạn ( < 1năm) và cũng có thể mục tiêu đó là mục tiêu bộ phận hoặc mục tiêu toàn bộ.Nhưng nhìn chung lại thì mục tiêu đều giúp cho tổ chức vận hành một cáchtrôi chảy, tồn tại và phát triển theo đúng con đường mà tổ chức đã đưa ra
55 Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Khoa học quản lý tập I – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2004.
( Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Khoa học quản lý tập I – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà,
PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2004.
Trang 5Mục tiêu rất đa dạng việc xác định mục tiêu là tùy thuộc vào môi trường đadạng của tổ chức VD: có tổ chức theo đuổi theo mục tiêu là lợi nhuận cao, đadạng sản phẩm, dẫn đầu sản phẩm…Tóm lại mục tiêu la những công việc màtổ chức cần phải đạt được trong tương lai.
Chính vì vậy, nên khi đề ra một mục tiêu bất kỳ thì đều phải đảm bảotính khách quan, tính khả thi và phải rõ ràng Có mục tiêu định tính và mụctiêu định lượng, tuy nhiên để cho mục tiêu rõ ràng thì trong quá trình lập kếhoạch nên đề ra các mục tiêu định lượng Một tổ chức có thể có rất nhiều mụctiêu trong cùng một khoảng thời gian cho nên các mục tiêu cần phải được sắpxếp theo một thứ tự ưu tiên nhất định Những mục tiêu quan trọng, có ảnhhưởng trực tiếp đến sự tồn tại của tổ chức thì phải được đặt nên hàng đầu vàsau cùng là nhừng mục tiêu thứ yếu và có thể kéo dài thời gian thực hiện.Việc sắp xếp các mục tiêu theo một thứ tự ưu tiên là rất quan trọng nhằm đảmvà xác định cho việc phân bổ nguồn lực có hạn của tổ chức và xác định đượcthứ tự ưu tiên cũng như thời hạn thực hiện Vì vậy, mà công việc xác địnhmục tiêu là một công việc rất quan trọng trong mọi tổ chức nói chung và trongcông tác lập kế hoạch nói rêng
Nội dung quan trọng thứ hai trong công tác lập kế hoạch là phải đưa rađược phương thức để đạt được mục tiêu đã đề ra Phương thức là phươngpháp, cách thức, công cụ mà tổ chức sử dụng để thực hiện các công việc trongtương lai Một mục tiêu đề ra muốn thực hiện được thì phải có những phươngthức nhất định Phương thức chỉ ra con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất đểđạt được mục tiêu của tổ chức Do đó, phương thức đảm bảo cho tổ chức cóđạt được mục tiêu đề ra Vì vậy, việc đưa ra các phương thức phải đảm bảothực hiện được, phải nằm trong giới hạn nguồn lực có hạn của tổ chức, tránhđưa ra những phương thức xa vời không thực hiện được hoặc lãng phí nguồnlực của tổ chức Việc xây dựng các phương thức phải phát huy được thế mạnh
Trang 6của tổ chức và tận dụng những điểm yếu của đối thủ cạnh tranh, đồng thờiphải nắm rõ hoàn cảnh của tổ chức Phương thức đưa ra cũng phải đảm bảotính chính xác, rõ ràng và khả thi, phải cụ thể chi tiết nhằm hướng dẫn chocấp dưới thực hiện Đồng thời, bản kế hoạch cũng phải chỉ ra được ai là ngườithực hiện từng hoạt động trên con đường thực hiện mục tiêu và cũng cần chỉ
ra thời gian để thực hiên từng hoạt động đó
Tóm lại, lập kế hoạch là công việc trước tiên của tổ chức, là công việcnền tảng trong mỗi tổ chức Kết quả của công tác lập kế hoạch là đưa ra đượcbản kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển, con đường đi và phương thứchành động của tổ chức Một bản kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh, được xâydựng một cách cẩn thận sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của tổ chức
Do đó, mọi tổ chức cần chú trọng công tác lập kế hoạch để đưa ra được nhữngbản kế hoạch cụ thể rõ ràng, khả thi nhằm đem lại thành công cho tổ chứctrong quá trình tồn tại và phát triển của mình
Lập kế hoạch còn có một vai trò quan trọng khác là bước trung giangiữa hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện Hay lập kế hoạch chính làcầu nối trung gian giữa ý tưởng và thực hiện Là bước trung gian nhưng lại là
Trang 7công việc không thể thiếu được trong mọi tổ chức Một ý tưởng kinh doanhmuốn biến thành hiện thực phải thông qua con đường lập kế hoạch Trướctiên lập kế hoạch sẽ phác họa lại các ý tưởng sau đó các ý tưởng sẽ được chitiết hóa và lựa chọn Sau đó, từ bản kế hoạch chi tiết đó sẽ được biến thànhhiện thực thông qua các chức năng khác của quản lý là tổ chức, lãnh đạo vàkiểm tra.
Kế hoạch là công cụ của nhà quản lý Thể hiện ở chỗ kế hoạch là vậttruyền dẫn tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Kế hoạch donhà quản lý lập ra và thể hiện ý chí, quan điểm của người lập ra nó Nó phụthuộc vào kỹ năng cũng như kinh nghiệm của người lập kế hoạch Kế hoạchlà những công việc mà tổ chức phải thực hiện trong tương lai Trong quản lýtổ chức nếu biết vận dụng tốt công cụ kế hoạch sẽ tạo điều kiện cho tổ chứcphát triển ổn định
Lập kế hoạch là quá trình làm thích ứng với những biến động diễn ratrong môi trường của mỗi tổ chức Môi trường của tổ chức có thể là môitrường bên trong hoặc môi trường bên ngoài Sự biến động của môi trườngdiễn ra một cách rất thường xuyên và không thể lường trước được Do đó, đểtồn tại và phát triển thì tổ chức phải thích ứng nhanh chóng với những biếnđộng đó Để thích ứng được buộc tổ chức phải có những kế hoạch nhất định.Thông qua việc xây dựng các phương án hành động, kế hoạch sẽ đưa ra mộtphương pháp giải quyết tối ưu sao cho phù hợp với nguồn lực của tổ chức vàtránh được những tổn thất do sự biến động của môi trường gây ra thông quaviệc dự báo kết quả và dự báo những tác động xấu đến tổ chức Vì thế mà tổchức mới có thể tồn tại và phát triển một cách ổn định
Nhờ có kế hoạch mà người quản lý có thể tổ chức và khai thác conngười và nguồn lực một cách có hiệu quả Hiệu quả là chỉ tiêu mà mọi tổ chứcmuốn vươn tới hiệu quả là giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất và tiết
Trang 8kiệm nhất Công tác lập kế hoạch đưa ra một phương án tối ưu nhất nhờ việcxác định đúng nguyên nhân của vấn đề Đồng thời qua việc phân tích cácnguồn lực của tổ chức, công tác lập kế hoạch sẽ đưa ra cách phân bổ nguồnlực nhằm tạo sức mạnh ăn ý nhất nhằm giải quyết triệt để nguyên nhân củavấn đề đồng thời tiết kiệm nhất.
Kế hoạch còn có chức năng định hướng, liên kết và thống nhất mọihoạt động trong quản lý, hướng dẫn từng bước một trong việc điều hành cáctổ chức Chức năng định hướng được thể hiện thông qua việc xác định mụctiêu cho tổ chức, buộc tổ chức phải đi theo con đường đã định trước đó Lậpkế hoạch còn giúp cho các hoạt động trong tổ chức kết hợp hài hòa với nhauvà mỗi hoạt động không bị chồng chéo Mỗi hoạt động sẽ được phân bổnguồn lực một cách thích đáng qua đó đảm bảo sự thống nhất giữa các hoạtđộng với nhau trong một tổ chức Lập kế hoạch phối hợp sự nỗ lực của cácthành viên trong tổ chức lại với nhau Ngoài việc xác định mục tiêu lập kếhoạch còn đưa ra các chương trình, các kế hoạch tác nghiệp cụ thể và đưa rathứ tự các mục tiêu và các hành động cần phải đạt được trong tương lai từngbước một đi đến hoàn thành mục tiêu dài hạn, mục tiêu chiến lược của tổ chứctrong tương lai Kế hoạch thống nhất các hoạt động trong tổ chức bằng việclàm giảm sự chồng chéo trong các hoạt động của tổ chức và làm giảm cáchoạt động lãng phí Hơn nữa kế hoạch còn phối hợp sự nỗ lực của các thànhviên trong tổ chức tạo ra sự liên kết vững mạnh
Lập kế hoạch còn giúp tổ chức tránh được những mục tiêu quyết địnhmạo hiểm có thể gây ra thất bại cho tổ chức Một bản kế hoạch đầy đủ cungcấp cho tổ chức biết được những cơ hội, nguy cơ, sức ép Thông qua việcnghiên cứu, dự báo thị trường và thông qua việc dự kiến trước những khókhăn, trở ngại có thể xảy ra cho một phương án đồng thời đưa ra những biệnpháp khác phục Lập kế hoạch còn giúp tổ chức đánh giá được đối thủ và
Trang 9nguồn lực hiện có của tổ chức Do đó lập kế hoạch sẽ đưa ra được nhữngphương án có độ an toàn và hiệu quả cao nhất nhằm tránh những tổn thất cóthể mang lại cho tổ chức.
Lập kế hoạch cung cấp thông tin cần thiết cho tổ chức Đó là các thôngtin về ngành nghề kinh doanh, thông tin về thị trường và thông tin về môitrường hoạt động của tổ chức Đó là các thông tin cần thiết để tổ chức có thểdự báo được nhu cầu thị trường và dự báo được đối thủ cạnh tranh Đây lànhững thông tin quan trọng đặc biệt trong các tổ chức kinh doanh Ngoài rabản kế hoạch còn cung cấp thông tin về các nguồn quỹ của tổ chức Đó là cácquỹ vốn, quỹ thời gian, quỹ nhân lực…Qua đó, tổ chức biết được năng lựccủa chính họ Giúp cho tổ chức có được một hướng đi đúng đắn
Lập kế hoạch tạo ra cơ sở cụ thể cho việc xây dựng thực hiện kế hoạch,là cơ sở để xây dựng nên các tiêu chuẩn đánh giá việc thực hiện kế hoạch,thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra Việc sosánh giữa kế hoạch và hiện thực cho phép tổ chức đánh giá được hiệu quả, kếtquả mà một phương án đem lại, qua đó rút kinh nghiệm trong hành động,đồng thời tăng cường phát huy điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu củatổ chức
Tóm lại lập kế hoạch là một công việc không thể thiếu trong bất cứ tổchức nào Tổ chức tốt công tác lập kế hoạch sẽ giúp tổ chức giảm thiệt hại vàgiúp tổ chức phát huy được những điểm mạnh của mình giúp tổ chức tồn tạivà phát triển bền vững trên thị trường Trái lại việc không tổ chức tốt công táclập kế hoạch tổ chức sẽ sớm thất bại
Trang 103.1 Theo thời gian
Theo thời gian ta có thể chia kế hoạch thành 3 loại:
a Kế hoạch dài hạn: là loại kế hoạch nhằm xác định mục tiêu dài hạn
cho tổ chức và có thời gian thực hiện dài ( >5 năm) Những mục tiêu này đềulà những mục tiêu quan trọng định hướng cho việc thiết lập các mục tiêutrung hạn hay mục tiêu ngắn hạn trong một tổ chức Thể hiện của kế hoạchdài hạn của tổ chức là chiến lược, chính sách…
b Kế hoạch trung hạn: là loại kế hoạch cụ thể hóa của kế hoạch dài hạn
có thời gian thực hiện tương đối dài ( 1→ 5 năm)
c Kế hoạch ngắn hạn: là kế hoạch có thời gian thực hiện ngắn thường là
( < 1 năm) và thường là những kế hoạch tác nghiệp Kế hoạch ngắn hạn luônphải đi theo sự định hướng của kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn vàthường biểu hiện dưới dạng bản kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, cáckế hoạch hàng năm
3.2 Theo lĩnh vực hoạt động
Theo lĩnh vực hoạt động có thể chia kế hoạch thành 2 loại chính:
Kế hoạch tổng thể: là kế hoạch định hướng được lập ra cho toàn
bộ tổ chức
Kế hoạch bộ phận: là kế hoạch được gắn với từng lĩnh vực cụ
thể trong một tổ chức VD: kế hoạch bán hàng, kế hoạch đầu tư, kế hoạchtuyển dụng
3.3 Theo hình thức thể hiện
Kế hoạch được chia thành 6 loại:
Chiến lược: thường là kế hoạch dài hạn và do cấp quản lý cao
nhất lập ra Thường để định hướng phát triển, xác định vị trí của tổ chức trênthị trường
Trang 11 Chính sách: là quan điểm, phương hướng, cách thức chung để
giải quyết một vấn đề
Thủ tục: là kế hoạch trong đó đã chỉ ra một cách chi tiết chính
xác cho một hoạt động nào đó cần thực hiện theo một trình tự thời gian và cấpbậc quản lý Thủ tục thiết lập nên một phương pháp cần thiết cho việc điềuhành công việc trong tương lai
Quy tắc: là kế hoạch hướng dẫn hành động trong tổ chức nhưng
không theo một trình tự thời gian và có tính chất điển hình, lâu dài Quy tắc làloại kế hoạch đơn giản nhất chỉ ra hành động nào có thể thực hiện và hànhđộng nào không thể thực hiện
Các chương trình: chương trình bao gồm một số mục đích,
chính sách, quy tắc và các nhiệm vụ phải tiến hành và các nguồn lực có thểhuy động
Các ngân quỹ: là bảng biểu thị kết quả mong muốn bằng con số.
Ngân quỹ ở đây có thể là tiền, có thể là nguồn nhân lực, máy móc, thiết bị
3.4 Theo cấp ra quyết định
Ta có thể chia kế hoạch thành 3 loại: kế hoạch chiến lược, kế hoạchchiến thuật, kế hoạch tác nghiệp Tuy nhiên trong tổ chức người ta thườngquan tâm đến kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp
a Kế hoạch chiến lược
Cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế hoạch chiến lược Nhưngnhìn chung lại, có thể hiểu kế hoạch chiến lược là quá trình xác định mục tiêudài hạn của tổ chức và lựa chọn phương thức để đạt được mục tiêu đó Đâythường là kế hoạch dài hạn và do nhà quản lý cấp cao định ra và thường là kếhoạch có tầm quan trọng và thường là kế hoạch định hướng cho sự phát triểncủa tổ chức Chiến lược là quá trình xác định sứ mệnh của tổ chức Sứ mệnhlà lý do là mục đích tồn tại của tổ chức Do đó, chiến lược có một vai trò rất
Trang 12quan trọng Chiến lược xác định vị trí của tổ chức trong môi trường hoạt độngcủa nó Có thể chia chiến lược ra theo 3 cấp:
Chiến lược cấp tổ chức (cấp doanh nghiệp): đây là chiến lược docấp cao nhất của tổ chức lập ra nhằm định hướng cho kế hoạch ở cấp dưới.Chiến lược cấp tổ chức sẽ cho biết tổ chức ở vị trí nào trong môi trường đanghoạt động, cho biết ngành nghề nên kinh doanh, mục tiêu cho ngành kinhdoanh đó và nguồn lực đầu tư cần thiết cho ngành đó và đề ra mục tiêu cho sựphát triển lâu dài của tổ chức
Chiến lược cấp ngành (cấp kinh doanh): Chiến lược cấp ngành làsự cụ thể hóa của chiến lược kinh doanh trong các ngành khác nhau của tổchức Do đó, chiến lược cấp ngành chỉ quan tâm đến một ngành (một lĩnhvực) cụ thể trong nhiều ngành nghề (lĩnh vực) kinh doanh của tổ chức Chiếnlược cấp ngành cho phép xác định vị trí ngành đó của tổ chức có vị trí nàotrong môi trường? chiến lược cấp ngành cũng xác định loại sản phẩm, dịch vụcần đưa ra và hướng tới loại khách hàng nào, cần phải bổ sung nguồn lực chongành đó ra sao?
Đối với các doanh nghiệp nhỏ kinh doanh thì chiến lược cấp ngànhcũng như chiến lược cấp tổ chức
Chiến lược cấp chức năng: Chiến lược cấp chức năng là chiếnlược hỗ trợ cho chiến lược cấp ngành trong quá trình tồn tại của tổ chức, là sựchi tiết hóa của chiến lược cấp ngành Một kế hoạch chiến lược cấp ngànhđược thực hiện qua việc thực hiện nhiều kế hoạch cấp chức năng khác nhau.Những chiến lược ở bộ phận chức năng như: sản xuất, tài chính, nhân lực
Trang 13Chiến lược cấp tổ chức
Chiến lược cấp chức năngChiến lược cấp ngànhCó thể thể hiện các cấp chiến lược qua mô hình sau:
b Kế hoạch tác nghiệp
Trong các cấp kế hoạch thì kế hoạch tác nghiệp là kế hoạch chi tiếtnhất Kế hoạch có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ do kế hoạch chức năngđặt ra Tuy nhiên đây cũng là loại kế hoạch linh động nhất, kế hoạch tácnghiệp điều hành, phối hợp và phân bổ nguồn lực của tổ chức để giải quyếtcác công việc có tính chất ngắn hạn và những công việc hàng ngày của tổchức
Trong quá trình hoạt động tổ chức sẽ vấp phải nhiều trở ngại do môitrường biến động mang tính chất thường xuyên Do đó, để tổ chức tồn tại vàphát triển thì phải thích ứng nhanh với sự biến đổi đó Kế hoạch tác nghiệp sẽgiúp tổ chức thích ứng với sự biến đổi đó và lấy lại sự cân bằng Trong quátrình áp dụng kế hoạch chiến lược vào thực tiễn có thể vấp phải những sailệch nhất định Do đó, kế hoạch tác nghiệp sẽ giúp phát hiện và loại bỏ Hơnnữa, qua sự điều chỉnh đó sẽ tạo nền tảng kinh nghiệm cho việc lập kế hoạchchiến lược Vì vậy, mà lập kế hoạch tác nghiệp cũng có ảnh hưởng nhất địnhđến công tác lập kế hoạch chiến lược
Trang 14Việc phân chia kế hoạch theo tiêu thức cấp ra quyết định rất hay gặptrong thực tế trong các tổ chức Việc phân chia kế hoạch theo tiêu thức nàycho phép xác định rõ trách nhiện liên quan trong thực hiện kế hoạch
Tóm lại, việc phân loại các kế hoạch theo các cách tiếp cận trên chỉmang tính chất tương đối Trên thực tế, thì công việc phân chia này rất khó docác loại kế hoạch có quan hệ mật thiết với nhau Một loại kế hoạch theo nhiềutiêu thức khác nhau có thể thuộc nhiều loại khác nhau rất khó có thể phân biệt
rõ ràng
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác lập kế hoạch
Lập kế hoạch là công việc khó khăn và cần thiết trong mọi tổ chức.Trong quá trình lập kế hoạch chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố Việc hiểubiết đối với các nhân tố ảnh hưởng có vai trò hết sức quan trọng trong côngtác lập kế hoạch:
4.1 Cấp quản lý
Việc lập kế hoạch chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cấp quản lý Bởi vì cấpquản lý càng cao thì công việc càng nhiều và càng bao quát toàn bộ tổ chức(vĩ mô) Do đó, ở những cấp quản lý cao thông thường chỉ đưa ra kế hoạchmang tính chiến lược, tổng thể còn ở cấp quản lý thấp đưa ra những kế hoạchtác nghiệp, bộ phận Trong những tổ chức nhỏ thì người chủ quản lý là ngườiđồng thời đưa ra kế hoạch chiến lược và cũng là người đưa ra kế hoạch tácnghiệp
4.2 Độ bất ổn định của môi trường
Môi trường là một trong những yếu tố có tác động, ảnh hưởng lớn đếnmột tổ chức Trong một môi trường mà độ bất ổn càng cao thì sự chênh lệchgiữa kế hoạch và thực tế là càng lớn Vì vậy, trong môi trường đó rất khó đểthực hiện một kế hoạch chiến lược, dài hạn Nên trong môi trường càngkhông ổn định bao nhiêu thì việc lập kế hoạch càng ngắn hạn và phạm vi càng
Trang 15hẹp, có tính chất hướng dẫn và càng phải có trọng điểm bấy nhiêu Việc lậpkế hoạch trong môi trường có độ bất ổn cao sẽ đem lại cho tổ chức nhiều chiphí hơn và việc thực hiện kế hoạch tỏ ra kém hiệu quả hơn nhưng không vìthế mà vai trò của kế hoạch giảm sút mà trái lại trong một môi trường như vậythì công tác lập kế hoạch càng quan trọng Lập kế hoạch sẽ giúp tổ chức tránhđược những quyết định mạo hiểm và giúp tổ chức cân bằng trong môi trường.Đối với những tổ chức hoạt động trong môi trường độ ổn định cao thì thườngcó những kế hoạch mang tính dài hạn và phức tạp bấy nhiêu
4.3 Môi trường chính sách của nhà nước
Môi trường chính sách có ảnh hưởng rất lớn tới công tác lập kế hoạch.Đặc biệt là những công ty thuộc sở hữu nhà nước thì môi trường chính sáchcủa nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác lập kế hoạch Chính sáchcủa nhà nước như các chính sách về kinh tế, chính sách xã hội, chính sách vănhóa, chính sách đối ngoại, chính sách an ninh quốc phòng Chính sách thểhiện sự định hướng của nhà nước có phạm vi hoạt động rộng, có ảnh hưởnglớn đến công tác lập kế hoạch của một tổ chức bất kỳ Do đó việc lập kếhoạch trong mỗi tổ chức bất kỳ phải phù hợp với chính sách của nhà nước,phù hợp với sự phát triển của đất nước
4.4 Thời gian thực hiện mục tiêu
Trong lập kế hoạch, thời gian cũng là một yếu tố quan trọng Kế hoạchdài hay ngắn hạn phụ thuộc vào từng mục tiêu đặt ra và quỹ thời gian hiện cócủa tổ chức Với những mục tiêu cần hoàn thành trong một khoảng thời gianngắn thì công tác lập kế hoạch phải đưa ra những kế hoạch mang tính chấtngắn hạn Tuy nhiên, kế hoạch cho một thời gian quá dài hay quá ngắn đềudẫn đến phi hiệu quả
Trang 164.5 Năng lực và kinh nghiệm của người lập kế hoạch
Lập kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Lập kế hoạch cóliên quan chặt chẽ với năng lực và kinh nghiệm của người lập kế hoạch.Người lập kế hoạch có năng lực và có kinh nghiệm lâu năm sẽ đưa ra bản kếhoạch có độ chính xác cao hơn và đưa ra những biện pháp thực hiện mục tiêuphù hợp hơn, khoa học hơn và mang tính định hướng cao hơn Do việc nắmbắt vấn đề và xác định mục tiêu chính xác hơn Đây là nhân tố mang tính chủquan của một tổ chức
4.6 Các nguồn lực của tổ chức
Trước khi lập một bản kế hoạch bao giờ người lập kế hoạch cũng phảixem xét nguồn lực hiện có của tổ chức Nguồn lực ở đây có thể là nguồn vốn,nhân công, trang thiết bị, máy móc…Các nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếpđến công tác lập kế hoạch Từ những nhân tố này mà người lập kế hoạch xemxét có thể có phương pháp nào phù hợp để đạt được mục tiêu Lập kế hoạchphải đưa ra được những biện pháp nhằm đạt được mục tiêu phải nằm trongkhả năng của tổ chức nếu vượt qua khả năng của tổ chức thì những biện phápđó cũng không thực hiện được kế hoạch đó sẽ trở nên vô ích không thực hiệnđược Các nguồn lực của tổ chức sẽ đảm bảo tính khả thi cho một bản kếhoạch Một kế hoạch tốt là một kế hoạch phối hợp phát huy sực mạnh và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực
4.7 Thị trường
Thị trường là một nhân tố khá quan trọng Việc sản xuất cái gì và sảnxuất cho ai? Là hai câu hỏi lớn trong quá trình tồn tại của tổ chức Việc lập kếhoạch cho cho việc sản xuất để cung ứng cho thị trường là một mục tiêu lớncủa mọi tổ chức nói chung Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm trên thịtrường phải thật kỹ lưỡng Với mỗi loại khách hàng hoặc một loại sản phẩmthì nhất định phải có những kế hoạch riêng Ở mỗi vị trí trên thị trường tổ
Trang 17chức cũng cần có những kế hoạch khác nhau Việc lập kế hoạch trong tổ chứccũng cần chú ý tới hai khía cạnh lớn của thị trường là:
Khách hàng: khách hàng là một nhân tố quan trọng của thị
trường và cũng là nhân tố có ảnh hưởng lớn tới công tác lập kế hoạch Mỗiđối tượng khách hàng khác nhau thì cũng nên cần có những kế hoạch riêng vàcụ thể khác nhau nhằm mục đích khai thác và phục vụ tốt hơn nhu cầu củakhách hàng Khách hàng cũng là nhân tố trung tâm và là lý do tồn tại của mộttổ chức Do đó, khách hàng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn tới côngtác lập kế hoạch
Đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn tới sự
tồn tại và phát triển của tổ chức nói chung Do đó, nó có ảnh hưởng lớn tớicông tác lập kế hoạch của một tổ chức Việc lập kế hoạch luôn phải xem xétphản ứng của đối thủ cạnh tranh Việc lập kế hoạch phải phản ứng nhanh vớiđối thủ cạnh tranh nhằm nắm bắt nhanh cơ hội của mình đồng thời nhằm hạnchế đối thủ cạnh tranh Việc hiểu biết về đối thủ cạnh tranh giúp ích rất nhiềutrong việc lập kế hoạch đối phó lại của một tổ chức Từ đó, giúp tổ chức tồntại và phát triển ổn định
Trên đây là một số nhân tố chính có ảnh hưởng mạnh tới công tác lậpkế hoạch Việc nắm vững các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp người lập kế hoạchcó những bản kế hoạch chính xác hơn thông qua việc dự báo đầy đủ về cácnhân tố ảnh hưởng tới việc hoạch định cũng như việc thực hiện kế hoạch Vàcũng thông qua đó nhằm phát huy những ưu điểm đồng thời hạn chế nhữngnhược điểm của tổ chức
Trang 18Nghên
cứu và
dự báo
Lựa chọn và ra quyết định
Đánh giá
các phương án
Xây dựng các phương án
Phát triển các tiền đề
Thiết lập các mục tiêu
II Nội dung công tác lập kế hoạch
Để lập kế hoạch thông thường phải trải qua 6 bước được diễn tả qua môhình sau:
1 Nghiên cứu và dự báo
Đây là bước đầu tiên đặt nền móng cho cả quá trình lập kế hoạch.Trong bước này người lập kế hoạch phải thực hiện hai bước nhỏ:
Bước thứ nhất là bước nghiên cứu Việc nghiên cứu không chỉ đơnthuần là việc xem xét, phân tích về tổ chức Xem xét và phân tích về tổ chứcgiúp người lập kế hoạch tìm hiểu được năng lực, tiềm năng và các nguồn lực(vốn, nhân lực, máy móc…) của tổ chức và so sánh với đối thủ cạnh tranh.Qua đó, xác định được điểm mạnh cũng như điểm yếu của tổ chức so sánh vớiđối thủ cạnh tranh Việc nghiên cứu còn phải được tiến hành trên môi trườngbên ngoài của tổ chức VD về thị trường cũng như về khách hàng và sản phẩmcủa tổ chức, các chính sách của nhà nước…
Bước thứ hai là dự báo Dự báo là dự đoán về các yếu tố không chắcchắn các yếu tố cần phải đạt được và đưa ra phương án đối phó Việc dự báocó thể dự báo về mặt lượng hoặc dự báo về mặt chất Dự báo về mặt lượngkhi có những số liệu chắc chắn Việc dự báo có thể về thị trường hoặc về côngnghệ Công việc nghiên cứu và dự báo phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, kinhnghiệm của người lập kế hoạch
Việc nghiên cứu và dự báo cũng giúp cho tổ chức phát hiện ra những
cơ hội cũng như những thử thách Nghiên cứu và dự báo phải được tiến hànhtrong tổ chức và trên cả môi trường bên trong lẫn bên ngoài của một tổ chức
Trang 192 Thiết lập các mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu dự báo về tổ chức cũng như về môi trường,người lập kế hoạch phải thiết lập nên các mục tiêu Mục tiêu là những côngviệc, nhiệm vụ, hành động mà tổ chức cần đạt được và mục tiêu đặt ra nhằmtận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức đối với tổ chức Việc thiết lậpnên các mục tiêu cần phải xác định rõ thời gian thực hiện chúng Mục tiêu lậpnên có thể là mục tiêu định tính và cũng có thể là mục tiêu định lượng Việcđịnh lượng các mục tiêu góp phần làm cho mục tiêu dễ dàng thực hiện hơn vàmục tiêu định lượng cho phép đánh giá kết quả thực hiện chính xác hơn.Trong quá trình thiết lập các mục tiêu nhà quản lý cần phải sắp xếp các mụctiêu theo thứ tự ưu tiên nhất định Nhằm mục đích cho thấy mức độ quantrọng của từng mục tiêu đồng thời đưa ra thứ tự giải quyết các mục tiêu nhằmphân bổ nguồn lực trong tổ chức một cách thích đáng Thông thường nhữngmục tiêu chiến lược là mục tiêu hàng đầu bởi vì nó có liên quan trực tiếp đếnsự tồn tại và phát triển của tổ chức Do đó, nguồn lực thường được phân bổtrước tiên cho những mục tiêu chiến lược rồi sau đó mới đến các mục tiêuquan trọng khác theo thứ tự ưu tiên Trong quá trình thiết lập các mục tiêu nhàquản lý phải luôn lưu ý tính rõ ràng của mục tiêu không nên xa rời thực tiễnđồng thời cũng cần xác định rõ trách nhiệm thực hiện và thời hạn thực hiệncác mục tiêu
3 Phát triển các tiền đề
Kết quả của bước thứ hai là hệ thống các mục tiêu đã được sắp xếp theomột thứ tự ưu tiên nhất định Bước thứ ba là bước xem xét đánh giá tính khảthi, hợp lý của mục tiêu Các nhà quản lý dự báo về những ảnh hưởng củamục tiêu và về những chính sách cơ bản có thể áp dụng để đạt được mục tiêuđó Những dự báo và chính sách đó mới chỉ đang ở giai đoạn tiền đề, chưađược ban hành mới chỉ được giả định Trên một số mục tiêu đang xem xét
Trang 20người ta sẽ đưa ra các tiền đề, sau đó xem xét nó có tác động như thế nào,chính sách đó có nên ban hành hay không và khi được ban hành thì nó sẽ gồmnhững gì Người lập kế hoạch phải dự báo các trường hợp xảy ra khi mộtchính sách được ban hành Tiền đề có ảnh hưởng lớn tới sự hoạt động của kếhoạch Tiền đề rất quan trọng trong việc xây dựng các phương án chính sách.
4 Xây dựng các phương án
Từ những chính sách tiền đề tối ưu nhất mà nhà quản lý tìm ra vànghiên cứu các phương án hành động Đó là hệ thống các công việc và cácnguồn lực, cách phối hợp các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra Một mụctiêu có thể có nhiều phương án thực hiện khác nhau Tuy nhiên, việc xâydựng phương án nên có trọng tâm, trọng điểm Tránh xây dựng quá nhiều cácphương án bởi điều đó dẫn đến phi hiệu quả trong việc lập kế hoạch Khi xâydựng các phương án cũng cần liên hệ xem xét với nguồn lực hiện có của tổchức tránh xây dựng các phương án kế hoạch không có tính khả thi hay vượtquá khả năng của một tổ chức
5 Đánh giá các phương án
Trong bước này nhà quản lý đưa ra những tiêu chuẩn để đánh giá cácphương án Các tiêu chuẩn này nên được định lượng nhằm tạo ra sự dễ dàngtrong đánh giá các phương án Các tiêu chuẩn để đánh giá có thể được địnhsẵn như các tiêu chuẩn kỹ thuật Tuy nhiên, các tiêu chuẩn phải phù hợp vớimục tiêu, dựa vào mục tiêu đã đề ra và tiền đề đã xác định trước Việc đánhgiá phải được tiến hành một cách chi tiết và kỹ lưỡng nhằm đưa ra sự so sánhchính xác giữa các phương án đã đề ra
6 Lựa chọn các phương án và ra quyết định
Kết quả của bước thứ năm là đưa ra được sự so sánh giữa các phươngán Phương án tốt nhất sẽ được lựa chọn Đó là phương án đem lại hiệu quảcao nhất đồng thời có chi phí thấp nhất và phù hợp với nguồn lực của tổ chức
Trang 21Công việc cuối cùng của công tác lập kế hoạch là ra quyết định để phân bổnguồn lực thích hợp cho việc thực hiện kế hoạch Đây cũng là cơ sở pháp lýcho việc thực hiện kế hoạch Bên cạnh đó cũng xây dựng các kế hoạch phụtrợ để đối phó với những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.
Tóm lại, trên đây là sáu bước chính trong quá trình lập kế hoạch Sáubước đó có quan hệ chặt chẽ với nhau bước trước là tiền đề của bước sau.Trong thực tiễn có thể các bước trên lồng vào nhau rất khó tách biệt
III Một số phương pháp phân tích và lập kế hoạch
Có rất nhiều phương pháp phân tích và hoạch định kế hoạch có thể kểđến là:
Phân tích nguồn lực
Phương pháp cân đối
Phương pháp tổ hợp kinh doanh GE
Chiến lược kinh doanh chung
Phân khúc ngành
Phương pháp hệ thống thị trường
Mạng lưới tiềm lực thành công
Phương pháp phân tích tình huống
Phương pháp phân tích điểm mạnh và điểm yếu
Phân tích cấu trúc
Phân tích chuỗi giá trị
Còn có rất nhiều mô hình lập kế hoạch khác nưa trong thực tế Tuynhiên, có thể làm rõ một số phương pháp lập kế hoạch được áp dụng rộng rãinhất trong các tổ chức hiện nay:
1 Sơ đồ mạng PERT
Sơ đồ mạng là một bản sao trình tự các công việc phải làm và mối quanhệ của những công việc đó với nhau trong một dự án Sơ đồ mạng là một
Trang 22công cụ hữu hiệu trong quản lý Sơ đồ mạng được sử dụng rộng rãi trongcông tác lập kế hoạch tiến độ, lập kế hoạch thi công Và đây cùng là mộtphương pháp dễ sử dụng và cũng dễ áp dụng được vào trong thực tế Có thểđưa ra một ví dụ về sử dụng sơ đồ mạng trong việc lập kế hoạch tiến độ củadự án:
Có bảng kế hoạch các công việc phải làm như sau:
Công việc Thời gian hoàn thành (tuần) Thứ tự công việc
Qua bảng kế hoạch các công việc phải làm ở trên, ta có thể biểu thị qua
sơ đồ mạng sau:
Trang 23Sơ đồ mạng PERT:
Sơ đồ mạng cho phép nhà lập kế hoạch đưa tối ưu hóa được thời hạn vàchi phí của toàn bộ dự án Ở ví dụ trên, việc sử dụng sơ đồ mạng cho ta biếtđược thời gian dài nhất để hoàn thành dự án là 22 tuần và những công việcquyết định thời gian thực hiện của dự án là các công việc Gantt (A,D,G) Trên
sơ đồ đường Gantt được biểu thị bằng mũi tên hai gạch Sơ đồ mạng được sửdụng rộng rãi trong không chỉ trong lập kế hoạch mà còn trong cả quá trìnhđiều hành và kiểm tra dự án Bởi vì sơ đồ mạng cho biết chính xác thứ tựcông việc và thời gian dự trữ của từng công việc Tuy nhiên sơ đồ mạng cómột nhược điểm là không cho biết trong một khoảng thời gian thì công việcnào đang diễn ra
2 Biểu đồ Gantt
Biểu đồ Gantt thường được xây dựng trên cơ sở là sơ đồ mạng Biểu đồGantt khắc phục nhược điểm của sơ đồ mạng là nó cho phép nhà quản lý dễ
Trang 24dàng chỉ ra được những gì cần làm, thời gian của từng công việc và cho phépchỉ ra được công việc nào đó có đúng tiến độ hay không Biểu đồ Gantt cũng.Đây là một phương tiện quan trọng trong lập kế hoạch và được sử dụng rấtrộng rãi và là một phương tiện đơn giản trong sử dụng Thông thường mộtbiểu đồ Gantt gồm hai trục: trục hoành chỉ thời gian thực hiện của từng côngviệc Còn trục tung để biểu thị các công việc cần phải làm trong một bản kếhoạch VD: về một biểu đồ Gantt
(()
Qua biểu đồ ta thấy được số công việc cần phải thực hiện và sơ đồ còncho biết thời gian cần thiết cho mỗi công việc hoàn thành Sơ đồ cũng chỉ rađược thứ tự các công việc cần phải thực hiện Biểu đồ này cho phép nhà quảnlý biết được trong một điểm thời gian thì những công việc nào đang được diễn
ra do đó rất tiện lợi trong việc quản lý tiến độ của dự án Biểu đồ này cũng rấtđơn giản và dễ áp dụng được trong thực tế Và biểu đồ Gantt hay được sử
( Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Hiệu quả & Quản lý dự án nhà nước – TS Mai Văn Bưu (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2001.
Trang 25dụng kèm với sơ đồ mạng trong công tác lập kế hoạch hai công cụ này tươngtrợ cho nhau trên thực tiễn.
3 Mô hình “ Năm lực lượng” của M.Porter
Mô hình này, thường dùng cho kế hoạch cấp tổ chức, kế hoạchmarketing thông qua việc xem xét về khả năng cạnh tranh của một tổ chứctrong môi trường hoạt động của nó thông qua việc đánh giá năm lực lượngcủa môi trường:
(()Qua mô hình ta có thể đánh giá khả năng cạnh tranh của tổ chức trongmôi trường hoạt động Mô hình chỉ ra mối quan tâm hàng đầu, trung tâmtrong mọi tổ chức là mối đe dọa từ đối thủ cạnh tranh của mình Ngoài ra tổchức cũng phải xem xét các yếu tố khác: khả năng thương lượng của nhà cungcấp hay của khách hàng và mối đe dọa từ những sản phẩm, dịch vụ thay thế.Các yếu tố này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tổ chức
( Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Khoa học quản lý tập I – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà,
PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2004.
Trang 264 Mô hình điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa (SWOT)
Mô hình này thường được sử dụng trong kế hoạch cấp ngành Mô hìnhnày dùng để đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức thông qua việcđánh giá tổng thể tổ chức về nhân lực, tài chính, công nghệ…thông qua việcđánh giá và so sánh với mặt bằng chung trong ngành mà mô hình này đưa racác cơ hội cũng như thử thách Đây là các yếu tố thuộc môi trường bên ngoàicủa tổ chức Qua đó, mà tổ chức sẽ đưa ra các biện pháp nhằm nắm bắt cỏ hộiđồng thời sẵn sàng đối phó với mối đe dọa có thể xảy ra Việc lập ra mô hìnhSWOT giúp tổ chức có được những kế hoạch, những giải pháp tốt
(()
( Khoa khoa học quản lý – Giáo trình Khoa học quản lý tập I – PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà,
PGS.TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền (CB) – NXB khoa học và kỹ thuật – HN 2004.
Trang 275 Phương Pháp cân đối
Phương pháp cân đối được tiến hành thông qua ba bước:
Bước 1: Xác định nhu cầu về các yếu tố sản xuất để thực hiện các mụctiêu kinh doanh dự kiến
Bước 2: Xác định khả năng sản xuất (VD: vốn, nhân lực, máy móc…)của tổ chức
Bước 3: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất Khi sử dụng phương pháp cân đối cần chú ý một số điểm Trước tiên,cần phải hiểu rõ các yếu tố về nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất đều làcác yếu tố “động” điều đó có nghĩa là chúng có thể biến đối trong thực tế
6 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này cho phép tính toán các chỉ tiêu kế hoạch dựa trên sốliệu thực hiện của chỉ tiêu đó trong bản kế hoạch trước Chỉ tiêu kế hoạch kỳnày khác so với chỉ tiêu đó trong kế hoạch kỳ trước một tỷ lệ được các nhàquản lý tính toán cụ thể Phương pháp này rất đơn giản và dễ sử dụng, cho kếtquả nhanh chóng Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là có độchính xác không cao và thường chỉ được sử dụng trong môi trường ổn định
Việc sử dụng mô hình kế hoạch cho phép tổ chức phân tích các lựachọn quyết định khác nhau tiện lợi, nhanh chóng hơn và cho kết quả là bản kếhoạch chính xác hơn Các mô hình đã chứng tỏ là công cụ hữu hiệu phân tíchcác tình huống giả định, phân tích độ nhạy cảm với các biến đổi môi trường,
mô phỏng, các kịch bản tốt – xấu, tối ưu và chuẩn bị báo cáo Việc sử dụng
mô hình lập kế hoạch một cách linh hoạt và đúng đắn sẽ góp phần không nhỏvào sự phát triển của tổ chức nói chung
Trang 28Chương II Thực trạng công tác lập kế hoạch
I Tình hình phát triển của công ty
1 Sơ lược về công ty
Công ty xây dựng 201 là một Công ty Nhà nước trực thuộc tổng Công
ty xây dựng Bạch Đằng Công ty có trụ sở chính tại 268B – Trần Nguyên Hãn– Quận Lê Chân – TP Hải Phòng Giám đốc Công ty Lưu Quang Bôn Công
ty là một điển hình trong các Công ty thuộc tổng Công ty xây dựng BạchĐằng Hiện nay, Công ty đã tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp theo chủtrương của Đảng và Nhà nước
Công ty có chức năng thi công xây lắp các công trình dân dụng, côngnghiệp, điện, nước, kết cấu phi tiêu chuẩn, giao thông, thuỷ lợi, kỹ thuật hạtầng, đô thị (Theo giấy phép hành nghề số 546 BXD/CSXD ngày 27/12/1997của Bộ trưởng Bộ Xây dựng) trên phạm vi toàn quốc
Trong những năm vừa qua Công ty xây dựng 201 đã xây dựng hàngtrăm công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, công trình kỹthuật hạ tầng mang tầm cỡ Quốc gia và được các chủ đầu tư, tư vấn thiết kế,
tư vấn giám sát và khách hàng đánh giá cao về chất lượng, tiến độ, kỹ mỹthuật và đặc biệt là an toàn trong lao động
Với bề dày kinh nghiệm và những cống hiến cho sự nghiệp xây dựngđất nước, Công ty vinh dự được Nhà nước tặng thưởng:
- 01 Huân chương Lao động hạng Nhất
- 01 Huân chương Lao động hạng Nhì
- 01 Huân chương Lao động hạng Ba
- Công ty Xây dựng 201 Công ty được đón nhận nhận huy chương vàng
Trang 29GC KCT
&
XD
Đội Bốc xếp
Phòng KT
thị trường PhòngTCLĐ KT-KH-ĐTPhòng KT Tài vụPhòng Phòng QL Thi công VP đại diện tại H.Thạch
Giám đốc
Phó Giám đốc Phó Giám đốc Phó Giám đốc
chất lượng cao cho ngành xây dựng Việt Nam
- Và nhiều Huy chương vàng chất lượng cao, Cờ và Bằng khen tặng đơnvị chất lượng cao công trình sản phẩm xây dựng Việt Nam
Lấy phương châm hành động "Uy tín, Chất Lượng và Hiệu quả" Chínhvì vậy, Công ty đạt được nhiều thành tích trong kinh doanh Công ty có doanh
thu hàng năm cao, tốc độ tăng trưởng nhanh
2 Sơ đồ cơ cấu bộ máy
Có thể mô tả công ty qua sơ đồ cơ cấu tổ chức như sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty xây dựng 201
Trang 30Công ty đã áp dụng mô hình tổ chức theo bộ phận chức năng Đây làmột mô hình tương đối dễ hiểu và được áp dụng ở phần lớn trong các tổ chứccó quy mô vừa và hoạt động trong một lĩnh vực nhất định Đây là mô hình màCông ty tạo các bộ phận mà trong đó các cá nhân hoạt động trong cùng mộtlĩnh vực chức năng nhất định ví dụ như phòng thị trường thì trong đó các cánhân chỉ hoạt động trong lĩnh vực thị trường, các cá nhân có chức năng quảnlý và tổ chức thực hiện tìm kiếm việc làm cho Công ty, khai thác thị trườngcho hoạt động kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm Phòng kế toán tài vụ là tập hợpcác cá nhân cùng hoạt động trong lĩnh vực kế toán tài chính nhằm quản lý vốnvà tài sản và hạch toán sản xuất kinh doanh…Mô hình này rất dễ áp dụng Môhình này cũng đem lại cho Công ty nhiều thuận lợi là (1) hiệu quả tác nghiệpcao do Công ty chủ yếu thực hiện những nhiệm vụ có tính tác nghiệp và lặplại nhiều lần Các công việc hầu hết lặp lại giống nhau trong các công trìnhxây dựng mà Công ty thực hiện.(2) Phát huy đầy đủ hơn những ưu thế củachuyên môn hóa ngành nghề Do mỗi một chuyên môn được sắp xếp vào mộtbộ phận của Công ty Do đó, thúc đẩy sự chuyên môn hóa sâu sắc và phát huyđược đầy đủ tính năng.(3) giữ được sức mạnh và uy tín của các chức năng chủyếu của Công ty.(4) đơn giản hóa công việc đào tạo do các công việc đượcchuyên môn hóa vì vậy những công việc khó khăn phức tạp được chia thànhnhững công việc nhỏ dễ dàng thực hiện hơn.(5) Chú trọng hơn đến tiêu chuẩnnghề nghiệp và tư cách nhân viên bằng việc tạo ra các công việc tương đối dễdàng để thực hiện thì các tiêu chuẩn để đánh giá càng phải được chính xác vàphải được tiêu chuẩn hóa, do tính chất công việc không còn phức tạp do vậy
tư cách nhân viên luôn là một trong những chỉ tiêu được xem xét kỹ lưỡng.(6)tạo điều kiện cho kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất Cấp cao nhất là ngườitổng hợp công việc của các cấp dưới do có phân công lao động ở mức cao cho
Trang 31nên các công việc ở cấp dưới đã được chuyên sâu do đó tạo điều kiện cho việckiểm tra ở cấp cao
3 Thực trạng phát triển của công ty
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình công ty đã có nhữngđóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước Công ty đã xây dựng nênnhiều công trình công nghiệp quan trọng, nhiều công trình mang tầm cỡ quốcgia Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu mà công ty đã xây dựng:
Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch, Nhà máy Xi măng Chinfong, Nhà máy Xi măng Bút Sơn, Nhà máy Xi măng Hoàng Mai, Nhà máy Xi măng Sao Mai, Nhà máy Xi măng Tam Điệp, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại – Quảng Ninh, Nhà máy Lân Móng Cái - Quảng Ninh, Nhà máy chế biến Gạo Sóc trăng, Nhà máy Đường Trị An, Nhà máy mạ hợp kim, sơn màu thép lá cuộn - Hải Phòng, Nhà máy thức ăn gia súc ANT, Nhà máy Cáp điện EBA, Nhà máy SUMIDENSO - khu công nghiệp Đại An - Hải Dương, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, Trường đào tạo nghề CNKT chất lượng cao - Hải Phòng, Ngân hàng Công thương Hải Dương, Dự án Quốc lộ 18 gói thầu R2 thi công cống thoát nước và thi công kết cấu đường, Dự án Quốc lộ 10 ( đoạn Nam Hải Phòng - Thái Bình ), Hệ thống bồn chứa dầu V=5000m3 - Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2, Hệ thống bồn chứa dầu V=5000m3 - Công ty PECTECH Hoà Hiệp - Đà Nẵng, Dự án cải tạo nâng cấp hệ thống cấp nước Hải Phòng - dự án 1A, Hệ thống cấp nước thô - nhà máy nước Long Bình Đồng Nai, Công trình Đài phát sóng phát thanh Bắc Bộ, trạm cung cấp bê tông thương phẩm cho dự án cầu Thanh Trì - Hà Nội công suất 60m3/h và nhiều công trình khác trên toàn quốc
Trong những năm vừa qua, cùng với sự nỗ lực của mình công ty đã đạtđược nhiều thành tích trong kinh doanh và đã khẳng định được uy tín củamình trên thị trường trong nước Với sự đầu tư trang thiết bị hiện đại, công ty
Trang 32đã ngày càng nâng cao hiệu quả trong sản xuất và chất lượng của các côngtrình xây dựng Công ty đã duy trì được giá trị sản lượng thực hiện cao đặcbiệt trong những năm gần đây:
Bảng giá trị sản lượng thực hiện
( ĐV: triệu đồng)
*Trong đó:Giá trịsản lượngthực hiện
= giá trịxây lắp +giá trịSXCN &VLXD +giá trịkinhdoanh vật
tư + giátrị gia công sửa chữa cho bên ngoài & kinh doanh khác
Công ty ra đời từ khá sớm mà tiền thân của công ty là từ công trườngxây dựng 201 (được thành lập theo quyết định số 1061/TCCB vào ngày25/11/1976 của bộ trưởng xây dựng) Công ty được thành lập ngay sau khi đấtnước giải phóng Đây là một thuận lợi của công ty trong quá trình phát triển.Qua bảng giá trị sản lượng thực hiện ta thấy được tình hình phát triển của
127199,4
5 84246,351 83695,548Giá trị SXCN &
VLXD _ 11699,95 45351 46086,3 36176,35
Giá trị kinh doanh
vật tư 2612 3469,57 37731 49668 55894,244
Giá trị gia công
sửa chữa cho bên
ngoài & kinh
166456,98 3
210281,4 5
180000,65 1
176775,31 2
Trang 33công ty trong những năm gần đây Công ty hoạt động trong ngành xây dựngvà tập trung vào 3 lĩnh vực chính là: lĩnh vực xây lắp (công ty có thể xây lắpcác công trình dân dụng, công trình công nghiệp và các công trình phi kếtcấu), lĩnh vực SXCN & VLXD (chủ yếu là sản xuất bê tông) và kinh doanhvật tư Trong 3 lĩnh vực kinh doanh trên lĩnh vực kinh doanh chính của công
ty là xây lắp đã đem lại nguồn doanh thu lớn Trong 3 lĩnh vực mà công tykinh doanh thì lĩnh vực kinh doanh vật tư có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất.Năm 2002 kinh doanh vật tư mới chỉ đạt giá trị là 2612 (tr.đ) đến năm 2003con số này vẫn duy trì ở mức thấp là 3469,57 (tr.đ) và mới chỉ đạt xấp xỉ 2%trong tổng giá trị sản lượng thực hiện 166456,983 (tr.đ) Tuy nhiên, đến năm
2004 con số này vượt lên là 37731 (tr.đ) chiếm gần 17,9% trong tổng giá trịsản lượng thực hiện Trong những năm tiếp theo kinh doanh vật tư vẫn đạtmức tăng trưởng cao cụ thể là trong năm 2005 giá trị kinh doanh vật tư là
49968 (tr.đ) chiếm 27,5% tổng giá trị sản lượng thực hiện và năm 2006 là55894,244 (tr.đ) chiếm 31,6% tổng giá trị sản lượng thực hiện Qua các consố đó thấy được tiềm năng và xu hướng kinh doanh của công ty trong lĩnh vựckinh doanh vật tư Ở lĩnh vực SXCN & VLXD cũng đem lại khả năng nguồndoanh thu lớn cho công ty Trong năm 2002 thì lĩnh vực này còn chưa đem lạidoanh thu cho công ty nhưng đến năm 2003 giá trị SXCN & VLXD là11699,95 (tr.đ) và lĩnh vực phát triển mạnh trong năm 2004 là 45351 (tr.đ)chiếm 21,57% trong tổng giá trị sản lượng thực hiện Lĩnh vực này tiếp tụcphát triển trong năm 2005 đạt 46086,3 (tr.đ) và giảm sút vào năm 2006 đạt36176,35 (tr.đ) Trong vực kinh doanh chính của công ty là xây lắp trongnhững năm 2002 – 2003 giá trị xây lắp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trịsản lượng thực hiện năm 2002 là 115104,858 (tr.đ) chiếm 97,78% trong tổnggiá trị sản lượng thực hiện và năm 2003 giá trị xây lắp tăng lên là 151287,463(tr.đ) chiếm 90,8% trong tổng giá trị sản lượng thực hiện Tuy nhiên, do có sự
Trang 34biến đổi trong phương pháp sản xuất kinh doanh của công ty nên trong nhữngnăm tiếp theo giá trị xây lắp đã giảm xuống năm 2004 giá trị xây lắp chỉ còn127119,45 (tr.đ) và chỉ chiếm xấp xỉ 60,5% trong tổng giá trị sản lượng thựchiện và giá trị này liên tục giảm trong các năm tiếp theo năm 2005 là84246,351 (tr.đ) và chỉ chiếm có 46,8% trong tổng giá trị sản lượng thực hiệnở năm 2006 giá trị xây lắp chỉ còn 83695,548 (tr.đ) và chiếm 47,3% trongtổng giá trị sản lượng thực hiện Nhìn chung lại, giá trị sản lượng của công tyhàng năm là khá cao và tăng nhanh qua các năm Năm 2002 là 117761,858(tr.đ), năm 2003 tăng lên là 166456,983 (tr.đ) và giá trị sản lượng thực hiệnđạt giá trị cao nhất trong 5 năm khảo sát là 210281,45 (tr.đ) Sau đó giảm sútvào năm 2005 là 180000,651 (tr.đ) và tiếp tục giảm vào năm tiếp theo giá trịsản lượng thực hiện đạt 176775,312 (tr.đ).
Có sự tăng trưởng như vậy là do có sự lỗ lực hết mình và sự đầu tưthích đáng của công ty Có thể thấy sự đầu tư của công ty qua bảng sau:
Bảng nguồn vốn của công ty
ty giảm xuống vào năm 2004 còn gần 90,3 (tỷ đồng) Trong 2 năm 2005 –
2006, nguồn vốn đầu tư tăng mạnh do công ty đã tiến hành cổ phần hóa doanh
Trang 35nghiệp ( theo quyết định số 102/2005/QD_TTg của thủ tướng chính phủ vềviệc phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước thuộc BộXây dựng trong 2 năm 2005 – 2006) Chính vì vậy, mà nguồn vốn của công tytăng nhanh trong 2 năm qua Năm 2005 nguồn vốn tăng lên gần 106,76 (tỷđồng) và tiếp tục tăng mạnh trong năm 2006 là gần 141,16 (tỷ đồng) Có thểnói cổ phần hóa đã phát huy tác dụng của mình đối với sự phát triển của công
ty Nhờ việc tận dụng được các nguồn vốn từ các cổ đông mà nguồn vốn công
ty tăng mạnh trong hai năm vừa qua điều này góp phần rất lớn cho sự pháttriển của công ty
Tóm lại, công ty phát triển khá mạnh và ổn định trong những năm vừaqua Cùng với quyết tâm của mình và theo chủ trương của Đảng và nhà nướctrong 2 năm qua công ty đã tiến hành cổ phần hóa Việc cổ phần hóa đã mở racon đường phát triển mới cho công ty Nó cũng giúp công ty tận dụng đượcmọi nguồn lực cho sự phát triển của mình Đặc biệt là việc tận dụng và pháthuy hiệu quả tối đa mọi nguồn vốn đầu tư
II Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
1 Phương pháp lập kế hoạch của công ty
Lập kế hoạch là một công việc quan trọng và cũng là công việc tất yếucủa mọi tổ chức Công tác lập kế hoạch là không thể thiếu trong mọi tổ chứckhông riêng gì công ty xây dựng 201 Trong sự tồn tại và phát triển của mìnhcông ty xây dựng 201 đã tổ chức rất tốt công tác lập kế hoạch Trong đó, côngtác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh là một công tác quan trọng nhất Để lậpmột bản kế hoạch kinh doanh đòi hỏi công ty phải lập kế hoạch về mọi mặt:tài chính, marketing, nhân sự, tiền lương, kế hoạch kinh doanh…Trong quátrình lập kế hoạch công ty đã sử dụng khá phổ biến một số mô hình Nhằm tạosự thuận lợi, dễ dàng và chính xác trong quá trình lập kế hoạch Đây cũngchính là những mô hình được sử dụng rộng rãi trong mọi tổ chức khác Có thể
Trang 36xem xét một số mô hình lập kế hoạch trong một số công việc marketing, nhânsự, tài chính và kế hoạch kinh doanh…
Trong công tác marketing (Marketing là một công tác chỉ xuất hiệntrong nền kinh tế thị trường Marketing nhằm xác định đúng nhu cầu, mongmuốn của khách hàng và của thị trường từ đó tìm cách đảm bảo sự thỏa mãnnhu cầu và mong muốn đó) Marketing là một công tác quan trọng trong mọitổ chức trong nền kinh tế thị trường Ở công ty xây dựng 201, marketing giúpxây dựng hình ảnh công ty trên thị trường xây dựng đồng thời xây dựngnhững kế hoạch tìm kiếm và khai thác các dự án xây lắp, tìm kiếm giới thiệuvà tiêu thụ sản phẩm cho công ty Tuy nhiên, trong quá trình lập kế hoạch xácđịnh vị trí của công ty trên thị trường ngành xây dựng, hay khai thác dự ánxây lắp, tìm kiếm giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm công ty đã sử dụng mô hìnhđiểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa ( mô hình SWOT ) Đây là một môhình được sử dụng phổ biến trong lập kế hoạch của ngành marketing nóichung và của công ty nói riêng Mô hình cho phép công ty đánh giá nguồn lựccủa công ty từ đó tìm ra những điểm mạnh cũng như những điểm yếu củacông ty so với đối thủ cạnh tranh cũng như trong môi trường ngành xây dựngcó thể đưa ra một VD nhỏ trong việc sử dụng mô hình SWOT trong việc lậpkế hoạch: điểm mạnh của công ty là có những trang thiết bị máy móc hiệnđại, công nghệ sản xuất tiên tiến và có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực xâydựng Tuy nhiên cùng với những điểm mạnh thì công ty cũng có những điểmyếu nhất định như không thích hợp cho xây dựng các công trình dân dụngnhỏ Từ những điểm mạnh điểm yếu đó mang lại cho công ty những cơ hội vànhững đe dọa nhất định như cơ hội của công ty do điểm mạnh đem lại chocông ty trong lĩnh vực xây dựng các khu công nghiệp công nghệ cao đồngthời cũng đem lại những thử thách cho công ty trong lĩnh vực xây dựng trongcác công trình xây dựng dân dụng nhỏ Có thể nói đây là một mô hình rất hữu
Trang 37hiệu trong lập kế hoạch marketing nó không chỉ cho phép đánh giá về nănglực cũng như khả năng của công ty mà mô hình còn cho phép dự báo trướcnhững ảnh hưởng của những điểm mạnh, điểm yếu đến sự tồn tại và phát triểncủa công ty những ảnh hưởng đó là những cơ hội và những đe dọa ảnh hưởngtới công ty Từ những cơ hội, đe dọa mà người lập kế hoạch sẽ có những biệnpháp thích hợp để phản ứng lại, công tác lập kế hoạch marketing sẽ có nhữngbiện pháp nhất định để tận dụng những cơ hội và hạn chế tối đa những ảnhhưởng tiêu cực tác động đến công ty trong quá trình tồn tại và phát triển củamình đồng thời khai thác và phát huy ưu điểm và hạn chế tối đa những nhượcđiểm của công ty Có thể nói đây là mô hình mạnh trong lập kế hoạchmarketing Việc lập kế hoạch chức năng được phân chia theo từng đơn vịchức năng của công ty Do đó, việc lập kế hoạch marketing là một nhiệm vụvà chức năng của phòng kinh tế thị trường.
Trong công tác nhân sự, nhiệm vụ của công tác nhân sự là nhằm đảmbảo, bố trí, sắp xếp nguồn nhân lực trong sản xuất và đảm bảo an ninh và sựphát triển ổn định của công ty, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Có thể nói côngtác lập kế hoạch nhân sự là rất khó khăn do đặc điểm của ngành xây dựng làsử dụng rất nhiều lao động sống Do đó khó khăn trong công tác đảm bảonguồn lao động với số lượng lao động nhiều như vậy việc huy động đủ sốlượng là một nhân tố quan trọng việc đảm bảo sinh hoạt cho công nhân tại cáccông trường là một vấn đề cũng không kém phần quan trọng Vì vậy, trongcông tác lập kế hoạch để đảm bảo nguồn nhân lực, công ty đã sử dụngphương pháp phân tích tình huống Tùy thuộc vào từng công trình là từngcông việc khác nhau mà công ty có những kế hoạch khác nhau cho việc sửdụng nguồn nhân lực VD: ngoài số lượng cán bộ công nhân viên trong danhsách công ty còn sử dụng công nhân thuê ngoài, số lượng công nhân thuêngoài là sự phản ứng của công ty trong mỗi tình huống nhất định Trong
Trang 38những năm mà công trình nhiều thì số lượng công nhân thuê ngoài cũng lớncòn trong những năm ít công trình thì số lượng công nhân thuê ngoài cũng ít.Việc lập kế hoạch về lao động, máy móc cần thiết cho một công trình đượchoạch định bằng công thức:
Nhu cầu về nhân lực hoàn thiện công việc:
L= S V
G (ngày công)Trong đó V: là khối lượng công việc
S: là định mức phí thời gianG: số giờ làm việc trong một ca Nhu cầu về ca máy để hoàn thành công việc
C M=V
P (ca máy)Trong đó p: năng lực thực dụng của máy trong một ca
Sự bố trí nguồn nhân lực là căn cứ vào công trình và công việc mà công
ty nhận được và tùy thuộc vào nguồn nhân lực có thể huy động được của công
ty Căn cứ vào khối lượng công việc và năng suất lao động của mỗi công nhânmà từ đó công tác lập kế hoạch sẽ xác định được số lượng lao động cần thiếtcho công ty Việc lập kế hoạch tốt về nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho quátrình sản xuất của công ty đồng thời giúp công ty phát triển nhanh chóng.Việc lập kế hoạch về nhân sự do phòng tổ chức lao động và các đội tổ sảnxuất đảm nhiệm Trong đó các đội tổ sản xuất sẽ thực hiện kế hoạch về laođộng của phòng tổ chức lao động nhưng cũng đồng thời các đội cũng trực tiếplập kế hoạch lao động cho đơn vị của mình và lập kế hoạch để đảm bảo sinhhoạt cho công nhân lao động tại công trường thi công của mình Trong quátrình lập kế hoạch của các đội cũng phải theo định hướng của phòng tổ chứclao động và của công ty
Trang 39Qua công tác kế toán tài vụ mà công ty xác định được nguồn vốn cũngnhư tài sản hiện có khác của công ty Đây là công việc quan trọng làm cơ sởcho công tác lập kế hoạch tài chính Nhiệm vụ chính của công tác lập kếhoạch tài chính là đánh giá, quản lý về khía cạnh tài chính của một dự ánkinh doanh Đánh giá về tài chính của một dự án là xem xét xem nguồn vốnđầu tư cho dự án có phù hợp với nguồn lực của công ty hay không? Và xemxét dự án đầu tư có đem lại lợi nhuận hay không? và lợi nhuận đó là baonhiêu? Lợi nhuận đem lại có phù hợp với lượng vốn bỏ ra hay không? Quađó, tạo cơ sở cho việc đánh giá và lựa chọn các phương án kinh doanh Cácphương án đầu tư sẽ được xem xét kỹ lưỡng trên cơ sơ phân tích giữa nguồnvốn đầu tư và kết quả dự báo mà phương án đó đem lại việc đánh giá đóthông thường sử dụng các chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV) và sử dụngphương pháp tỷ suất lợi nhuận nội tại (IRR) và một số phương pháp khác Giátrị hiện tại ròng được sử dụng trong các dự án đầu tư nhằm đánh giá hiệu quảcủa nguồn vốn vào một thời điểm nhất định (có thể là thời điểm hiện tại vàcũng có thể là thời điểm tương lai) bằng cách đưa ròng tiền các năm về mộtthời điểm nhất định Dùng phương pháp tỷ suất nội tại cho phép công ty đánhgiá xem mức lãi suất đầu tư của một phương án là có chấp nhận được haykhông? Trên cơ sở đánh giá đó, công tác lập kế hoạch tài chính sẽ chi tiết hóanguồn tài chính phục vụ cho đầu tư Phòng kế toán tài vụ chịu trách nhiệmtrong việc lập kế hoạch tài chính cho công ty và quản lý tài chính cho công ty.
Công ty kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng Đây là một lĩnh vựctương đối khó khăn Chính vì vậy lập kế hoạch vừa có điểm chung vừa cóđiểm riêng so với công tác lập kế hoạch ở các doanh nghiệp khác Do hoạtđộng trong lĩnh vực xây dựng nên việc quản lý tiến độ là một công việc khôngthể thiếu nên lập kế hoạch lịch (tiến độ) là công việc khá quan trọng khôngthể thiếu được Công tác lập kế hoạch tiến độ nhằm mục đích kết thúc và bàn
Trang 40giao công trình theo đúng thời hạn quy định, kết hợp và sử dụng máy móctrang thiết bị hợp lý nhằm làm hạn chế việc ứ đọng thời gian có những biệnpháp nhằm tối ưu cơ sở vật chất kỹ thuật và cung cấp kịp thời các giải phápcó hiệu quả Trong quá trình lập kế hoạch công ty đã sử dụng một số mô hình:
sơ đồ mạng PERT và biểu đồ Gantt Việc sử dụng hai mô hình như đã giớithiệu trong chương I đã đem lại lợi ích lớn cho công ty Hai mô hình nhằm tối
ưu hóa thời gian thực hiện của dự án Đồng thời mô hình cũng giúp cho công
ty kiểm tra, quản lý được tiến độ của dự án trong thực hiện Đồng thời, môhình cũng là cơ sở để công ty xem xét nên kéo dài hay thu ngắn thời gian thựchiện dự án Sơ đồ mạng PERT và biểu đồ Gantt cũng cho phép công ty kiểmtra xem mình đang thực hiện công việc nào của dự án Đây cũng là ưu điểmlớn nhất trong việc sử dụng hai mô hình lập kế hoạch trên Chính vì vậy, hai
mô hình được sử dụng rộng rãi trong lập kế hoạch tiến độ trong công ty Kếhoạch tiến độ cũng là cơ sở quan trọng để công ty phân bổ nguồn vốn cũngnhư nguồn nhân lực thích hợp cho công ty tiến hành công việc sản xuất kinhdoanh của mình
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là sản phẩm quan trọng không thể thiếutrong mỗi doanh nghiệp kinh doanh Kế hoạch sản xuất kinh doanh quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp Đồng thời kế hoạchkinh doanh là kế hoạch tổng hợp của tất cả các kế hoạch chức năng khác tạothành như kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự hay kế hoạch marketing…Trong công ty việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao cho phòngkinh tế kế hoạch đầu tư Ngoài công việc hoạch định các phương án kinhdoanh phòng còn có nhiệm vụ tổng hợp các kế hoạch hoạch các phòng nhằmtạo nên một bản kế hoạch sản xuất kinh doanh hoàn thiện Bản kế hoạch sảnxuất kinh doanh chủ yếu lập kế hoạch trên các chỉ tiêu: giá trị sản lượng thựchiện, số công trình thi công và bàn giao, lao động tiền lương, tổng số doanh