Nhưng ở quê tôi ngoài tivi ra thì việc tiếp cận thông tin rất khó khăn, đài truyền thanh công cộng thì có hôm nghe được có hôm không, internet thì chạy rất ì mà cũng không có nhiều, … Hi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ & TRUYỀN THÔNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐỀ TÀI:
CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
VÀ CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN
HIỆN NAY
Chủ nhiệm đề tài:
NGUYỄN AN BANG MSSV: 0663010
Giảng viên hướng dẫn:
GV PHẠM DUY PHÚC
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 04/ 2008
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG 5
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI 5
1.2 CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY 11
CHƯƠNG 2 : CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG VÀ TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CỦA CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY 20
2.1 CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN 20
2.2 TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CỦA CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY 24
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT - GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ 41
CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Ở PHÚ YÊN HIỆN NAY 41
3.1 ĐỐI VỚI NHÀ LÃNH ĐẠO - QUẢN LÍ 41
3.2 ĐỐI VỚI CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG 44
3.3 ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN 49
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từng là một sinh viên ngành Thư viện – Thông tin, và giờ đây là sinh viên Báo chí & Truyền thông những ngành học chỉ mục đích mang thông tin đến cho người khác Đồng thời tôi cũng rất thích đọc báo, nhưng mỗi lần về quê đi mua báo tôi phải rất khổ cực, có lần mua được tờ báo đọc nhưng phải đi
xa hơn 11km, có hôm đi mua 2 giờ đồng hồ mà không có một tờ báo đọc Mặt khác, tôi nhận thấy ngày nay nếu không có nhiều thông tin thì làm việc gì cũng khó Nhưng ở quê tôi ngoài tivi ra thì việc tiếp cận thông tin rất khó khăn, đài truyền thanh công cộng thì có hôm nghe được có hôm không, internet thì chạy rất ì mà cũng không có nhiều, …
Hiện tại tôi đang là sinh viên Báo chí nên tôi có ý định muốn nghiên cứu một cái gì đó về lĩnh vực học tập của mình, nhằm hiểu biết hơn giúp tôi định vị tốt hơn cho công việc sau này …
Tất cả những lý do trên cùng một số tác động khác, tôi đã quyết định thực hiện đề tài này
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, một đề tài nghiên cứu về các phương tiện truyền thông đại chúng ở Phú Yên thì hầu như chưa có Hoặc tôi chưa tìm ra, nhưng với những tài liệu tôi được đọc, tham khảo, các cơ quan tôi tìm kiếm thì chưa thấy có một
đề tài nghiên cứu vấn đề này ở Phú Yên
Trang 43 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
3.1 Mục đích
Như có trình bày ở phần lý do, thì ngoài việc giúp tôi định vị tốt hơn cho công việc sau này tôi còn muốn cung cấp thêm một tài liệu mang tính tham khảo cho các cơ quan báo chí nói chung và ở Phú Yên nói riêng
Bên cạnh đó, còn có thể cung cấp một tài liệu học tập cho các bạn sinh viên tham khảo, đặt biệt là các bạn sinh viên báo chí Đồng thời nó có thể là một tài liệu mang tính tham khảo cho các giảng viên báo chí để minh họa trong giảng dạy
Bên cạnh đó có những đề xuất - giải pháp để nâng cao hơn hiệu quả của truyền thông đại chúng ở Phú Yên hiện nay
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong quá trình nghiên cứu vấn đề
Sử dụng thống kê: thống kê các số liệu từ phiếu điều tra thói quen tiếp cận truyền thông của công chúng ở Phú Yên
Phương pháp tổng hợp: tổng hợp nhiều nguồn tài liệu và tư liệu trong quá trình thực hiện đề tài như đọc tài liệu từ sách báo, từ phỏng vấn người dân Phú Yên…
Phương pháp mô tả: mô tả công chúng truyền thông Phú Yên, các phương tiện TTĐC, nguyện vọng, sở thích của công chúng,…
Trang 5 Phương pháp so sánh: so sánh tương quan giữa các nhóm đối tượng truyền thông, cách phát hành báo so với Tp Hồ Chí Minh, … để thấy được sự khác biệt như thế nào?
Phân tích: dựa trên kết quả điều tra phân tích những hạn chế và những cái đã đạt được Thông qua đó có những đề xuất - giải pháp cho vấn đề
Phỏng vấn sâu: các vấn đề cần thiết tôi hay phỏng vấn trực tiếp
và phỏng vấn sâu vấn đề để hiểu rõ công chúng ở Phú Yên hơn, và nó cũng là nguồn tư liệu rất quan trọng cho tôi hoàn thành đề tài này
5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Chỉ là một đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, nên có một số vấn đề tôi trình bày có phần sơ lược, do nhiều lý do có thể có vấn đề các chuyên ngành khác đã làm hoặc không thuộc lĩnh vực chuyên môn,… Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu tôi chưa được học một số môn như phỏng vấn, điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu khoa học, … nên quá trình làm vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu xót
Địa bàn: Phú Yên có 8 huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh (Tp Tuy Hòa), và 873.3 nghìn dân tôi không thể khảo sát hết với khoảng thời gian ngắn để nghiên cứu Vì vậy, phạm vi chỉ đại diện và được thực hiện tại: Đại học Phú Yên, Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa, THPT chuyên Lương Văn Chánh, THPT Lê Hồng Phong, H Tây Hòa, H Phú Hòa, H Sông Hinh, H Đông Hòa, Tp Tuy Hòa Tôi xác định vùng điều tra như vậy vì theo tôi nó có
đủ các thành phần công chúng mà tôi quan tâm muốn tìm hiểu, nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: công chúng Phú Yên có khá nhiều thành phần, tuy nhiên nông dân vẫn chiếm đại đa số Nên tôi chọn hai thành phần công chúng theo nghề và theo giới tính để nghiên cứu
Các loại hình truyền thông đại chúng: tuy ở Phú Yên có khá nhiều loại hình truyền thông nhưng tôi chọn 4 loại hình tiêu biểu để hiện nay để thực hiện nghiên cứu đó là: báo in, truyền thanh, truyền hình và báo điện tử
Trang 66 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Trang 7CHƯƠNG 1 : CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH
TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Có
số dân là 873,31 nghìn người (thành thị: 20%, nông thôn: 80% số dân), mật độ trung bình 173 người/km2, là tỉnh có nhiều dân tộc chung sống với nhau với gần 30 dân tộc, người Kinh chiếm đa số Trong đó có những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên như Chăm, Êđê, Bana, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai,… Cùng với nhiều tộc người khác như Tày, Nùng, Dao, Sán, Dìu,… mới di cư vào từ phía Bắc, sống chủ yếu trên các vùng miền núi của tỉnh
Điều kiện tự nhiên:
Phú Yên có vị trí trải dài từ 120 42’36” đến
130 41’28” vĩ Bắc và từ 1080 40’40” đến 1090
27’47” kinh Đông; phía Bắc giáp Bình Định, phía
nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và
Gia Lai, phía đông giáp biển Đông; cách Hà Nội
1.160km về phía Bắc và Tp Hồ Chí Minh 561km
về phía Nam theo tuyến quốc lộ 1A
Diện tích tự nhiên là 5060,6 km2, với bờ
Trang 8Phú Yên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Và có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8 Nhiệt độ trung bình năm 26,50C; lượng mưa trung bình khoảng 1.600 – 1700mm/ năm
Tài nguyên thiên nhiên: có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh… Ngoài ra, còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hóa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300.000 tấn)…
Tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội:
Phú Yên xét về mặt tổng thể so với cả nước nói chung và các tỉnh miền Trung nói riêng thì kinh tế, văn hóa – xã hội vẫn còn chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng Tuy nhiên, trong khoảng vài năm trở lại đây tình hình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội đã có những dấu hiệu đáng mừng
1.1.2.1 Về kinh tế:
Mặc dù còn là một tỉnh nghèo, nhưng trong 5 năm (2001 - 2005), nền kinh tế Phú Yên vẫn có mức tăng trưởng khá theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp - nông thôn Với nhịp độ tăng GDP bình quân 10,7%/năm Năm 2005 thu nhập bình quân đầu người tỉnh Phú Yên đạt 6,042 triệu đồng/năm (bình quân 503 nghìn đồng/tháng), tăng 880.000 đồng so với mục tiêu Đại hội Đảng
bộ đề ra trước đó
Mục tiêu 5 năm tiếp theo, đến năm 2010 tỉnh Phú Yên phấn đấu đưa tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 13% và thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 10 triệu đồng Đến năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu 130 triệu USD, thu ngân sách địa phương 1100 tỷ đồng và giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 19,3% (2005) xuống còn 9% vào năm 20103
Hiện nay, theo báo cáo tóm tắt về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế –
xã hội, an ninh quốc phòng năm 2007 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2008: Trong
2 http://www.baophuyen.com.vn
3 http://www.baophuyen.com.vn
Trang 9năm 2007, tuy gặp nhiều khó khăn như: thời tiết nắng kéo dài, ảnh hưởng nặng
nề của bão lụt, dịch bệnh; giá cả một số mặt hàng thiết yếu tăng… Nhưng tỉnh
đã tập trung chỉ đạo tận dụng những thuận lợi, cơ hội, khắc phục khó khăn, ổn định và phát triển khá toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, có nhiều chỉ tiêu đạt và vượt mức kế hoạch HĐND tỉnh giao Cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2007 đạt :13,3%(kế hoạch: 12,5 –13%)
Trong đó, mức đạt các lĩnh vực:
+ Nông – lâm – thủy sản : 4,5% (kế hoạch : 3- 3,5%)
+ Công nghiệp – xây dựng: 19,1%(kế hoạch: 18 – 19%)
+ Dịch vụ : 14,5%(kế hoạch: 13 – 13,5%)
Nền kinh tế tỉnh ổn định và có nhiều mặt phát triển khá Đây là năm thứ
6 liên tiếp giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn tăng trên 10% và là năm đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực
Bảng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2007 so với năm 2006(Đơn vị %)
Ngoài ra, chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) năm 2007 đạt mức khá, được xếp thứ 23/64 tỉnh, thành phố cả nước Năm 2007, là năm tỉnh thu hút được nhiều dự án có vốn đầu tư nước ngoài với quy mô lớn, trong đó có dự án lên
Trang 10đến trên chục tỷ USD Lần đầu tiên thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng 25,5%4
so với năm trước Cu thể ở các mặt như sau
Bảng: Các chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch về kinh tế năm 2007
Về sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản: Vẫn còn gặp nhiều khó khăn do
ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, nhưng vẫn vươn lên phát triển ổn định Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá cố định năm 1994) là 1.416,4tỷ đồng, đạt 103,5% kế hoạch, tăng 5,5% so với năm trước Tiếp tục có bước chuyển đổi về
cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, đảm bảo
an ninh lương thực
Về Công nghiệp – Xây dựng:
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá: Giá trị sản xuất công nghiệp –
tiểu thủ công nghiệp (CN – TTCN) (giá cố định năm 1994), là 3.025,7tỷ đồng, đạt 102,1% kế hoạch, tăng 20,5% so với năm 2006 Trong năm 2007 có thêm 7
dự án công nghiệp đã hoàn thành đi vào hoạt động và thu hút thêm 13 dự án đầu tư mới, nâng tổng số đầu tư vào các khu công nghiệp (KCN) là 67 dự án, với tổng vốn đăng ký 4.140,9 tỷ đồng và 25,1 triệu USD Số lao động làm việc tại các KCN là 7.014 người, trong đó lao động địa phương chiếm 96% Doanh thu trong các doanh nghiệp trong KCN ướt đạt 1.700 tỷ đồng, nộp ngân sách 70
tỷ đồng Các dự án điện đang được tập trung đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công
Trang 11Đầu tư cho xây dựng được tăng cường: Việc ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, đã đưa công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này dần đi vào nề nếp
Năm 2007, tổng vốn đầu tư để phát triển toàn xã hội là 3.902,7 tỷ đồng, đạt 108,4% kế hoạch, tăng 20,4% so với năm trước Có thêm một số công trình
hạ tầng và dự án sản xuất đi vào hoạt động, tạo cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế của tỉnh, với tổng giá trị tài sản cố định mới tăng 1.845,6 tỷ đồng, tăng 7,2% so với trước Tuy nhiên tiến độ vẫn còn chậm
Các loại hình hoạt động dịch vụ: Đang được mở rộng và dần nâng cao
chất lượng hơn Hoạt động thương mại đã có bước phát triển, nhưng chủ yếu xuất khẩu tinh bột sắn, hàng thủy sản đạt thấp Việc huy động vốn của các chi nhánh ngân hàng vẫn tiếp tục tăng
1.1.2.2 Văn hóa – xã hội 5 :
Theo kết quả điều tra về nhân khẩu học (2006) của tỉnh cho thấy bình quân mỗi gia đình ở Phú Yên có 4,2 nhân khẩu/hộ, giảm 0,1 nhân khẩu so với năm 2004 và giảm 0,5 so với năm 1999; lao động trong độ tuổi bình quân: 2,6 lao động/hộ, tăng 0,8% so với năm 2004; số trẻ em dưới 15 tuổi bình quân là 1,07 người/hộ6
Về giáo dục, tổng số tiền chi phí cho một người đi học là 928.000
đồng/tháng (2006), tăng 33,3 % so năm 2004
“Trong những năm gần đây ở lĩnh vực giáo dục đào tạo, Phú Yên không chỉ phát triển nhanh về mạng lưới trường lớp mà còn đầu tư, nâng cấp các trang thiết bị phục vụ cho họat động dạy học và giáo dục Đây là những bước phát triển rất đáng ghi nhận trong sự nghiệp trồng người, khi thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với các tỉnh trong khu vực 7 ”
Năm 2007, cùng với đẩy mạnh cải tiến phương pháp dạy và học, triển khai cuộc vận động “chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
5
Tham khảo, kết quả điều tra, khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 tỉnh Phú Yên; báo cáo tóm tắt
về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội, năm 2007
Trang 12dục” đạt được kết quả bước đầu, được xã hội đồng tình ủng hộ Xã hội hóa giáo dục được mở rộng Đã huy động nhiều nguồn vốn tài trợ và vốn trong dân để tăng cường cơ sở vật chất phục vụ giáo dục
“Mục tiêu của ngành GD - ĐT trong thời gian đến là tiếp tục phát triển hợp lí và vững chắc quy mô đi đôi với đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục Đến năm 2010, xây dựng được 30% số trường mầm non, 70%
số trường tiểu học, 50% số trường THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia Để đạt mục tiêu này, các địa phương phải nỗ lực đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, biến giáo dục là sự nghiệp của toàn dân” 8
Về y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến triển khả quan, số bác
sĩ đạt 5,1 người/vạn dân, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi năm 2006 là 25,2% giảm 13,8% so năm 2000, chỉ tiêu bình quân cho một người khám chữa bệnh chung cho toàn tỉnh trong 12 tháng là 517.620 đồng9
Về lao động, tổng nguồn lao động năm 2006 tính cho số người 15 tuổi
trở lên có việc làm thường xuyên 483.242 người, tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 5%, giảm 1,4% so năm 2004
Thu nhập bình quân là 6,5 triệu đồng/ năm, tăng 43,7% so năm 2004 Chỉ tiêu chi tiêu bình quân một người là 362.900 đồng/ tháng (2006), tăng 5,9
so với năm 2004; chỉ tiêu một người thành thị trong một tháng là 456.120 đồng, cao gấp 1,3 lần so với nông thôn
Bảng: Thu nhập bình quân năm 2006 so với 2004 ở Phú Yên
Về phân hóa giàu nghèo: Độ chênh lệch giữa nhóm có mức thu nhập cao
nhất và nhóm có mức thu nhập thấp nhất của năm 2006 là 5,93 lần
Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Được mở rộng và chất
lượng ngày càng nâng cao, đảm bảo phục vụ nhiệm vụ chính trị và đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân
Trang 131.2 CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY
1.2.1 Báo in:
Báo in là hình thức chuyển tải thông tin mà nội dung thông tin được mã hóa bằng văn tự (gồm: chữ viết, hình ảnh, hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ,…) đến với mọi người bằng bản in Cách tiếp cận của công chúng là thông qua thị giác bằng cách đọc hiểu
Ngày nay có ý kiến cho rằng cùng sự cạnh tranh gay gắt với các loại phương tiện truyền thông khác báo in sẽ chết Tuy nhiên, với những ưu thế riêng, báo in vẫn khẳng định được vị trí của mình, như:
Người tiếp nhận (đọc) tờ báo một cách trực tiếp mà không cần những phương tiện trung gian hỗ trợ Thích hợp cho những độc giả ưa khám phá tri thức từ những dòng chữ trên trang viết, trang in
Người đọc có thể chủ động lựa chọn thông tin mà mình quan tâm
Và có thể đọc bất kì lúc nào rãnh rỗi trong ngày, ở bất kì chuyên mục nào Hoặc bỏ ngang một bài viết đang đọc nhưng cảm thấy không thích, để tìm một bài viết khác để đọc
Ngôn ngữ phổ thông phù hợp cho mọi đối tượng tiếp cận, miễn là biết đọc và nhìn thấy
Người đọc có thể dễ dàng có được tờ báo bằng cách mua ở các sạp báo, người bán báo dạo, hoặc đặt mua báo dài hạn… với giá của các nhật báo hiện nay khoảng từ 1300 đồng đến khoảng 4000 đồng
Người đọc có thể dễ dàng lưu trữ các ấn phẩm báo in và đọc lại khi nào thích, hay cần Hoặc chuyền cho nhiều người khác để đọc, … và đây là
ưu thế mà với truyền thanh hay truyền hình thì công chúng không thể làm được, hoặc rất khó làm (đối với độc giả)
Báo Phú Yên10 là tờ báo chính do Tỉnh ủy Phú Yên quản lý và bao cấp phần lớn về tài chính cho hoạt động Hiện có khoảng gần 60 cán bộ, nhân viên,
10
Tiền thân từ Báo Chiến thắng (ra số đầu tiên ngày 19 - 08 -1946, gồm 4 trang khổ 40cm X 30cm, xuất bản 1 kỳ/tuần10) Sau nhiều lần đổi tên và chia tách tỉnh (từ Phú Khánh chia thành Phú Yên,
Trang 14phóng viên tham gia hoạt động cho Báo Ngoài lực lượng trên, còn có CTV từ các địa phương trong và ngoài tỉnh cũng thường xuyên cộng tác bài vở
Báo Phú Yên từ ngày 1 /1/ 2008 bắt đầu phát hành 6 kỳ/tuần, gồm có 12 trang Và một ấn phẩm Phú Yên cuối tháng in màu11 (ra đời từ tháng 7- 1994 khổ 19cm X 27cm) Đến tháng 1- 2001, ấn phẩm này được chuyển giao cho tòa soạn tự hoạch toán về tài chính để hoạt động12 Định hướng phát triển của Báo Phú Yên là thành nhật báo vào năm 2010
Các chuyên mục của Báo Phú Yên hiện nay cũng giống như đa số những
tờ báo khác trong cả nước Trang nhất đăng những tin, ảnh quan trọng, hoạt động của Đảng - Chính quyền Trang hai, trang ba đăng các tin tức thời sự Các trang tiếp theo đăng các chuyên mục như pháp luật, văn hóa - nghệ thuật, hôn nhân - gia đình, góc trẻ, thể thao, quốc tế, …
Báo in Phú Yên là tờ báo Đảng do Tỉnh ủy Phú Yên quản lý và bao cấp cho hoạt động, nhưng với tiềm lực và thực lực hiện tại cùng với việc không ngừng tăng lên về số kì báo/tuần và số bản in/kì qua các giai đoạn đã cho thấy đây không phải là một tờ báo Tỉnh vào loại nhỏ:
Bảng: Sự gia tăng số kì/tuần Báo Phú Yên từ 1989 – 2008
Khánh Hòa), ngày 1 - 7 – 1989, báo có Tòa soạn riêng và mang tên Báo Phú Yên cho đến nay Số báo đầu tiên ra ngày 4 - 7 - 1989, phát hành 2 kỳ/ tuần, theo khổ lớn như Báo Nhân Dân, với lượng phát hành khoảng trên 5000 tờ/kỳ, sau đó giảm dần xấp xỉ 2.000 tờ/kỳ.
11
Từ khi ra đời từ tháng 7- 1994 đến trước tháng 1 - 2001, ấn phẩm này vẫn được bao cấp về tài chính
12
Đến nay, ấn phẩm hoạt động đã có lời từ bán và quảng cáo, xuất bản vào ngày 25 hàng tháng
Trang 15Bảng: Sự gia tăng về số lượng bản in/kì Báo Phú Yên
qua các thời kì từ 2000 – 2007
Năm 2007 Báo Phú Yên tăng nhanh về số lượng là kết quả của việc đổi mới về nội dung tin bài lẫn hình thức thể hiện và số kì báo/tuần Đó là các PV, CTV đã có mặt và đưa tin kịp thời đưa tin các sự kiện nóng mà dư luận quan tâm, góp phần điều tra và phanh phui các vụ tiêu cực trong tỉnh Tất cả những điều đó đã thu hút được một lượng bạn đọc đông hơn
Báo Phú Yên trong thời gian 7 năm tăng lượng phát hành tăng lên 1,53 lần là một tín hiệu khá lạc quan cho một tờ báo tỉnh Tuy nhiên, với 4600 tờ/kì (năm 2007) chỉ mới chiếm khoảng 0,52% số dân (873.3 nghìn người) toàn tỉnh thì vẫn là một con số khiêm tốn
Mặc khác người viết cho rằng, về nội dung tin bài thì báo Phú Yên vẫn còn chưa hấp dẫn để kéo độc giả đến với tờ báo: Bài viết nhiều khi thiếu tính thời sự, cách viết khô cứng, nặng nề, xuôi chiều, lệ thuộc nhiều vào các tài liệu dạng văn bản, bài viết không xem xét đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề,… Còn theo nhà báo Quốc Khương _ Trưởng phòng Thư kí tòa soạn Báo Phú Yên, những nguyên nhân cơ bản mà báo tỉnh vẫn chưa đi sâu vào công chúng là do: nội dung hẹp chỉ trong tỉnh là chủ yếu; bài vở đăng các chính sách mang nặng tính chính trị, tuyên truyền,…; lực lượng làm báo không tinh nhuệ như báo Tuổi trẻ, Thanh niên, …; nguyên nhân nữa là lực lượng bán, phát hành báo đến các địa phương chưa được tổ chức tốt …
Bên cạnh đó sự xuất hiện của các tờ báo của Tp Hồ Chí Minh phong phú về nội dung lẫn về hình thức thể hiện mà giá tiền vẫn bằng giá tiền báo tỉnh thậm chí rẻ hơn, nên việc cạnh tranh của báo tỉnh quả là một thách thức
tờ/kì)
Trang 16Ngoài Báo Phú Yên là tờ báo chính do tỉnh phát hành thì ở Phú Yên hiện nay còn có các tờ báo: Đời sống Học đường, tạp chí Văn nghệ Và nhiều tờ báo khác: Tuổi trẻ, Thanh niên, Pháp luật, An ninh Thế giới, Công an, Giáo dục Thời đại, Mực tím, Hoa học trò, Nhân dân,… và một số báo chuyên ngành khác phát hành Đây là một thuận lợi cho độc giả của báo in tại Phú Yên Theo khảo sát thực tế việc phát hành, bán báo tại Phú Yên hiện nay thì người có nhận xét chung như sau:
Việc phát hành báo thường chậm, số lượng còn ít, nên không đảm bảo tính liên tục cho đôc giả có ngày có thì ngày không _ đây là thiệt thòi cho những đôc giả chuộng một mặt báo nhất định nào đó
Hoạt động bán báo ở Phú Yên còn rất hạn chế, hầu như chỉ tập trung nhiều tại Tp Tuy Hòa, tiếp đến là các thị trấn hoặc trung tâm các huyện,
xã Bưu điện thì cũng chỉ có các bưu điện lớn tại các điểm trung tâm của huyện, thị trấn mới có bán nhiều mặt báo nhưng thường trưa mới có báo, trong khi so với Tp Hồ Chí Minh thì 6 giờ sáng người ta đã có thể đọc xong một tờ báo trước khi đi làm
Do những hạn chế như trên cùng với thu nhập của người dân còn thấp và
do tính chất công việc (phần lớn người dân Phú Yên là làm nông) dẫn đến người đọc báo in ở Phú Yên hiện nay vẫn còn rất hạn chế
1.2.2 Phát thanh - Truyền hình:
Là loại truyền thông báo chí mà thông tin chuyển tải đến mọi người được mã hóa bằng văn tự, âm thanh, đặc biệt là hình ảnh (tivi) Con người tiếp nhận bằng thính giác và thị giác thông qua thiết bị thu và phát lại sóng truyền thanh, truyền hình
Ở Phú Yên hiện nay thì truyền thanh cùng với truyền hình là hai loại truyền thông được ưa chuộng nhất do có những ưu thế:
+ Đối với truyền thanh:
Là phương tiện có thể thực hiện tối đa khả năng “âm thanh thuần túy”
Trang 17 Người nghe không bị phân tán về tư tưởng bởi con chữ hay hình ảnh, và có thể vừa làm việc vừa nghe đài …
Tiếp nhận thông tin qua truyền thanh có thể góp phần làm tăng trí tưởng tượng của người nghe …
Ai cũng có thể sử dụng nó được miễn không bị khiếm thích (tức
là nghe được giọng nói)
+ Đối với truyền hình:
Người xem truyền hình là người chứng kiến trực tiếp các sự kiện,
dễ mang lại cảm xúc cho người xem hơn nên dễ tạo nên hiệu ứng ở người xem
Chất lượng, tốc độ thường nhanh hơn các loại phương tiện truyền thông khác
Nhờ có hình ảnh trực quan qua các đoạn phim mà thông tin có thể ở lại trong trí nhớ người xem nhiều, dù đối tượng xem là trẻ em hay người lớn
Có nhiều chương trình: tin tức thời sự, các gamshow, phim ảnh giải trí,… dễ dàng lựa chọn chương trình mình thích để xem
Ngoài ra, truyền thanh và truyền hình được ưa chuộng ở Phú Yên hiện nay một phần cũng là do thích hợp với thời gian, công việc và thu nhập của người dân nông thôn (dân số nông thôn 80%) Với PT và TH thì cùng một thời điểm trong ngày người nghe đài, xem tivi có thể dò tìm để nghe và xem những chương trình mình thích ở nhiều đài khác nhau Khi người dân mua một máy radio hay một cái tivi thì có thể xem được tin tức hoặc chương trình mình thích hằng ngày; hoặc đã có đài truyền thanh ở địa phương để nghe mỗi ngày Từ đây, PT – TH đã khắc phục những khó khăn khi muốn mua, đọc một tờ báo in như hiện nay ở tỉnh
Nói về các phương tiện truyền thông ở Phú Yên hiện nay thì truyền thanh có thể nói là phương tiện đi sâu sát vào công chúng nhất Truyền thanh
đã có mặt tại hầu hết các địa phương từ vùng sâu vùng xa trong toàn tỉnh13
13
Với mục tiêu nâng diện phủ sóng phát thanh đạt 95% địa bàn tỉnh vào cuối tháng 9/2004 Đài phát thanh Phú Yên đã triển khai dự án đầu tư phát triển hệ thống truyền thanh_ xây dựng 24 đài truyền thanh các xã miền núi
Trang 18Đến năm 2005, sóng của đài Phát thanh Phú Yên (VOP) và hệ thống các đài truyền thanh trong tỉnh đã phủ đến hơn 95% địa bàn dân cư trong tỉnh14 và
mở rộng sang các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Khánh Hòa…
Từ ngày 1- 4 - 2005, VOP phát sóng trên tần số FM – 96 MHz, bắt đầu
từ 5 giờ 30 phút đến 22 giờ hàng ngày15, tăng 3 giờ 15 phút so với trước, trong
đó có tiếp âm chương trình tiếng Chăm VOV4 của Đài Tiếng nói Việt Nam (gồm các chương trình từ 6 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút hàng ngày) Cùng với sự gia tăng thời lượng phát sóng, đó là VOP thực hiện nhiều cải tiến trong thực hiện các chương trình, chuyên mục, chuyên đề phát thanh địa phương để ngày càng hấp dẫn người nghe hơn
Đài Truyền hình khu vực Phú Yên (PVTV), là đơn vị trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam, được thành lập trên cơ sở Đài Truyền hình Phú Yên (thành lập năm 1989), theo Quyết định số 123/QĐ-TT ngày 22/ 8/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ PVTV Phát sóng hai kênh là kênh 7 và kênh 9 Đài có nhiệm vụ sản xuất, khai thác chương trình tại các tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng) cung cấp cho Đài Truyền hình Việt Nam phát trên các kênh VTV và phát sóng khu vực PVTV PVTV có thời lượng phát sóng các chương trình khoảng 21,5 giờ/ngày(1290 phút) (bao gồm truyền hình địa phương và tiếp sóng chương trình truyền hình quốc gia), bằng ngôn ngữ Tiếng Việt Tuy nhiên, việc phủ sóng của Truyền hình Phú Yên đến các vùng miền trong tỉnh hiện vẫn còn hạn chế so với Truyền thanh, do chưa thể phủ sóng tốt cho các địa phương ở vùng cao miền núi của tỉnh
Với kinh phí trên 3 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh, dự án đã hoàn thành việc xây mới 20 đài và nâng cấp 4 đài ứng dụng công nghệ mới phát sóng FM và cụm loa không dây tại các xã thuộc huyện Sông Hinh, Sơn Hòa, Tuy An và Tuy Hòa (cũ) Trong dự án, Đài phát thanh Phú Yên cũng đã hoàn thành đợt đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho trên 100 cán bộ phụ trách vận hành, thông tin trên đài truyền thanh cấp
Trang 191.2.3 Báo điện tư (PYO):
Báo điện tử là loại hình truyền thông hoạt động nhờ vận dụng thành tựu của khoa học kĩ thuât chủ yếu về máy tính và mạng máy tính (internet) Có thể nói, báo điện tử là loại hình truyền thông báo chí toàn diện nhất, bởi nó tập hợp đầy đủ các ưu điểm của các loại phương tiện truyền thông khác (báo in, phát thanh, truyền hình,…)
Internet có mặt ở Việt Nam vào tháng 11/ 1997, nhưng nó chỉ mới thực
sự được ứng dụng, khai thác phổ biến và hiệu quả trong những năm đầu thế kỉ
21 này Nhưng hiện nay nó đã hình thành nên một “siêu xa lộ thông tin” trên toàn cầu, gần như đáp ứng mọi yêu cầu về thông tin của con người trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Mà thao tác để tìm kiếm thông tin thì thật đơn giản, chỉ cần vài cái click chuột trên công cụ tìm kiếm của trang
www.google.com.vn hay của wikimedia hay yahoo… và gõ các kí tự cần tìm thì
người sử dụng có thể tìm được hầu hết thông tin mình cần
Ở Phú Yên hiện nay cùng với báo viết, Báo Phú Yên điện tử16 (PYO) đang trở thành một kênh thông tin đối ngoại quan trọng của tỉnh, được bạn đọc khắp nơi đón nhận Với hình thức thông tin trực tuyến, chú trạng hình ảnh, PYO đã phát huy được ưu thế nhanh chóng, lan tỏa rộng vượt không gian, được bạn đọc tin cậy Tính đến giữa tháng 12/ 2007, sau gần 2 năm chính thức hoạt động trên mạng toàn cầu, lượng bạn đọc của báo đã là 2,5 triệu lượt, tăng 2 triệu lượt so với đầu năm và gấp 4 lần so với năm đầu tiên họat động Kể từ cuối tháng 11 đến nay (tháng 2 - 2008), mỗi ngày PYO đón trên dưới 13.000 lượt bạn đọc17 truy cập
Theo thống kê số lượt bạn đọc truy cập vào Website http://www.baophuyen.com.vn không ngừng tăng lên như vậy, là một tín hiệu đáng mừng Song theo ý kiến riêng tôi khi khảo sát về mạng lưới và việc sử dụng internet của công chúng ở tỉnh thì đó quả là một điều đáng buồn
Trang 20+ Về các điểm truy cập internet ở một số huyện Tây Hòa, Đông Hòa, Phú Hòa, và Tp Tuy Hòa mạng lưới internet tập trung chủ yếu là ở Tp Tuy Hòa, tiếp theo là trung tâm của các huyện, xã, và dọc các tuyến đường lớn trong tỉnh Thậm chí ở khá nhiều xã không hề có một điểm truy cập internet nào ngoài điểm BĐVH xã
Hiện nay các điểm BĐVH hầu như đều có nối mạng internet, tuy nhiên qua khảo sát tại 3 điểm BĐVH trong tỉnh (Bưu điện: Nguyễn Huệ _ Tp.Tuy Hòa, Phú Thứ _H Tây Hòa, xã Hòa Thịnh _ H Tây Hòa), thì chỉ có Bưu điện Nguyễn Huệ là hoạt động tốt nhất Còn hai điểm Bưu điện còn lại thì ngược lại, tại Bưu điện Phú Thứ (Bưu điện vào loại lớn của huyện Tây Hòa) thì có khoảng 10 chiếc máy tính nhưng hầu hết chỉ nằm nghỉ đông chứ không dùng được, hoặc không hề dùng đến từ lâu; còn tại Bưu điện xã Hòa Thịnh (một xã miền núi), có 5 máy tính nối mạng nhưng cũng chỉ 2/5 máy là sử dụng được Còn internet tại gia đình thì với người dân Phú Yên hình như vẫn còn là chuyện rất xa vời Vì ngay cả việc mua máy tính cho con học vi tính ở cấp phổ thông vẫn còn chưa thể thực hiện, thì nói chi nối mạng internet Mặc khác, trình độ tin học - vi tính của người dân tại các huyện, xã trong tỉnh trung bình còn rất thấp, đường truyền chuyên dụng internet vẫn chưa về được các địa phương (nhiều nơi phải dùng đường truyền điện thoại để nối mạng)
+ Khi khảo sát tại các điểm mà có nhiều người truy cập thì đối tượng chủ yếu là HS-SV, Thanh-Thiếu niên Mục đích sử dụng internet chủ yếu là để Chat và chơi Game online là chủ yếu, còn việc đọc báo điện tử thì đối với những đối tượng này vẫn còn là chuyện của tương lai
Nhận định về PYO hiện tại của riêng tôi: Mới mẻ, phát triển nhanh, số người truy cập liên tục tăng Tuy nhiên theo tôi số người sử dụng Báo Điện tử chủ yếu là những người đang làm việc ngoài tỉnh, và công chức trong tỉnh là thành phần chủ yếu chứ người dân thì vẫn chưa tham gia nhiều vào diễn đàn này … Tuy nhiên đây sẽ là loại hình truyền thông hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai
Nhận định chung về các phương tiện truyền thông ở tỉnh Phú Yên hiện nay: Ở Phú Yên hiện nay có đầy đủ các loại hình phương tiện truyền thông chủ
Trang 21yếu (Báo in, Phát thanh - Truyền hình, Báo Điện tử), phục vụ cho công tác thông tin - tuyên truyền, giám sát - quản lí xã hội, giáo dục - chuyển giao - phát
triển văn hóa, thư giãn - giải trí,… Ngoài ra, truyền thông còn là một chiếc cầu
nối liền các châu lục, thu hẹp khoảng cách không gian về địa lí; giúp cho mọi người theo dõi nắm bắt tin tức thời sự hằng ngày trên thế giới; cũng đem lại rất nhiều kiến thức bổ ích cho cuộc sống - sinh hoạt - học tập - sản xuất, kinh doanh… Góp phần làm tiến bộ xã hội Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát thói quen tiếp cận truyền thông kết hợp phỏng vấn sâu (công chúng), thì nhận thấy điểm chung về hoạt động truyền thông ở Phú Yên hiện nay, vẫn còn những hạn chế cơ bản cần khắc phục:
Báo in của tỉnh nội dung vẫn chưa sâu, tính chiến đấu còn hạn chế, mang nhiều nặng tính tuyên truyền, ngôn ngữ vẫn chưa thật trong sáng Các chuyên mục nhiều nhưng chưa thật sự tinh, độ sâu trong khai thác các chủ
đề còn hạn chế, …
Phát thanh - Truyền hình thời lượng phát sóng chương trình luôn tăng lên qua các thời kì nhưng nhìn chung vẫn chưa hiệu quả Còn thiếu những chương trình thực sự mang tính giáo dục, tính chuyên nghiệp khi thực hiện các chương trình chưa cao, …
Báo điện tử PYO thực chất là tờ báo in Phú Yên được copy bài
vở lên là chủ yếu (khoảng 70% bài vở từ báo in của tỉnh) và đang hoạt động trong một phòng chung với phòng Thư kí tòa soạn báo in Theo tôi, như vậy không ổn mà cần tách biệt ra thành một phòng chuyên biệt và hoạt động như một tờ báo điện tử thật sự: có doanh thu, có tổ chức bài vở theo cách một tờ báo online, có đội ngũ phóng viên làm việc chuyên biệt ở bộ phận này, …
Trang 22CHƯƠNG 2 : CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG VÀ TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CỦA CÔNG CHÚNG TRUYỀN
THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY
2.1 CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN
Phú Yên có gần 30 dân tộc anh em chung sống với nhau Có những dân tộc đã sống lâu đời ở Phú Yên, nhưng cũng có một số dân tộc mới di cư vào, cho nên vấn đề ổn định đời sống, phát triển kinh tế, phát triển các hoạt động văn hóa tinh thần là một nhiệm vụ cần thiết nhằm làm cho khoảng cách giữa các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau hơn Trong đó, phát triển các hoạt động văn hóa tinh thần nói chung và hoạt động TTĐC nói riêng là một hoạt động thuộc văn hóa tinh thần và rất được công chúng quan tâm
Để phục vụ ngày càng tốt hơn các hoạt động về văn hóa tinh thần ấy, thì việc tìm hiểu các đặc điểm về công chúng là đối tượng phục vụ của TTĐC
là rất cần thiết Dưới đây là kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm của công chúng tỉnh Phú Yên
2.1.1 Giới tính
Bảng: Tỉ lệ giới tính tỉnh Phú Yên và cả nước(đơn vị: %)
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Theo Tổng cục Thống kê cuối năm 2006, thì giới tính tỉnh Phú Yên và
cả nước có sự chênh lệch giống nhau Cụ thể, tỉ lệ nữ giới ở Phú Yên chiếm tỉ
lệ cao hơn tỉ lệ nam giới (Nam: 49.1%, Nữ: 50.9%)18
Trang 23Khi tiến hành phát phiếu điều tra thói quen tiếp cận truyền thông của công chúng tỉnh Phú Yên hiện nay thì kết quả cũng cho thấy sự chênh nhau giống tỉ lệ này Cụ thể, trong số 226 thu lại hợp lệ thì có 132 phiếu điều tra là giới tính nữ (chiếm 58.4%), và 94 phiếu là giới tính nam (chiếm 41.6%)
Về cách tiếp cận truyền thông và chuyên mục mà công chúng truyền thông ở Phú Yên quan tâm:
+ Mức độ quan tâm các chuyên mục của công chúng truyền thông ở Phú Yên:
Bảng: Chuyên mục CCTT ở Phú Yên quan tâm
+ Cách tiếp cận truyền thông: Mức độ quan tâm loại hình TTĐC mỗi ngày có sự khác biệt theo giới tính Loại hình truyền thông được ưa thích nhất
là tivi, tiếp đó là báo in, nghe đài, và báo điện tử Qua khảo sát 132 phiếu là nữ
và 94 phiếu nam giới nhận được kết quả:
Bảng: Mức độ quan tâm tiếp cận truyền thông theo giới tính (đơn vị:%)
Trang 24Qua khảo sát cho thấy sự chênh lệch nhau về tỉ lệ thích và không thích tiếp cận các PTTT giữa hai nhóm giới tính là không nhiều, chỉ có nam giới thường xuyên độc báo hơn (90.4 so với 87.1%), còn nữ giới thì có mức độ xem tivi thường xuyên hơn (100.0% so với 92.6%), nhưng sự chênh lệnh không đáng
2.1.2 Độ tuổi
Ơ đề tài này tôi chọn độ tuổi nhỏ nhất là 16 để khảo sát, theo tôi ở độ tuổi này mọi người dân (công chúng) họ đã có thể chịu mọi hành vi mình làm trước pháp luật Đồng thời với độ tuổi này thì người dân ở Phú Yên họ có thể làm việc và tự đảm bảo cuộc sống cho bản thân về mọi mặt… cho nên ngoài việc nghe đài, xem tivi để giải trí, họ bắt đầu quan tâm nhiều hơn về các vấn đề chính trị - xã hội Và việc tiếp cận các phương tiện truyền thông như một kênh thông tin hữu ích nhất đối với họ
Bảng: Tỉ lệ các nhóm tuổi của dân số Phú Yên năm 2006
(Nguồn: UBDS bà mẹ và trẻ em tỉnh Phú Yên)
2.1.3 Nghề nghiệp
Theo kết quả điều tra, khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 tỉnh Phú
Yên: “Tổng nguồn lao động năm 2006 tính cho số người 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên là 483.242 người, tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 5%, giảm 1,4% so năm 2004”19 Nghề nghiệp chính của người dân Phú Yên vẫn là nông – lâm – ngư nghiệp Hiện nay đã có các khu công nghiệp đang hoàn thiện
và đi vào hoạt động nhưng chỉ mới bước đầu di chuyển dần lao động sang lĩnh vực công nghiệp làm công nhân
19 http://www.baophuyen.com.vn
Độ tuổi
Từ 0 – 15 tuổi
Từ 16 – 49 tuổi
Trên 50 tuổi
Trang 25Việc sử dụng quỹ thời gian lao động của nông dân Việt Nam nói chung vẫn chưa cao Ngoài các thời điểm là mùa vụ nông dân sử dụng tuyệt đối thời gian có thể trong ngày, các thời điểm khác trong năm nông dân chỉ sử dụng khoảng 80% thời gian lao động mỗi ngày (nghĩa là khoảng 6,4 giờ mỗi ngày so với 8 giờ theo giờ hành chính), thời gian còn lại là nông nhàn
Phú Yên có 80% dân số sống ở nông thôn, nghề chính của họ lại là nông – lâm – ngư nghiệp, cộng với việc các ngành nghề chưa được đa dạng như hiện nay thì cũng không nằm ngoài quỹ đạo trên Chính vậy mà thất nghiệp và thiếu việc làm khá nhiều dẫn đến thu nhập hàng năm thấp Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận truyền thông của công chúng
2.1.4 Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người ở Phú Yên có tăng hàng năm nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với bình quân thu nhập cả nước (thu nhập cả nước năm 2007: 835.9 USD, khoảng 13.4 triệu đồng/ năm )
Theo kết quả điều tra năm 2007, thu nhập bình quân đầu người trong một năm ở Phú Yên là 6.490.800 đồng (số liệu: 10/2007), tăng 43,7% so năm 2004; bình quân mỗi năm tăng 14,6% Chi tiêu bình quân một người trong một tháng là 362.900 đồng, tăng 5,9 lần so với năm 2004; chi tiêu một người thành thị trong một tháng là 456.120 đồng, cao gấp 1,3 lần so với nông thôn
Thu nhập thấp là một thử thách thật sự đối với đời sống của người dân Khi không có nhiều tiền cho mọi sinh hoạt cơ bản hàng ngày thì người dân phải làm việc để trang trải cuộc sống là điều tất nhiên Vì vậy, sẽ làm hạn chế đi nhiều đến việc quan tâm đến tiếp nhận truyền thông
2.1.5 Trình độ văn hoá
Theo kết quả điều tra về nhân khẩu học năm 2007 cho thấy bình quân
mỗi gia đình ở Phú Yên có 4,2 nhân khẩu/hộ Tổng số tiền chi phí cho một ngườiđđi học là 928.000 đồng/tháng, tăng 33,3 % so năm 2004
Nếu nhìn vào hai kết quả điều tra trên của năm 2006 và so sánh với thu nhập đầu người, thì chúng ta có thể thấy được một thực tế buồn về đầu tư cho học vấn của tỉnh Phú Yên Mức đầu tư cho người đi học là 928.000 nghìn
Trang 26đồng/tháng là không nhiều nhưng cao hơn mức thu nhập bình quân khá nhiều nên còn rất nhiều HS-SV phải bỏ học giữa chừng hoặc không thể đi học Mặc dù theo kết quả điều tra nhân khẩu học cho cho thấy năm 2006 có giảm 0,1 nhân khẩu so với năm 2004 và giảm 0,5 so với năm 1999, nhưng như vậy vẫn còn quá chậm so với thực trạng kinh tế và mức tăng trưởng kinh tế hiện tại
Khi trình độ học vấn cao thì nhu cầu tham gia, tiếp cận, sử dụng truyền thông sẽ nhiều hơn cho các mục đích khác nhau Đồng thời nâng cao tầm hiểu biết và tầm nhìn về văn hóa Nhưng với thu nhập thấp như hiện tại dẫn đến hạn chế về nâng cao trình độ học vấn và trình độ văn hóa, một phần ảnh hưởng trực tiếp đến tiếp cận truyền thông
2.2 TIẾP CẬN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG CỦA CÔNG CHÚNG TRUYỀN THÔNG Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY
Đối tượng khi tiến hành cuộc khảo sát thói quen tiếp cận với truyền thông của công chúng ở Phú Yên, tôi phân ra hai nhóm là HS – SV và những người làm nghề khác (nông dân, công nhân, cán bộ công chức, kỹ sư, giáo viên,…) Tôi phân ra thành hai nhóm như vậy vì như trình bày ở chương 1, dân
số Phú Yên tập trung ở nông thôn là chủ yếu (hơn 80%), nghề nghiệp chính nông – lâm –ngư nghiệp, tiếp xúc với báo in và báo điện tử rất khó khăn chủ yếu nghe đài và xem tivi Ngược lại, HS – SV họ lại có điều kện tiếp xúc tiếp xúc thường xuyên với báo in và internet, sự khác biệt này thể hiện rất rõ
Hiện tại, Phú Yên ngoài 4 loại hình truyền thông đại chúng chủ yếu mà tôi chọn khảo sát, còn có nhiều loại hình truyền thông khác: điện thoại, phương tiện in ấn, phim ảnh, … nhưng còn hạn chế về phạm vi hoạt động Đáng nói nhất là Đài Truyền hình khu vực Phú Yên (thành lập năm 2001) có phạm vi hoạt động phát sóng khá lớn, với phần lớn các tỉnh Nam trung Bộ và Tây Nguyên; Đài Truyền thanh phủ sóng được hơn 95% địa bàn tỉnh; báo Phú Yên ngày càng lớn mạnh cả về số lượng phát hành, số kì báo/tuần lẫn phạm vi hoạt động và đang hướng đến trở thành nhật báo năm 2010; mạng lưới internet đang được phát triển rộng khắp dần về vùng nông thôn, vùng xa tuy nhiên còn chậm
Trang 27Phạm vi thực hiện: khảo sát được thực hiện tại: Đại học Phú Yên, Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa, THPT chuyên Lương Văn Chánh, THPT
Lê Hồng Phong, H Tây Hòa, H Phú Hòa, H Sông Hinh, H Đông Hòa, Tp Tuy Hòa Tôi xác định vùng điều tra như vậy vì theo tôi nó có đủ các thành phần công chúng mà tôi quan tâm muốn tìm hiểu, nghiên cứu
Trong 226 phiếu khảo sát hợp lệ, với câu hỏi ông (bà) có thích đọc báo, nghe đài, xem tivi, xem báo trực tuyến mỗi ngày không? kết quả thu được
Bảng:
Thói quen
tiếp cận
TTĐC của công chúng TT Phú Yên
Qua kết quả khảo sát cho thấy báo in và truyền hình là hai loại hình công chúng thích sử dụng nhiều nhất (chiếm 97.3%), truyền thanh dù đã được phủ sóng hơn 95% địa bàn tỉnh nhưng số người sử dụng chưa cao (85%) Mức
độ sử dụng internet của người dân, nhìn chung thấp Với internet, ngoại trừ HS – SV là thành phần tiếp xúc nhiều với internet, trong 164 HS - SV được khảo sát có 87 người thường truy cập internet để đọc báo (chiếm 53.0%); tỉ lệ này thấp hơn nhiều đối với những người làm trong ngành nghề khác nói chung, trong 62 người làm nghề khác nói chung được khảo sát chỉ có 25 người thường truy cập internet để đọc báo trực tuyến (chiếm 39,1%)
Số người không đọc báo trực tuyến (%)
Trang 28Bảng: Tỉ lệ truy cập internet để đọc báo trực tuyến
giữa hai thành phần công chúng
2.2.1 TIẾP CẬN VỚI BÁO IN
Báo in với những ưu điểm của mình: Người tiếp nhận (đọc) tờ báo một cách trực tiếp mà không cần những phương tiện trung gian hỗ trợ Thích hợp cho những độc giả ưa khám phá tri thức từ những dòng chữ trên trang viết, trang in Người đọc có thể dễ dàng lưu trữ các ấn phẩm báo in và đọc lại khi nào thích, hay cần Hoặc chuyền cho nhiều người khác để đọc, … và đây là ưu thế mà với truyền thanh hay truyền hình thì công chúng không thể làm được, hoặc rất khó làm (đối với độc giả) Dưới đây là kết quả thống kê về công chúng truyền thông (CCTT) ở Phú Yên tiếp cận với báo in
2.2.1.1 Nguồn báo và mức độ đọc báo
Theo thống kê cho thấy nguồn báo chủ yếu nhất cung cấp cho công chúng Phú Yên là từ bưu điện (chiếm 46%), so với Tp Hồ Chí Minh _ nơi có hoạt động báo chí sôi động nhất phía Nam, điều này có vẻ ngược lại hoàn toàn Theo tôi nhận thấy thực tế ở Tp HCM các sạp báo là nơi cung cấp nguồn báo chủ yếu cho công chúng Tôi nghĩ, đây là một khó khăn cho người đọc báo Phú Yên, vì thường các bưu điện cung cấp báo rất muộn: BĐ tỉnh và BĐ Nguyễn Huệ tại Tp Tuy Hòa là hai bưu điện có báo sớm nhất buổi sáng, nhưng sau 7 giờ sáng mới có báo Vào giờ này trong ngày HS – SV đã vào lớp học, các công sở đã bắt đầu làm việc cho nên là một trở ngại thật sự cho những người thích đọc báo in và có theo quen theo dõi tin tức thời sự từ báo in Bởi vì như vậy thì đọc báo không phải là một bữa ăn tinh thần, hay là một hình thức giải trí vào mỗi buổi sáng_là đọc báo, …
Trang 29Bảng: Nguồn báo công chúng Phú Yên chọn đọc
Mức độ thích đọc báo của CCTT ở Phú Yên rất cao có 220/226 người
trả lời thích đọc báo, chiếm 97.3% Tùy theo thành phần công chúng, họ có một
mức độ tiếp cận TT khác nhau HS – SV và nam giới có mức độ đọc báo hàng ngày cao hơn những người làm nghề khác nói chung và nữ giới, tương ứng là 97.0% và 90.4%, so với 72.6% và 87,1%
2.2.1.2 Thời gian và cách thức đọc báo
Với câu hỏi ông (bà) dành thời gian cho việc đọc báo mỗi ngày thường
là bao nhiêu? Nhận được một kết quả thống kê như sau:
Thời gian
Ít hơn 30phút
Ít hơn 1 giờ
Ít hơn 2
Trang 30Bảng: Thời gian cho việc đọc báo mỗi ngày thường (đơn vị: %)
Thống kê trên cho thấy công chúng ở Phú Yên dành thời gian cho đọc báo rất ít, mặc dù số người trả lời thích đọc báo mỗi ngày rất cao Có một tỉ lệ khá cao chiếm 47.8%, nhưng đây là tỉ lệ thời gian đọc báo ít hơn 30 phút mỗi ngày Tỉ lệ giảm dần so với các khoảng thời gian tăng lên ít hơn 1 giờ, ít hơn 2 giờ, và hơn 2 giờ chỉ có 6.6% số người dành thời gian như vậy để đọc
Thời gian dành cho đọc báo cũng không ổn định, thường thì lúc nào rảnh thì đọc (chiếm 68.1%), chứ không phải mỗi buổi sáng trước khi đi làm, đi học Đây là một sự khác biệt rất lớn so với dân Tp HCM, kết quả này có thể
cho ta một nhận định: công chúng Phú Yên khá bị động trong tiếp xúc tin tức thời sự từ báo in vào mỗi buổi sáng trong ngày
lời
Tỉ lệ (%)
Bảng: Thời gian đọc báo mỗi ngày
Khi được hỏi về cách thức đoc báo với những đáp án sẵn thì thói quen xem lướt tờ báo rồi đọc lại rất được ưa chuộng Cụ thể, có 46.0% số người được hỏi trả lời thường xem lướt tờ báo rồi sau đó đọc lại Tiếp theo là 35.0% trả lời chỉ đọc những chuyên mục mình thích Những người đọc hết tờ báo một lần chỉ chiếm 9.7% Điều này cũng dễ hiểu vì tờ báo có rất nhiều trang mục mà
có chuyên mục chuyên ngành thì chỉ có những người hiểu về lĩnh vực đó mới
có thể đọc và hiểu nó, nên khó thu hút công chúng
Khi được hỏi mục đích đọc chuyên mục này để làm gì? thì có 71.2% ý kiến trả lời theo dõi tin tức, mở mang kiến thức, cho mục đích giải trí 56,6%, xem vì lí do khác chiếm 2.7%
Trang 31Bảng: Cách thức đoc báo của công chúng
2.2.1.3 Những tờ báo thường đọc
Ơ Phú Yên hiện nay có khá nhiều mặt báo: Tuổi trẻ, Thanh niên, báo Phú Yên, Công an Nhân dân, An ninh Thế giới, Hoa học trò, Mực tím, Phụ nữ, Giáo dục Thời đại, Nhân dân, … cho đủ các giới độc giả Tiêu biểu là Tuổi trẻ, Thanh niên, và một số tạp chí: Hạnh phúc Gia đình, các tạp chí chuyên ngành
về công nghệ thông tin
Tôi chọn 3 tờ báo tiêu biểu nhất đang hoạt động tại Phú Yên (Tuổi trẻ, Thanh niên, báo Phú Yên) và một biến tự chọn (một số tờ báo khác) để khảo
sát Kết quả, tờ Tuổi trẻ được nhiều người chọn đọc nhất với 64.6%, thanh niên 39.4%, báo Phú Yên 18.1%, một số báo khác 27% Điều làm tôi khá bất ngờ ở đây là báo Phú Yên Dù báo Phú Yên cuối năm 2007 phát hành 4600 tờ/kỳ và 6 kỳ/tuần, nhưng tỉ lệ người dân đọc báo tỉnh quá thấp Nguyên nhân của vấn đề
này khi phỏng vấn sâu công chúng thì họ trả lời: do báo tỉnh có quá ít thông tin, không đặc sắc như các tờ báo ngoài tỉnh Đây là một thách thức cho báo
Phú Yên trong quá trình cạnh tranh hiện nay
trả lời
Tỉ lệ (%)
Trang 32Bảng: Các tờ báo thường đọc
Với câu hỏi, sau khi đọc báo thì ông (bà) có thường trao đổi thông tin với người khác không? Thì kết quả cho thấy mức độ trao đổi thông tin vói người khác của thành phần công chúng làm trong ngành nghề khác trả lời là có thường xuyên trao đổi (37,1%), và họ ít khi không trao đổi các thông tin với nhau sau khi đọc báo (trong trường hợp những người được khảo sát đều trả lời không khi nào không trao đổi thông tin với người khác, tỉ lệ 0.0%) Ngược lại,
có 8.7% HS – SV trả lời không khi nào trao đổi thông tin với người khác sau khi đọc báo
Có thường xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Không khi nào (%)
Bảng: Mức độ trao đổi với người khác
Tuy nhiên, việc phản hồi ý kiến của mình đối với các chuyên mục, bài viết,… trên báo bằng cách gọi điện thoại, gửi thư, hoặc email… thì công chúng Phú Yên vẫn còn rất thụ động Cụ thể, với ba biến chọn dùng trong khảo sát, kết quả cho thấy mức độ phản hồi ý kiến thường xuyên chỉ chiếm 5.8% số người trả lời, có 34.5% số người trả lời thỉnh thoảng có phản hồi lại ý kiến, 59.7% số người trả lời không khi nào phản hồi ý kiến lại với các báo Điều này
là một thiệt thòi của chính người dân, bởi vì hầu như các báo đều có phần dành cho bạn đọc để bạn đọc có thể thể hiện tính công dân của mình, mọi người đều
có thể tham gia ý kiến của mình
STT Phản hồi ý kiến Số người trả lời Tỉ lệ (%)
Trang 331 Có thường xuyên 13 5.8
Bảng: Mức độ phản hồi ý kiến
2.2.1.4 Trang mục bạn đọc quan tâm
Trang mục bạn đọc quan tâm với 3 biến chọn được hỏi thì kết quả cho thấy tin tức thời sự là một trang mục được nhiều người quan tâm nhất với 55.3%, tiếp đó là phổ biến kiến thức là 25.2%, những trang mục khác là 5.8% Tùy theo thành phần công chúng mà họ có thói quen tiếp cận các chuyên mục ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên qua khảo sát thực tế cũng cho thấy xu hướng chung về các chuyên mục mà bạn đọc quan tâm nhiều nhất vẫn là tin tức thời sự; tiếp đến là phổ biến kiến thức và nhứng chuyên mục khác
Bảng: Nghềnghiệp khác nhau, chuyên mục công chúng chọn đọc khác nhau
Khi được hỏi về mức độ hài lòng mà báo chí đem lại cho công chúng ở
4 cấp đo (rất hài lòng, hài lòng, khá hài lòng, chưa hài lòng) thì cho thấy công chúng vẫn chưa thật hài lòng với các thông tin trên báo đem lại Theo kết quả khảo sát thì mức độ rất hài lòng về các thông tin chỉ chiếm 12.8%, chưa hài lòng 12% mặc dù không lớn lắm nhưng con số 12% này rất đáng để các cơ quan truyền thông phải nghiên cứu về công chúng (đối tượng phục vụ của mình) nhiều hơn và có cách thay đổi hoạt động của mình cho phù hợp hơn Khi
được hỏi vì sao chưa hài lòng? Nhiều người trả lời rằng: “báo chí hay đơn điệu
it thấy xuất hiện nhiều các tin về tham nhũng, đấu tranh chống tiêu cực …”
Khi hỏi đọc báo có giúp ích gì cho công việc hiên tại thì có 87.6% ý kiến cho rằng rất tốt, và tốt cho công việc hiện tại Vì cung cấp tin tức thời sự,