Là người đang cư trú và làm việc tại huyện Mường La, đảm nhiệm công tác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, công việc của tôi liên quan trực tiếp đến các địa danh trên địa bàn; do đó tôi tự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG ĐÔNG
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1.TS Nguyễn Tú Quyên 2.TS Nguyễn Hoàng Yến
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 23 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài 5
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN-XÃ HỘI CỦA HUYỆN MƯỜNG LA LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA
Trang 31.3 Một số vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ 17
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 18 1.4 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội của huyện Mường La liên quan đến địa
1.4.4 Đặc điểm ngôn ngữ, chữ viết, văn hoá 26
CHƯƠNG 2 ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG LA XÉT
2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng và theo nguồn gốc ngôn ngữ 32 2.1.1 Phân loại địa danh theo đối tượng 32 2.1.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ 34 2.2 Đặc điểm cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Mường La 40
2.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Mường La 42
2.2.3.2 Thành tố chung trong địa danh hành chính huyện Mường La 44
2.2.4.2 Thành tố riêng trong địa danh hành chính huyện Mường La 45 2.3 Các phương thức định danh trong địa danh hành chính huyện Mường
2.3.1.1 Định danh dựa vào đặc điểm, tính chất của đối tượng 52 2.3.1.2 Định danh dựa vào đặc điểm có quan hệ chặt chẽ với đối tượng 55
Trang 42.3.1.3 Định danh dựa theo biến cố lịch sử có liên quan trực tiếp đến đối
2.3.2.1 Chuyển hóa trong nội bộ loại địa danh 59 2.3.2.2 Chuyển hóa giữa các loại địa danh 60
2.3.3.1 Mượn chất liệu ngôn ngữ dân tộc thiểu số 61 2.3.3.2 Mượn tên người hoặc đặc điểm có liên quan đến con người 61
CHƯƠNG 3 SỰ THỂ HIỆN CÁC PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA TRONG
3.1 Sự thể hiện các phương diện văn hoá sinh hoạt 65 3.2 Sự thể hiện các phương diện văn hoá sản xuất 73 3.3 Sự thể hiện các phương diện văn hoá vũ trang 77
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng 33 Bảng 2.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ 35 Bảng 2.3 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính ở huyện Mường La
43 Bảng 2.4 Tổng hợp số lượng yếu tố cấu tạo thành tố chung 45 Bảng 2.5 Tổng hợp số lượng yếu tố cấu tạo thành tố riêng 46 Bảng 2.6 Tổng hợp thành tố riêng theo kiểu cấu tạo 46 Bảng 2.7 Thống kê các loại đối tượng chuyển hoá trong địa danh 59 Bảng 2.8 Các phương thức định danh trong địa danh hành chính huyện
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Địa danh học là một bộ môn thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến địa danh như: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt tên và sự biến đổi của các địa danh Nghiên cứu địa danh sẽ làm sáng tỏ những đặc điểm, những qui luật nội bộ của địa danh, giúp ta thấy được sự biểu đạt khác nhau của ngôn ngữ về vốn từ, nhất là về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và địa lý, những qui luật biến đổi trong sự tương tác với văn hoá của địa danh đó Việc nghiên cứu sâu vốn từ về địa danh sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về địa phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về sự phát triển của ngôn ngữ và văn hoá ở một vùng miền, một đất nước
1.2 Huyện Mường La là trung tâm tỉnh lỵ Sơn La trước đây, 65 năm hình thành và phát triển của huyện gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Sơn La Hệ thống địa danh trên địa bàn huyện Mường La rất phong phú, đa dạng, mang những đặc điểm riêng, khác biệt với các huyện khác trong tỉnh Sơn La cũng như các vùng miền khác trong cả nước Trong những năm
qua, huyện đã chỉ đạo biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Mường La, cuốn Kỷ yếu Đảng bộ huyện Mường La qua các kỳ đại hội, cuốn Lịch sử - địa
lý huyện Mường La làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập Tuy nhiên,
các cuốn tài liệu này chưa đề cập đầy đủ đến nội dung, ý nghĩa các địa danh hành chính của huyện Mường La Do đó, khi tiếp cận các văn bản này, người đọc chủ yếu nắm bắt các thông tin về lịch sử quá trình hình thành và phát triển của huyện, chưa có các thông tin về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa, đặc điểm của các địa danh cũng như mối quan hệ giữa phương thức định danh với lịch sử, địa lý, tiếng địa phương và sự giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa, lịch sử qua các địa danh trên địa bàn huyện
Trang 71.3 Là người đang cư trú và làm việc tại huyện Mường La, đảm nhiệm công tác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, công việc của tôi liên quan trực tiếp đến các địa danh trên địa bàn; do đó tôi tự thấy có trách nhiệm tìm hiểu các địa danh hành chính của huyện để có kiến thức, hiểu biết đầy đủ hơn về
bộ môn địa danh học cũng như có những kiến thức thực tiễn, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác của bản thân; đồng thời cũng giúp cho những người sinh sống, làm việc và nghiên cứu, tìm hiểu về huyện có thêm những cứ liệu bổ ích, thông qua kết quả nghiên cứu trong Luận văn
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài Địa danh hành chính huyện Mường La để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu ở cả phương Đông và phương Tây Ở Trung Quốc, có nhiều người đã tiến hành công tác ghi chép, sưu tập, tổng hợp và phần nào đó giải thích cách đọc, ngữ nghĩa của địa danh Ví dụ như: Ban Cố đời Đông Hán (32- 92) đã sưu tập và ghi chép đến 4000 địa danh trong Hán Thư; sách Thuỷ kinh chú đời Bắc Ngụy (380- 535) đã đề cập đến hơn 2 vạn địa danh Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, bắt đầu vào thế kỷ
19 ở Tây Âu, địa danh học mới được coi là một bộ môn khoa học thực sự có đối tượng nghiên cứu, có hệ phương pháp, nguyên tắc nghiên cứu và có hệ thống lí thuyết riêng Đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về địa danh có tính chất lí luận cao, có giá trị như: năm
1872, J.J Êgi (Thuỵ Sĩ) viết Địa danh học Năm 1926, A Dauzat (người Pháp) đã viết Nguồn gốc và sự phát triển địa danh, đề xuất phương pháp văn
hoá địa lí học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh Naftali Kadmon đã
viết Địa danh học, kho trí thức, các qui tắc và ngôn ngữ của các tên địa lí Từ
sau năm 1960, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được ra
Trang 8đời Chẳng hạn, A.V Superanxkaja với cuốn Địa danh là gì? (1985) và E.M Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học (1964)
Những công trình nghiên cứu địa danh ở các quốc gia khác nhau đã góp phần minh chứng sự phong phú, đa dạng của địa danh cũng như những vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực này
Ngày nay, địa danh học thu hút mạnh mẽ các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khác nhau, nhất là các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là những người làm công tác chính sách ngôn ngữ, công tác bản đồ, những người nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc, lịch sử ngôn ngữ Mặt khác, đối tượng, tính chất, phương pháp nghiên cứu của ngành địa danh học ngày càng được mở rộng cả về hệ thống lí thuyết và thực tiễn
địa danh Việt Nam Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm của các nhà nghiên
cứu Việt Nam, vào khoảng thế kỷ XV có tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi, khoảng thế kỷ XVIII có tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
Bước sang thế kỷ XIX cho đến nay, các vấn đề nghiên cứu địa danh và
lí luận về địa danh học ở Việt Nam được đề cập nhiều hơn Hoàng Thị Châu
là người đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học với bài
viết Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông
(1964), sau đó, tác giả đã có một loạt bài nghiên cứu về địa danh của từng địa
phương cụ thể; Lê Trung Hoa khi nghiên cứu Địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh (1991) đã đưa ra những cơ sở lí thuyết để phân tích và chỉ ra những đặc
điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địa danh Nguyễn Văn
Trang 9Âu với Một số vấn đề địa danh Việt Nam (2000); Từ Thu Mai với Luận án tiến sĩ Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004); Phan Xuân Đạm với Địa danh Nghệ An (2005)…đã bổ sung thêm những vấn đề lý thuyết về nghiên cứu địa
danh dưới góc độ địa lý-lịch sử-văn hoá-phương ngữ Tác giả Trần Trí Dõi
với một số bài viết về địa danh theo khuynh hướng so sánh - lịch sử: Về địa danh Cửa Lò (2000); Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng
Hà Nội xưa (2000); Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam) (2001) và Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị (2001)
Ngoài ra, còn có nhiều luận văn, bài viết của các tác giả ở các trường
Đại học, cơ quan, đơn vị khi tìm hiểu về địa danh như: Khảo sát địa danh ở Thành phố Thái Nguyên (2008) của tác giả Hoàng Thị Đường; Khảo sát địa danh hành chính tỉnh Bắc Kạn (2008) của tác giả Hà Thị Hồng và Đặc điểm của các địa danh thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) từ góc độ văn hóa (2009) của tác giả Trương Thị Mỵ; Khảo sát địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng (2012) của tác giả Nguyễn Thị Thủy Anh; Địa danh Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên (2008) của tác giả Trần Thị Phương Hằng ở
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã được công bố Các công trình này đều có những đóng góp đáng trân trọng khi tiếp cận vấn đề địa danh học dưới góc nhìn ngôn ngữ học
2.3 Ở tỉnh Sơn La
Cũng như các địa phương khác, không phải đến bây giờ địa danh thuộc tỉnh Sơn La mới được nghiên cứu Trong các công trình nghiên cứu về địa lý, văn hoá, lịch sử, xã hội của địa phương đã có những thống kê và kết quả nhất
định về địa danh Sơn La như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, Dư địa chí Sơn
La Ở góc độ ngôn ngữ học, địa danh Sơn La cũng được nhắc đến trong công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học Những địa danh gốc Hán ở một số vùng
Trang 10dân tộc Mông Dao ở Việt Nam của Nguyễn Văn Hiệu
Tuy nhiên ở tỉnh Sơn La chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về địa danh của tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mường La nói riêng Do đó, nghiên cứu địa danh huyện Mường La dưới góc độ ngôn ngữ là hướng tiếp cận mới mẻ và cần thiết để từ đó nhận biết các nét đặc sắc về ngôn ngữ, lịch
sử, văn hoá, địa lý ở địa phương và sự ảnh hưởng, giao thoa giữa các yếu tố
đó qua hệ thống địa danh hành chính trên địa bàn huyện Mường La Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích trong việc giảng dạy lịch sử địa lý địa phương huyện Mường La nói riêng, trong giáo dục truyền thống, giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử, văn hoá của nhân dân các dân tộc huyện Mường La, tỉnh Sơn La nói chung
3 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài
3.1 Luận văn tập trung khảo sát và rút ra những nhận xét chủ yếu về địa danh hành chính ở huyện Mường La trên các phương diện: nguồn gốc, cấu tạo, phương thức định danh, mối quan hệ giữa địa danh với văn hoá
3.2 Luận văn góp phần tìm hiểu về địa lí, lịch sử, văn hoá của huyện Những tư liệu và kết quả có được trong luận văn có thể sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng Cuốn địa danh huyện Mường La sau này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu sự thể hiện các phương diện văn hoá để thấy được những nét văn hóa đặc trưng, tiêu biểu qua hệ thống địa danh hành chính huyện
Trang 115 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng mà tôi nghiên cứu là toàn bộ địa danh thuộc đơn vị hành chính, đơn vị dân cư đang tồn tại trên địa bàn huyện Mường La (tại thời điểm năm 2013-2014)
5.2 Với nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu địa danh hành chính trên địa bàn huyện Mường La, tôi chủ yếu tiến hành hệ thống, phân tích, phân loại, nhận xét, đánh giá về địa danh (loại địa danh thuộc đơn vị hành chính, đơn vị dân cư trên địa bàn huyện)
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
6 1 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
nhằm thu thập tất cả các địa danh hành chính (đang tồn tại) trên địa bàn huyện Mường La
- Phương pháp phân tích, miêu tả: Áp dụng phương pháp này để xác
định cấu trúc của hệ thống địa danh tiến hành khảo sát, từ đó rút ra những
Trang 12nhận xét chủ yếu về cấu tạo địa danh và phương thức định danh đối với địa danh hành chính huyện Mường La
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng để
tìm hiểu ý nghĩa tên gọi, các yếu tố về địa lý lịch sử, văn hoá liên quan đến địa danh tiến hành khảo sát qua sự hiểu biết của cư dân địa phương
6.2 Nguồn ngữ liệu
Hệ thống địa danh mà chúng tôi đã tập hợp gồm 305 địa danh (trong
đó có địa danh 01 huyện, 01 thị trấn, 15 xã, 288 bản, tiểu khu và thôn), được
lấy từ:
- Tư liệu lưu trữ của huyện tại các cơ quan Huyện uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân huyện Mường La Đây là tư liệu chủ yếu và quan trọng
để tôi hoàn thành luận văn của mình
- Từ tìm hiểu, điều tra thực tế tại các xã, thị trấn trong huyện, tôi thu thập các thông tin cần thiết liên quan đến hệ thống địa danh thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
Chương 2 Địa danh hành chính huyện Mường La xét từ phương diện cấu trúc
Chương này sẽ trình bày kết quả phân loại 305 địa danh hành chính mà
Trang 13chúng tôi khảo sát; trình bày đặc điểm cấu trúc phức thể địa danh và các phương thức định danh chủ yếu đối với hệ thống địa danh hành chính huyện Mường La
Chương 3 Sự thể hiện các phương diện văn hoá trong địa danh hành chính cấp xã huyện Mường La
Chương này, chúng tôi trình bày sự thể hiện các phương diện văn hóa: sinh hoạt, sản xuất, vũ trang trong địa danh hành chính huyện Mường La
Trang 14gốc từ tiếng Hy Lạp là toponima hay toponima, (tiếng Hi lạp: topos-nghĩa là địa điểm, vị trí và omoma/ onyma - nghĩa là tên gọi) với ý nghĩa chung nhất
của thuật ngữ này là "tên gọi điểm địa lí"
Nhà ngôn ngữ học Nga A.V.Superanskaia (1985) trong cuốn “Địa danh
là gì” đã cho rằng: “Tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng
Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponima” [20, tr.1] Đồng thời, tác giả chỉ rõ: “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lý có hai tên: tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm nào đó (núi sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [20, tr.13] Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra quan niệm: Địa
danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của đối tượng địa lý (địa hình tự nhiên, các đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo thiên về không gian hai chiều) có vị trí xác định trên bề mặt trái đất
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về địa danh đã đưa ra những quan niệm khác nhau về địa danh, chẳng hạn:
Trang 15Theo góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa quan niệm "Địa danh là những
từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều" [11, tr.21] Nguyễn Kiên Trường quan niệm "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất" [22, tr.16] Từ Thu Mai lại cho rằng
"Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [17, tr.22]
Theo góc độ địa lí - văn hoá, Nguyễn Văn Âu quan niệm "Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên các địa phương, các dân tộc" [1,tr.5]
Như vậy, tuy có những quan niệm khác nhau về địa danh nhưng các tác giả cơ bản thống nhất chung nhận định: địa danh là lớp từ ngữ được dùng để gọi tên các đối tượng, các vùng đất nói chung Địa danh nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ nên địa danh hoạt động và chịu sự tác động, chi phối của quy luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hoá, phong tục, tập quán cư dân của một vùng nhất định Nghiên cứu địa danh sẽ giúp nghiên cứu văn hóa, lịch sử của vùng đất ấy
1.1.1.2 Phân loại địa danh
Ở nước ta, khi nghiên cứu về địa danh, các nhà nghiên cứu có những cách phân loại khác nhau, chẳng hạn:
* Trong Địa danh Quảng Trị Nguyễn Văn Âu đã dựa vào tiêu chí địa lí
- lịch sử để phân loại theo ba cấp: loại, kiểu và dạng (Loại địa danh; Kiểu địa danh; Dạng địa danh), từ đó xác định có 2 loại địa danh là:
+ Địa danh tự nhiên
+ Địa danh kinh tế - xã hội
Trang 16Trong 2 loại địa danh này lại có 7 kiểu địa danh là: Sơn danh, Thuỷ danh, Lâm danh, Làng xã, Huyện thị, Tỉnh - thành phố, Quốc gia
Trong các kiểu địa danh đó, tác giả đưa ra 12 dạng nhỏ hơn là: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia
* Tác giả Lê Trung Hoa trong Địa danh thành phố Hồ Chí Minh đã kết
hợp phân loại địa danh theo đối tượng (tự nhiên và không tự nhiên) và ngữ nguyên (nguồn gốc ngôn ngữ)
- Theo đối tượng, có 4 loại:
+ Loại địa danh chỉ địa hình thiên nhiên (gọi tắt là địa danh chỉ địa hình), bao gồm: sông, rạch, núi, hồ…
+ Loại địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều (dài và rộng) ( gọi tắt là địa danh công trình xây dựng), bao gồm địa
danh gọi tên các công trình xây dựng, giao thông, công trình nhân tạo như: cầu, đường, công viên, sân vận động Theo tác giả, công trình có không gian
ba chiều (dài và rộng, chiều thứ ba là chiều đứng-vách tường) không phải địa danh, như: đình, chùa, tháp, cơ quan, trường học… mà gọi là hiệu danh
+ Loại địa danh chỉ các đơn vị hành chính (gọi tắt là địa danh hành chính), như: ấp, xã, huyện, tỉnh…
+ Loại địa danh chỉ vùng (gọi tắt là địa danh vùng), như: vùng, xóm, khu, miền…
- Theo nguồn gốc ngôn ngữ (ngữ nguyên), tác giả phân loại địa danh thành 4 nhóm:
+ Địa danh thuần Việt
+ Địa danh Hán-Việt
+ Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba-na, Ê-đê, Gia-rai, Tày, Thái, Mường )
Trang 17+ Địa danh bằng các ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh gốc Pháp, một số địa danh gốc Indonesia, Malaysia )
* Tác giả Nguyễn Kiên Trường trong Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng đã đưa ra 3 tiêu chí về đối tượng địa lý, nguồn gốc ngôn ngữ
và chức năng giao tiếp để phân loại địa danh:
- Căn cứ tiêu chí đối tượng địa lý phân chia thành hai nhóm: địa danh
tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng nhân văn (trong đó nhóm nhóm địa danh chỉ đối tượng nhân văn gồm hai tiểu nhóm là: Địa danh chỉ đơn vị dân cư - hành chính và địa danh gắn với hoạt động của con người; địa danh đường phố
và địa danh chỉ công trình xây dựng)
- Căn cứ tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, địa danh chia thành 5 nhóm nhỏ: địa danh có nguồn gốc Hán - Việt; địa danh có nguồn gốc thuần Việt; địa danh có nguồn gốc Pháp; địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt - Mường, Môn – Khơme; địa danh có nguồn gốc hỗn hợp; địa danh chưa xác định được nguồn gốc
- Căn cứ vào tiêu chí chức năng giao tiếp, có thể phân chia địa danh thành các loại: Tên chính thức; Tên gọi dân gian; Tên cổ, cũ; Tên khác
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu về địa danh, các tác giả đã có những cách phân loại khác nhau nhưng đều dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lý,
xã hội, ngôn ngữ liên quan đến đối tượng nghiên cứu Qua việc phân loại địa danh sẽ giúp chúng ta có những kiến thức đầy đủ hơn về địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ để làm cơ sở khi tìm hiểu, nghiên cứu về địa danh
1.1.2 Địa danh học
1.1.2.1 Khái niệm
Địa danh học là một bộ môn của ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu sự hình thành về cấu tạo, phương thức định danh và chức năng của các tên gọi địa lý cũng như sự biến đổi của địa danh Địa danh học chia thành các ngành
Trang 18nhỏ hơn như: Sơn danh học (nghiên cứu tên gọi đồi núi, địa hình dương so với mặt đất); Thủy danh học (nghiên cứu về tên gọi liên quan đế nước và các dòng chảy); Phương danh học (nghiên cứu tên gọi địa điểm cư trú của con người- địa danh các đơn vị dân cư); Phố danh học (nghiên cứu tên gọi đường phố và các đối tượng trong thành phố-địa danh công trình nhân tạo)
1.1.2.2 Đối tƣợng, mục đích nghiên cứu của địa danh học
Bộ môn khoa học nghiên cứu về tên gọi được gọi là danh học, như: Tên người (nhân danh), tên các hành tinh, tên gọi các tổ chức chính trị - xã hội, tên các tộc người, tên các nghiệp đoàn, tên các con đường, tên gọi các con sông, dòng suối, tên gọi các con vật, tên gọi các đấng siêu nhiên, thần linh, tên gọi các quả đồi, ngọn núi, tên các công trình xây dựng để ở, tên người gọi theo dòng bố, tên gọi theo dòng mẹ, tên người gọi theo con cháu…
Đối tượng nghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được sử dụng để đặt tên, gọi tên các vùng đất Các địa danh là một trong nhiều đối tượng nghiên cứu của khoa học được đặt trong thế phân biệt với các đối tượng nghiên cứu khác như: nhân danh học, phố danh học
Mục đích nghiên cứu địa danh học hiện nay là khảo sát địa danh của từng vùng, miền để khái quát lên những đặc điểm của địa danh một cách có
hệ thống về cấu tạo, phương thức định danh và đặc trưng văn hóa
Trên cơ sở những kiến thức cơ bản về địa danh, tiếp thu những thành tựu, kết quả của các tác giả đã nghiên cứu về địa danh, tôi tập trung phân tích, xác định những đặc điểm chủ yếu về cấu trúc địa danh, phương thức định danh, sự thể hiện các phương diện văn hóa trong địa danh hành chính huyện Mường La, từ đó đúc kết được những nét độc đáo trong cách gọi tên, đặt tên các đơn vị hành chính, đơn vị dân cư tại địa phương, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu để tiếp tục giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân dân các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện
Trang 19Từ việc xác định chức năng của các đơn vị trong ngôn ngữ, tác giả đưa
ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr.16]
Qua định nghĩa này, tác giả cũng chỉ rõ:
- Các thành phần trong từ (ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo, ý nghĩa) không độc lập đối với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một hợp thể gọi là từ Bất cứ thành phần nào tách riêng ra cũng không tự mình đủ sức xác định từ Khi một thành phần nào đó thay đổi thì có nhiều từ khác nhau mặc dù các thành phần kia – nhất là thành phần ngữ âm - vẫn giữ nguyên
- Các thành phần của từ-trừ thành phần ngữ âm - không phải là của riêng của mỗi từ Thành phần ý nghĩa, thành phần ngữ pháp và thành phần cấu tạo xuất hiện trong từ này cũng có thể xuất hiện trong một số từ khác; các
Trang 20thành phần này của từ có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêng biệt
Từ định nghĩa nêu trên, tác giả xác định từ có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: -
Từ định nghĩa nêu trên, tác giả đề cập đến một số tính chất cơ bản sau của từ, đó là:
- Từ là đơn vị có tính chất tín hiệu, từ có mặt biểu đạt (hình thức ngữ âm) và được biểu đạt (nghĩa, ý nghĩa)
- Khi ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, tức xét như một hệ thống, so với các đơn vị ngôn ngữ khác như âm vị, hình vị và câu thì từ là một đơn vị ngôn ngữ tồn tại hiển nhiên, sẵn có Âm vị, hình vị của ngôn ngữ là những đơn vị siêu ngôn ngữ được phân xuất từ từ theo các phương pháp ngôn ngữ học, bản thân chúng không luôn luôn tồn tại trong nhận thức những người sử dụng ngôn ngữ tự nhiên; câu là đơn vị không tồn tại sẵn có như từ vì chúng được sản sinh khi ngôn ngữ ở trạng thái hành chức, chỉ có trong đơn vị hành chức câu mới được tạo lập Như vậy, khi ngôn ngữ chưa được sử dụng, chưa trong hoạt động hành chức, chỉ có từ là đơn vị tồn tại
- Khi ngôn ngữ thực hiện hoạt động hành chức, từ thực hiện chức năng
là đơn vị nhỏ nhất để cấu tạo nên câu Người ta không giao tiếp bằng các từ đơn lẻ, riêng biệt mà kết hợp các từ với nhau Đơn vị giao tiếp nhỏ nhất là câu
Trang 21Tuy có những quan điểm khác nhau về “từ” nhưng chúng ta thấy rằng
các tác giả có cùng nhận định về vai trò và chức năng của từ, đó là: Từ chứa
đựng rất nhiều loại thông tin, (những thông tin về tổ chức, về lịch sử, về hoạt
động của ngôn ngữ) Đó là những thông tin trong ngôn ngữ Trong từ còn
những thông tin về những cái ngoài ngôn ngữ như thông tin về sự vất, hiện
tượng trong thực tế; thông tin về hoàn cảnh xã hội, về văn hóa, về thời đại, về
tâm lý của người nói, người nghe Trong những thông tin ngôn ngữ của từ,
những thông tin về sự vật hiện tượng được biểu thị và những thông tin về
khả năng tổ chức câu là cơ bản Từ có những chức năng cơ bản đó là: chức
năng biểu đạt (hình thức ngữ âm), chức năng được biểu đạt (biểu thị ý nghĩa
của sự vật, hiện tượng ) và chức năng tạo câu
1.2.2 Phân loại từ tiếng Việt
Theo Đỗ Việt Hùng, từ có 02 loại chính: từ đơn và từ phức (từ phức có
các kiểu: từ phái sinh, từ ghép, từ láy) [13, tr.20-21] Trong đó:
- Từ đơn là những từ được tạo ra theo phương thức từ hóa hình vị, do
đó trong cấu tạo của từ đơn chỉ có một hình vị; ví dụ: từ nhà, làm trong
tiếng Việt
- Từ phức là những từ mà trong cấu tạo của nó gồm hai hoặc hơn hai
hình vị, ví dụ từ quần áo, xe đạp trong tiếng Việt Căn cứ vào phương thức
cấu tạo từ, có các kiểu từ phức sau:
+ Từ phái sinh: là từ phức được tạo ra theo phương thức ghép căn tố
với phụ tố
+ Từ ghép: là những từ được tạo ra theo phương thức ghép căn tố với
căn tố Trong từ ghép lại chia thành từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa),
ví dụ: xe máy, cá chép, chim sẻ và từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa), ví
dụ: bố mẹ, làng xóm, tốt đẹp
+ Từ láy: là những từ được tạo ra theo phương thức láy, ví dụ: xanh
Trang 22xanh, trăng trắng Căn cứ vào sự giống nhau giữa hình vị gốc và hình vị láy, người ta chia từ láy thành: từ láy toàn bộ, ví dụ: vàng vàng, xinh xinh và từ láy bộ phận, ví dụ: vội vàng, long lanh, bối rối
Trên cơ sở kiến thức về cấu tạo từ tiếng Việt nói chung, chúng tôi tập trung hệ thống, phân loại địa danh hành chính huyện Mường La thành 02 loại
là từ đơn và từ phức Qua tổng hợp 305 địa danh, chúng tôi có những đánh giá
sơ bộ về cấu tạo của địa danh hành chính trên địa bàn huyện, đồng thời rút ra những nhận xét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ với địa lý, văn hóa trong nhận thức, tâm lý, cách gọi tên, đặt tên của nhân dân đối với vùng đất mình sinh sống
1.3 Một số vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ
1.3.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một lĩnh vực liên quan mọi mặt của đời sống xã hội, nên nó được quan tâm từ rất sớm Từ khi văn hóa trở thành khoa học (thế kỷ XIX) cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa E.B.Taylor (1871) - một nhà nhân chủng học, dân tộc học người Anh quan
niệm văn hóa là “phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đạt được”[15, tr.177]
Khái niệm về văn hóa của Hồ Chí Minh viết năm 1943 trong phần cuối
của cuốn Nhật ký trong tù nêu rõ hơn mục đích của sáng tạo văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
Trang 23và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, tr.177]
Trong tác phẩm Văn hóa và đổi mới do Nhà xuất bản chính trị quốc gia
ấn hành năm 1994, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có đưa ra một quan niệm có
phần rất dễ hiểu đối với mọi người Ông viết “Theo nghĩa rộng, nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải tự nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp đến con người” Trong cuốn "Từ điển tiếng Việt" do GS Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: "Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử" [15, tr.179]
Nhìn chung, khái niệm về văn hoá của các tác giả, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên những vấn đề chung nhất, căn bản nhất, đó là: văn hóa bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử lâu dài của mình, văn hóa liên quan chặt chẽ với con người Đây cũng chính là cách hiểu mà chúng tôi vận dụng trong luận văn để xác định các phương diện văn hóa trong địa danh hành chính huyện Mường La
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Ngôn ngữ ra đời để đảm nhiệm vai trò là phương tiện giao tiếp, tư duy, nhưng đồng thời là công cụ để bảo tồn, lưu giữ, sáng tạo và phát triển văn hoá Ngôn ngữ phản ánh những thuộc tính, bản chất và sự tồn tại của văn hoá Về vấn đề này,
GS Nguyễn Đức Tồn cho rằng: Là một thành tố của văn hoá tinh thần, ngôn ngữ giữ vị trí đặc biệt của nó Bởi vì ngôn ngữ là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển và hoạt động của những thành tố khác trong văn hoá Ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất
cứ nền văn hoá dân tộc nào Chính trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất
Như vậy, văn hoá được cấu thành từ nhiều yếu tố Trong đó, ngôn ngữ
Trang 24là một yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng Nó vừa thể hiện ở bề nổi lại vừa thể hiện ở chiều sâu của các tầng văn hoá Đồng thời nó còn là địa hạt mà con người qua sự tư duy, giao tiếp, ứng xử của mình đã có thể bộc lộ những nét đặc điểm của văn hoá như tâm lí, nguyện vọng, quan điểm, tín ngưỡng, nhận thức và nhân cách Bên cạnh đó, văn hoá phát triển góp phần bảo tồn và lưu giữ ngôn ngữ trong cộng đồng dân tộc
Trong những năm gần đây, khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ ngôn ngữ - văn hoá đang được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm Ngôn ngữ - văn hoá là một thuật ngữ được hiểu theo nhiều bình diện khác nhau Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ - văn hoá là ngôn ngữ phản ánh những biểu hiện của văn hoá trong ứng xử, giao tiếp Theo nghĩa rộng, đó là sự phản ánh văn hoá vật chất lẫn tinh thần trong ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ
Theo Từ Thu Mai, văn hoá của mỗi con người, mỗi một vùng quê đều được tiềm ẩn bên trong và được thể hiện ra bên ngoài ở ba phương diện là: Văn hoá sinh hoạt, văn hoá sản xuất và văn hoá vũ trang Chính vì thế, khi nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của địa danh, phải quan tâm đến sự thể hiện ba phương diện này
Địa danh luôn phát triển trong không gian và theo thời gian Đặc thù của nó là gắn với tính liên tục của văn hoá Trên một vùng địa lí có nhiều tộc người sinh sống thì sẽ có những biểu hiện đan xen của các nền văn hoá khác nhau và sự khác nhau này sẽ được phản ánh vào địa danh của vùng đó
Mường La là huyện miền núi phía Bắc, có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm đa số và sinh sống lâu đời trên địa bàn huyện Với nền văn hóa phong phú và ngôn ngữ riêng (tiếng nói, chữ viết), dân tộc Thái có ảnh hưởng lớn về ngôn ngữ và văn hóa đối với các dân tộc khác, kể cả người Kinh từ dưới xuôi lên sinh sống và lập nghiệp tại huyện Đặc điểm tự nhiên của huyện có nhiều núi đồi cao, khe sâu và thung lũng nhỏ
Trang 25hẹp cùng với hệ thống sông suối dày đặc đã tạo nên bức tranh thiên nhiên, bức tranh văn hóa phong phú đa dạng, đan xen; qua đó thể hiện nhận thức, tâm lý, nguyện vọng, tín ngưỡng, giao tiếp của các dân tộc thiểu số sinh sống tại Mường La Do đó, nghiên cứu địa danh hành chính huyện Mường La dưới góc độ ngôn ngữ - văn hoá trên ba phương diện chủ yếu là: văn hóa sinh hoạt, văn hóa sản xuất và văn hóa vũ trang để thấy được mối quan hệ giữa yếu
tố ngôn ngữ với yếu tố địa lí, yếu tố văn hóa, sự đan xen của các nền văn hóa thuộc các dân tộc khác nhau cùng sinh sống tại huyện Mường La phản ánh vào địa danh
1.4 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội của huyện Mường La liên quan đến địa danh
1.4.1 Vị trí địa lý
Mường La là huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cách Thành phố Sơn La
42 km về phía Đông Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu và huyện Quỳnh Nhai, phía Nam giáp huyện Mai Sơn, huyện Bắc Yên và Thành phố Sơn La; phía Đông giáp tỉnh Yên Bái; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Thuận Châu Tổng diện tích đất tự nhiên là: 142.924 ha, chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Huyện nằm trên phần kéo dài của dãy Hoàng Liên Sơn (dãy Hoàng Liên Sơn phần thuộc địa phận tỉnh Sơn La bắt đầu từ huyện Quỳnh Nhai, qua huyện Mường La, Bắc Yên và kết thúc tại huyện Phù Yên), nằm dọc hai bên bờ sông Đà, có độ cao trung bình từ 600m đến 700m so với mực nước biển
Địa hình huyện Mường La khá phức tạp, nghiêng theo hướng Tây Bắc Đông Nam, phổ biến là núi cao và núi trung bình, núi thấp chiếm tỷ lệ ít Núi uốn nếp dạng khối tảng, xen kẽ là các thung lũng và bồn địa nhỏ hẹp Địa hình chia cắt sâu và mạnh, phía Đông và Đông Bắc của huyện là những dãy
Trang 26-núi cao, dốc đứng như ở các xã: Chiềng Công, Chiềng Ân, Chiềng Muôn, Ngọc Chiến, thấp dần về phía Nam
Khí hậu huyện Mường La mang những nét chung của khí hậu vùng Tây Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới, trong năm chia làm 2 mùa
rõ rệt Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4, kết thúc vào cuối tháng 10 hằng năm Mùa lạnh bắt đầu từ gần cuối tháng 11 năm trước đến gần cuối tháng 3 năm sau
Trên địa bàn huyện có con sông Đà chảy qua theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với dài khoảng trên 50 km; có 7 suối lớn của huyện đổ vào sông
Đà, phía Bắc có các suối: Nặm Mu, Nặm Giôn, Nặm Trai, Nặm Păm, Nặm Chiến, Nặm Pia; phía Nam có suối Nặm Pàn, Nặm Bú, ngoài ra còn nhiều suối nhỏ khác Sông Đà và các con suối với lượng nước dồi dào, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện, đồng thời là nguồn tiềm năng để xây dựng các công trình thủy điện có quy mô lớn, vừa và nhỏ của đất nước như: thủy điện Sơn La, thủy điện Huội Quảng, thủy điện Nặm Chiến góp phần quan trọng vào sự phát triển của huyện Mường La nói riêng và đất nước nói chung
1.4.2 Đặc điểm lịch sử
Mường La được hình thành từ rất sớm, thế kỷ XII đã xuất hiện tên Mường La (đồng nghĩa với Mường Lò), cách đặt tên để tưởng nhớ đến Mường Lò quê tổ
Vào thế kỷ thứ XV, dưới thời thủ lĩnh Bun Phành, Mường La tách khỏi Mường Muổi (Thuận Châu ngày nay) thành một châu mường riêng và ngày càng lớn mạnh, là một trong 16 châu mường ở Tây Bắc Châu mường là vùng đất có từ 4 mường nhỏ (mường phìa) trở lên Mường La từ khi hình thành có
5 mường phìa: Chiềng An, Mường Bú (Chiềng Biên), Mường Chùm, Mường Trai (Chiềng Nghiêm), Mường Chiến (Ngọc Chiến)
Trang 27Theo các tài liệu nghiên cứu về vùng đất thuộc huyện Mường La ngày nay, thời Trần thuộc lộ Đà Giang; thời Lê là một châu thuộc phủ Gia Hưng, trấn Hưng Hóa; thời Nguyễn, trấn Hưng Hóa đổi thành tỉnh Hưng Hóa, châu
lỵ Mường La là Chiềng An
Từ đầu thế kỷ XX, dưới quyền cai trị của thực dân Pháp, Mường La thuộc tiểu quân khu Vạn Bú (sau khi đánh chiếm vùng Tây Bắc, thực dân Pháp lập tiểu quân khu này), năm 1895 thuộc tỉnh lỵ Vạn Bú (trung tâm tỉnh đặt tại Pá Giạng-Mường La), năm 1904 tỉnh lỵ Vạn Bú chuyển về Sơn La, đổi tên thành tỉnh Sơn La, Mường La là một châu thuộc tỉnh Sơn La (châu lỵ ở Chiềng An; tỉnh lỵ đặt ở Mường La)
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 15/6/1949 huyện ủy Mường La được thành lập, châu Mường La thuộc tỉnh Sơn La Ngày 07/5/1955 khu tự trị Thái - Mèo được thành lập, châu Mường La trực thuộc khu với 25 xã Năm 1961 thị trấn Sơn La tách khỏi châu Mường La và được nâng cấp thành thị xã (thị xã đầu tiên của Tây Bắc) và trở thành nơi làm việc của khu tự trị Thái-Mèo Ngày 27/10/1962 khu tự trị Thái - Mèo đổi thành khu tự trị Tây Bắc, Mường La thuộc khu tự trị Tây Bắc Ngày 24/12/1962, Quốc hội quyết định thành lập 3 tỉnh trong khu tự trị: Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ; từ đây Mường La là một trong bảy huyện của tỉnh Sơn La
Mùa xuân năm 1979, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa VI,
Mường La cắt chuyển cho Thị xã Sơn La và huyện Mai Sơn 9 xã (Mường Bằng, Chiềng Xôm, Chiềng An, Chiềng Đen, Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Sinh, Chiềng Cơi, Chiềng Sung), đồng thời chuyển huyện lỵ từ Chiềng An (xã Chiềng An-thành phố Sơn La ngày nay) về địa điểm mới ở xã
Ít Ong; huyện Mường La có 16 xã Năm 2005 thị trấn Ít Ong được thành lập,
xã Ít Ong chuyển thành thị trấn Ít Ong Đến nay, huyện Mường La có 15 xã,
01 thị trấn với 288 thôn, bản, tiểu khu, trong đó:
Trang 281 Thị trấn Ít Ong gồm 5 tiểu khu (đặt tên theo thứ tự từ 1 đến 5) và 16 bản: Nà Lốc, Chiềng Tè, Ít Bon, Nà Nong, Hua Ít, Bản Mé, Nà Tòng, Nà Trang, Nà Lo, Co Lìu, Nong Heo, Bản Tìn, Xong Ho, bản Ten, Co Bay, Hua
Nà
2 Xã Mường Chùm gồm 27 bản: Bản Nong 1, Bản Nong 2, Nà Tòng, Bản Pặt, Nà Nhụng, Bản Hin, Cuông Mường, Bản Pàn, Ún 1, Ún 2, Co Tòng, Bản Hồng, Bản Chang, Bản Lứa, Huổi Hiệu, Bản Luồng, Co Trai, Nà Thướn, Nong Chạy, Bản Kham, Tà Lừ, Pá Hồng, Huổi Sản 1, Huổi Sản 2, Huổi Lìu
1, Huổi Lìu 2, Nong Buôi
3 Xã Mường Bú gồm 3 tiểu khu (đặt tên theo thứ tự từ 1 đến 3) và 27 bản: Búng Diến, Nang Phai, Bản Cứp, Pú Luông, Bản Sang, Mường Bú, Ta
Mo, Bản Giàn, Bản Bủng, Hua Bó, Phiêng Bủng 1, Phiêng Bủng 2, Bản Ngoạng, Bó Cốp, Bằng Phột, Đông Luông, Nà Nong, Văn Minh, Bản Chón,
Nà Xi, Huổi Hao, Pú Nhuổng, Huổi Cưởm, Thẳm Xúm, Hin Hon, Pá Tong,
Pá Po
4 Xã Tạ Bú gồm 14 bản: Bản Buôi, Bản Két, Bản Tạ Bú, Bản Mòn, Bản Pết, Bản Búng, Bản Bắc, Bản Pậu, Thôn Tạ Bú, Bản Tôm, Pá Tong, Chom Cọ, Thẳm Hon, Nong Phụ
5 Xã Chiềng San gồm 9 bản: Bản Lâm, Bản Nong, Bản Chiến, Bản Luồng, Pá Chiến, Pá Lang, Kéo Ớt, Pú Pẩu, Púng Quài
6 Xã Chiềng Hoa gồm 21 bản: Tà Lành, Bản Tả, Huổi Lay, Bản Áng, Bản Pia, Nong Quang, Nà Cưa, Bản Chông, Pha Xe, Huổi Pù, Nà Lứa, Hát Hay, Huổi Sưa, Nong É, Lọng Sản, Huổi Má, Pháy Hượn, Pá Liềng, Bản Nghịu, Hin Phá, Nà Sàng
7 Xã Chiềng Muôn gồm 6 bản: Nong Quài, Hua Đán, Hua Chiến, Hua Kìm, Pá Kìm, Cát Lình
8 Xã Chiềng Ân gồm 7 bản: Nong Hoi Trên, SNong Hoi Dưới, Nong
Trang 29Bông, Hán Trạng, Sạ Súng, Pá Xá Hồng, Tà Pù Chử
9 Xã Chiềng Công gồm 17 bản: Nặm Hồng, Đin Lanh, Lọng Bó, Hán
Cá Thệnh, Co Sủ Trên, Co Sủ Dưới, Kéo Hỏm, Chống Dú Tẩu, Tốc Tát Trên, Tốc Tát Dưới, Khao Lao Trên, Khao Lao Dưới, Bản Mạo, Nong Hùn, Bản Mới, Tảo Ván, Pá Chè
10 Xã Nặm Păm gồm 11 bản: Bản Piệng, Bản Hua Nặm, Bản Ít, Bản Hốc, Bản Bâu, Huổi Sói, Hua Piệng, Nong Bẩu, Huổi Có, Huổi Hốc, Huổi Liếng
11 Xã Pi Toong gồm 18 bản: Bản Cang, Nà Núa, Bản Pi, Lứa Luông, Nong Pi, Bản Phiêng, Bản Chộc, Lứa Hua Nà, Nà Cài, Nà Phìa, Nà Bướm, Bản Ten, Bản Tong, Nà Nôm, Nà Trò, Chà Lào, Bản Tạy, Nà Trà
12 Xã Mường Trai gồm 10 bản: Phiêng Xe, Bó Ban, Cang Mường, Khâu Ban, Lả Mường, Búng Cuổng, Huổi Muôn 1, Huổi Muôn 2, Hua Nà, Huổi Ban
13 Xã Hua Trai gồm 22 bản: Pá Han, Pá Múa, Bản Lè, Phiêng Hoi, Bản Mển, Ái Ngựa, Nà Sản, Lọng Bong, Nà Lời, Nặm Hồng, Bản Ỏ, Nà Lo, Thẳm Cọng, Nặm Khít, Phiêng Phé, Nà Tòng, Nà Hoi, Bản Đông, Bản Po, Huổi Nạ, Huổi Cưởm, Nà Liềng
14 Xã Chiềng Lao gồm 25 bản: Bản Pậu, Nà Cường, Nà Nong, Bản Cun, Bản Nhạp, Nà Lếch 1, Nà Lếch 2, Nà Lếch 3, Xu Xàm, Huổi Păng, Bản
Mạ, Đán Én, Huổi Tóng, Tà Sài, Phiêng Cại, Huổi Choi, Nà Biềng, Phiêng Phả, Bản Lếch, Huổi Hậu, Tạng Khẻ, Pá Sóng, Huổi La, Huổi Quảng, Nà
Xu
15 Xã Ngọc Chiến gồm 33 bản: Nà Tâu, Co Két, Lò Phon, Đông Lọng, Đông Xuông, Bản Lướt, Phiêng Ái, Nà Sàng, Nà Din, Tu Nguồng, Pú Dảnh, Bản Phày, Mường Chiến, Nà Bá, Phiêng Cứu, Giạng Phổng, Chặm Pộng, Nặm Nghẹp, Lọng Cang, Ngam La, Bản Kẻ, Huổi Ngùa, Pá Te, Đin Lanh,
Trang 30Nậm Hoi, Pá Pầu, Phiêng Khao, Chom Khâu, Pom Mỉn, Pom Mển, Pom Cao, Pom Lưu, Nà Khoa- Co Chom
16 Xã Nậm Giôn gồm 17 bản: Huổi Lẹ, Đen Đin, Co Lứa, Pá Mồng,
Pá Bát, Púng Ngùa, Huổi Ngàn, Pá Hợp, Huổi Tao, Huổi Chèo, Huổi Sản, Huổi Chà, Pá Pù, Nặm Cừm, Huổi Pươi, Huổi Hốc, Pá Giôn
1.4.3 Đặc điểm dân cƣ, dân tộc
Mường La là huyện có nhiều dân tộc sống xen kẽ với nhau Theo số liệu của Huyện ủy Mường La năm 2013, huyện có 16.449 hộ với 82.233 nhân khẩu
Huyện có 6 dân tộc anh em cùng chung sống là: Thái, Mông, Kinh, Kháng, Khơ Mú, La Ha Trong đó, dân tộc Thái, Mông có số lượng đông nhất, là dân cư bản địa có mặt ở đây từ lâu đời Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, một bộ phận nhân dân từ một số tỉnh miền xuôi lên khai hoang theo chủ trương của Đảng và Nhà nước; ngoài ra còn có một bộ phận là bộ đội, cán bộ các cơ quan của tỉnh, trung ương đến làm việc
và sinh sống tại huyện Các dân tộc La Ha, Kháng, Khơ Mú sống xen kẽ với các dân tộc khác tại các xã trong huyện Đa số đồng bào đã sinh sống ở đây từ lâu đời, bộ phận khác chuyển từ các huyện của các tỉnh lân cận do quá trình phân chia địa giới hành chính, chia tách, sát nhập
Dân cư các dân tộc trong huyện phân bố như sau: Dân tộc Thái có khoảng 50.000 người (chiếm 60,8%), sống ở khắp 16 xã, thị trấn trong huyện Dân tộc Mông có khoảng 20.000 người (chiếm 24,3%), sống tập trung ở 3 xã Chiềng Công, Chiềng Ân, Chiềng Muôn và sống xen kẽ ở các xã trong huyện Dân tộc Kinh có khoảng 5.000 người (chiếm 6,1%), sống tập trung chủ yếu ở các tiểu khu của Thị trấn Ít Ong và xã Mường Bú Dân tộc La Ha có khoảng 5.000 người (chiếm 6,1%), sống xen kẽ tại các xã Nặm Dôn, Mường Trai, Chiềng Lao, Hua Trai, Pi Toong, Nặm Păm, Ngọc Chiến, Chiềng Công,
Trang 31Chiềng Ân, Chiềng Muôn, Mường Bú Dân tộc Kháng có khoảng 1.000 người (chiếm 1,2%), sống tập trung ở xã Nặm Dôn Dân tộc Khơ Mú và dân tộc khác có khoảng 1.000 người (chiếm 1,2%), sống chủ yếu ở 2 bản Ta Mo xã Mường Bú và bản Mòn xã Tạ Bú
Mỗi dân tộc sinh sống tại huyện Mường La lại có những phong tục tập quán riêng Do đặc điểm cư trú thành những đơn vị nhỏ, xen kẽ giữa các dân tộc nên quá trình hoà hợp giữa các dân tộc diễn ra khá sớm và dễ dàng như một lẽ tự nhiên trong suốt quá trình hình thành và phát triển huyện Mường La
1.4.4 Đặc điểm ngôn ngữ, chữ viết, văn hoá
* Về ngôn ngữ, chữ viết: Huyện có 06 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống
và phát triển nên có những ảnh hưởng về mặt ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết Trong đó, tiếng Kinh (tiếng Việt) là ngôn ngữ phổ thông, được dùng phổ biến, chủ yếu đối với tất cả các dân tộc trong huyện Dân tộc Thái và dân tộc Mông
có chữ viết riêng, ngôn ngữ của họ được sử dụng khá phổ biến trong giao tiếp
Ngôn ngữ của các dân tộc trên địa bàn huyện thuộc vào những nhóm ngôn ngữ khác nhau:
- Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái có các dân tộc như: Thái, Mông, Tày, Nùng
- Nhóm ngôn ngữ Việt-Mường có các dân tộc như: Kinh, Mường
- Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me có các dân tộc như: Khơ Mú, La Ha, Kháng
- Nhóm ngôn ngữ Hán có dân tộc Hoa
Người Thái là một trong số ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết
từ lâu đời (thuộc hệ chữ Phạn) Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện chữ Thái nhưng hàng ngàn năm nay, các nhóm người Thái ở nước ta đã
sử dụng con chữ riêng của mình cho đến ngày nay Bộ chữ Thái là một công
cụ để ghi nhận và giao tiếp trong cộng đồng người Thái Chữ Thái được nhân
Trang 32dân các vùng người Thái cư trú truyền dạy cho con cháu theo con đường cha truyền con nối, từ thế hệ này sang thế hệ khác Khi Tây Bắc được giải phóng,
Khu Tự trị Thái Mèo được thành lập (sau này đổi tên là khu tự trị Tây Bắc)
Tháng 11/1954, Sở Giáo dục khu đã tập hợp các trí thức người Thái toàn khu
về họp bàn việc sử dụng chữ Thái và thống nhất xây dựng bộ chữ Thái (bộ chữ mà nhân dân còn sử dụng cho đến ngày nay) Đó là bộ chữ để dùng cho
công tác xóa nạn mù chữ, phương tiện báo cáo cấp xã, được sử dụng trong văn bản nhà nước như giấy kết hôn, khai sinh, dùng trong phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách báo, ấn phẩm văn học, tuyên truyền cổ động Thực hiện Chỉ thị 38 ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã quyết định cho triển khai đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu, biên soạn chương trình, tài liệu dạy tiếng, chữ dân tộc Thái tỉnh Sơn La” do Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh chủ trì Đề tài đã được Hội đồng khoa học tỉnh nghiệm thu, được áp dụng trong thực tế dạy học tiếng dân tộc Thái trong tỉnh Năm
2006, Hội đồng khoa học tỉnh Sơn La tiếp tục nghiệm thu đề tài nghiên cứu
khoa học “Thiết kế phần mềm Font chữ Thái trên vi tính” do trường Cao
đẳng Sơn La chủ trì Căn cứ vào kết quả sử dụng rộng rãi của bộ Font chữ Thái, ngày 09/7/2013 bộ chữ Thái đã được UBND tỉnh Sơn La ban hành Quyết định 1428/QĐ-UBND về việc phê chuẩn bộ chữ cổ truyền dân tộc Thái tỉnh Sơn La
Khi chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ,
công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số ban hành, Trường Cao đẳng Sơn
La đã chỉ đạo cho xây dựng chương trình chi tiết và biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Thái, chữ Thái cho cán bộ, công chức, bộ đội, công an và sinh viên
chuẩn bị ra công tác tại các vùng dân tộc thiểu số (do Thạc sĩ Lò Mai Cương
Trang 33làm chủ nhiệm đề tài) Kết quả đề tài này hiện nay đang được sử dụng làm tài
liệu giảng dạy tiếng và chữ Thái tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh, Trung tâm học tập cộng đồng trong tỉnh Sơn La và một số tỉnh có đồng bào dân tộc Thái tham khảo và dùng làm căn cứ xây dựng tài liệu phù hợp với địa phương mình Việc dạy học tiếng và chữ Thái đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở tỉnh Sơn La nói chung, huyện Mường La nói riêng
* Về văn hoá: Huyện Mường La có nền văn hóa phát triển từ rất sớm,
phong phú và đa dạng với truyền thống yêu nước, đoàn kết, đức tính cần cù, yêu lao động của các dân tộc sinh sống tại địa phương Mỗi dân tộc trong huyện đều có bản sắc văn hóa riêng, phong phú, độc đáo như: Kiến trúc, tín ngưỡng, ẩm thực, trang phục, nhạc cụ, lễ hội, các câu chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, hát giao duyên Hiện nay, những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của các dân tộc trong huyện vẫn được bảo tồn, lưu truyền và phát triển, tiêu biểu là: lễ hội “Xên bản” (cúng cho cả bản), lễ hội “Xên mường” (cúng cho cả cộng đồng chung như là một xã), lễ hội “Xên Đông” (cúng rừng thiêng), lễ hội “Xên bó” (cúng mó nước), lễ hội “Hạn khuống”, “Kin khảu maư” (Mừng Cơm mới) của dân tộc Thái; lễ hội “Pang a” (dâng hoa măng), “Mừng cơm mới” của dân tộc La Ha và dân tộc Kháng; lễ hội Gầu tào (đón năm mới), lễ cầu may (cho cả dòng họ) của dân tộc Mông; lễ hội “Pa Sưm” (lễ hội cầu mùa) của dân tộc Khơ Mú Cùng với sự phát triển của xã hội, đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện vẫn lưu giữ nhiều trò chơi dân gian như: Đẩy gậy,
tó má lẹ, ném còn của dân tộc Thái; ném pao của dân tộc Mông Đồng thời các trang phục truyền thống, nhạc cụ dân gian vẫn được sử dụng thường xuyên như: Pí, tính tẩu, nhị, khăn piêu, váy áo cóm với các điệu múa nón, múa khăn phiêu của dân tộc Thái; khèn môi, khèn bè, váy áo của dân tộc Mông; ống gõ, đàn, trống, sáo của dân tộc Khơ Mú; ống tăng bu, đàn hưn
Trang 34mạy và điệu múa Tăng bu (dỗ ống) của dân tộc La Ha và Kháng Bên cạnh
đó, ẩm thực của các dân tộc thiểu số là những nét văn hóa tiêu biểu của đồng bào Tây Bắc nói chung và huyện Mường La nói riêng với “khảu lam” (cơm lam), “pà po, pà mọ, pà pỉnh tộp, pà mẳm” (các món cá), “pà giảng” (cá hun khói), “nhứa giảng” (thịt hun khói), “gà mọ”, “nặm pịa, “canh xổm lôm”,
“pắc chẩm chéo” của dân tộc Thái; “bánh pa pa”, mèn mén, thịt treo gác bếp của dân tộc Mông đã góp phần tạo nên “bức tranh” văn hóa độc đáo, đa dạng và phong phú của các dân tộc sinh sống tại huyện Mường La
Mường La có nhiều di tích lịch sử, khảo cổ học, hang động đẹp, danh
lam thắng cảnh như: Lũng Đán Đanh-xã Mường Chùm (là nơi thành lập chi
bộ Đảng đầu tiên của huyện Mường La), Đồn Pom Pát và Đồn Mường Chiến (di tích lịch sử chống Pháp ở thị trấn Ít Ong và xã Ngọc Chiến), Hang Co Nong (di tích khảo cổ học ở Thị trấn), Hang Thẳm Bó -xã Mường Bú (thắng cảnh của tỉnh Sơn La) Có nhiều công trình thủy điện lớn của cả nước xây
dựng trên địa bàn huyện như: Công trình thủy điện Sơn La ở Thị trấn Ít Ong, công trình thủy điện Huổi Quảng ở xã Chiềng Lao, công trình thủy điện Nặm Chiến ở xã Ngọc Chiến và 15 công trình thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn Những địa danh này đã góp phần phản ánh lịch sử đảng bộ huyện cũng như những nét đặc trưng về ngôn ngữ, văn hoá vùng miền độc đáo của đồng bào các dân tộc huyện Mường La
1.5 Tiểu kết chương 1
1.5.1 Chương này trình bày những kiến thức cơ bản về địa danh và địa danh học, các hướng phân loại địa danh; đồng thời nêu lên một số nội dung cơ bản về từ tiếng Việt; về văn hóa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Đây là những kiến thức cơ bản, trọng tâm để tôi nghiên cứu, vận dụng và trình bày một cách có hệ thống các nội dung liên quan đến địa danh thuộc đơn
vị hành chính, đơn vị dân cư trên địa bàn huyện Mường La
Trang 351.5.2 Mường La là một huyện vùng núi phía Tây Bắc của tổ quốc, địa hình chia cắt với hệ thống sông suối khá dày tạo nên 3 vùng khá rõ rệt: vùng cao, vùng thấp, vùng lòng hồ sông Đà Huyện có lịch sử hình thành và phát triển từ rất sớm, qua nhiều thời kỳ, cơ quan hành chính tỉnh và khu đều đóng
ở địa phận Mường La, trên địa bàn huyện hiện nay còn nhiều di tích khảo cổ học, di tích lịch sử, các địa danh gắn với cuộc kháng chiến của dân tộc cũng như quá trình phát triển của tỉnh Sơn La
1.5.3 Dân cư trong huyện phân bố đều khắp 16 xã và thị trấn với nền văn hóa đậm đà bản sắc các dân tộc vùng núi, thể hiện qua kiến trúc, tín ngưỡng, ẩm thực, trang phục, nhạc cụ, lễ hội, các câu chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, hát giao duyên của các dân tộc trong huyện Các địa danh mà chúng tôi đã trình bày ở trên đã phần nào chứng minh cho điều này Đến nay, văn hóa các dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, lưu truyền và phát triển, đồng thời ngôn ngữ ngày càng phát triển, sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc ngày càng nhiều hơn, qua đó góp phần hòa đồng, đoàn kết giữa các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện
1.5.4 Huyện Mường La có 06 dân tộc anh em cùng sinh sống (trong đó dân tộc Thái chiếm đa số, khoảng 61%, dân tộc Mông khoảng 25%, dân tộc Kinh khoảng 6%, dân tộc La Ha khoảng 6%, còn lại là các dân tộc khác)
Các dân tộc trong huyện thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau, trong đó chiếm
số lượng lớn nhất là tộc người Thái, người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Thái
Như vậy, dân tộc Thái vừa chiếm số lượng lớn, vừa là cư dân sống lâu đời trên địa bàn huyện, họ có tiếng nói và chữ viết riêng, do đó họ có sự ảnh hưởng lớn về văn hóa đối với các dân tộc khác, cũng như trong việc đặt tên,
gọi tên các vùng đất (có 260/305 địa danh thuộc ngôn ngữ dân tộc Thái, chiếm 85%, nội dung này được trình bày cụ thể ở chương 2) Đồng thời một
Trang 36số dân tộc khác cũng sử dụng ngôn ngữ tiếng Thái để giao tiếp trong đời sống sinh hoạt (trước khi sử dụng tiếng phổ thông như ngày nay)
Trang 37CHƯƠNG 2
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN MƯỜNG LA
XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC
2.1 Phân loại địa danh theo đối tượng và theo nguồn gốc ngôn ngữ
Khi xem xét địa danh dưới góc độ ngôn ngữ, nhiều tác giả căn cứ vào các tiêu chí về đối tượng (như: địa lý, địa hình, tự nhiên, công trình xây dựng, đường phố, cấp hành chính ), nguồn gốc ngôn ngữ, chức năng giao tiếp, yếu
tố kinh tế, xã hội để phân loại địa danh (chẳng hạn: Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên; địa danh chỉ các công trình xây dựng; địa danh chỉ các đơn vị hành chính; địa danh chỉ vùng; địa danh chỉ đơn vị hành chính-dân cư; địa danh gắn với hoạt động của con người; địa danh kinh tế-xã hội )
Trên cơ sở tiếp thu, tham khảo và vận dụng sáng tạo các cách phân loại của các tác giả, căn cứ vào đặc điểm địa danh trên địa bàn huyện Mường La
và số lượng 305 địa danh tiến hành khảo sát, tôi lựa chọn cách phân loại địa
danh hành chính huyện Mường La (bao gồm toàn bộ địa danh thuộc các đơn
vị hành chính, đơn vị dân cư trên địa bàn huyện Mường La) theo đối tượng và
theo nguồn gốc ngôn ngữ
2.1.1 Phân loại địa danh theo đối tượng
* Hệ thống quản lý hành chính ở nước ta hiện nay có 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã [12, tr.64-65] Như vậy, về phương diện tổ chức: huyện, xã, thị trấn là các đơn vị hành chính; bản, tiểu khu, thôn, tổ dân phố là đơn vị dân
cư trực thuộc một đơn vị hành chính nhất định là cấp xã (bao gồm xã, phường, thị trấn)
* Trong nội dung luận văn, để thống nhất cách trình bày và phân loại, tôi sử dụng các cụm từ như sau:
- Cụm từ “đơn vị hành chính” khi đề cập đến cấp chính quyền là cấp
Trang 38huyện hoặc cấp xã, chẳng hạn: huyện Mường La, thị trấn Ít Ong, xã Chiềng
San (trong đó huyện, thị trấn, xã là những đơn vị hành chính; Mường La, Ít Ong, Chiềng San là những địa danh thuộc các đơn vị hành chính là: huyện, thị trấn, xã)
- Cụm từ “đơn vị dân cư” khi đề cập đến các bản, tiểu khu, thôn
- Cụm từ “địa danh hành chính” khi đề cập đến toàn bộ địa danh liên quan đến các đơn vị: huyện, thị trấn, xã, bản, tiểu khu, thôn
* Để tiện theo dõi, tôi trình bày cách phân loại địa danh theo đối tượng
qua Bảng 2.1 dưới đây Bảng chia thành 4 cột, gồm: số thứ tự; đối tượng (bao gồm các đơn vị hành chính, đơn vị dân cư; các đơn vị này còn gọi là thành tố chung, thành tố này nằm trong cấu tạo của phức thể địa danh, được trình bày
cụ thể ở các mục kế tiếp); số lượng địa danh (là tổng số địa danh thuộc đơn vị hành chính, đơn vị dân cư được thống kê tổng hợp); ví dụ (phần chữ in thường là thành tố chung, phần chữ in nghiêng là địa danh)
Bảng 2.1 Phân loại địa danh theo đối tƣợng
Ví dụ Đơn vị hành chính
Trang 39chính thuộc 2 loại chủ yếu sau:
- Loại chỉ đơn vị hành chính bao gồm: 01 địa danh thuộc đơn vị hành chính cấp huyện, chiếm 0,3%; 16 địa danh thuộc đơn vị hành chính cấp xã, chiếm 5,3%
- Loại chỉ đơn vị dân cư gồm: 279 bản, chiếm 91,5%; 08 tiểu khu, chiếm 2,6%; 01 thôn, chiếm 0,3%
Trong 6 thành tố chung nêu ở Bảng 2.1, thành tố “bản” xuất hiện nhiều nhất, được phân bố ở tất cả các xã, thị trấn trong huyện, gắn với 279 địa danh; thành tố “tiểu khu” gắn với 8 địa danh ở thị trấn Ít Ong và xã Mường Bú (đây
là hai khu vực đông dân cư, kinh tế - xã hội phát triển nhất huyện Mường La hiện nay) Đồng thời, có 01 địa danh khá đặc biệt đó là “Tạ Bú” xuất hiện 03 lần, gắn với các thành tố: xã, bản, thôn (xã Tạ Bú, bản Tạ Bú, thôn Tạ Bú) Tuy nhiên, theo lịch sử và nguồn gốc dân cư thì bản Tạ Bú là khu vực dân tộc Thái đã sinh sống lâu đời, còn thôn Tạ Bú là bộ phận dân cư phát triển sau, khi người Kinh từ miền xuôi lên khai hoang và lập nghiệp Cả bản Tạ Bú và thôn Tạ Bú đều nằm ở vị trí bên bờ sông Đà và cửa suối Bú Nơi đây trước kia có bến thuyền chở khách qua sông Đà nên địa danh cũng được gọi theo tiếng của dân tộc Thái: “Ta/Tạ” tức là “bến”, “Bú” là tên dòng suối đổ ra sông
Đà
2.1.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
- Để phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, tôi chủ yếu
đề cập đến yếu tố địa danh (tên riêng), yếu tố “thành tố chung” có đề cập nhưng không phải là nội dung để phân tích; theo tiêu chí này, địa danh chia thành 6 nhóm chủ yếu như sau:
+ Nhóm 1: Địa danh Hán-Việt
+ Nhóm 2: Địa danh thuần Việt
+ Nhóm 3: Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Thái, Mông,
Trang 40Khơ Mú)
+Nhóm 4: Địa danh cấu tạo bằng chữ số Ả Rập
+ Nhóm 5: Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
+ Nhóm 6: Địa danh chưa xác định được ý nghĩa tên gọi và nguồn gốc
Kết quả tổng hợp, thống kê, phân loại địa danh hành chính huyện
Mường La theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ thể hiện qua Bảng 2.2 dưới đây
(trong các ví dụ minh họa, yếu tố thành tố chung sử dụng chữ in thường, yếu
tố địa danh sử dụng chữ in nghiêng; chữ cái để trong dấu ngoặc đơn là chữ
viết tắt của các đơn vị hành chính, đó là: huyện, xã, thị trấn)
Bảng 2.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
Nhóm Nguồn gốc ngôn ngữ Số lượng
địa danh (tỉ lệ)
Ví dụ
1 Hán - Việt 01 (0,3%) Bản Văn Minh (M.B)
2 thuần Việt 01 (0,3%) Bản Mới (C.C)
DT Thái+Thuần Việt 04 (1,2%) Bản Pom Cao (N.C); xã
Chiềng Công; xã Chiềng Hoa; bản Đán Én (C.L)
DT Thái+Hán Việt 01 (0,3%) Xã Chiềng Ân
Thuần Việt+DT Thái 01 (0,3%) Bản Lò Pon (N.C)
Dân tộc Khơ Mú 01 (0,3%) - Bản Ta Mo