ịa danh là một loại đơn vị từ vựng, chuyên nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các tên gọi chỉ đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn.. Trong vòng 8 năm từ 1902 - 1910 J.Gil
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Khang
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tƣ liệu cũng nhƣ kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của
GS.TS Nguyễn Văn Khang Em xin gửi đến thầy lời cảm ơn sâu sắc
Luận văn là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những Thầy giáo, Cô giáo đã giảng dạy các chuyên đề cho lớp Cao học Ngôn ngữ K2 - Trường Đại học Tây Bắc
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ phòng Nghiên cứu khoa học - Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Sơn La, phòng Cơ sở hạ tầng, phòng Văn hóa Ủy ban thành phố Sơn La và các bác nghiên cứu Thái học đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 L DO CHỌN Ề T I 1
2 LỊCH SỬ VẤN Ề 2
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỊA DANH TRÊN THẾ GIỚI 2
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỊA DANH Ở VIỆT NAM 4
2.3 VẤN Ề NGHIÊN CỨU CỦA ỊA DANH TH NH PHỐ SƠN LA 6
3 MỤC CH V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
3.1 MỤC CH NGHIÊN CỨU 7
3.2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
4 ỐI TƯỢNG V PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
4.1 ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8
4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
5 PHƯƠNG PHÁP V THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU 8
5.1 PHƯƠNG PHÁP MIÊU TẢ NGÔN NGỮ HỌC 8
5.2 PHƯƠNG PHÁP IỀU TRA IỀN DÃ 9
6 Ý NGHĨA L LUẬN V THỰC TIỄN 10
6.1 Ý NGHĨA L LUẬN 10
6.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 10
7 CẤU TR C CỦA LUẬN V N 10
Chương I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ SƠN LA 12
1.1 MỘT SỐ VẤN Ề L THUYẾT VỀ ỊA DANH 12
1.1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học 12
1.1.1.1 Khái niệm địa danh 12
1.1.1.2 Khái niệm địa danh học 14
1.1.2 Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học 15
1.1.2.1 Quan hệ giữa địa danh học với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học 15
1.1.2.2 Vị trí của địa danh học trong ngành danh xưng học 15
1.1.3 Phân loại địa danh 16
1.1.4 ặc điểm của địa danh 18
Trang 61.2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TH NH PHỐ SƠN LA 20
1.2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Sơn La 20
1.2.1.1 Về vị trí địa lí 20
1.2.1.2 Về lịch sử 21
1.2.1.3 Về văn hoá 23
1.2.1.4 Về nguồn gốc dân cư 26
1.2.1.5 Về nguồn gốc ngôn ngữ 28
1.2.2 Giới thiệu chung về thành phố Sơn La 29
1.2.2.1 Về vị trí địa lí 29
1.2.2.2 Về lịch sử 31
1.2.2.3 Về Văn hóa 32
1.2.2.4 Về nguồn gốc dân cư 34
1.2.2.5 Về nguồn gốc ngôn ngữ 35
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ SƠN LA 38
2.1 MÔ HÌNH CẤU TR C PHỨC THỂ ỊA DANH H NH CH NH SƠN LA 38
2.1.1 ặc điểm của mô hình cấu trúc phức thể địa danh 38
2.1.2 ặc điểm của mô hình cấu trúc phức thể địa danh thành phố Sơn La 40
2.1.2.1 Mô hình khái quát 40
2.1.2.2 Thành tố chung (A) 41
2.1.2.3 Thành tố riêng (B) 45
2.2 CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO ỊA DANH H NH CH NH TH NH PHỐ SƠN LA 49
2.2.1 ặc điểm cấu tạo nội dung 50
2.2.1.1 Phương thức tự tạo (cấu tạo mới) 50
2.2.1.2 Phương thức chuyển hóa 54
2.2.1.3 Phương thức vay mượn 56
2.2.2 ặc điểm cấu tạo hình thức 58
2.2.2.1 ịa danh có cấu tạo đơn (địa danh đơn thành tố) 58
2.2.2.2 ịa danh có cấu tạo phức: 60
Trang 7Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH THÀNH
PHỐ SƠN LA 65
3.1 ẶC IỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TẠO ỊA DANH 65
3.1.1 Vấn đề ý nghĩa của địa danh 65
3.1.2 Mối quan hệ giữa ý nghĩa địa danh và hiện thực được phản ánh 66
3.1.3 Các yếu tố trong địa danh hành chính thành phố Sơn phản ánh tính đa dạng của các loại hình đối tượng địa lí 69
3.1.4 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố trong địa danh thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ 69
3.1.4.1 Hiện tượng địa danh rõ ràng về nghĩa 69
3.1.4.2 Hiện tượng các địa danh chưa rõ ràng về nghĩa 71
3.2 CÁCH PHÂN LOẠI NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG ỊA DANH 72
3.3 CÁC NHÓM TỪ V TÊN GỌI THEO TRƯỜNG NGHĨA 73
3.3.1 Nhóm ý nghĩa thứ nhất 73
3.3.1.1 ịa danh chứa các yếu tố có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm, tính chất, màu sắc của chính bản thân đối tượng được định danh 74
3.3.1.2 ịa danh chứa các yếu tố phản ánh mối quan hệ giữa đối tượng được định danh với các đối tượng, sự vật, hiện tượng, yếu tố khác có liên quan 75
3.3.2 Nhóm ý nghĩa thứ hai 80
3.3.2.1 ịa danh chứa các yếu tố có ý nghĩa phản ánh niềm mong ước tốt đẹp, quyết tâm của con người về một quê hương đẹp đẽ hữu tình, về cuộc sống thanh bình, khỏe mạnh, tiến bộ 80
3.3.2.2 ịa danh có ý nghĩa phản ánh tình cảm trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc và sự ghi nhớ công lao của những người có công với đất nước, những người anh hùng đã hi sinh xương máu của mình cho quê hương đất nước 81
3.4 MỘT SỐ ỊA DANH GẮN VỚI LỊCH SỬ V N HÓA XÃ HỘI 82
3.4.1 ịa danh Sơn La 82
3.4.2 ịa danh Chiềng Lề 87
3.4.3 ịa danh Chiềng Ngần 89
3.4.4 ịa danh Chiềng An 90
3.4.5 Bản Phiêng Ngùa 90
Trang 83.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CA : Chiềng An Q Tâm : Quyết Tâm
C Cơi : Chiềng Cơi CỌ : Chiềng Cọ
CL : Chiềng Lề C : Chiềng en
CS : Chiềng Sinh CX : Chiềng Xôm
TH : Tô Hiệu CN : Chiềng Ngần
Q Thắng : Quyết thắng HL : Hua La
Trang 10DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH, CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các dân tộc tỉnh Sơn La phân theo số nhân khẩu, số hộ và khu vực
lưu trú chủ yếu năm 2012 26
Mô hình 2.1 Mô hình phức thể địa danh ở Hải Phòng 39
Bảng 2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh Thành phố Sơn La 40
Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng yếu tố cấu tạo thành tố chung 42
Bảng 2.3 Thống kê các yếu tố xuất hiện cao 48
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 ịa danh là một loại đơn vị từ vựng, chuyên nghiên cứu nguồn gốc,
ý nghĩa và đặc điểm cấu tạo các tên gọi chỉ đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn Nghiên cứu địa danh của một ngôn ngữ cũng như của một địa phương sẽ góp phần hiểu được đặc điểm văn hóa - lịch sử của một cộng đồng, một dân tộc Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh của từng địa phương đã góp phần làm sáng tỏ về lí thuyết địa danh, và góp phần bổ sung cho bức tranh toàn cảnh về địa danh Việt Nam
1.2 Mỗi địa danh được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, được gắn với một đặc trưng của dân tộc, của truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời Cho nên, địa danh có chức năng phản ánh lịch sử của từng dân tộc, từng địa phương sinh sống Vì vậy mà trong cách gọi tên, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau có thể một vùng đất có nhiều tên gọi khác nhau Nghiên cứu địa danh giúp nghiên cứu lịch sử phát triển của một vùng đất, giúp khám phá sự ảnh hưởng và tác động của những nhân tố bên ngoài vào cách đặt địa danh như, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử tộc người mặt khác, địa danh hành chính, thường là sản phẩm của một chế độ nhất định ược gọi tên bởi những quan điểm, chính sách, ý tưởng của chính quyền hoặc dân chúng đương thời Trong hoàn cảnh một vùng đất có nhiều dân tộc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh có nhiều dấu tích từ vựng của các ngôn ngữ Mỗi địa danh được hình thành trong một hoàn cảnh văn hoá, lịch sử nhất định và còn lưu dấu mãi về sau Nhiều địa danh thường mang tên người, cây cỏ, cầm thú, sự vật, địa hình thiên nhiên Tất cả những điều ấy cho thấy địa danh trở thành “vật hoá thạch”,
“tấm bia bằng ngôn ngữ độc đáo về thời đại mà nó chào đời”
Trang 121.3 Là người bản địa, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sơn La, chúng
tôi chọn đề tài: Địa danh hành chính thành phố Sơn La với mục đích hướng
đến nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về đặc điểm địa danh hành chính trên địa bàn thành phố Sơn La Với nguyện vọng mong muốn tìm hiểu về các địa danh trên quê hương mình về mặt cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt tên, nhằm góp phần giữ gìn các đặc trưng văn hóa và cung cấp thêm tư
liệu về một phạm vi cụ thể cho bộ môn địa danh học
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỊA DANH TRÊN THẾ GIỚI
ịa danh học là một bộ phận đặc biệt của từ vựng học, chuyên tìm hiểu nguồn gốc, cấu tạo và ý nghĩa của các từ ngữ chỉ các địa danh Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới (muộn hơn sự định danh), nhưng so với các khoa học khác thì vấn đề nghiên cứu địa danh đã được ngôn ngữ học thế giới quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm
Vào thời cổ đại ở các nước Phương Tây trong các sách thánh kinh của
thiên chúa giáo đã viết về địa danh, về nguồn gốc địa danh với mục đích truyền bá tư tưởng cho các giáo dân ở các quốc gia các châu lục khác nhau trên thế giới
Ngay từ những ngày đầu Công nguyên, đã có rất nhiều sách ghi chép
về địa lí, lịch sử, đồng thời chỉ ra cách đọc và ý nghĩa của các địa danh của Lệ
Nguyên trong Thủy kinh chú (thời Bắc ngụy); của Ban Cố trong Hán thư
Giữa thế kỉ XVII ở Ý đã xuất hiện từ điển địa danh đầu tiên (năm
1667), nhưng về địa danh học thì đến mãi cuối thế kỉ XIX mới ra đời Năm
1835 tác giả T.A.Gibson có cuốn Địa lí từ nguyên học; Năm 1872 J.J.Egli người Thụy Sĩ có Địa danh học; Năm 1903 J.W.Nagl người Áo cũng công bố cuốn Địa danh học iạ danh học đã được các công trình nghiên cứu này
Trang 13bước đầu chỉ ra, định hướng cách nghiên cứu lí thuyết làm tiền đề khoa học địa danh phát triển ở những giai đoạn tiếp sau này
Bước sang thế kỉ XX nhiều tài liệu khảo cứu bắt đầu quan tâm tới nguồn gốc các địa danh, địa danh học đã được các nhà nghiên cứu quan tâm một cách sâu sắc và đưa địa danh học lên một bước phát triển mới ở cả phương diện lí thuyết lẫn ứng dụng thực tế Trong vòng 8 năm (từ 1902 -
1910) J.Gillenon xuất bản Átlat ngôn ngữ Pháp; Nguồn gốc và sự phát triển
của các địa danh (1926) của A.Dauzat - nhà điạ danh học người Pháp này đã
đề xuất phương pháp văn hóa địa lí học giúp nghiên cứu các lớp niên đại của
địa danh; Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm (1958) của
George R Stewart; Thực hành địa danh học (1977) của P.E.Raper tuy nhiên, thành công hơn cả và đi đầu trong việc nghiên cứu xây dựng hệ thống
lí thuyết về địa danh phải kể đến các học giả người Xô Viết như: Tác giả
E.M.Murzaev với Những khuynh hướng địa danh học, tác giả Iu.A.Kapenko với Bàn về địa danh học đồng đại; A.I.Popov với Những công tác cơ bản về
nghiên cứu địa danh; N.I.Nikonov với Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh tác giả A.V.Superanskaja trong hai công trình Những nguyên lí của địa danh học và Địa danh là gì đã được tác giả nghiên cứu và đánh giá khá
sâu trên phương diện: ịnh nghĩa địa danh, chức năng, cấu tạo của địa danh, cách viết tên gọi địa lí địa danh
Tác giả G.L.Somolisnaja và M.V.Gorbanevskij đã chia địa danh thành
4 loại :
- Phương danh (tên các địa phương)
- Sơn danh (tên núi, đồi, gò )
- Thủy danh (Tên các dòng chảy : vũng, hồ )
- Phố danh (Tên các đối tượng trong thành phố)
Trang 14Nhưng tác giả A.V.Superanskaja trong cuốn Địa danh là gì [46;tr3] lại
chia thành 8 loại :
- Tên gọi của các điểm dân cư
- Tên gọi các con sông
- Tên gọi núi non
- Tên gọi các công trình trong thành phố
- Tên gọi các đường phố
- Tên gọi quảng trường
- Tên gọi các mạng lưới giao thông
- Tên gọi địa điểm phi dân cư nhỏ
Nghiên cứu địa danh học đang là một hướng nghiên cứu được nhiều nhà ngôn ngữ học, địa lí học trên thế giới quan tâm, tìm hiểu Những hướng
mở về lí thuyết địa danh trên thế giới đã giúp các nhà nghiên cứu địa danh của Việt Nam có hướng nhìn nhận và tiếp cần mới hơn và có tính vận dụng cao
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỊA DANH Ở VIỆT NAM
Khoa học nghiên cứu địa danh ở Việt Nam thường được nghiên cứu và tiếp cận dưới ba góc độ: địa lí học lịch sử, địa danh học ứng dụng và ngôn ngữ học
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu địa danh chủ yếu là nghiên cứu địa lí - lịch sử - văn hóa ến thế kỉ XIV mới có những tác phẩm tiêu biểu
như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1435); Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821); Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài ức
Sang đầu thế kỉ XX nghiên cứu địa danh chuyển sang dạng khảo sát, tập hợp các hệ thống địa danh Việt Nam theo hướng ứng dụng, và có nhiều đóng góp đáng kể cho ngành địa danh học của Việt Nam ến những năm 60 của thế
kỉ XX, các vấn đề về địa danh và lí luận về địa danh học mới được quan tâm
Trang 15một cách sâu sắc và phản ánh đúng phân môn của ngôn ngữ học Tiêu biểu, tác giả Hoàng Thị Châu (1964) đã đề cập đến địa danh gọi tên sông qua: Mối liên
hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông đây là công trình
đầu tiên, đánh dấu một khởi đầu quan trọng cho việc nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học ến năm 1991, công trình nghiên cứu của tác giả Lê
Trung Hoa Địa danh thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập đến nguồn gốc, cấu
tạo, ý nghĩa của các địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, những địa
danh vùng ông Nam Bộ được làm sáng rõ Tiếp đó là hai công trình Địa danh
Việt Nam (1993), và Một số địa danh và địa danh học Việt Nam (2003) của tác
giả Nguyễn Văn Âu đã phân chia địa danh thành 3 cấp khác nhau :
1) Loại địa danh, gồm 2 loại: ịa danh tự nhiên, địa danh kinh tế - xã hội 2) Kiểu địa danh, gồm 7 kiểu: Thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia
3) Dạng địa danh, gồm 11 loại: Sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng
rú, truông trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia
Tác giả Lê Trung Hoa trong hai công trình nghiên cứu: Các phương
pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh (2000), và Địa danh học Việt Nam (2006) đã chia địa danh thành 2 nhóm lớn: ịa danh chỉ đối tượng tự
nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo Còn nguồn gốc địa danh thì được phân chia làm 4 loại: ịa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, địa danh bằng ngoại ngữ
Năm 1996, Nguyễn Kiên Trường nghiên cứu địa danh Hải Phòng Ở
công trình nghiên cứu này tác giả đã bổ sung thêm một số vấn đề lí thuyết như khái niệm và chức năng của địa danh Một hệ phương pháp nghiên cứu địa danh được xác định gồm hai nhóm: Nhóm phương pháp thu thập và xử lí địa danh và nhóm các phương pháp nghiên cứu Tác giả đã đưa ra ba tiêu chí phân loại địa danh như sau:
Trang 161) Căn cứ tiêu chí đối tượng địa lí, gồm 2 loại: ịa danh tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn
2) Căn cứ theo tiêu chí nguồn gốc, gồm 5 loại: ịa danh Hán Việt, địa danh thuần Việt, địa danh từ tiếng Pháp hoặc ngôn ngữ Châu Âu, địa danh từ tiếng Quảng ông, địa danh từ nguồn gốc dân tộc có quan hệ với tiếng Việt
3) Căn cứ tiêu chí chức năng giao tiếp, có 3 loại: Tên chính thức, tên cũ, tên cổ và các tên khác
Từ năm 2004 đến nay, nhiều luận án đã nghiên cứu địa danh của các
địa phương Chẳng hạn, như các luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đặc điểm địa
danh Quảng Trị (Từ Thu Mai, 2004); Sử dụng phương pháp so sánh - lịch sử khi nghiên cứu các địa danh có nguồn gốc dân tộc thiểu số ở Dăk Lăk (Trần
Văn Dũng, 2005); Địa danh có nguồn gốc dân tộc thiểu số Tây Thừa Thiên
Huế (Trần Văn Sáng, 2013); Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của địa danh Thanh Hóa (Vũ Thị Thắng, 2014); cùng nhiều luận văn thạc sĩ và các bài viết
về địa danh
Các vấn đề lí thuyết về địa danh cần phải được soi sáng và ứng dụng bằng việc nghiên cứu địa danh ở các địa bàn, địa phương cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh là rất cần thiết để hoàn thiện bức tranh ngôn ngữ cũng như đặc trưng địa danh của từng vùng, miền nói riêng và hệ thống lí thuyết về địa danh nói chung Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương chúng tôi lựa chon cách phân loại của Lê Trung Hoa, Nguyễn Văn Trường làm cơ sở cho việc nghiên cứu địa danh thành phố Sơn La
2.3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỊA DANH THÀNH PHỐ SƠN LA
Nghiên cứu địa danh về thành phố Sơn La là vấn đề rất mới Trong các
tài liệu Lịch sử Đảng bộ thị xã Sơn La, lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La [6], [7],
[8], [9], [10] của Ban chấp hành ảng bộ thị xã Sơn La, và Ban chấp hành
Trang 17ảng bộ tỉnh Sơn La đã đề cập đến bộ máy tổ chức chính tri, vị trí địa lí, lịch
sử, văn hóa của thành phố Sơn La
Trong Hội thảo Thái học toàn quốc lần thứ V tại iện Biên có một số bài viết đã đề cập đến địa danh Sơn la: Đất Mường Chiềng An (Lò Văn Muôn, năm 2008), Những địa danh lịch sử tại thị xã Sơn La (Lò Văn Lả, năm 2008),
Thành phố Sơn La với vùng đất huyền thoại (Cà Chung, năm 2008), những bài
viết này mới chỉ đề cập tới truyền thống, văn hóa - lịch sử, mang tính chất liệt
kê, phản ánh những thông tin, chứ chưa đề cập đến việc tìm hiểu ý nghĩa, phương thức định danh được ẩn chứa trong mỗi địa danh Cho đến thời điểm hiện tại, kể cả trong và ngoài nước, chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về đặc điểm địa danh hành chính của thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Nghiên cứu địa danh hành chính thành phố Sơn La sẽ đóng góp cho việc hoàn thiện lí luận nghiên cứu địa danh nói chung ở Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 MỤC CH NGHIÊN CỨU
Thông qua nghiên cứu, kháo sát, phân tích, luận văn nghiên cứu các địa danh thành phố Sơn La trên các phương diện về mặt cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt tên Góp phần vào việc nghiên cứu địa danh học nói chung, địa danh học tiếng Việt nói riêng; góp phần phục vụ cho việc viết cuốn dư địa chí, sổ tay địa danh của thành phố Sơn La; góp phần vào nghiên cứu bản sắc ngôn ngữ - văn hóa Sơn La thông qua địa danh
3.2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
ể đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn có 3 nhiệm vụ cần được giải quyết :
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính thành phố Sơn La
- Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của địa danh hành chính thành phố Sơn La
Trang 184 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
ối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh hành chính cấp
xã, phường tồn tại trên địa bàn thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La) Thành phố Sơn La bao gồm 7 phường: Chiềng An (CA) Chiềng Cơi (CCơi), Chiềng Lề (CL), Chiềng Sinh (CS), Tô Hiệu (TH), Quyết Thắng (QThắng), Quyết Tâm (QTâm) và một thành phố: Sơn La; 5 xã: Chiềng Cọ (CCọ), Chiềng en (C ), Chiềng Xôm (CX), Chiềng Ngần (CN), Hua La (HL)
4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Các địa danh được ghi trong các sổ sách thuộc tài liệu chính thống của Thành phố Sơn La: Niên giám thống kê, những tư liệu được lưu giữ ở chính quyền địa phương
- Các địa danh tồn tại trên địa bàn được thu thập qua khảo sát điền dã gồm: tư liệu dân gian về địa danh thông qua những người dân đã và đang sống trên địa bàn trao đổi, cung cấp
5 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 PHƯƠNG PHÁP MIÊU TẢ NGÔN NGỮ HỌC
Phương pháp cơ bản của luận văn là phương pháp miêu tả “Phương pháp
miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vận dụng để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển nào đó" [36;
422] Dựa vào tư liệu điền dã chúng tôi phân loại phương pháp miêu tả thành hai
thủ pháp: Thủ pháp luận giải bên trong và thủ pháp luận giải bên ngoài
Thủ pháp luận giải bên trong: Thủ pháp phân loại, hệ thống hóa tư liệu (phân địa danh thành các nhóm khác nhau), phân tích, tổng hợp khi nghiên cứu các thành tố trong cấu tạo địa danh, xác định các phương thức định danh,
ý nghĩa các thành tố và sự biến đổi các địa danh Qua đó, thấy được sự ra đời
Trang 19và tồn tại của địa danh chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, lịch
sử, văn hóa, xã hội
ồng thời chúng tôi tiến hành thủ pháp luận giải bên ngoài như: phân tích các hiện tượng ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những gì ngoài ngôn ngữ để xem xét đối chiếu về mặt cấu tạo, sắc thái biểu cảm, các
nhân tố chi phối cách gọi tên địa danh trên địa bàn thành phố Sơn La
5.2 PHƯƠNG PHÁP IỀU TRA IỀN DÃ
Dựa vào phương pháp điền dã tại địa bàn thành phố Sơn La, luận văn
đã thu thập được hệ thống tư liệu đặc điểm địa danh theo các nhóm: ịa danh chỉ hình dáng, kích thước đối tượng, địa danh chỉ phương hướng đối tượng; địa danh chỉ nghề nghiệp và sản phẩm kinh tế của địa phương; địa danh mang tên người; địa danh chỉ tâm lí, nguyện vọng; địa danh mang tên gọi động vật, thực vật; địa danh chỉ đồng ruộng
Phương pháp điều tra điền dã là thủ pháp điều tra trực tiếp các địa danh
có trên địa bàn (nghiên cứu, tính đến thời điểm hiện tại - 2015) Trình tự điều tra được tiến hành theo các bước: Xác định địa điểm điều tra khảo sát, xây dựng mẫu phiếu cho trước Gặp gỡ, phỏng vấn trực tiếp những người cộng tác viên là những cán bộ văn hóa xã, phường; các trưởng bản, các già làng, những người chuyên nghiên cứu viết bài về địa phương sinh sống trên địa bàn nghiên cứu
Bên cạnh việc sử dụng phương pháp điều tra điền dã để thống kê, khảo sát, trong qua trình hoàn thiện luận văn chúng tôi còn tập trung khai thác những tài liệu liên quan đến địa phương thành phố Sơn La như: Các tài liệu văn hóa lịch sử, các tài liệu địa chí, dư địa chí, để làm rõ hơn những đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh ngôn ngữ, các kiểu ngữ nghĩa của định danh về nguồn gốc, văn hóa được biểu hiện qua địa danh đó
Trang 20
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
6.1 Ý NGHĨA L LUẬN
Luận văn là một trong số những công trình đầu tiên tiếp cận một cách
có hệ thống cả về lí thuyết lẫn thực tiễn về địa danh trên địa bàn thành phố Sơn La từ góc độ ngôn ngữ học Luận văn góp phần vào nghiên cứu lí luận về địa danh qua đó chỉ ra mối liên quan mật thiết giữa địa danh với hệ thống ngữ
âm, từ vựng và sự tiếp xúc, vay mượn những yếu tố ngôn ngữ Thái
6.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN
- Tập hợp hệ thống địa danh ở thành phố Sơn La
- Tìm hiểu cấu tạo, phương thức định danh và ý nghĩa của các địa danh trên địa bàn thành phố Sơn La, đặc biệt là những địa danh gắn với các sự kiện lịch sử, văn hóa của địa phương, góp phần nghiên cứu văn hóa Sơn La
- ến nay, việc nghiên cứu địa danh ở thành phố Sơn La mới được tìm hiểu ở góc độ lịch sử, địa lý, văn hóa, và chỉ đi vào khảo sát địa danh chứ chưa nghiên cứu một cách đầy đủ về hệ thống địa danh, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học Vì thế, nghiên cứu địa danh thành phố Sơn La từ phương diện ngôn ngữ sẽ cung cấp bức tranh toàn cảnh về hệ thống địa danh trên địa bàn thành phố Sơn La với đầy
đủ đặc trưng về cấu tạo, cách thức định danh Luận văn sẽ làm rõ các đặc điểm
về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp được thể hiện trong địa danh, chỉ ra sự tác động, ảnh hưởng của các phương thức định danh trong mối quan hệ với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo Từ đó, góp phần vào sự phát triển việc viết dư địa chí của địa phương cũng như cung cấp một cái nhìn mới mẻ, tạo nên sự liên thông giữa ngôn ngữ địa danh với các nhân tố văn hóa
7 CẤU TR C CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chương:
Trang 21Chương I: Cơ sở lý thuyết và khái quát về thành phố Sơn La liên quan đến đề tài
Chương này sẽ trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai các chương mục tiếp theo Ngoài ra, vấn đề tư liệu về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư, ngôn ngữ trên địa bàn tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn la nói riêng được trình bày làm cơ sở cho các phần nội dung luận văn
Chương II: Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính thành phố Sơn La
Chương này sẽ trình bày cách xác định thành tố chung và tên riêng trong phức thể địa danh Nội dung của chương sẽ đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo địa danh hành chính thành phố Sơn La
Chương III: Đặc điểm về ý nghĩa của địa danh hành chính thành phố Sơn La
Ở chương này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh Qua đó giải thích lý do đặt tên cho các đối tượng địa lý được phản ánh trong địa danh hành chính thành phố Sơn la qua hệ thống các trường nghĩa và bộ phận của các yếu tố cấu tạo
Trang 22
Chương I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ SƠN LA
1.1 MỘT SỐ VẤN Ề L THUYẾT VỀ ỊA DANH
1.1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học
1.1.1.1 Khái niệm địa danh
ịa danh là lớp từ thuộc từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để gọi tên các đối tượng địa lí, do đó nó hoạt động và chịu sự tác động, chi phối của quy luật nói chung về mặt ngữ âm từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp của ngôn ngữ đó
ịa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: "Topos" (name: tên gọi) và
"onyma" hay "onoma" (place: nơi chốn) "Địa danh học là ngành học có liên
quan đến mọi khía cạnh, phương diện của địa danh, hoặc là thuần túy về mặt khoa học lí thuyết, hoặc là mang tính thực hành và ứng dụng" [44, tr.3] Tác
giả A.V Xuperanxkaja với tác phẩm rất nổi tiếng " ịa danh là gì ?" đã định
nghĩa: "Địa danh học là một chuyên ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu các
tên gọi địa lý, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các từ cấu tạo nên địa danh" [51, tr.3]
Theo từ điển Hán Việt của ào Duy Anh thì địa danh được hiểu là: "Địa
danh là tên gọi các miền đất" Trong cuốn từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê
chủ biên cũng giải thích rất ngắn gọn, đơn giản: "Địa danh là tên đất, tên địa
phương" [62, tr.320] Tác giả Nguyễn Văn Âu lại quan niệm địa danh học
một cách rất chung chung như sau: "Địa danh học (toponymie) là một môn
khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lí các địa phương" [4, tr.5], và "địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc hay là tên các địa phương các dân tộc" [5, tr.5] Còn tác giả Nguyễn Kiên Trường, Lê Trung Hoa, Trần Văn
Trang 23Dũng, Phan Xuân ạm cũng có những cách hiểu không tương đồng và thống nhất với nhau về thuật ngữ này
Sau khi phân loại các địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và các địa danh
chỉ các đối tượng nhân tạo, Lê Trung Hoa đã định nghĩa: "Địa danh là những
từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn
vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh, ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó" [40, tr.18] Có thể xem đây là
định nghĩa đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận địa danh từ hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Nguyễn Kiên Trường chỉ ra rằng: địa danh không chỉ tên riêng mà cả
"danh từ chung chỉ cả lớp sự vật thường đứng trước tên riêng" [60, tr.15] Từ
đó tác giả đưa ra định nghĩa như sau: "Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng
địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [60, tr.15]
Trần Văn Dũng định nghĩa: " ịa danh là tên gọi những đối tượng địa lý
tự nhiên và địa lý do con người kiến tạo" [30, tr.15]
Phan Xuân ạm cũng đưa ra cách hiểu của mình về địa danh: "Địa danh
là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn" [31, tr.12]
Như vậy, địa danh là những đơn vị được tạo ra từ các lớp từ chung để gọi tên các đối tượng địa lý cụ thể, để dễ dàng phân biệt giữa đối tượng này với đối tượng khác ối tượng mà địa danh gọi tên là những đối tượng địa lý
có một vị trí xác định thậm chí là cố định trên bề mặt trái đất, và có thể giải thích, lí giải được cách đặt tên cho đối tượng địa lí như vậy
Qua đây, chúng ta có thể hiểu địa danh theo quan niệm của A.V.Superanskaja:
"Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của đối tượng địa lý (địa hình tự
nhiên, các đơn vị dân cư và các công trình nhân tạo thiên về không gian
Trang 24hai chiều) có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" Luận văn này sẽ nghiên cứu
những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý thuộc địa danh hành chính
trên địa bàn thành phố Sơn La
1.1.1.2 Khái niệm địa danh học
Thứ nhất, địa danh là một phận của danh xưng học Danh xưng học
chuyên nghiên cứu về các quy luật và phương thức định danh Tuy nhiên, việc
phân chia, phân loại và xếp địa danh trong bảng phân loại các tên riêng trong
môn danh xưng học của các tác giả, các nhà nghiên cứu gần như là chưa có sự
nhất quán, thống nhất nhau
Tác giả Sir Alan Gardiner [52, tr.43-54] đã xếp địa danh là một trong bẩy
loại tên riêng: Tên gọi các thiên thể (Cesletial bodies), địa danh (Place names),
nhân danh (Personal name), tên gọi động vật, nhà cửa, tàu thuyền (Ships, houses,
animal), tên gọi các loài chim, thực vật có nguồn gốc La Tinh và tiếng Anh
(English and Latin names of birds, plants), tên các tháng và các ngày trong tuần,
ngày lễ (Month names and days of week, Feast day), các tên gọi có tính hoang
đường, thần thoại và hư cấu (Mythological and fiction names)
Tác giả John M Anderson [53, tr.295] lại xếp địa danh vào một trong 8
loại tên gọi của ngôn ngữ học: Nhân danh (personal name), địa danh (Place
names), tên gia đình, dòng họ (Family names), tộc danh (Ethnic names),
thương hiệu (Corporate names), tên các loài vật (Generic names), tên gọi
bằng cách ghép số (Numeral based names), tên gọi bằng các cụm từ (names
based phrases)
Ở Việt Nam, tác giả Phan Tất Thắng [56, tr.20] đã chỉ ra rằng:
ịa danh nằm vị trí thứ 8 trong 13 loại tên riêng
Thứ hai, đối với ngôn ngữ học, địa danh học cũng có đóng góp không
nhỏ trong việc tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển ngôn
Trang 25ngữ Có thể coi địa danh học vừa là "thành tố" vừa là "đối tác" của ngôn ngữ học
1.1.2 Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học
1.1.2.1 Quan hệ giữa địa danh học với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học
ịa danh học được hình thành từ các chất liệu ngôn ngữ gồm vỏ âm thanh, có nội dung, ý nghĩa được xác định bởi quan hệ ngữ pháp giữa các yếu
tố cấu tạo Vì vậy, địa danh mang đầy đủ đặc trưng của vỏ ngôn ngữ Nên địa danh có quan hệ mật thiết với ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Tuy nhiên, địa danh thường gắn với một địa bàn cụ thể nên cũng là đối tượng của phương ngữ học, và từ vựng học Tác giả A.V.Superanskaja đã chỉ ra rất cụ
thể như sau : "Vị trí đặc biệt của danh từ riêng trong ngôn ngữ có thể ví với
các vị trí tách biệt của các hành trình trên quỹ đạo của mình Nếu từ vựng học được coi là mặt trời mà các hành tinh khác quay xung quanh nó, thì mỗi hình thái từ vựng riêng có thể coi là những vệ tinh riêng kèm theo vốn từ vựng chung" [51, tr.2]
1.1.2.2 Vị trí của địa danh học trong ngành danh xưng học
Danh xưng học chuyên nghiên cứu về các quy luật và phương thức định danh Tuy nhiên, việc phân chia, phân loại và xếp địa danh trong bảng phân loại các tên riêng trong môn danh xưng học của các tác giả, các nhà nghiên cứu gần như là chưa có sự nhất quán, thống nhất nhau
Tác giả Sir Alan Gardiner [52, tr.43-54] đã xếp địa danh là một trong bẩy loại tên riêng:
- Tên gọi các thiên thể (Cesletial bodies)
- ịa danh (Place names)
- Nhân danh (Personal name)
- Tên gọi động vật, nhà cửa, tàu thuyền ( Ships, houses, animal)
Trang 26- Tên gọi các loài chim, thực vật có nguồn gốc La Tinh và tiếng Anh (English and Latin names of birds, plants)
- Tên các tháng và các ngày trong tuần, ngày lễ (Month names and days
of week, Feast day)
- Các tên gọi có tính hoang đường, thần thoại và hư cấu (Mythological and fiction names)
Tác giả John M Anderson [53, tr.295] lại xếp địa danh vào một trong 8 loại tên gọi của ngôn ngữ học:
- Nhân danh (personal name)
- ịa danh (Place names)
- Tên gia đình, dòng họ (Family names)
- Tộc danh (Ethnic names)
- Thương hiệu (Corporate names)
- Tên các loài vật (Generic names)
- Tên gọi bằng cách ghép số (numeral based names)
- Tên gọi bằng các cụm từ (Names based phrases)
Ở Việt Nam tác giả Phan Tất Thắng [56, tr.20] đã chỉ ra rằng: ịa danh nằm vị trí thứ 8 trong 13 loại tên riêng
1.1.3 Phân loại địa danh
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học có những cách phân loại khác nhau về địa danh G.P Smolichnaja và M.V Gorbanevskij cho rằng địa danh có 4 loại:
- Phương danh (tên các địa phương)
- Sơn danh (tên núi gò đồi)
- Thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao ngòi sông, vũng)
- Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
A.V Superanxkaia - nhà khoa học Nga lại chia làm 7 loại:
Trang 27- ạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không)
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Phân loại địa danh là sự
phân chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính
cơ bản về địa lý cũng như về ngôn ngữ và lịch sử [3, tr.37] Tác giả đã chia
địa danh Việt Nam thành 2 loại là địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội, gồm 7 kiểu: thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và 12 dạng: Sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông - trảng, làng - xã, huyện - quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia Mỗi dạng lại có thể phân chia thành các dạng sông, ngòi, suối Cách phân loại này của tác giả nghiêng về tính dân gian, dễ tiếp thu song hơi sa vào chi tiết, thiếu tính khái quát, đối tượng nghiên cứu và tên gọi đối tượng nghiên cứu chưa được làm rõ
Tác giả Lê Trung Hoa [37], [40] đã dựa vào đối tượng và căn cứ vào tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên, các đối tượng địa danh được phân chia thành hai nhóm lớn là địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên
ịa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên gồm: Sơn danh (núi, đồi, hang, ); thủy danh (sông, suối, hồ, khe, kênh, ); vùng đất nhỏ phi dân cư (ruộng, đồng, )
ịa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo bao gồm: ịa danh chỉ các đơn vị dân cư (do chính quyền hành chính đặt: xã, huyện, phường, thị trấn, hoặc có thể có từ thời phong kiến: Xóm, làng,
Trang 28thôn ); địa danh chỉ các công trình nhân tạo (công trình giao thông: đường cầu, quốc lộ, các công trình xây dựng: đập, bến xe, khu di tích, )
Mặt khác, căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ, tác giả đã phân loại địa danh thành hai nhóm lớn là địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt, gồm:
ịa danh chỉ loại hình, địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh hành chính, địa danh chỉ vùng Qua đây, có thể thấy rằng Lê Trung Hoa là người có ý thức trình bày các vấn đề địa danh đặt trong khung cảnh ngôn ngữ học, và hướng đến tính hệ thống, tính lý thuyết sớm hơn tất cả các tác giả khác
Nguyễn Kiên Trường phân loại dựa trên tiêu chí mà Lê Trung Hoa đưa ra nhưng tiếp tục chia nhỏ thành một bước nữa Ông chia đối tượng tự nhiên thành
2 loại nhỏ: các đối tượng sơn hệ và các đối tượng thuỷ hệ; đối tượng nhân văn thành địa danh cư trú và địa danh chỉ công trình xây dựng ịa danh cư trú bao gồm: đơn vị cư trú tự nhiên, đơn vị hành chính, đường phố ịa danh chỉ công trình xây dựng bao gồm: ơn vị hành chính, đường phố và các đối tượng khác Bên cạnh đó, Nguyễn Kiên Trường còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ địa danh, theo chức năng giá trị của địa danh [4], [32], [48], [57], [60]
1.1.4 Đặc điểm của địa danh
Xét về phương diện ngôn ngữ học, nhìn vào toàn bộ hệ thống định danh một vùng đất, có thể thấy rõ các đặc điểm sau đây của địa danh:
1) ịa danh là một hệ thống tên gọi rất đa dạng Nếu so sánh với nhân
danh và vật danh thì hệ thống địa danh vừa đa dạng vừa phức tạp Cấu tạo của địa danh vừa có cấu tạo đơn vừa có cấu tạo phức (vừa có từ vừa có cụm
từ, vừa có danh từ vừa có danh ngữ) Trong cấu tạo đơn, có địa danh thuần Việt có địa danh vay mượn, có địa danh đơn tiết, có địa danh đa tiết Trong cấu tạo phức có cả ba quan hệ: Quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ, quan hệ chủ vị
2) ịa danh thường diễn ra hiện tượng chuyển hoá Chuyển hoá là lấy
Trang 29tên gọi một đối tượng địa lý này để gọi một đối tượng địa lý khác Hiện tượng này có thể xảy ra các trường hợp như:
- Chuyển hoá trong nội bộ từng loại địa danh
- Chuyển hoá giữa các loại địa danh
- Chuyển hoá từ địa danh vùng này sang địa danh vùng khác
- Chuyển hoá nhân danh thành địa danh
3) Phương thức cấu tạo rất phong phú, gồm các loại sau:
- Phương thức dựa vào đặc điểm bản thân đối tượng để đặt tên
- Phương thức dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối
tượng để đặt tên
1.1.5 Khái niệm địa danh hành chính
ịa danh hành chính là địa danh do chính quyền hoặc người dân đặt tên, nhằm phục vụ cho mục đích quản lý của nhà nước Ở cấp độ tỉnh, các đơn vị hành chính gồm:
Tỉnh: Là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, gồm nhiều huyện,
thị xã và thị trấn
Thành phố: Là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh ây là nơi tập trung
đông dân cư, thường có công nghiệp và thương nghiệp phát triển
Huyện, thị xã: Là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm nhiều xã, phường
Dân cư, công nghiệp, thương nghiệp không phát triển bằng thành phố
Thị trấn: Là trung tâm hành chính của huyện nhưng hoạt động kinh tế
khác với huyện, có khi trùng tên với huyện
Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn trực thuộc huyện,
gồm nhiều thôn, bản, tổ phố
Có thể nói rằng, địa danh hành chính là các tên riêng của các đơn vị hành chính có biên giới rõ ràng, có thể xác định được diện tích và nhân khẩu; đồng thời ra đời bằng các văn bản quyết định của chính quyền trung ương và
Trang 30địa phương
Các thôn, bản, tổ phố hiện nay cũng được quản lý chặt chẽ, đứng đầu là tổ trưởng, trưởng thôn, trưởng bản Các thôn, bản, tổ, có diện tích và nhân khẩu rõ ràng hơn nữa lại trực thuộc xã phường, cho nên chúng tôi cũng tạm xếp vào địa danh hành chính
1.2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TH NH PHỐ SƠN LA
1.2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Sơn La
Sơn La có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
an ninh quốc phòng vùng biên giới Tây Bắc của Tổ quốc ường biên giới với nước CHDCND Lào dài 250 km, có 2 cửa khẩu quốc gia (cửa khẩu Chiềng Khương - Sông Mã và Loóng Sập - Mộc Châu) vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa có
ý nghĩa chính trị Chiều dài tiếp giáp với các tỉnh khác là 628 km
Sơn La cách Hà Nội 320 km Tỉnh có 4 đường quốc lộ đi qua Quốc lộ
6 chạy dọc từ Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La - iện Biên, đoạn qua Sơn La dài
160 km/478 km; đây là tuyến đường giao thông huyết mạch nối vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tiểu vùng Tây Bắc (Hòa Bình, Sơn La, iện Biên, Lai Châu); quốc lộ đã được làm mới và nâng cấp nên giao thông khá thuận lợi Quốc lộ 37 nối liền thị xã Chí Linh (Hải Dương) qua các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và kết thúc tại Thị trấn Nông Trường Mộc
Trang 31Châu (Sơn La) trên tổng chiều dài 465 km, trong đó đoạn qua tỉnh Sơn La dài
109 km
Sơn La có đường thủy sông à về Hòa Bình, có cảng Tà Hộc, song quy
mô còn nhỏ, chủ yếu để vận chuyển hành khách, hàng hoá dọc hồ thuỷ điện Hoà Bình đến hồ thuỷ điện Sơn La Diện tích tự nhiên là 14.055 km2, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước và đứng thứ 5 về diện tích trong số 64 tỉnh, thành phố cả nước Với vị trí địa lý như vậy, Sơn La có một vị trí quan trọng
cả về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Cùng với Hòa Bình, iện Biên
và Lai Châu, Sơn La còn được coi là mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ
ặc điểm vị trí như trên nên Sơn La có những lợi thế nhất định để phát huy nguồn lực, tiềm năng trong giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân ặc biệt, thủy điện Sơn La đã
đi vào hoạt động, tỉnh sẽ trở thành hạt nhân tạo đà cho sự phát triển của tiểu vùng Tây Bắc Song, do tỉnh nằm sâu trong nội địa và liền kề các tỉnh có xuất phát điểm thấp nên gặp rất nhiều khó khăn trong giao lưu và phát triển kinh tế
- xã hội Vì vậy, cũng gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
1.2.1.2 Về lịch sử
Trong lịch sử hàng nghìn năm hình thành và phát triển, vùng đất Sơn
La đã trải qua nhiều lần chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính Nhưng dù trong bất kì hoàn cảnh nào, vùng đất này vẫn giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và trong quan hệ giao lưu với nước bạn Lào Lãnh thổ Sơn La có nhiều đổi thay qua các thời kì lịch sử
Từ thuở Hùng Vương dựng nước, Sơn La thuộc bộ Tân Hưng Sau đó đến thời Lý, vùng đất này thuộc đạo Lâm Tây Sau đó có tên gọi là đạo à Giang ến năm 1397, dưới triều Trần, Sơn La nằm trong trấn Thiên Hưng
Trang 32ây là thời kì đồng bào các dân tộc cùng chung sức khai sơn, phá thạch, dựng
nên nhiều mường như: Mường Muổi, Mường Cây, Mường Tấc, Mường Sang, Mường Vạt
ến thời Nguyễn, các châu mường kể trên thuộc vào phủ Gia Hưng (các châu Sơn La, Mai Sơn, Phù Yên, Mộc Châu); phủ iện Biên (châu Quỳnh Nhai, châu Thuận) Dưới các châu, nhà Nguyễn chia thành các động
Ngày 24/5/1886, Tổng sứ Trung – Bắc Kì ra Nghị định chuyển châu Sơn La thành đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh do viên công sứ Pháp điều hành Ngày 20/3/1888, để các hoạt động quân sự độc lập hơn và không lệ thuộc vào viên công sứ dân sự, nhà cầm quyền Pháp cho phép thực hiện ở
Sơn La chế độ Tài phán quân sự
Theo sự điều chỉnh của giới quân sự Pháp, từ tháng 4/1890, Sơn La thuộc tiểu quân khu Sơn La Ngày 27/2/1892, Toàn quyền ông Dương ra Nghị định chia đạo quan binh Sơn La thành tiểu quân khu Vạn Bú, bao gồm phủ Vạn Yên (châu Mộc, châu Phù Yên), phủ Sơn La (các châu Sơn La, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Tuần Giáo, iện Biên) Ngày 10/10/1895, Toàn quyền ông Dương ban hành Nghị định xóa bỏ tiểu quân khu Vạn Bú và Lai Châu, lập tỉnh Vạn Bú, bao gồm toàn bộ đất đai của đạo quan binh Sơn La
Ngày 23/8/1904, Toàn quyền ông Dương ra nghị định đổi tên tỉnh Vạn Bú thành tỉnh Sơn La, cho phép tỉnh có ngân sách riêng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Sơn La thuộc Chiến khu II, Liên khu Việt Bắc, Liên khu X, Khu XIV và khu Tây Bắc Trong đó, từ năm 1948 đến tháng 1/1952, Sơn La hợp nhất với Lai Châu thành tỉnh Sơn La Ngày 12/1/1952, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định tách hai tỉnh như cũ Sau chiến dịch Tây Bắc thắng lợi (tháng 12/1952), Khu ủy Tây Bắc quyết định chuyển huyện Thuận Châu về Lai Châu ến tháng 2/1954, Thuận Châu lại thuộc Sơn La ầu năm 1953,
Trang 33Khu ủy Tây Bắc quyết định thành lập huyện Sông Mã, bao gồm vùng Mường Hung (huyện Mai Sơn), Mường Lầm (huyện Thuận Châu), Sốp Cộp (huyện iện Biên, tỉnh Lai Châu)
Từ tháng 5/1955 đến tháng 10/1962, các châu (huyện) của Sơn La trực thuộc Khu tự trị Thái Mèo, không có cấp tỉnh
Nghị quyết Quốc hội khóa II, kì họp thứ V, ngày 27/10/1962 đổi tên khu tự trị Thái Mèo thành khu tự trị Tây Bắc, bao gồm: Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ
Ngày 24/12/1962, Sơn La chính thức tái lập tỉnh Cùng với những thăng trầm lịch sử, nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã hòa chung nhịp sống của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, góp phần bồi đắp cho truyền thống lịch sử, văn hóa nước Việt Và trong mỗi giai đoạn lịch sử, vùng đất này đều
có những bước phát triển mới, không ngừng tích lũy nội lực để vươn lên xứng tầm vị thế thủ phủ Tây Bắc trong thời kì đổi mới, CNH – H H
Năm 2012 với diện tích tự nhiên 14.174,4 km2
(gần 4,3 % diện tích cả nước), Sơn La đứng thứ 3 trong 63 tỉnh về diện tích chỉ sau Nghệ An và ăk Lăk Toàn tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố trực thuộc tỉnh, với 204 xã, phường,
thị trấn
1.2.1.3 Về văn hoá
Toàn bộ vùng Sơn La theo đơn vị hành chính hiện nay vốn là một trung tâm nguyên sơ bản địa của văn hóa Thái cổ Tuy nhiên, nằm ở trung tâm của vùng núi Tây Bắc nên Sơn La cũng là điểm hội tụ, đan xen và gắn kết nền văn hoá đặc sắc của các dân tộc trong vùng
Sơn La là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em như Thái, Kinh, Mông, Mường, Dao, Khơ Mú, La Ha, Xinh Mun, Kháng, Lào, Tày, Hoa iều này
đã tạo cho Sơn La một nền văn hoá dân gian phong phú và đặc sắc
Trang 34Trong sinh hoạt văn hóa dân gian đồng bào Thái có rất nhiều lễ hội: Lễ xên bản - xên mường, lễ hội cầu mưa, lễ kin pang then, xên lảu nó, tết xíp xí,… Về văn học nghệ thuật, người Thái có kho tàng truyện cổ dân gian, truyện thơ, ca dao dân ca,… với những tác phẩm nổi tiếng như: “Xống chụ xon xao”, “Khun Lu nang Ủa”, “Tản chụ xống xương”, “ Tản chụ xiết
xương”,… đồng bào Thái rất yêu thích văn nghệ đặc biệt là Khắp và Xòe
iệu múa xòe, múa sạp là “đặc sản” của đồng bào Thái, được cả nước biết đến
Nhạc cụ của dân tộc Mông khá đa dạng, nhưng phổ biến nhất là khèn
và đàn môi Lễ hội truyền thống cũng có nhiều: Hội gầu tào, hội sải sán (hội xuân), hội “ăn rừng cấm”… người Mông ở Sơn La có truyền thống ăn tết độc lập Tại huyện Mộc Châu, vào dịp mùng 02 tháng 9 đồng bào Mông ở khắp nơi hội tụ về đây để vui tết, tổ chức và tham gia các trò diễn đậm bản sắc văn hóa dân tộc ây là một phong tục đặc sắc đã được ảng và chính quyền địa phương khuyến khích duy trì
Người Mường có nhiều lễ hội trong năm: Hội xuống mùa, hội cơm mới, hội múa mời, hội cầu mưa,… Kho tàng văn hóa dân gian của người
Mường cũng khá phong phú gồm các thể loại Mo, Đang, hát ru, hát đồng dao,
truyện cổ tích, truyện cười Nhạc cụ mường có sáo, nhị, trống, khèn,… đặc sắc hơn cả là cồng
Dân tộc Dao có nghi lễ lập tình - cấp sắc, đây là một nghi lễ quan trọng đánh dấu giai đoạn đã trưởng thành người đàn ông Dao ời sống văn hóa văn nghệ dân gian dân tộc Dao khá phong phú, có nhiều truyện cổ, bài hát,
thơ ca; đặc biệt là truyện “Quả bầu với nạn hồng thủy”, “Sự tích Bàn
Vương” Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong nghi lễ tôn giáo
Dân tộc Khơ Mú tuy đời sống vật chất còn khó khăn, nhưng đời sống tinh thần lại khá phong phú, các loại nhạc cụ như sáo, bộ gõ bằng tre hoặc
Trang 35nứa, kèn môi, tiêu biểu nhất là các vũ điệu dân gian nổi tiếng như múa tơm,
xòe, tăng bu, au eo,…
Về sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian: Dân tộc La Ha có hai điệu múa đặc trưng là múa dương vật và múa cung kiếm Họ cũng có sự giao thoa
và học tập văn hóa của người Thái, nên đại đa số người La Ha nói, hát, làm thơ bằng tiếng Thái rất thạo
Người Xinh mun có tục thờ cúng tổ tiên hai đời (đời cha mẹ, đời ông bà), lễ cúng bản hàng năm cũng được coi trọng Về văn hóa văn nghệ, họ thích múa hát vào dịp tết lễ, dịp lên nhà mới Nam, nữ có lối hát đối đáp với nhau rất tự nhiên
ồng bào Kháng có tục thờ ma nhà Hàng năm dân bản tổ chức cúng thần trời, thần đất một lần để các vị thần ban cho con người có sức khỏe tốt, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống sung túc Người Kháng ưa hát dân ca, những làn điệu dân ca thường phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày Cũng như một số dân tộc khác ở Sơn La, họ biết hát các bài hát, các áng thơ của người Thái
Tôn giáo - tín ngưỡng: người Lào chịu ảnh hưởng của Phật giáo, có tục thờ cúng tổ tiên và nhiều nghi thức tín ngưỡng khác liên quan đến nông
nghiệp Văn hóa truyền thống: có lễ hội té nước vào dịp tết Bun pi may (tháng
tư âm lịch), đặc biệt là điệu múa lăm vông làm say đắm lòng người cùng nhiều ca vũ dân gian trữ tình nổi tiếng khác
Về văn nghệ dân gian: người Tày có nhiều làn điệu dân ca như hát
then - đàn tính, hát lượn,… là lối hát giao duyên khá phổ biến Về lễ hội: Có
lễ hội lồng tồng rất đặc trưng cho cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, có hội
ném còn vào dịp năm mới,
Trang 36Người Hoa rất thích thơ ca, múa hát và lễ hội, vào dịp lễ - dịp tết họ thường tổ chức múa lân, múa rồng, múa sư tử, biểu diễn võ thuật, cùng nhiều trò diễn dân gian khác
1.2.1.4 Về nguồn gốc dân cư
Lịch sử phát triển lâu đời đã hình thành nên cơ cấu dân tộc ở Sơn La với 12 tộc người
Trong đó, dân tộc Thái đông nhất chiếm 53,3 % Các dân tộc có dân số đông tiếp theo là Kinh chiếm 16,2 %; Mông 14,8 %; Mường 7,7 %; Dao 1,9
%; Khơ Mú 1,6 %; Xinh Mun 1,5 %; Kháng 1,3 %; La Ha 1,0 %, Lào 0,3 %; các dân tộc còn lại dân tộc (Tày, Hoa, ) chiếm 0,4 % Nhìn chung, cuộc sống của đại bộ phận đồng bào các dân tộc hiện nay đã cải thiện đáng kể Phong tục tập quán, bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy, các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan đang dần được xóa bỏ
Bảng 1.1: Các dân tộc tỉnh Sơn La phân theo số nhân khẩu, số hộ
và khu vực lưu trú chủ yếu năm 2012
Dân tộc
Số nhân khẩu (người)
% so với toàn tỉnh
Số hộ
% so với toàn tỉnh
Khu vực cư trú
Toàn tỉnh 1.134.300 100 244.394 100 KV
Tỉ lệ % so với dân số của dân tộc đó
Trang 37(KV I: quốc lộ 6; KV II: Sông à; KV III: vùng cao, biên giới)
Dân tộc Thái có số lượng đông nhất ở tỉnh Sơn La, chiếm 53,3 % dân
số Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Các gia đình người Thái còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn đặc sắc, màu sắc tươi hài hòa, bền đẹp
Dân tộc Kinh có số lượng đông thứ hai ở tỉnh Người Kinh sống tập trung ở thành phố và trung tâm các huyện Tại thành phố Sơn La dân tộc Kinh chiếm 44,1 %, Mộc Châu là 27,0 %, Mai Sơn là 23,6 %,… ngoài bộ phận đồng bào Kinh cư trú tại địa bàn Sơn La từ xa xưa, hầu hết người Kinh mới chuyển đến từ ồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, chủ yếu từ Thái Bình, Hưng Yên,… họ lên Sơn La xây dựng vùng kinh tế mới và đã phát huy kinh nghiệm sản xuất để phát triển kinh tế, xây dựng nền văn hóa Sơn La đa màu sắc Người Kinh có kinh nghiệm trong nghề trồng lúa nước, có truyền thống đắp đê, đào mương Nghề làm vườn, trồng dâu nuôi tằm, nghề chăn nuôi gia
Trang 38súc và gia cầm, đánh cá sông đều phát triển Nghề gốm của họ có từ rất sớm Người Kinh có tục thờ cúng tổ tiên và có hàng loạt lễ hội, lễ tết gắn liền với các tín ngưỡng nông nghiệp
Dân tộc Mông ở Sơn La sinh sống ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh, thường ở trên các triền núi cao, tập trung nhiều ở Bắc Yên (chiếm 44,6 % dân
số của huyện); Sốp Cộp 24,1 %; Mường La 19,5 % người Mông có số dân đông thứ ba ở Tỉnh, gồm nhiều nhóm khác nhau: Mông Ðơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Si (Mông Ðỏ), Mông Ðu (Mông Ðen) Có các tên gọi khác như Mèo, Mẹo, Miêu Nguồn sống chính của đồng bào Mông
là làm nương rẫy, trồng ngô, trồng lúa Ở một vài nơi có ruộng bậc thang Ngoài ra, đồng bào còn trồng lanh lấy sợi dệt vải và trồng cây dược liệu Chăn nuôi ở gia đình người Mông có trâu, bò, ngựa, gà Tết cổ truyền của người Mông tổ chức vào tháng 12 dương lịch Trong ngày tết, nam nữ thanh niên vui xuân thường thổi khèn, đàn môi gọi bạn
Các dân tộc ở Sơn La có địa bàn cư trú đan xen nhau, tất cả các huyện, Thành phố đều có hầu hết các dân tộc cùng sinh sống, xây dựng quê hương
Mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Sơn La có những đặc điểm riêng về phong tục, tập quán, truyền thống sản xuất, tổ chức xã hội, địa bàn cư trú đã tạo nên bức tranh dân tộc nhiều màu sắc và bản sắc văn hóa đa dạng của Sơn La ây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phân hóa sâu sắc chất lượng cuộc sống giữa các dân tộc
1.2.1.5 Về nguồn gốc ngôn ngữ
Sơn La là tỉnh đa dân tộc, đa ngôn ngữ Tiếng nói của các dân tộc này thuộc các ngữ hệ sau:
- Ngữ hệ Nam Á
+ Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái gồm dân tộc Thái, Lào, Tày
+ Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường gồm dân tộc: Kinh, Mường
Trang 39+ Nhóm ngôn ngữ Mông - Dao gồm dân tộc: Mông, Dao
+ Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me gồm dân tộc: Mơ Mú, Xinh Mun, Kháng
+ Tiếng dân tộc Thái chiếm đa số
+ Tiếng Việt (thuần Việt, Hán Việt)
Tiếng Kinh mang đầy đủ những đặc điểm của phương ngữ Bắc, nhưng phát âm nặng hơn so với Hà Nội
Hệ thống thanh điệu gồm 6 thanh, như quy định của chính tả Hệ thống phụ âm đầu gồm 20 âm vị, không có những phụ âm ghi trong chính tả là: s, r,
gi, tr tức là không phân biệt s/x, r/d, tr/ch Hệ thống phụ âm cuối: Có đủ âm cuối ghi trong chính tả
1.2.2 Giới thiệu chung về thành phố Sơn La
1.2.2.1 Về vị trí địa lí
Thành phố Sơn La là tỉnh lỵ của tỉnh Sơn La, vùng Tây Bắc Việt Nam Trước là thị xã Sơn La, được chuyển lên thành phố theo Nghị định số 98/2008/N -CP ngày 3/9/2008 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngày 26/10/2008, UBND Tỉnh Sơn La và UBND Thành phố Sơn La đã tổ chức lễ công bố Nghị định của Chính phủ về thành lập thành phố Sơn La thuộc tỉnh Sơn La
Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' ông, cách Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía ông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố iện Biên
Trang 40Phủ và thành phố Hòa Bình ịa hình thành phố khá phong phú và đa dạng, núi non xen kẽ với đồng ruộng Những rặng núi đá vôi nối tiếp trùng điệp, nhiều dãy núi cao vách dựng đứng; có nhiều hanh động, thạch nhũ kỳ diệu Những dãy núi đất khe thung lũng, đồng ruộng, suối khe
Với tổng diện tích tự nhiên 32.493 km², dân số 97.790 nghìn người (31/7/2013), mật độ dân số nội thành là 7.135 người/km2, gồm 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, mật độ dân số phân bố tương đối đều
Thành phố có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng en, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La Với tổng
số 169 tổ, bản, tiểu khu (trong đó có: 7 bản tái định cư Thuỷ điện Sơn La mới được thành lập)
Thành phố Sơn La có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh
Thành phố Sơn La nằm trong vùng có quá trình Katser hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc từ 250 trở lên chiếm tỷ lệ thấp, độ cao trung bình khoảng 700m so với mực nước biển Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng en, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm là 21,10°C Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình cả năm 1.346 mm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào 3 tháng (6, 7, 8) chiếm 85% lượng mưa cả năm ộ ẩm trung bình 85%