1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguoi Lai Do Song Da.docx

11 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Lái Đò Sông Đà
Tác giả Nguyễn Tuân
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ văn học
Thể loại Tùy bút
Năm xuất bản 1960
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 103,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (trích) Nguyễn Tuân chia thành 2 giai đoạn Trước CMT8 cảm hứng lãng mạn Tập truyện “Vang bóng một thời” có truyện Chữ người tử tù Sau CMT8 tham gia CM NT yêu “cái đẹp”, cả đời kha[.]

Trang 1

Nguyễn Tuân chia thành 2 giai đoạn

Trước CMT8 cảm hứng lãng mạn.

Tập truyện “Vang bóng một thời”

có truyện Chữ người tử tù.

Sau CMT8 tham gia CM.

NT yêu “cái đẹp”, cả đời khao khát

tìm kiếm cái đẹp.

NT theo chủ nghĩa xê dịch

NT “cái ngông”

1958 – 1960 phong trào xây dựng

đất nước CNXH

Nguyễn Tuân

I.GIỚI THIỆU

1 Hoàn cảnh sáng tác: trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền

Tây Bắc rộng lớn, xa xôi Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960).

- Đề tài: khí thế phấn khởi hào hùng của những năm tháng miền Bắc

xây dựng chủ nghĩa xã hội Nguyễn Tuân đến Tây Bắc để khám phá Chất

vàng của thiên nhiên Tây Bắc và thứ “vàng mười đã qua thử lửa trong tâm

hồn của những con người lao động

- Cảm hứng chủ đạo: khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc

đời (không giống với NT trước CMT8, con người chỉ muốn xê dịch cho

khuây cảm giác “thiếu quê hương”) Tập tùy bút tràn đầy cảm hứng ngợi

ca, khẳng định sự thay đổi của thiên nhiên đất nước trong thời kì đổi mới

- Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của NT: uyên bác, tài

hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất

2 Thể loại: Tùy bút là một dạng có tính chất trung gian giữa tự sự với trữ

tình, giữa thơ với văn xuôi, giữa yếu tố chủ quan và khách quan,…vừa có tính chất ghi chép (kí), vừa có chất thơ (trữ tình) vừa mang màu sắc triết học trong tư duy Trong tuỳ bút cũng có kể chuyện, thuật sự Nhưng cái mạch chính, ưu trội lên, luôn là trữ tình Đó là thể văn tự do, tương đối phóng túng, nhưng vẫn có nguyên tắc của nó

II ĐỌC HIỂU:

1) Hình tượng Sông Đà

Với chất tài hoa tài tử sẵn có trong một tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp, một

bộ óc uyên bác và lối hành văn cầu kì, độc đáo, Nguyễn Tuân gây ấn tượng với người đọc bởi những tác phẩm cực đẹp Đối với ông, đã đẹp là phải đẹp đến toàn mĩ, đã dữ dội là phải dữ dội đến khác thường, đến tột đỉnh

Và trong một chuyến đi gian khổ và đầy hào hứng đến vùng Tây Bắc rộng lớn, xa xôi, ông đã tìm thấy cho mình một “nàng thơ” hoàn mĩ: Sông Đà

Sông Đà (còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang) dài 910 km (có tài liệu ghi

983 km), bắt nguồn từ núi Vô Lượng, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Sông

Đà chảy về Việt Nam từ Mường Tè (Lai Châu), qua các tỉnh Tây Bắc như Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ Hình tượng trung tâm của tùy bút là người lái đò, nhưng những trang đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân lại dành cho con sông mà ở đó, hình như cái ngông của ngòi bút Nguyễn Tuân đã gặp gỡ với cá tính đặc biệt của Sông

Đà như một cuộc hẹn hò từ lâu với đứa con bướng bỉnh của bà mẹ Tây Bắc Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã trân trọng viết hoa cả

hai chữ Sông Đà Sông nước xứ mình đã chảy bao nhiêu trên trang viết

của Nguyễn Tuân, nhưng chưa ở đâu, hình ảnh dòng sông lại hiện lên sống động như một sinh thể, có tâm trạng, có linh hồn, có tên riêng trong khai sinh, có lai lịch và tính cách phức tạp, phong phú như Sông Đà trên trang văn của Nguyễn Sông Đà với hai “thái cực” mâu thuẫn đến mê hoặc: hung bạo, dữ dội mà trữ tình, đẹp đẽ

a) Sông Đà hung bạo, hùng vĩ:

a1) SĐ khác thường ngay từ dòng chảy của nó hiện lên qua lời đề từ: Thơ

Trang 2

Bậc thầy ngôn ngữ tài hoa uyên bác đã

tả thì tả triệt để, tả đến sơn cùng thủy

tận, đúng là “uống rượu uống cả cấn”.

NT với vốn ngôn ngữ giàu có, sắc sảo

tung ra như để thi tài với tạo hóa NT

đã tạo ra con SD trên chính trang văn

của mình NT đã bắt sự hung bạo dữ

dội của SD hiện hình lên câu chữ.

NT liên tưởng so sánh độc đáo hút

nước như cái giếng bê tông, vận dụng

kiến thức lĩnh vực xây dựng để gợi

cho người đọc hút nước SĐ vừa sâu,

vừa khổng lồ, lực hút mạnh

NT so sánh chèo thuyền qua hút nước

như lái oto sang số ấn ga đầy ấn tượng

(lĩnh vực cơ khí, giao thông)

NT còn điểm vào những âm thanh ghê

rợn khiến người đọc không chỉ thấy

mà còn nghe được âm thanh của SĐ.

Dùng cả thị giác, thính giác để cảm

nhận con sông hung bạo

Nguyễn Quang Bích: “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu”

 mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, chỉ riêng SĐ chảy theo hướng bắc Hướng chảy của dòng sông, hé mở tính khí ngạo ngược, bất kham, khác thường Nét riêng của Sông Đà: thế chảy độc đáo, nghịch ngược, không giống ai của Sông Đà

a2) Sự hung bạo hùng vĩ của SĐ được khám phá chủ yếu ở khúc thượng

nguồn nhiều ghềnh, lắm thác:

-Sông Đà dữ dội trước hết ở những “những cảnh đá bờ sông dựng vách

thành,… chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”  cách so sánh, liên

tưởng bất ngờ mà chính xác giúp người đọc hình dung độ cao, hẹp, sâu của vách đá Sông Đà, không gian lạnh lẽo, âm u, dòng nước chảy xiết

- NT truyền đến người đọc cái cảm giác lạnh, rợn như chính mình đang

đi qua đoạn sông ấy “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè

mà thấy lạnh” ấn tượng về địa thế hiểm trở của sông Đà So sánh bất

ngờ, thú vị cái cảm giác giữa thiên nhiên hoang sơ với một khoảnh khắc của đời sống hiện đại giữa chốn thị thành

NT không quản ngại công phu quan sát và dụng công miêu tả SĐ hung bạo dưới nhiều dáng vẻ đầy phá cách chỉ có ở ngòi bút tài hoa

a3) NT quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên

nhiều dạng vẻ Có lúc miêu tả trong phạm vi một lòng sông hẹp, như cái yết hầu bị đá bờ sông chẹt cứng Khi thì hiện ra trong khung cảnh mênh mông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời

và sóng bọt tung trắng xóa

- Ghềnh Hát Loóng “dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô

gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm” …  câu văn trùng điệp liên

hoàn, kết hợp nhiều thanh trắc, nhịp ngắn dồn dập gợi chuyển động gấp gáp, xô đẩy của sóng và gió, đá phối hợp khiến cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dội, làm tăng thêm sự hung bạo của Sông Đà

-Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ dằn Con sông cuồng nộ lúc nào cũng muốn tiêu diệt sự sống con người, là mối đe dọa thực sự đối với những người vượt thác Sông Đà

Cái dữ dội, hung bạo của ghềnh thác được mô tả thành công và sinh động như đang hiện hữu trước mắt người đọc bởi nghệ thuật tài tình của Nguyễn Tuân

a4) Hay quãng Tà Mường Vát với “những cái hút nước như những cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, “nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, có khi “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”,

và nguy hiểm đến mức “nhiều bè gỗ, nhiều thuyền nghênh ngang đi qua … tan xác ở khuỷnh sông dưới”

Những so sánh, ví von “như cửa cống bị sặc”, “như cái giếng bê tông”…

đầy gợi hình, gợi cảm của tác giả gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy, nhìn thấy cận cảnh cái hung dữ của sông Đà mà thót tim lại  hình ảnh so sánh, nhân hóa, kết hợp kể và tả, vận dụng tri thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau tạo nên cái nhìn đa chiều, liên tưởng độc đáo, kích thích trí tửơng tượng,  sông Đà như loài thủy quái khổng lồ vừa nham hiểm, vừa hung dữ với tiếng thở ghê rợn muốn khủng bố uy hiếp tinh thần con người

- Thế nhưng, giống như đang cùng người đọc ngồi cùng một chiếc thuyền qua sông, Nguyễn Tuân lại đưa người đọc đến những cái ghê rợn hơn nữa của dòng sông Đà

2

Trang 3

SĐ có 73 thác, mỗi thác có 1 âm thanh

riêng.

Tác giả còn dùng nghệ thuật điện ảnh miêu tả con sông Đà dữ dội khi nhớ đến tưởng tượng một người quay phim mạo hiểm để con thuyền thúng trôi xuống cái hút nước của Sông Đà rồi quay phim  những thước phim ghi lại sắc màu nước dựng thành vách thật đẹp và cũng thật kinh hoàng Hình thái của dòng sông được nhà văn nén vào 1 thứ văn cheo leo gây chấn động mạnh vào các giác quan cảm thụ của người đọc NT có khả năng quan sát tinh tường, trí liên tưởng tuyệt vời phong phú của một ngòi bút tài hoa, uyên bác

Người đọc không chỉ ấn tượng trước Vẻ đẹp dữ dội, ẩn chứa bao nguy hiểm của thiên nhiên Tây Bắc, mà còn khâm phục ngòi bút bậc thầy, phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân

a5)- Âm thanh thác Sông Đà: Sông Đà hung bạo còn bởi tiếng nước

Nguyễn Tuân miêu tả tiếng nước từ xa đến gần Từ xa “tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên…như là oán trách…như là van xin…giọng gằn mà chế nhạo”  Ở đoạn văn này, tác giả đã huy động rất nhiều biện pháp

nghệ thuật như nhân hóa, liên tưởng, so sánh, sử dụng hàng loạt động từ mạnh khiến hình ảnh sông Đà thật ghê rợn như một nhân vật mang tâm địa hiểm ác với cái kiểu khôn khéo, ranh ma, xảo trá, 1 kẻ phách lối, ngạo mạn

Hình ảnh so sánh nhân hóa tác động mạnh đến giác quan của người đọc khiến ta như được nhìn thấy vừa lại nghe thấy tiếng nước thác dữ dội, náo động tạo thành những âm thanh dữ dằn, hung hãn

Đó như bản giao hưởng của gió, nước, thác với khúc dạo đầu có cung bậc

nỉ non, ai oán rồi bừng bừng thét lên, đỉnh điểm của cơn phấn khích đầy mạnh mẽ, man dại, áp đảo tinh thần người lái đò

NT vận dụng mọi giác quan (thính giác, thị giác…) và phát huy sức mạnh của ngôn từ để buộc sự hung tợn mà kì vĩ của SĐ phải sống dậy, phải hiện hình và gào thét trên những câu chữ

-Đặc biệt là cách liên tưởng táo bạo, tài hoa “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng … da cháy bùng bùng” Tiếng nước thác thật ấn

tượng như tiếng một ngàn trâu mộng hung hãn, điên cuồng, lồng lộn đang

bị vây hãm giữa khu rừng lửa NT với trí liên tưởng độc đáo, bắt sợi dây liên kết cầu nối ở những phạm trù đối lập, dùng lửa để tả nước, dùng rừng

để tả sông, diễn tả thật ấn tượng sức phá hoại ghê gớm của nước thác sông

Đà, gây ấn tượng mãnh liệt với người đọc về sự dữ dội, hung bạo của SĐ

NT như một phù thuỷ ngôn ngữ NT đã thành 1 nhạc trưởng của bản giao hưởng ngôn từ

a6) Sông Đà chỉ thực sự bộc lộ đầy đủ tính cách hung bạo trong cuộc giao

chiến với con người tại thạch trận Sông Đà đúng là một thủy quái xảo quyệt

- NT đã truyền sự sống cho những hòn đá vô tri vô giác, biến chúng

thành binh đá tướng đá Đội quân thạch trận hùng hậu “cả một chân trời đá”, pháo đài đá với đủ loại đá to, đá nhỏ, hòn chìm, hòn nổi, với các

tướng đá, đá tiền vệ, đá hậu vệ,… Những hòn đá SĐ đứng nằm ngồi tùy thích, nhưng dường như SĐ đã giao việc cho mỗi hòn là một tên lính thủy

hung tợn, tên nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm” sẵn sàng giao

chiến

- Cả trận địa đá với âm mưu, thủ đoạn nham hiểm “như ngàn năm vẫn mai

phục hết trong lòng sông” cố ý đợi một chiếc thuyền nào xuất hiện là

“nhổm cả dậy vồ lấy thuyền”, bày sẵn: “ba trùng vi thạch trận” và tập

Trang 4

NT có đủ tình yêu và phép thuật để

làm sự hung bạo và trữ tình của SĐ

sống dậy, trở nên kì diệu trước các

giác quan của người đọc

Không chỉ dừng lại ở đó, ngòi bút của

Nguyễn Tuân còn tập trung vào để

miêu tả cái vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng

của dòng sông Đà, nhất là đoạn sông ở

phần hạ lưu Người yêu văn nhận thấy

Đà giang hiện lên qua ngòi bút của

Nguyễn Tuân thơ mộng, lãng mạn, trữ

tình, vô cùng kiều diễm Nếu ở đoạn

văn trên, Nguyễn Tuân miêu tả con

sông Đà hung bạo với những kiến

thức nền chủ yếu là quân sự hay võ

thuật cùng những câu văn ngắn, nhiều

động từ, nhiều thanh trắc thì đến đoạn

văn này, Nguyễn Tuân chủ yếu sử

đoàn cửa tử lắt léo đánh lừa người lái đò  sự quan sát tinh tế, ngòi bút tài hoa, Nguyễn Tuân đã phát huy sức mạnh của ngôn từ, truyền sự sống cho những hòn đá vô tri vô giác

- Khi xung trận, nó giở đủ những ngón đòn hiểm độc “đánh hồi

lung, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” vừa hò la vang trời, bố trí

nhiều của tử….(chọn một số dẫn chứng về SĐ trong cuộc chiến đưa vào đoạn này)

NT sự kiến thức nhiều lĩnh vực (quân sự, võ thuật, …) để miêu tả thạch trận và trận chiến giữa con SD dữ dội, hiểm ác và ông lái đò NT đã dùng hàng loạt động từ mạnh để miêu tả sinh động sự bạo liệt của dòng song

 Sông Đà như loài thủy quái không lồ, nham hiểm, dữ tợn, từ ngàn năm vẫn gây sự với con người SĐ mang “diện mạo và tâm địa một

thứ kẻ thù số một”, sẵn sàng tước đi mạng sống của con người.NT

đã vận dụng mọi phương diện, mọi lĩnh vực để phát huy tận cùng thế mạnh của ngôn từ, buộc sự hung tợn mà kì vĩ của SĐ phải sống dậy, phải hiện hình và gào thét trên những câu chữ

Sơ kết:

Nghệ thuật: + Kết cấu trùng điệp, nhịp điệu khẩn trương, giọng văn mạnh

mẽ dồn dập, hàng loạt hình ảnh so sánh, nhân hóa, liên tưởng so sánh độc đáo,

+ Sự tài hoa, uyên bác, khả năng quan sát tinh tường, trí tưởng tượng phong phú, hệ thống từ vựng thuộc các lĩnh vực thể thao, quân sự, võ thuật

Nguyễn Tuân đã làm nổi bật tính cách hung bạo, dữ dội, hiểm ác của dòng sông Đà Nhà văn không miêu tả SĐ ở thế tĩnh mà ở thế động, buộc sự hung tợn mà kì vĩ của SĐ phải sống dậy, phải hiện hình và gào thét trên những câu chữ Với “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”,

SĐ là thách thức, mối họa khôn lường đối với con người trong hành trình mưu sinh kiếm sống Nhưng sự dữ dội ấy cũng tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ tuyệt vời của thiên nhiên Tây Bắc Ẩn sau những dòng chữ là tình yêu thiên nhiên, đất nước thiết tha của NT

b) Hình tượng Sông Đà thơ mộng, trữ tình:

SĐ không chỉ hung bạo mà còn thơ mộng, trữ tình Vẻ đẹp này của sông Đà tập trung miêu tả ở khúc hạ lưu, nơi dòng chảy êm ả, thoáng rộng, bằng phẳng Với giọng văn êm đềm, những câu văn mềm mại, trải dài như chính dòng nước SĐ quãng này, NT đã dụng công gợi ra một không gian

mơ màng, đẹp kì ảo, nguyên sơ của SĐ

B1)+ Từ trên cao nhìn xuống, Sông Đà như một giai nhân tuyệt sắc,

duyên dáng, yêu kiều với dòng chảy “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc

trữ tình, đầu tóc… đốt nương xuân”

 Câu văn giàu chất tạo hình và chất thơ Hình ảnh so sánh thi vị vừa quen thuộc vừa bất ngờ, dáng hình SĐ như áng tóc mây của người thiếu nữ vừa mềm mại, tha thướt Hai tiếng “áng tóc” thật thi vị, làm ta liên tưởng đến áng thơ, áng mây… giờ đây SĐ mang vẻ đẹp của cô gái Tây Bắc thật lãng mạn, tha thiết Từ “tuôn dài” lặp lại 2 lần như con sông đang chảy trôi bất tận giữa đại ngàn Tây Bắc

Áng tóc SĐ vừa có sắc biếc xanh của dòng nước hòa lẫn sắc trắng tinh khôi của hoa ban, sắc đỏ rực rỡ của hoa gạo, nhạt nhòa trong làn khói mùa

4

Trang 5

dụng kiến thức du lịch, kiến thức lịch

sử, kiến thức văn học với câu văn

vươn dài ra như nhịp chèo khoan thai

của thuyền tôi trôi trên sông Đà Nếu

để ý, người yêu văn hẳn sẽ nhận thấy

có đến mười bốn câu văn Nguyễn

Tuân kết thúc toàn với thanh bằng để

tạo cảm giác mênh mang mềm mại.

Cái đẹp của sông Đà, mà cũng có lẽ

cũng là nét đẹp trong tâm hồn Nguyễn

Tuân, hiện lên mỗi khác qua mỗi góc

nhìn khác nhau

+Khi nhà văn bay tạt ngang sông Đà,

từ trên cao nhìn xuống con sông…

+Và con sông Đà lại đẹp một kiểu

khác nữa, khi Nguyễn Tuân dẫn người

đọc đi xuyên rừng đến…

+Một lần nữa khi thuyền trôi ven bờ,

tác giả đã phát hiện được thêm bao

nhiêu vẻ đẹp gợi cảm của con sông.

“lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ

vào sông nước quê hương” NT

xuân Những bông hoa đang cài lên mái tóc người con gái như tô điểm thêm vẻ đẹp của dòng sông

 vẻ đẹp huyền ảo lãng mạn, trữ tình của dòng sông khiến người đọc ngỡ ngàng, đắm say Vẻ đẹp SD trong sự hòa quyện với cảnh sắc, con người Tây Bắc

(Bóng tháp hình trâm ngọc / Gương sông áng tóc huyền – Nguyễn Trãi) (Cầu cong như chiếc lược ngà / Sông dài mái tóc cung nga buông hờ)

B2) Nhìn ngắm Sông Đà ở nhiều không gian, thời gian khác nhau, NT

nhận ra vẻ đẹp đa dạng của dòng sông Màu sắc dòng sông, biến đổi theo dòng chảy thời gian của mùa:

@ “mùa xuân dòng xanh ngọc bích” dòng sông biếc xanh tươi sáng,

trong veo lấp lánh như một viên ngọc giữa đại ngàn Nhà văn phân biệt với màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô để làm nổi bật màu nước sông

Đà Trong mắt NT, SĐ mang vẻ đẹp độc nhất vô nhị (liên hệ đoạn hút nước “nước sông xanh ve….một áng thủy tinh khối đúc dày)

@ “mùa thu …mỗi độ thu về”  hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ, ấn

tượng, dòng sông chuyển màu do phù sa hay do phản chiếu cảnh sắc trời thu? Cái tinh tế của NT không chỉ thấy sự thay đổi màu nước mà còn nhận

ra sự thay đổi trong tâm trạng, tính khí của dòng sông SĐ cũng như con người có tâm trạng, tình cảm

NT đặc biệt nhấn mạnh SĐ chưa bao giờ có màu đen như bọn Tây nghĩ, dịch SĐ thành sông Đen  chỉ vài dòng văn ngắn ngủi đã thể hiện tinh thần tự hào dân tộc

 sự quan sát tinh tế, Sông Đà có vẻ đẹp đa dạng, như một mĩ nhân hiền dịu xuân sắc, một công trình tuyệt vời của tạo hóa làm nên chất men say cho sự sống của con người

B3)- Với Nguyễn Tuân “SD gợi cảm” vẻ đẹp của dòng sông gợi bao cảm xúc nỗi niềm nơi con người “Sông Đà như một cố nhân” SĐ không còn là

1 dòng chảy vô tri vô giác, mà là một người bạn của NT, gắn bó yêu mến qua bao năm tháng

Khi xa thì nhung nhớ, gần thì “đằm đằm ấm ấm”, gặp lại “vui như thấy

nắng giòn tan sau kì mưa dầm…đứt quãng”, hàng loạt hình ảnh so sánh đã

cụ thể hóa niềm vui, tình yêu mến, sự gắn bó của NT với con sông Tây Bắc lắm tật lắm chứng Gặp lại SĐ là niềm vui đầy khát khao mong đợi như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm lê thê, là niềm vui được nối tiếp niềm vui sau bao ngày xa cách, cuộc gặp gỡ SĐ đẹp như một giấc mơ

Con sông ấy có lúc lại hấp dẫn, mới mẻ “một người tình nhân chưa quen

biết”  SĐ luôn mới mẻ, hung bạo đấy rồi lại trữ tình đấy, chốc gắt gỏng

chốc lại dịu dàng, đem lại bao bất ngờ cho con người, khiến người ta khát khao, muốn tìm hiểu, để rồi nhớ mãi không quen Dòng song vô tri qua cách liên tưởng của NT thật lãng mạn, mang bao tình yêu mến, hờn giận gắn bó muôn đời với con người TB và đất nước

B4) SĐ đẹp với ánh nắng SD tinh nghịch, “loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt rồi bỏ chạy” Ánh nắng Sông Đà gợi nhớ ánh nắng

của “tháng ba Đường thi” trong câu thơ “Yên hoa tam nguyệt há Dương

Châu”- Lý Bạch  cuối xuân, dòng sông lấp lánh ánh nắng, thơ mộng như

những dòng sông trong thơ Đường Vẻ đẹp của hoa nắng vàng lung linh trên dòng sông gợi niềm cổ kính tự thuở Đường thi Cái chất thơ như ngấm vào từng cảnh sắc thiên nhiên của sông Đà (dòng sông trữ tình, sóng sánh chất thơ)

Trang 6

(so sánh âm thanh thác nước SĐ

B5)+ Một lần nữa khi thuyền trôi ven bờ, tác giả đã phát hiện được thêm

bao nhiêu vẻ đẹp gợi cảm của con sông

“Thuyền tôi trôi trên SĐ” câu văn toàn thanh bằng đẹp như 1 câu thơ Con thuyền trôi theo dòng nước, mặc cho dòng nước đưa đẩy Với giọng văn êm đềm, những câu văn mềm mại, trải dài như chính dòng nước

SĐ quãng này, NT đã dụng công gợi ra một không gian mơ màng, đẹp kì

ảo, nguyên sơ của SĐ

- Sông Đà còn quyến rũ, nên thơ với cảnh sắc hai bên bờ SĐ Gây ấn tượng đầu tiên với người nghệ sĩ là sự tĩnh lặng nhẹ nhàng: “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi” Con sông như tĩnh tại bất biến cùng thời gian và năm tháng Con sông bây giờ không hẳn chỉ là của hiện tại, nó trôi ngược về quá khứ xa xưa với sự so sánh, liên tưởng đầy bất ngờ của tác giả: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Một vẻ đẹp tĩnh lặng, cổ kính, hoang sơ thuở xưa SĐ rất nguyên sơ, không

có dấu vết của đời sống hiện đại, một vẻ đẹp bất biến cùng thời gian và năm tháng Quãng này SĐ mang vẻ đẹp hồn nhiên trong trẻo như đưa NT

và người đọc lạc vào thế cổ tích NT dùng khái niệm thời gian tiền sử, cổ tích để diễn tả cái không gian hoang dại, trong trẻo, hồn nhiên của bờ sông, tồn tại như một vĩnh hằng của tự nhiên Hình ảnh so sánh vừa lạ, vừa độc đáo Vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình như còn đó dấu tích lịch sử cha ông Câu văn như những giai điệu êm ái, trữ tình làm sống dậy vẻ đẹp của đời sống hiện đại vừa đưa người đọc trôi về những miền kí ức xa xăm của một thời vang bóng (Cảm hứng hoài cựu thường gặp trong văn NT)

Khung cảnh quá tĩnh lặng đến nỗi tác giả “Chao ôi thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên…” mơ

màng về tương lai phát triển của vùng SĐ

B6) Càng đọc, ta càng có cảm giác như tác giả đã nhập thân làm một với

cỏ cây sông nước, như say sưa mê đắm với không gian nơi đây để cho hiện dần lên trước ống kính bao vẻ đẹp sinh động “nương ngô nhú lên …như bạc rơi thoi”. Đằng sau những dáng vẻ, những thực thể, màu sắc ấy, người

ta còn thấy khung cảnh SĐ đẹp với một sức sống ngồn ngộn, tươi mới, trẻ trung đang ẩn nấp, đang ngầm sinh sôi, chuyển động, sức sống mơn mởn, căng tràn, bắt đầu mùa nảy lộc sinh sôi

Kì ảo hơn nữa là khi nhà văn như đã nghe được tiếng nói của chú hươu: “thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” cũng như dòng sông

“đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi” Và từ hiện tại, ông mơ ước đến tương lai nghe một “tiếng còi sương” hoặc “thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên” hòa nhập cùng dòng sông “lững lờ như nhớ thương” Có thể nói tâm hồn nhà văn như vỗ cánh cùng ước mơ sông Đà đẹp tươi trong ngày mới dựng xây Càng về cuối bức tranh, sông Đà càng đẹp và sống động với “áng cỏ sương”, rồi “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” và “tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến” Cảnh thiên nhiên cứ mở rộng dần bằng vẻ đẹp vừa hiện thực vừa biến ảo trong cái nhìn đắm mình trong thơ mộng của nhà văn

Sơ kết:

Đoạn văn giọng điệu mượt mà, uyển chuyển, đầy chất thơ thể hiện trí tượng bay bổng, sự quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm, cảm xúc dạt dào của tác giả đối với Sông Đà

Sự tài hoa uyên bác đã đem lại cho áng văn những trang tuyệt bút

6

Trang 7

So với khi miêu tả SĐ hung bạo

Ông lái đò Lai Châu: chèo đò, chở

da trâu, xương hổ, chè, cánh kiến về

xuôi, là nhịp cầu hàng hóa giữa

miền ngược và miền xuôi

70t ở độ tuổi “thất thập cổ lai hi”

nhưng OLĐ vẫn khỏe mạnh

Nguyễn Tuân đã dựng nên cả một không gian trữ tình, thơ mộng của dòng sông Đà khiến người đọc say đắm, ngất ngây, thêm yêu mến và tự hào với mảnh đất Tây Bắc và cuộc đời này

c) Đánh giá chung:

- Qua cách tiếp cận và miêu tả của Nguyễn Tuân, hình tượng Sông Đà để lại ấn tượng khó quên về một con sông dữ dội, hung bạo mà hùng vĩ, vừa nên thơ trữ tình Cùng với hình tượng người lái đò, Sông Đà là biểu tượng của cái Đẹp mà con người khao khát tìm kiếm Với NT thiên nhiên không thuần túy là thiên nhiên Đó là sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa, là

“chất vàng của thiên nhiên”, Cần phải trân trọng và làm phát lộ vẻ đẹp đó

- Hình tượng sống động qua những trang văn tài hoa, uyên bác Câu văn xuôi lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi, khiến người đọc say mê Nguyễn Tuân đã không quản khó nhọc quan sát, liên tưởng, vận dụng vốn từ vựng phong phú thuộc nhiều lĩnh vực hội họa, điện ảnh, võ thuật, thể thao… dồn nhiều tâm sức và tài năng để khắc họa đặc tính, vẻ đẹp của dòng sông đã ăn đời ở kiếp với người dân Tây Bắc

Thiên nhiên đã tạo nên dòng SĐ cho Tây Bắc, còn NT đã tạo cho người đọc một dòng sông đẹp độc nhất vô nhị trên trang văn của chính mình Tình yêu thiên nhiên đất nước, tinh thần dân tộc mang sắc thái riêng độc đáo của Nguyễn Tuân

(TRước CMT8, trang văn NT vẫn khao khát tìm kiếm cái đẹp của thiên nhiên, đất nước nhưng bàng bạc nỗi buồn cô đơn, càng đi càng cảm thấy thiếu quê hương Đây là nỗi niềm của một người dân sống đời nô lệ nước mất nhà tan trong XH thực dân phong kiến.

Sau CMT8, ngòi bút tài hoa uyên bác, yêu cái đẹp ấy đã khắc họa hình tượng thiên nhiên qua con SĐ trong tùy bút NLĐSĐ tràn đầy sức sống, mãnh liệt cuồn cuộn như tình yêu mến, niềm vui hi vọng, khao khát hòa nhập vào cuộc sống, gắn bó với đất nước của NT Diện mạo NT mới sau CMT8)

2.) Hình tượng người lái đò:

a) Giới thiệu chung:

-70 tuổi ở Lai Châu, hơn chục năm làm nghề chèo đò, “trên dòng SĐ ông

xuôi, ông ngược trên một trăm lần, chính tay giữ lái độ sáu chục lần”

- Ngoại hình: cái đầu bạc quắc thước, thân hình cao to gọn quánh như chất sừng, chất mun Tay ông lêu nghêu như cây sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng Giọng ông

ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông Nhỡn giới ông vòi vọi Trên ngực của ông nổi lên một số “củ nâu” thương tích trên "chiến trường Sông Đà" mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ gọi là “thứ Huân chương lao động siêu hạng". ngoại hình do nghề nghiệp tạo nên

- Trong tác phẩm NT không đặt tên riêng cho nhân vật mà dùng chính nghề nghiệp để gọi ông lái đò  dụng ý nghệ thuật, ông lái đò là biểu tượng cho người lao động bình dị mà phi thường, tâm hồn và phong thái mang cốt cách tài hoa nghệ sĩ (con nguời lao động VN trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội)

- Tính cách mạnh mẽ, kiên cường, dũng cảm, từng trải giàu kinh nghiệm

đò giang sông nước, một tay lái tài hoa

(chạy thuyền trên khúc sông không có thác nó dễ dại tay, dại chân và buồn ngủ.)

Trang 8

Sông Đà như loài thủy quái không lồ,

nham hiểm, dữ tợn, từ ngàn năm vẫn

gây sự với con người. SĐ mang “diện

mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số

một”, sẵn sàng tước đi mạng sống của

con người NT đã vận dụng mọi

phương diện, mọi lĩnh vực để phát huy

tận cùng thế mạnh của ngôn từ, buộc

sự hung tợn mà kì vĩ của SĐ phải sống

dậy, phải hiện hình và gào thét trên

những câu chữ.

Cuộc chiến không cân sức giữa con

người và thiên nhiên SĐ khí thế áp

đảo, lực lượng hung hậu (binh đá,

tướng đá, nước thác reo hò…)

b) Trong cuộc chiến đấu với con Sông Đà nơi thạch trận:

Cũng như trăm nghìn người lái đò "chèo thuyền vượt thác” khác, ông lái

đò Sông Đà này có "tay lái ra hoa” đã từng vượt qua bao trùng vây thạch

trận, giao phong sinh tử với "lũ đá nơi ải nước" Sự trí dũng, tài hoa của

người lái đò thể hiện qua cuộc đương đầu với “thạch trận” và vượt “thác dữ” sông Đà

B1) Trong cuộc chiến với con SĐ, OLĐ như một viên tướng oai phong lẫm liệt, gan dạ, kiên cường, ý chí nghị lực phi thường

* Trùng vây thứ 1: được miêu tả dài nhất

- SĐ: “Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới” Cảnh hỗn

chiến ác liệt diễn ra Những hòn đá "bệ vệ oai phong lẫm liệt” được nước

thác “reo hò làm thanh viện” liều mạng xông vào "đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền, “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà

bẻ gẫy cán chèo…”

Bằng trí liên tưởng độc đáo, kiến thức quân sự, võ thuật; các biện pháp nhân hóa, so sánh… kết hợp hàng loạt động từ mạnh  SĐ được miêu tả sinh động, một đối thủ hung hãn, tinh quái, hiểm ác, đông đảo hùng hậu, tấn công tới tấp

- Ông lái đò: bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên bởi song trận

địa" Lúc bị sóng thác đánh miếng đòn hiểm độc "bóp chặt lấy hạ bộ" đau

điếng, nhưng vị thuyền trưởng cố nén nỗi đau về thể xác, tỉnh táo sắc lạnh giữa nguy nan “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái", “trên cái chèo sáu

bơi thuyền vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái”

đưa con thuyền thoát hiểm

Vẻ đẹp của ông lái đò là sự tài ba dũng mãnh của một vị thuyền trưởng dày dạn thủy chiến Bản lĩnh chiến đấu và tinh thần dũng cảm phi thường, bình tĩnh đối mặt với hiểm nguy, tả xung hữu đột xông pha giữa sóng nước

Số câu miêu tả SĐ nhiều hơn hẳn so với người lái đò càng thể hiện rõ khí thế áp đảo của dòng sông Nhưng cuối cùng OLĐ đã chiến thắng bằng sự dũng cảm, ý chí phi thường của con người khi đối mặt với thiên nhiên dữ dội

B2) Ông lái đò còn là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, lão luyện, có trí

có mưu.

*Trùng vây thứ hai:

- SĐ Cuộc chiến ngày càng cam go, bất phân thắng bại đối thủ SĐ càng

trở nên hiểm ác, “tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh bố trí lệch về tả ngạn”,

“Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá"… Dòng sông không chịu thua, ráng tung đòn hiểm, đánh lừa con thuyền Nó vẫn muốn

núi kéo con thuyền lôi vào tập đoàn của tử

- Ông lái đò: sang vòng 2, NT miêu tả OLĐ trước thể hiện thế chủ động,

thừa thắng xông lên “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt…đổi luôn chiến

thuật” chuyển sang tấn công, chủ động vì ông là người lái đò lão luyện,

giàu kinh nghiệm

+ Am hiểu Sông Đà, nắm vững từng đặc điểm của dòng sông:“Ông đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” OLĐ lâu năm đã hiểu rõ cách

bày binh bố trận của SĐ, dù con sông hiểm ác không thể qua mắt OLĐ Nơi nào có cửa tử, của sinh Ông đều biết rõ như lòng ban jasdkjhtay của mình

(Ông hiểu biết sâu rộng và rất thành thạo, thành thạo đến mức sông

Đà “đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng Trên dòng sông Đà, ông xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái

8

Trang 9

độ sáu chục lần Cho nên ông có thể bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở.”)

+ “cưỡi lên thác SD phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” hình ảnh so

sánh thể hiện được một tình thế nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc của OLĐ

và con thuyền khi vượt thác, không còn đường lùi, chỉ còn cách tiến lên, tìm ra đường sinh trong muôn vàn cửa tử OLĐ như một anh hùng đả hổ dòng sông hùm beo hiểm ác càng làm bật tính cách anh hung của viên tướng lái đò

+ Ông đương đầu với thạch trận bằng sự từng trải và mưu trí, lão luyện,

quyết đoán:“Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước…Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” hành động quyết đoán, mạnh mẽ của viên

tướng oai phong đang chỉ huy con thuyền vượt sóng nước Ông nhanh nhẹn, thông minh, táo baọ xử lí các tình huống nguy hiểm để trấn áp con song mang “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một của con người”

+ Cách ông điều khiển con đò rất thuần thục, giỏi giang, điệu nghệ:“Nắm chặt lấy bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy” Hành động nhanh nhẹn, dứt khoát, mưu trí.

Cuộc chiến ở vòng 2 bất phân thắng bại, giằng co quyết liệt SĐ hiểm ác, càng làm bật sự lão luyện, mưu trí của OLĐ

B3) Ông có trình độ lái đò hết sức điêu luyện, thuần thục, tài hoa, là một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh.

Trong trùng vây thứ 2

+ Cách ông điều khiển con đò rất thuần thục, giỏi giang, điệu nghệ:“Nắm chặt lấy bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy” Hành động nhanh nhẹn, dứt khoát, mưu trí.

*Trùng vây thứ 3: miêu tả ngắn nhất nhưng lại nguy hiểm nhất

-SĐ: “ít cửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết cả …” Cửa sinh nằm sâu bên trong mà chỉ những người am hiểu địa thế SĐ mới biết

- Ông lái đò: “ Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được ” hình ảnh

so sánh, OLĐ tài hoa điêu luyện, khéo léo điều khiển con thuyền nhỏ bé như bay qua bao cạm bẫy của thác đá Đúng như NT ca ngợi OLĐ là “tay lái ra hoa”, đôi tay người lái đò không chỉ rắn chắc như sừng như mun mà còn khéo léo, biến công việc chèo đò nặng nhọc thành một nghệ thuật vượt thác qua ghềnh Điều này cũng thể hiện quan niện thẩm mĩ của NT

Nghệ sĩ không chỉ làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật mà bất cứ ai làm việc đạt đến trình độ thuần thục, điêu luyện, tinh vi trong chính nghề nghiệp của mình thì người đó là nghệ sĩ OLĐ là anh hùng lao động, là nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh.

Trên cái mênh mang của "Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh”, và giữa lớp lớp trùng vây thạch trận "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè", ta thấy ông lái đò quắc thước và con thuyền 6 tay chèo

đang dũng mãnh băng băng lướt qua Thác dữ không chặn bắt được con thuyền; con người đã chiến thắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên

 Qua cuộc đọ trí đua tài của ông lái đò với thần sông, thần đá nơi thác

ghềnh Đà Giang, ta thấy ông lái đò oai phong lẫm liệt như một vị danh

Trang 10

Cái tài hoa của OLĐ đã gặp cái tài hoa

của NT tạo thành những trang hoa, tờ

hoa độc nhất vô nhị.

NT cũng là 1 nghệ sĩ lao động cật lực

trên dòng sông chữ để có những trang

văn, trang hoa dâng tặng cuộc đời;

cũng từng trải qua bao khổ hạnh của

nghề văn, như con trai xót lòng vì hạt

bụi biển, để có được hạt ngọc “tròn

tướng, trí dũng song toàn, quyết đoán và quyết thắng; một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật “vượt thác qua ghềnh” Với niềm hào hứng, trí

tưởng tượng phong phú, Nguyễn Tuân đã tung vào cả cái kho ngôn từ giàu

có của mình, NT đã phát huy tận cùng sức mạnh của thủ pháp đối lập, đòn bẩy SĐ hung hãn, nham hiểm với muôn vàn cạm bẫy, còn OLĐ chỉ với con thuyền đơn độc nhỏ bé giữa thác ghềnh Con sông càng hung hãn, dữ dội, hiểm ác càng làm bật vẻ đẹp của OLĐ trí dũng, tài hoa

Thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng (SĐ là chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc), còn con người lao động Tây Bắc là “vàng mười đã qua thử lửa” trong công cuộc lao động, chinh phục tự nhiên  trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả

NT còn vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau (đặc biệt là điện ảnh, khoa học quân sự, võ thuật ) cùng những biện pháp tu từ chọn lọc (ẩn

dụ, so sánh, nhân hóa), câu văn co duỗi dài ngắn biến hóa tái hiện trận chiến ác liệt giữa con người và thiên nhiên đầy ấn tượng hấp dẫn lạ thường Cảnh vượt thác là bài ca chiến trận hào hùng

*

Nguyên nhân làm nên chiến thắng của OLĐ trước SĐ:

+ Sự ngoan cường, dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua thử thách của cuộc sống

+ Tài trí, sự hiểu biết và nhất là kinh nghiệm và tay lái tài hoa sau nhiều năm gắn bó với nghề sông nước, lên thác xuống ghềnh

+ Tình yêu lao động, cuộc sống

c) Sau cuộc chiến: Ông lái đò có một phong thái lao động và phong cách sống rất tài hoa – nghệ sĩ

-Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò còn được thể hiện trong những lúc ngừng chèo nghỉ ngơi Sau một ngày giao tranh dữ dội với thần sông, thần

đá, ông lái đò cùng các bạn chèo nghỉ trong hang đá Lúc ngừng chèo, họ chẳng bàn tán một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi "cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn” Phong thái ung dung và thanh thản, ông lái đò vừa

“nướng ống cơm lam”, vừa “bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh” Cái thanh thản ung dung, hồn nhiên giữa cuộc sống phải vật lộn từng giây, từng phút với thiên nhiên để giành sự sống về tay con người

Những câu chuyện rất đời thường nhưng phản ánh một đời sống tâm hồn gắn liền với sông nước rất dung dị, khiêm tốn, cần lao mà tài hoa, nghệ sĩ

- “Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ Sông nước lại thanh bình… Họ nghĩ thế lúc ngừng chèo” Cuộc sống của những người lái đò rất cực khổ và

hiểm nguy, luôn đối mặt với sinh tử, nhưng ông lái đò vẫn gắn bó với nghề, yêu nghề và hạnh phúc với cuộc sống giản dị, cần lao mà nghệ sĩ

d) Đánh giá:

-Bằng sự tài hoa, uyên bác, NT đã khám phá và ca ngợi sự kiên cường, dũng cảm, vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò trong cuộc chiến chinh phục thiên nhiên dữ dội Ông lái đò là một sáng tạo nghệ thuật đậm chất nhân văn, như một bài ca về lao động và sự sống

- Hình tượng Ông lái đò thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả:

+ Thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng (SĐ là chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc), còn con người lao động Tây Bắc là “vàng mười đã qua thử lửa” trong lao động chinh phục tự nhiên  trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn tất cả

+ Con người quý giá ấy lại chỉ là những ông lái, nhà đò nghèo khổ, làm lụng âm thầm, giản dị, vô danh + Những con người vô danh đó đã nhờ lao

10

Ngày đăng: 02/07/2023, 16:47

w