1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa danh và con người trong ca dao thái bình

101 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa Danh Và Con Người Trong Ca Dao Thái Bình
Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Lèng Thị Lan
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử vấn đề (9)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Đóng góp của luận văn (14)
  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế, đời sống văn hóa của Thái Bình (15)
      • 1.1.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội Thái Bình (15)
      • 1.1.2. Đời sống văn hóa Thái Bình (17)
    • 1.2. Văn học dân gian Thái Bình và ca dao Thái Bình (21)
      • 1.2.1. Văn học dân gian Thái Bình (21)
      • 1.2.2. Ca dao Thái Bình (24)
    • 1.3. Mối liên hệ giữa địa danh và con người Thái Bình (32)
      • 1.3.1. Khái niệm địa danh (32)
      • 1.3.2. Phân loại địa danh (33)
      • 1.3.3. Mối liên hệ giữa địa danh và con người Thái Bình (42)
  • CHƯƠNG 2. ĐỊA DANH TRONG CA DAO THÁI BÌNH (50)
    • 2.1. Địa danh gắn với môi trường tự nhiên (50)
    • 2.2. Địa danh gắn với những dấu ấn lịch sử (54)
    • 2.3. Địa danh gắn với tình yêu quê hương (58)
    • 2.4. Địa danh gắn với truyền thống văn hoá làng nghề (64)
  • CHƯƠNG 3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI TRONG CA DAO THÁI BÌNH (72)
    • 3.1. Người anh hùng chống phong kiến và đế quốc (72)
    • 3.2. Hình ảnh con người trong tình yêu hôn nhân, gia đình (76)
    • 3.3. Hình ảnh con người trong đấu tranh thói hư, tật xấu (81)
    • 3.4. Hình ảnh con người lạc quan, yêu lao động sản xuất (86)
  • KẾT LUẬN (95)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (97)

Nội dung

Lịch sử vấn đề Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm vốn văn học dân gian nhằm bảo tồn nét văn hóa ở Thái Bình và để phát huy hết tiềm năng to lớn của nó trong nền văn học dân tộc.. Nhưng hầu hế

Lịch sử vấn đề

Các nhà nghiên cứu đang nỗ lực sưu tầm và bảo tồn văn học dân gian Thái Bình để phát huy tiềm năng văn hóa của vùng đất này trong nền văn học dân tộc Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở việc sưu tầm và khái quát, chưa đi sâu vào phân tích con người và địa danh đặc trưng của Thái Bình.

Thái Bình, với bề dày truyền thống văn hóa và cảnh sắc thiên nhiên hấp dẫn, đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa dân gian Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu chỉ dừng lại ở việc sưu tầm và khái quát các nét văn học dân gian, mà chưa đi sâu vào phân tích con người và địa danh của vùng đất này Một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện, nhưng cần có thêm những nỗ lực để phát huy tiềm năng văn hóa của Thái Bình trong nền văn học dân tộc.

Công trình “Văn học dân gian Thái Bình” của tác giả Phạm Dức Duật là một tài liệu quan trọng, cung cấp cái nhìn tổng quát về văn học dân gian Thái Bình với 677 trang Cuốn sách được chia thành hai phần: phần một tổng quan về văn học dân gian Thái Bình (90 trang) và phần hai về các thể loại văn học dân gian (gần 600 trang), bao gồm phương ngôn tục ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố và vè Tác giả đã thực hiện một phân tích toàn diện, đặc biệt chú trọng vào ca dao với năm nội dung cơ bản, mặc dù vẫn chưa đi sâu vào phân tích địa danh và con người trong ca dao Thái Bình.

Tác giả đã thực hiện những chú giải và liệt kê chi tiết, điều này được xem là một bước kế thừa quan trọng trong quá trình nghiên cứu.

Dựa trên công trình của tác giả Phạm Đức Duật, một nhóm tác giả đã biên soạn và phân tích đặc điểm con người, địa lý, lịch sử Thái Bình trong cuốn "Văn học dân gian Thái Bình" (NXB Văn hoá thông tin, 2013) Cuốn sách này tập hợp nhiều thể loại văn học dân gian truyền thống phong phú của Thái Bình Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng văn học dân gian Thái Bình còn nhiều vấn đề cần được khám phá sâu hơn, tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Công trình "Tìm hiểu tục ngữ ca dao nói về đất và người Thái Bình" của Phạm Minh Đức (NXB Văn hóa thông tin, 2014) là một nghiên cứu sâu sắc về ca dao Thái Bình Tác giả đã phân tích các câu ca dao, tục ngữ, làm rõ nguồn gốc, lịch sử và địa lý liên quan, từ đó khẳng định bề dày lịch sử và văn hóa của vùng đất Thái Bình.

Công trình "Đất và người Thái Bình" (NXB Hội Nhà Văn, 2019) của

Phạm Minh Đức là một công trình nghiên cứu toàn diện về lịch sử và đời sống vùng đất Thái Bình từ thời vua Hùng đến nay Tác giả đã liệt kê và phân tích các giai đoạn phát triển qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, nhằm thể hiện sự tiến bộ của địa phương và con người một cách rõ ràng.

Bài viết “Thái Bình – Một vùng văn hóa văn nghệ dân gian phong phú” của Phạm Minh Đức (1997) trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (60) tập trung vào hai nội dung chính: Thái Bình, một vùng lúa nước tiêu biểu và Thái Bình, một vùng văn hóa, văn nghệ dân gian phong phú.

Nguyễn Thanh (1997) trong bài viết “Về công tác sưu tầm nghiên cứu vốn văn hóa phi vật thể ở Thái Bình” đã trình bày nhiều vật phẩm và phong tục văn hóa đặc trưng của Thái Bình Tác giả không chỉ nêu bật những điểm mạnh của văn hóa phi vật thể nơi đây mà còn đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này.

Trong bài viết “Những nét đẹp đậm chất riêng của người và đất Thái

Bài viết "Bình" của tác giả Thanh Nguyễn trên trang Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Thái Bình (tháng 2 năm 2021) nhấn mạnh rằng kho tàng ca dao, tục ngữ của Thái Bình chứa đựng nhiều câu châm ngôn phản ánh tính cách của người dân nơi đây, bao gồm cả đặc trưng tính cách của từng làng.

Những câu nói như “Chơi với Động Trung mất cả vung lẫn nồi” hay “Chơi với Phủ Sóc thì khóc mà về” phản ánh rõ nét về địa danh và con người Thái Bình Qua đó, ta có thể cảm nhận được sự đặc trưng và bản sắc văn hóa của vùng đất này.

Ngoài ra, không thể không nhắc tới một số luận văn nghiên cứu về văn hóa dân gian Thái Bình nhƣ:

Luận văn “Khảo sát tục ngữ cổ truyền về Thái Bình từ góc nhìn văn hóa” của Thạc sĩ Tô Thị Quỳnh Mai, chuyên ngành Văn học dân gian -

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của tục ngữ cổ truyền Thái Bình Bài luận văn này xem xét những giá trị văn hóa thông qua lời ăn tiếng nói và cách hành xử của người dân Thái Bình.

Luận văn “Những đặc điểm của truyện kể dân gian Thái Bình” của

Thạc sĩ Nguyễn Thanh Nga, chuyên ngành Văn học dân gian tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nghiên cứu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của truyện kể dân gian Thái Bình Luận văn của cô tìm hiểu các vấn đề văn hóa liên quan đến những câu chuyện dân gian, từ truyền thuyết đến đời sống tín ngưỡng của người dân và các lớp văn hóa địa phương Qua đó, luận văn làm nổi bật những nét độc đáo và riêng biệt của bộ phận văn học này trong bối cảnh chung của truyện kể dân gian Việt Nam.

Có thể nhận thấy rằng nghiên cứu về ca dao Thái Bình vẫn còn là một lĩnh vực chưa được nhiều người chú ý và xem xét như một đối tượng nghiên cứu độc lập Tuy nhiên, những công trình hiện có đã hỗ trợ chúng tôi trong việc tham khảo và tiếp cận đề tài này.

Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Địa danh và con người trong ca dao Thái Bình” nhằm cung cấp thông tin và nhận thức về địa danh và con người Thái Bình, đồng thời góp phần giới thiệu và quảng bá văn học địa phương trong trường học hiện nay.

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Địa danh và con người trong ca dao Thái Bình” chúng tôi hướng đến mục đích như sau:

Khám phá địa danh và con người trong ca dao Thái Bình giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vẻ đẹp của con người và vùng đất nơi đây.

Đề tài sẽ giới thiệu vẻ đẹp của con người và địa danh Thái Bình qua ca dao, góp phần quảng bá văn hóa và văn học dân gian của vùng đất này đến các địa phương khác trong cả nước.

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ca dao Thái Bình, tập trung vào các bài ca dao phản ánh về địa danh và con người trong vùng.

Do việc sưu tầm và nghiên cứu về địa danh và con người Thái Bình còn hạn chế, trong quá trình phân tích đề tài "Địa danh và con người trong ca dao Thái Bình", chúng tôi chủ yếu dựa vào tài liệu ca dao hiện có.

Thái Bình đã được sưu tầm và giới thiệu trong một số công trình sau:

Phạm Đức Duật (2012), Văn học dân gian Thái Bình, NXB Lao động,

Phạm Đức Duật, Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Duy Hồng (1981), Văn học dân gian Thái Bình, tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội

Phạm Minh Đức (2014), Tìm hiểu tục ngữ ca dao nói về đất và người Thái Bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

Chúng tôi nhận thấy rằng các sưu tập, bài viết, luận văn và dư địa chí địa phương cung cấp nguồn tư liệu quý giá, có thể làm cơ sở cho việc đối chiếu và phân tích, từ đó làm rõ hơn nội dung nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra.

Phương pháp thống kê được áp dụng để phân loại và tổng hợp các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến ca dao Thái Bình, bao gồm cả địa danh và con người trong ca dao Qua đó, chúng tôi có cái nhìn tổng quát về đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Phương pháp này so sánh các bài ca dao về con người và địa danh ở Thái Bình với những bài ca dao tương tự từ các vùng miền khác, nhằm nhận diện các điểm tương đồng và khác biệt.

- Phương pháp tổng hợp và phân tích:

Chúng tôi áp dụng phương pháp này chủ yếu trong chương 2 và chương 3 của đề tài để phân tích và tổng hợp nhận định về địa danh và con người trong ca dao Thái Bình Phương pháp này cũng giúp làm rõ mối liên hệ giữa địa danh và con người được phản ánh qua ca dao, từ đó đưa ra những đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành đã được áp dụng để đạt được kết quả nghiên cứu cho đề tài Chúng tôi kết hợp và vận dụng các phương pháp từ nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, dân tộc học, văn hóa học và xã hội học nhằm giải thích các trường hợp cụ thể trong từng nội dung nghiên cứu.

Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu và phân tích các đặc sắc về địa danh và con người trong ca dao Thái Bình, tập trung vào những khía cạnh nổi bật của địa danh Thái Bình.

Bình là biểu tượng của môi trường tự nhiên phong phú; Địa danh Thái Bình lưu giữ những dấu ấn lịch sử quan trọng; Người dân Thái Bình thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc; Họ cũng rất trọng nghĩa tình, thể hiện sự gắn bó và đoàn kết trong cộng đồng.

Luận văn làm nổi bật đặc sắc của địa danh và con người trong ca dao Thái Bình, đồng thời mở rộng hiểu biết về ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ Bài viết này góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu văn học địa phương Thái Bình thông qua chủ đề con người và địa danh đặc trưng của vùng đất này.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo cấu trúc của luận văn gồm 3 chương như sau:

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế, đời sống văn hóa của Thái Bình

1.1.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội Thái Bình

Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm 1890, ban đầu chỉ bao gồm xã Kỳ Bố thuộc huyện Vũ Tiên Qua thời gian, tỉnh đã mở rộng ra các huyện lân cận và phát triển từ thị xã lên thành phố Sau năm 1954, Thái Bình có 13 đơn vị hành chính, bao gồm thị xã Thái Bình và 12 huyện: Đông Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Kiến Xương, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thái Ninh, Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Tiên Hưng, và Vũ Tiên (theo Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan, Đất và người Thái Bình, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2010).

Sau nhiều lần điều chỉnh, vào năm 2004, thị xã Thái Bình đã được nâng cấp thành thành phố, bao gồm 8 đơn vị cấp huyện: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và thành phố Thái Bình.

2013, thành phố Thái Bình đƣợc công nhận là đô thị loại II

Thái Bình, nằm ở vùng đông nam đồng bằng sông Hồng với diện tích khoảng 1550 km², được bao bọc bởi ba con sông lớn: sông Hồng, sông Hóa và sông Luộc Phía Bắc giáp Hưng Yên và Hải Dương, trong khi phía Đông giáp Hải Phòng, tạo thành một bán đảo nhỏ Khu vực này có 5 cửa sông lớn: Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý và Lân, và các sông này đều chịu ảnh hưởng của thủy triều, dẫn đến việc bồi đắp liên tục bãi bồi Nhờ vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống sông Hồng, Thái Bình sở hữu đất đai phù sa màu mỡ Địa hình chủ yếu là đồng bằng với độ dốc nhỏ, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam.

Khí hậu Thái Bình mang đặc trưng nhiệt đới ẩm gió mùa, với mùa đông lạnh và ít mưa, trong khi mùa hạ nóng và mưa nhiều, nhiệt độ dao động từ 25-30 độ C Vị trí giáp biển và bao quanh bởi nhiều sông ngòi giúp Thái Bình hưởng độ ẩm lớn từ vịnh Bắc Bộ, đồng thời điều hòa nhiệt độ, tạo nên khí hậu mát mẻ và dễ chịu.

Thái Bình sở hữu thảm thực vật tự nhiên phong phú với rừng ngập mặn, quần xã thủy sinh và cây trồng đa dạng Khí hậu và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp phát triển nông nghiệp, bao gồm cây công nghiệp lâu năm, lúa nước, rau màu và nuôi trồng thủy hải sản Tuy nhiên, sự đa dạng của nhóm cây tự nhiên bị hạn chế do địa hình chủ yếu bằng phẳng và phần lớn diện tích được người dân canh tác.

Thái Bình sở hữu tiềm năng khoáng sản phong phú với các mỏ khí đốt, nước khoáng và than nâu đang được khai thác hiệu quả Điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo ra những bãi bồi màu mỡ, giúp tài nguyên đất nơi đây trở nên phì nhiêu Người dân địa phương chú trọng đầu tư vào hệ thống tưới tiêu và công trình thủy lợi, nhằm nâng cao khả năng trồng trọt và phát triển chăn nuôi thủy sản.

Thái Bình nổi tiếng với vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã ven biển, thu hút du khách đến tham quan các cồn đảo, nơi là điểm dừng chân của nhiều loài chim quý Du khách có thể khám phá các khu rừng ngập mặn và bãi tắm cát trắng trải dài Ngoài ra, Thái Bình còn có nhiều lễ hội và công trình văn hóa truyền thống nổi tiếng như chùa Keo, lăng mộ và đền thờ các vị vua Trần, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, đền Đồng Sâm, cùng khu lưu niệm Bác Hồ và nhà bác học Lê Qúy Đôn.

Tỉnh Thái Bình chú trọng vào sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản, đồng thời xây dựng nông thôn mới và phát triển tài nguyên, môi trường, cũng như phòng chống thiên tai Nhiều ấp, phường xã tích cực thi đua trong việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh để đạt năng suất cao trong các mùa vụ; tổ chức tiêm phòng cho gia cầm và gia súc, và hoàn thiện chương trình kéo điện đến các vùng nông thôn nghèo Theo số liệu năm 2019, Thái Bình đứng thứ 50 về tốc độ tăng trưởng GDP toàn quốc Từ năm 2015, tỉnh đã định hướng phát triển kinh tế với mục tiêu tăng trưởng tổng sản lượng nông lâm thủy hải sản, đảm bảo tất cả các xã huyện đạt chuẩn nông thôn mới và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 1%.

1.1.2 Đời sống văn hóa Thái Bình

Theo số liệu năm 2019, Thái Bình có dân số 1.860.447 người, với mật độ 1.138 người/km², trong đó 80% dân số sống ở nông thôn Nhờ vào thổ nhưỡng, địa lý tự nhiên và lịch sử lâu đời, người dân Thái Bình được hình thành với tính cách và phẩm chất đặc trưng.

Thái Bình có lịch sử hình thành và phát triển kéo dài 2000 năm, với sự tăng trưởng khác nhau giữa các vùng huyện xã Cư dân chủ yếu đến từ vùng trung du Bắc Trung Bộ, di cư xuống đồng bằng để sinh sống nhờ thổ nhưỡng màu mỡ Quá trình di cư này liên quan đến các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, khi họ tổ chức khai hoang đất đai Ngoài ra, tình hình chiến tranh và sự xâm lấn đất đai của các tộc người đã thúc đẩy nhiều người tìm đến Thái Bình để lập nghiệp.

Trong lịch sử, nhiều vương hầu và tướng lĩnh đã được phân đất đai, dẫn đến sự hình thành các đồn điền và thành ấp Nhiều thợ thủ công từ các vùng lân cận cũng di cư đến gần các thành ấp để thuận tiện cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nghề đánh bắt thủy hải sản phát triển mạnh mẽ nhờ vị trí gần sông nước Đến năm 2004, mật độ dân số đạt 1.200 người/km², gấp 6 lần mức trung bình toàn quốc Trong bối cảnh đất chật người đông, người dân Thái Bình đã hình thành tính cách siêng năng, hòa đồng và đoàn kết Đời sống của họ được kết nối từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau, tạo nên sự phóng khoáng và cởi mở trong việc tiếp nhận văn hóa mới mà không quá cực đoan Tính chất "hợp cư" đã góp phần hình thành tinh thần dân chủ, dễ hòa nhập và thích nghi với môi trường mới, khuyến khích người dân Thái Bình dám nghĩ, dám làm.

Con người Thái Bình tự hào về nguồn cội anh hùng và ý chí kiên cường Nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân tài như Lê Quý Đôn và Phạm Đôn Lễ, những người đã đạt được thành tựu cao trong học vấn và đóng góp cho triều đình Thái Bình không chỉ là mảnh đất của trí thức mà còn là nơi mở rộng cơ hội học hành cho các thế hệ sau Với đất đai màu mỡ và nền giáo dục tiên tiến, Thái Bình đã thu hút nhiều người từ khắp nơi đến sinh sống và phát triển.

Thái Bình, với tính chất hợp cư từ nhiều địa phương, là nơi hội tụ nhiều đặc trưng văn hóa của vùng Bắc Bộ Người dân nơi đây rất chú trọng việc gìn giữ và trùng tu các di tích lịch sử văn hóa như đền, chùa, miếu, đình, tạo nên các lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc Lễ hội Thái Bình không chỉ tái hiện cuộc sống nông nghiệp mà còn tôn vinh những anh hùng dân tộc và phong tục tín ngưỡng Tháng Giêng là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội, mang đến không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân và du khách, đồng thời cầu chúc cho một năm mới ấm no, bình an Lễ hội văn hóa là điểm nhấn trong đời sống của người Thái Bình, giữ gìn giá trị truyền thống và nâng cao sự đoàn kết dân tộc Đặc biệt, lễ hội chùa Keo, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể năm 2017, diễn ra vào hai kỳ hằng năm: Hội xuân vào mùng 4 Tết và hội thu từ ngày 13.

Vào ngày 15 tháng 9 âm lịch, nhiều lễ hội truyền thống diễn ra, nổi bật là "Lễ hội đền Trần" tại khu lăng mộ và đền thờ các vua triều Trần, với tục rước nước và hội thi cỗ cá độc đáo Ngoài ra, lễ hội đền Tiên La tưởng nhớ nữ tướng Vũ Thị Thục, lễ hội đền Hét thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, và lễ hội làng Thượng Liệt với các hoạt động múa giáo cờ, giáo quạt Những lễ hội này không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa mà còn là dịp ôn lại lịch sử, ca ngợi công ơn và chiến công của tổ tiên trong thời kỳ dựng nước và giữ nước.

Việc tổ chức lễ hội văn hóa kết hợp với các trò chơi dân gian như múa rối nước, bơi trải và thi đấu vật tại Thái Bình không chỉ ghi nhớ thói quen và tập tục lâu đời của cha ông mà còn duy trì 40 trò chơi dân gian mang giá trị tinh thần Các trò chơi này không chỉ dành cho trẻ em mà còn rèn luyện sức khỏe và thể hiện sự khéo léo của người dân Mỗi lễ hội đều khai thác một hình thức trò chơi khác nhau, góp phần phát huy giá trị lịch sử và văn hóa địa phương, đồng thời kết nối cộng đồng Thái Bình còn nổi tiếng với nghệ thuật hát chèo, được cho là ra đời ở vùng châu thổ Bắc Bộ, với nhiều làng tổ chức hát chèo từ trước Cách mạng tháng Tám Làng Khuốc, nổi tiếng với nghệ thuật chèo, là cái nôi của loại hình này và đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân nổi tiếng Sau khi miền Bắc được giải phóng, nghệ thuật chèo được khôi phục và hiện nay, Nhà hát chèo Thái Bình đã cho ra đời nhiều vở diễn chuyên nghiệp, gây tiếng vang trong cộng đồng.

Văn học dân gian Thái Bình và ca dao Thái Bình

1.2.1 Văn học dân gian Thái Bình

Văn học dân gian, hay văn chương bình dân, đã hình thành và phát triển qua lịch sử mỗi dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dấu ấn riêng cho nền văn học dân tộc Đây là một lĩnh vực nghiên cứu văn chương, phản ánh sáng tác truyền miệng của nhân dân lao động qua các thời kỳ xã hội có giai cấp Mặc dù đã có sự phát triển sâu rộng, nghiên cứu về văn học dân gian vẫn chưa được khai thác triệt để Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm hướng đi mới và cảm thấy cần đổi mới bản thân, tiếp cận các đề tài nghiên cứu mới và học hỏi từ các trào lưu sáng tác của nhiều nền văn chương trên thế giới.

Văn hóa dân gian Thái Bình nhận được nhiều ý kiến đánh giá từ các nhà nghiên cứu, nhưng điểm chung mà hầu hết đều thống nhất là sự phong phú và đa dạng của nó.

Bình là một tỉnh nổi bật với truyền thống văn hóa phong phú, thể hiện rõ nét qua văn học dân gian Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh đã góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa địa phương.

Tỉnh Thái Bình, với 3000 năm lịch sử ở vùng châu thổ sông Hồng, sở hữu một nền văn hóa đặc sắc Văn học dân gian Thái Bình, với những đặc điểm riêng biệt, đã được tác giả Phạm Đức Duật tổng hợp một cách hệ thống trong cuốn sách "Văn học dân gian Thái Bình" (NXB Văn hóa thông tin, 2013), phản ánh phong phú các thể loại văn học.

Các thể loại tự sự văn học dân gian Thái Bình, cụ thể sau:

Thần thoại Thái Bình phản ánh ý niệm về tổ tiên và giống nòi trong hệ thống thần thoại Việt Nam, với các biểu tượng anh hùng dựng nước và giữ nước Những câu chuyện nổi tiếng như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, và Thánh Gióng, cùng với truyền thuyết về thời Hùng Vương, được ghi chép và lưu truyền tại địa phương Ngoài ra, các truyền thuyết về lúa nước như Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không thể hiện rõ nét văn hóa nông nghiệp của đồng bằng Bắc Bộ, khắc họa thời kỳ sơ khai của lịch sử dân tộc.

Truyền thuyết Thái Bình là một phần quan trọng trong văn hóa dân gian, phản ánh các sự kiện lịch sử và được thể hiện qua nghệ thuật tượng trưng Thể loại này không chỉ tập trung vào các nhân vật lịch sử mà còn gắn liền với các chứng tích văn hóa, giải thích nguồn gốc hình thành vùng đất Thái Bình Qua nhiều thế hệ, truyền thuyết đã được tinh chỉnh và làm phong phú thêm bởi các tầng lớp nhân dân địa phương, tạo nên một di sản văn học dân gian đặc sắc, góp phần vào việc sưu tầm và bảo tồn văn hóa dân tộc Nghiên cứu về những đặc điểm của truyện kể dân gian Thái Bình là cần thiết để hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa này.

Truyền thuyết là thể loại phong phú và có nhiều thành tựu trong kho tàng truyện kể Thái Bình, đóng góp quan trọng cho việc khôi phục diện mạo lịch sử văn học dân gian (Nguyễn Thanh Nga, Đại học Quốc gia, 2014).

Cổ tích Thái Bình, được nhiều thế hệ sưu tập, không chỉ phản ánh xung đột và đấu tranh giai cấp mà còn mơ về cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nội dung của những câu chuyện này mang đậm chất địa phương, gắn liền với đặc điểm tự nhiên và vùng ven biển, thể hiện khát vọng và lý tưởng hóa hiện thực lao động sáng tạo của người dân nơi đây.

Truyện cười Thái Bình phản ánh mặt trái xã hội qua ngôn ngữ hài hước, đồng thời chỉ trích giai cấp thống trị trong thời kỳ phong kiến.

Truyện ngụ ngôn địa phương Thái Bình gần như không có dị bản [VHDG TB, tr.85]

Giai thoại văn học dân gian Thái Bình là một hình thức biến tấu nội dung từ truyền thuyết, kết hợp giữa văn học viết và sinh hoạt văn học dân gian Nổi bật trong số đó là những giai thoại về nhà bác học Lê Quý Đôn và tướng công Nguyễn Công Trứ, cùng với các nhân vật nổi tiếng như Bà Chúa Muối, Bèo hoa dâu, và Anh em họ Quách.

Truyện Trạng ở Thái Bình, mặc dù không phong phú, đã đóng góp quan trọng vào kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam, đặc biệt là tác phẩm Quản Bạt Qua thời gian, những câu chuyện này được truyền miệng và biến tấu, nhằm chỉ trích và lên án sự áp bức của quan lại trong thời kỳ Pháp thuộc.

Văn học dân gian Thái Bình là một phần không thể thiếu của văn học dân tộc, thể hiện những đặc điểm chung của văn học dân gian Việt Nam, đồng thời phản ánh rõ nét tính địa phương và thực tiễn đời sống của người dân nơi đây.

1.2.2.1 Khái niệm và phân loại ca dao

Ca dao và dân ca Việt Nam là hai thể loại nghệ thuật dân gian phong phú, thể hiện tình cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình Dân ca bao gồm cả lời ca và làn điệu nhạc, trong khi ca dao chỉ đề cập đến lời ca, đã loại bỏ các yếu tố âm thanh phụ Mặc dù có sự phân biệt này, cả hai đều mang ý nghĩa là những câu hát dân gian, với dân ca nhấn mạnh vào âm nhạc và ca dao tập trung vào lời ca.

Ca dao có nguồn gốc từ rất lâu và đã được nhiều nhà Nho nghiên cứu trong các tác phẩm Hán Nôm như "Nam giao cổ kim lý hạng ca dao chú giải", "Lý hạng ca dao", "Nam phong giải trào" (do Trần Danh Án và Ngô Hạo Phu biên soạn khoảng năm 1788-1789), và "Thanh Hoá quan phong" (do Vương Duy Trinh soạn năm 1903).

Việt Nam phong sử (Nguyễn Văn Mại), Quốc phong thi hợp thái (chƣa rõ soạn giả)

Trong quá trình nghiên cứu, nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để chỉ "ca dao", bao gồm "Nam phong", "Quan phong", "Phong sử" và "Quốc phong" Đến đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của sách báo chữ quốc ngữ ngày càng nhiều, trong đó có việc sử dụng thuật ngữ "ca dao" và "phong dao", như trong tác phẩm "Tục ngữ phong dao" của Nguyễn Văn Ngọc (1928) và "Tục ngữ ca dao" của Phạm Quỳnh.

1932), Ca dao cổ (Tạp chí Nam Phong số 167, HN, 1930), Phong dao cổ

Mối liên hệ giữa địa danh và con người Thái Bình

Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực quan trọng giúp khám phá văn hóa, con người và lịch sử của các vùng miền Các tác phẩm tiêu biểu như "Một số vấn đề địa danh học Việt Nam" của Nguyễn Văn Âu (2000) và "Sổ tay địa danh Việt Nam" của Đinh Xuân Vịnh (2001) minh chứng cho sự phát triển của ngành học này.

Sự đa dạng trong cách tiếp cận ngôn ngữ học thể hiện tính liên ngành của lĩnh vực này, mở ra nhiều cơ hội khám phá Theo giáo sư Đào Duy Anh, “Địa danh là tên gọi các miền đất” (1957), trong khi Nguyễn Văn Âu định nghĩa “Địa danh là tên đất gồ: sông, núi, làng mạc…hay là tên đất các địa phương, dân tộc” (1993).

Giáo dục, Hà Nội, 1993, tr.5]

Theo Lê Trung Hoa, địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được sử dụng làm tên riêng cho các địa hình thiên nhiên, công trình xây dựng, đơn vị hành chính và vùng lãnh thổ.

Theo Hoàng Phê, địa danh được hiểu là tên của đất và các địa phương Còn theo Nguyễn Kiên Trường, địa danh là tên riêng dùng để chỉ các đối tượng địa lý, bao gồm cả tự nhiên và nhân văn, có vị trí xác định trên bề mặt trái đất.

Hầu hết các định nghĩa về địa danh đều nhấn mạnh tính chất cơ bản của nó là "tên đất", như Nguyễn Văn Âu và các tên riêng như Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường Tuy nhiên, mỗi định nghĩa cần được xem xét lại Định nghĩa của Nguyễn Văn Âu còn quá chung chung, chưa đề cập đến các đối tượng do con người tạo ra như đền chùa, cầu cống Lê Trung Hoa nhấn mạnh rằng "địa danh là những từ ngữ cố định", nhưng sự cố định này chỉ mang tính tương đối, vì nhiều địa danh có thể biến đổi do các yếu tố bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Định nghĩa của Nguyễn Kiên Trường yêu cầu địa danh phải "có vị trí xác định trên bề mặt trái đất", nhưng chúng tôi cho rằng điều này quá gò bó Địa danh không chỉ là tên đất mà còn hàm nghĩa là nơi chốn, có thể được xác định không chỉ trên Trái Đất mà còn trên Mặt Trăng và Sao Hỏa trong tương lai.

Khái niệm địa danh là nền tảng cho đề tài luận văn này, trong đó chúng tôi nghiên cứu các địa danh xuất hiện trong ca dao Thái Bình Việc khảo sát và thống kê dữ liệu được thực hiện dựa trên các tài liệu cụ thể có sẵn Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu ý nghĩa của việc sử dụng địa danh trong ca dao và cách thức sử dụng địa danh, nhằm làm rõ đặc trưng văn hóa trong việc đặt tên và định danh của vùng đất giàu bản sắc văn hóa này.

Trong địa lý học, nhiều cách phân loại địa danh đƣợc nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để phân chia Trong cuốn Toponimijc Moskoy, hai tác giả G.L

Smolisnaja và M.V Gorbaneveskiji phân loại địa danh thành 4 loại: phương danh (tên địa phương), sơn danh (tên núi, đồi), thuỷ danh (tên sông, hồ) và phố danh (tên đối tượng trong thành phố) A.V Superauskaja trong cuốn "Địa danh là gì?" mở rộng phân loại này thành 7 loại, bao gồm viên danh (tên quảng trường, công viên), lộ danh (tên đường phố) và đại danh (tên đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không) Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Âu phân loại địa danh theo góc độ địa lý - lịch sử - văn hóa thành ba cấp từ trên xuống dưới.

Địa danh được phân loại thành hai loại chính: địa danh tự nhiên và địa danh xã hội Ngoài ra, địa danh còn được chia thành bảy kiểu khác nhau, bao gồm thuỷ danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh thành phố và quốc gia Về dạng địa danh, có tổng cộng mười hai dạng, bao gồm sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng núi, truông trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh thành phố và quốc gia.

Dựa trên ý kiến của các nhà nghiên cứu trước và từ góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi đồng tình với cách phân loại địa danh theo tiêu chí “tự nhiên - không tự nhiên” của Lê Trung Hoa, Từ Thu Mai và Nguyễn Kiên Trường Chúng tôi phân loại địa danh thành các nhóm: địa danh chỉ địa hình tự nhiên, địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh chỉ đơn vị hành chính, và địa danh chỉ vùng Phân tích này dẫn đến sơ đồ phân loại địa danh rõ ràng và có hệ thống.

Trong bài viết về khảo sát địa danh trong ca dao Việt Nam, tác giả đã phân loại địa danh theo ngữ nguyên, chia thành bốn nhóm lớn: địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, và địa danh bằng các ngoại ngữ Sơ đồ phân loại bao gồm các loại địa danh như địa danh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh công trình xây dựng, địa danh hành chính, và địa danh vùng.

Địa danh trong thi ca được xem như "ma thuật của âm thanh", phản ánh chiều dài lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của đất nước Những địa danh này không chỉ tồn tại trong tâm thức con người mà còn in đậm trong các văn bản ca dao, giúp ta du ngoạn qua những vùng quê yêu thương Qua ca dao, ta thêm yêu đất nước, hiểu biết về con người, danh nhân kiệt xuất, phong tục tập quán tốt đẹp và làng nghề truyền thống Điều này cũng giúp ta khám phá kho tàng văn học dân gian phong phú và đa dạng của dân tộc.

Khái niệm địa danh là nền tảng cho nghiên cứu của chúng tôi về ca dao Thái Bình Luận văn này khảo sát và thống kê các địa danh cụ thể có trong ca dao, đồng thời làm rõ ý nghĩa và cách sử dụng địa danh, phản ánh đặc trưng văn hóa trong việc đặt tên của vùng đất giàu bản sắc này.

Dựa trên khái niệm và phân loại địa danh, bài viết này sẽ giới thiệu một số địa danh nổi bật ở Thái Bình, được thể hiện qua các câu ca dao Các địa danh này bao gồm địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh từ các ngôn ngữ dân tộc và địa danh ngoại ngữ.

Tên địa danh Vị trí Loại/ đặc điểm địa danh Đền Trần Thái Bình Làng Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hƣng Hà

Khu di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Lăng mộ các vị vua Trần đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa và khảo cổ học quan trọng của quốc gia.

Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thƣ

Chùa Keo, nằm tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tổ chức hai lễ hội lớn trong năm Hội Xuân diễn ra vào ngày mồng 4 Tết Nguyên Đán, trong khi Hội chính mùa thu được tổ chức từ ngày 13 đến 15 tháng 9 âm lịch Lễ hội tháng 9 có ý nghĩa đặc biệt, gắn liền với sự tích của Thiền Sư Không Lộ, với ngày 13 tháng 9 đánh dấu 100 ngày mất của ngài và ngày 14 tháng 9 là ngày sinh của ngài.

An Khoái, tên Nôm gọi là làng Khoai da

Xã Thống Nhất, huyện Hƣng Hà, tỉnh Thái Bình

Nơi đây xưa có tục thách cưới rất nặng

An Ninh Xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Làng có nghề mây tre đan tinh xảo, đặc biệt là đan giành

Ba Gia Thôn thuộc xã

Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Chợ Và Chợ làng An Vệ thuộc xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Xƣa ở cổng chợ có nhiều đám đánh bạc, xóc đĩa và quán uống rƣợu

Diệm Dương Ngôi Làng thuộc xã Trà Giang, huyện Kiến

ĐỊA DANH TRONG CA DAO THÁI BÌNH

HÌNH ẢNH CON NGƯỜI TRONG CA DAO THÁI BÌNH

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (2004), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2004
2. Trần Thúy Anh (2009), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam
Năm: 2009
3. Trần Thị Vân Anh (2008), Nhóm truyền thuyết và lễ hội Đồng Xâm, Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm truyền thuyết và lễ hội Đồng Xâm
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008
4. Nguyễn Văn Âu (1993), Địa danh Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
5. Đỗ Vĩnh Bảo (1973), Mênh mông Tiền Hải lúa vàng, Báo Văn Nghệ Thái Bình, (số xuân 1973) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mênh mông Tiền Hải lúa vàng
Tác giả: Đỗ Vĩnh Bảo
Nhà XB: Báo Văn Nghệ Thái Bình
Năm: 1973
6. Nguyễn Nghĩa Dân (2010), Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ – ca dao, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ – ca dao
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
7. Nguyễn Nghĩa Dân (2011), Văn hóa ẩm thực trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
8. Nguyễn Nghĩa Dân, (2013), Văn hóa giao tiếp - ứng xử trong tục ngữ - ca dao Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp - ứng xử trong tục ngữ - ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2013
9. Phạm Đức Duật (chủ biên) (1981), Văn học dân gian Thái Bình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Thái Bình
Tác giả: Phạm Đức Duật
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981
10. Phạm Đức Duật (biên soạn) (2012), Văn học dân gian Thái Bình, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Thái Bình
Tác giả: Phạm Đức Duật
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
11. Vũ Quang Dũng (2006), Địa danh Việt Nam trong tục ngữ, ca dao, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam trong tục ngữ, ca dao
Tác giả: Vũ Quang Dũng
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2006
12. Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan (chủ biên) (1992), Đất và người Thái Bình, Trung tâm Unesco thông tin tƣ liệu lịch sử - văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và người Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan
Nhà XB: Trung tâm Unesco thông tin tƣ liệu lịch sử - văn hóa Việt Nam
Năm: 1992
13. Phạm Minh Đức (1997), Thái Bình – Một vùng văn hóa văn nghệ dân gian phong phú, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (60) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Bình – Một vùng văn hóa văn nghệ dân gian phong phú
Tác giả: Phạm Minh Đức
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa dân gian
Năm: 1997
14. Phạm Minh Đức (2006), Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở Thái Bình, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những làng văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc ở Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
15. Phạm Minh Đức, Phạm Hóa (2010), Văn hóa làng ở Thái Bình, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng ở Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức, Phạm Hóa
Nhà XB: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Thái Bình
Năm: 2010
16. Phạm Minh Đức (2014), Tìm hiểu tục ngữ ca dao nói về đất và người Thái Bình, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tục ngữ ca dao nói về đất và người Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2014
17. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình VHDG Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình VHDG Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
18. Lê Trung Hoa (2002), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
19. Lê Trung Hoa (2002). Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2002
20. Trần Hoàn, Phạm Gia Tín, Minh Toàn, Sáng tác văn nghệ Khu Tả Ngạn sông Hồng (1950 - 1955), Ban sưu tầm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác văn nghệ Khu Tả Ngạn sông Hồng (1950 - 1955)
Tác giả: Trần Hoàn, Phạm Gia Tín, Minh Toàn
Nhà XB: Ban sưu tầm

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w