Trong khóa luận này chúng tôi chọn địa danh hành chính huyện Tam Đường và Tân Uyên là hai trong 08 huyện, thành phố của tỉnh Lai Châu, làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu.. Mục đích nghiê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VIÊN THỊ THANH HUYỀN
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN TAM ĐƯỜNG
VÀ HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành:Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số:60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS Nguyễn Văn Hiệu
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không có sự sao
chép, trùng lặp từ bất kỳ luận văn hay công trình khoa
học nào đã công bố của các tác giả khác
Người cam đoan
Viên Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Lịch sử vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 6
NỘI DUNG 8
Chương 1: MỘT VÀI GIỚI THIỆU CHUNG 8
1.1.2.Cách phân loại địa danh 10
1.1.3 Về địa danh hành chính 11
1.2 Vài nét về địa bàn huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu 12
1.2.1 Về điều kiện tự nhiên 12
1.2.2 Về dân số 15
1.2.3 Lịch sử và địa giới hành chính 15
1.2.4 Truyền thống văn hóa 18
1.3 Vài nét về địa bàn huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu 20
1.3.1 Về điều kiện tự nhiên 20
1.3.2 Về dân số 22
1.3.3 Lịch sử và địa giới hành chính 23
1.4 Tiểu kết 26
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN TAM ĐƯỜNG VÀ HUYỆN TÂN UYÊN 28
2.1 Kết quả thu thập và phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên 28
2.1.1 Kết quả thu thập 28
2.1.2 Kết quả phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên theo nguồn gốc ngôn ngữ 28
Trang 42.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Tam Đường và
huyện Tân Uyên 30
2.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh 30
2.2.2 Thành tố chung 32
2.2.3 Địa danh 38
2.3 Tiểu kết 52
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN TAM ĐƯỜNG VÀ HUYỆN TÂN UYÊN 55
3.1 Mối quan hệ giữa ý nghĩa của địa danh và hiện thực được phản ánh 55
3.2 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố trong địa danh được thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ 57
3.2.1 Hiện tượng rõ ràng về nghĩa 57
3.2.2 Hiện tượng chưa rõ ràng về nghĩa 58
3.3 Phân loại nhóm ý nghĩa thể hiện qua các yếu tố cấu tạo địa danh 59
3.4 Ý nghĩa địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên 61
3.4.1 Nhóm địa danh có nghĩa 61
3.4.2 Nhóm địa danh chưa rõ nghĩa 64
3.5 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh 65
3.5.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 65
3.5.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên 66
3.6 Tiểu kết 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện
Tân Uyên theo nguồn gốc ngôn ngữ 28 Bảng 2.2: Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Tam
Đường và huyện Tân Uyên 31 Bảng 2.3: Kết quả thống kê cấu tạo của các thành tố chung 34 Bảng 2.4: Mô hình của phức thể địa danh, thành tố chung chuyển hóa
thành yếu tố thứ nhất của địa danh 36 Bảng 2.5: Mô hình của phức thể địa danh, thành tố chung chuyển hóa
vào các yếu tố thứ hai, thứ ba, thứ tư của địa danh 37 Bảng 2.6: Kết quả thống kê địa danh hành chính theo số lượng các yếu tố 40 Bảng 2.7: Kết quả thống kê số lượng địa danh theo cấu tạo 42 Bảng 3.1: Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí ý nghĩa của các yếu
tố cấu tạo 60
Trang 6Địa danh là những đơn vị cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ nên chịu sự tác động của quy luật ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Vì thế nghiên cứu địa danh giúp ta hiểu thêm lớp từ cổ, từ địa phương… từ đó chúng ta thấy được bức tranh về sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa các tộc người
Ngoài chức năng định danh sự vật, địa danh còn có chức năng cá thể hóa đối tượng ngay cả khi nhiều nét nghĩa của nó đã bị mờ hay mất đi Điều đó có thể hiểu được khi ta gọi tên một làng, xã nào đó, mặc dù không hiểu được nguồn gốc hay ý nghĩa tên gọi nhưng chỉ xét tên gọi đó có thể nhận diện và phân biệt với tên gọi khác hay không Việc xem xét những nét nghĩa đã mờ nhòa ấy cũng giúp ích chúng ta rất nhiều trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
Không chỉ chịu tác động bởi những tác nhân ngôn ngữ mà địa danh còn chịu tác động của các tác nhân ngoài ngôn ngữ như đặc điểm văn hóa,
sự thiên di, tiếp xúc ngôn ngữ…của các tộc người Nó ghi dấu ấn đậm nét
về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng của cư dân một vùng đất Chính vì thế, mỗi địa danh luôn có sự liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hóa, địa lí, dân cư của vùng Do đó, việc nghiên cứu địa danh sẽ cung cấp thêm cho chúng ta kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử của vùng đất mà ta nghiên cứu
Trang 72
Lai Châu là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, là địa bàn có con người đến cư trú từ rất sớm Tại các di chỉ khảo cổ học đã tìm thấy các công cụ của thời đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ đá mới Theo các tài liệu đã nghiên cứu, trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, Lai Châu đã có rất nhiều thay đổi Thời Hùng Vương, Lai Châu thuộc bộ Tân Hưng; thời Lý thuộc lộ
Đà Giang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn; thời Lê thuộc trấn Gia Hưng Năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 đã đặt kế hoạch đánh chiếm tỉnh Hưng Hóa (tỉnh Hưng Hóa nằm trong Quân khu miền Tây, tiếp đó nằm trong Đạo quan binh thứ 4 Sau đó, Đạo quan binh thứ 4 tách thành Tiểu quân khu Vạn Bú và Tiểu quân khu Lai Châu) Năm 1909, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định về thành lập tỉnh Lai Châu gồm Đạo Lai và châu Điện Biên với phủ Tuần Giáo, dân số khoảng 4 vạn người
Lai Châu có đường biên giới với tỉnh Vân Nam- Trung Quốc dài 265,095km, thuận lợi cho phát triển kinh tế đối ngoại Lai Châu có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và phòng hộ đầu nguồn sông Đà
Trên địa bàn tỉnh có 20 dân tộc anh em cùng sinh sống với tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, đất nước Vì thế, Lai Châu có nền văn hóa rất phong phú, đa dạng với những bản sắc riêng độc đáo của từng dân tộc Tất cả tạo nên một Lai Châu đặc sắc, đa sắc màu
Trong khóa luận này chúng tôi chọn địa danh hành chính huyện Tam Đường và Tân Uyên là hai trong 08 huyện, thành phố của tỉnh Lai Châu, làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu Từ đó chỉ ra những đặc điểm cơ bản về cách đặt tên, cơ chế định danh, đặc điểm cấu tạo và sự tri nhận về văn hóa, lịch sử, con người của những vùng đất này Chúng tôi hy vọng nghiên cứu này sẽ góp phần nào đó trong việc mang lại những giá trị lí luận hay thực tiễn giúp ích cho việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam nói chung
Trang 83
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận đi vào nghiên cứu địa danh hành chính huyện Tam Đường
và huyện Tân Uyên của tỉnh Lai Châu từ góc độ cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa gắn với những đặc trưng văn hóa vùng miền để thấy được sự giao thoa giữa ngôn ngữ và văn hóa ở những vùng này
Dựa trên kết quả khảo sát về đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và
sự biến đổi địa danh hành chính ở huyện Tam Đường và Tân Uyên, chúng tôi
sẽ rút ra một vài nhận xét sơ lược liên quan đến sự phát triển của tiếng Việt
và sự giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ chủ yếu ở một số vùng phương ngữ Cũng qua đó nhằm khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò, giá trị và mối quan hệ hữu cơ giữa địa danh học với từ vựng học; giữa địa danh với lịch sử học, văn hóa học, địa lý học… Từ đó chúng tôi hy vọng có thề góp một phần tư liệu về việc tìm hiểu địa danh Việt Nam nói chung và Tam Đường, Tân Uyên nói riêng
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận này chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là hệ thống địa danh hành chính ở huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Để có cứ liệu nghiên cứu về đối tượng, chúng tôi tập trung nghiên cứu địa bàn huyện Tam Đường gồm 1 thị trấn, 13 xã, huyện Tân Uyên gồm 1 thị trấn và 09 xã Chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu tất cả các địa danh hành chính trong 02 huyện như bản , xã
4 Lịch sử vấn đề
4.1 Lịch sử nghiên cứu địa danh trên thế giới và Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển rất sớm trên thế giới Đến đầu thế kỷ XX, nghiên cứu địa danh được quan tâm, chú trọng và phát triển sâu rộng Các nhà nghiên cứu địa danh không chỉ thuần túy đi tìm hiểu nguồn gốc địa danh mà còn đi tìm sự gắn kết giữa địa danh với lịch sử, địa lý, ngôn ngữ…Trên thế giới phải kể đến các công trình tiêu biểu của các nhà địa danh
Trang 9Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Lịch triều hiến chương loại chí của
Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí, Phương
Đình dư địa chí của Nguyễn Siêu
Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có các công trình như Tên làng xã
Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra) do Dương Thị
The và Phạm Thị Thoa biên soạn; tên làng xã địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô
Vi Liễn (1999) Từ góc độ lịch sử có công trình Đất nước Việt Nam qua các
đời của Đào Duy Anh (1994); Việt Nam- những thay đổi về địa danh và địa giới hành chính 1945- 2002 của Nguyễn Quang Ân (2003); Những vấn đề về địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu, Sổ tay địa danh Việt Nam của
Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dược- Trung Hải, Từ
điển bách khoa địa danh Hải Phòng của Ngô Đăng Lợi
Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam thực sự được chú trọng và có
những bước tiến đáng kể từ năm 1960, trong đó Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ
đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông của Hoàng Thị Châu (1964) được
xem là công trình đầu tiên đi tiên phong cho lĩnh vực nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học
Ngoài ra còn phải kể đến các luận án Tiến sĩ nghiên cứu địa danh như:
của Lê Trung Hoa với Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ
Trang 105
Chí Minh; Nguyễn Kiên Trường có Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác);Từ Thu Mai với Nghiên cứu địa danh Quảng Trị
Tác giả Trần Trí Dõi có những nghiên cứu về địa danh học như Ngôn
ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội ; Về địa danh Cửa Lò, Về một vài tên gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa, Về địa danh biên giới Tây Nam
4.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh hành chính ở huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên
Huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên cho đến nay vẫn là những địa bàn mới mẻ cho nghiên cứu địa danh học Chúng tôi mới chỉ tìm thấy một số
công trình nghiên cứu mang tính thống kê như Lịch sử đảng bộ tỉnh Lai Châu,
Lịch sử đảng bộ huyện Tam Đường, Lịch sử Đảng bộ huyện Than Uyên…
Những công trình này hầu hết chỉ được đề cập dưới góc độ lịch sử, văn hóa,
du lịch mà chưa có nghiên cứu nào về địa danh Tam Đường, Tân Uyên được
đề cập dưới góc độ ngôn ngữ học
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập và xử lí tư liệu
Để có được tư liệu một cách đầy đủ và trung thực về địa danh hành chính huyện Tam Đường, chúng tôi đã sưu tầm, tập hợp tên gọi của đối tượng
được phân bố rộng trong địa danh hành chính
- Tư liệu thành văn: Nguồn tư liệu lấy từ sách, báo, từ điển, địa chí viết
về địa phương từ phòng văn hóa, ủy ban nhân dân, thư viện…
- Tư liệu điền dã: đây là nguồn tư liệu quan trọng được khai thác từ cán
bộ và nhân dân địa phương
- Sau khi thu thập xong địa danh hành chính chúng tôi tiến hành thực hiện thao tác thống kê ngôn ngữ học (định tính và định lượng) để phân loại, chia nhóm các địa danh như sau:
Trang 116
+ Địa danh (Tên gọi đối tượng)
+ Loại hình đối tượng (danh từ chung chỉ đối tượng)
+ Số lượng các yếu tố cấu tạo nên địa danh
+ Phương thức cấu tạo địa danh (cấu tạo đơn, cấu tạo phức theo các quan hệ chính phụ, chủ vị, đẳng lập)
+ Nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố (Tày- Thái, Hán Tây Nam, thuần Việt, Hán Việt, dân tộc thiểu số khác, hỗn hợp)
+ Cấu tạo ý nghĩa của các địa danh ( thành tố chung, địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ, các phương diện văn hóa)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp được sử dụng chính trong khóa luận là phương pháp quy nạp và phương pháp miêu tả Từ những dữ liệu đã phâp loại, chúng tôi tiến hành mô tả về đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa tên gọi Trên cơ sở dữ liệu được thu thập và xử lí đó, chúng tôi sử dụng phương pháp quy nạp, đưa ra một số nhận định, đánh giá về vấn đề được nghiên cứu
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng thao tác nghiên cứu của các khoa học thuộc các ngành khác như Lịch sử học, Địa lý học… để đưa ra những kiến giải ban đầu về nguồn gốc, ý nghĩa địa danh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Một vài giới thiệu chung
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.2 Vài nét về địa bàn huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
1.3 Vài nét về địa bàn huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu
1.4 Tiểu kết
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh hành chính huyện Tam Đường
và huyện Tân Uyên
Trang 127
2.1 Kết quả thu thập và phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường, huyện Tân Uyên
2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Tam Đường
và huyện Tân Uyên
2.3 Tiểu kết
Chương 3: Đặc điểm ý nghĩa của địa danh hành chính huyện Tam
Đường và huyện Tân Uyên
3.1 Mối quan hệ giữa ý nghĩa của địa danh và hiện thực được phản ánh 3.2 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố trong địa danh được thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ
3.3 Phân loại nhóm ý nghĩa thể hiện qua các yếu tố cấu tạo địa danh 3.4 Ý nghĩa địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên 3.5 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh
3.6 Tiểu kết
Trang 138
NỘI DUNG Chương 1 MỘT VÀI GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm địa danh
Khái niệm địa danh bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp topomina hay toponoma
có nghĩa là “tên gọi điểm địa lý” Trong đó, topos nghĩa là địa điểm,
onoma/onima nghĩa là tên gọi
Tuy có lịch sử nghiên cứu khá lâu nhưng các nhà địa danh học vẫn chưa đi đến một khái niệm thống nhất
Trong cuốn “Địa danh học là gì?” tác giả A.V Superanskaja cho rằng
“Tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó là tên gọi địa lý,
địa danh hay toponimia”, và cũng chỉ rõ “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất”
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau
về địa danh
Tác giả Hoàng Thị Châu cho rằng “Địa danh hay là tên địa lý
(toponym, gegraphicalname) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính…được con người đặt ra Địa danh chứa những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị” [5;14]
Theo Nguyễn Văn Âu, “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, tên núi, tên
mạc hay tên địa phương, các dân tộc” [3; 15] Lê Trung Hoa khi nghiên cứu
về địa danh thành phố Hồ Chí Minh lại cho rằng: “Địa danh là những từ hoặc
ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình tự nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh, ta có thể đặt một
Trang 149
danh từ chung chỉ tiểu loại danh từ đó: sông Sài Gòn, đường Ba Tơ, ấp Bàu Trăn, vùng Bà Quẹo…” [18;28]
Còn Nguyễn Kiên Trường thì cho rằng “Địa danh là tên riêng của các
đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”
Thứ hai, về mặt cấu tạo, địa danh gồm hai thành tố: thành tố chung và tên riêng (tên địa danh)
Thứ ba, địa danh có chức năng cơ bản là định danh và cá thể hóa đối tượng, phản ánh hiện thực, làm công cụ giao tiếp
Thứ tư, về ý nghĩa, địa danh có tính lí do; trong nhiều trường hợp người
ta có thể giải thích nguyên nhân đặt tên cho đối tượng cũng như những dấu ấn văn hóa của nó
Như vậy, chúng ta có thể thấy việc xác định khái niệm địa danh là một vấn đề khá phức tạp Trong luận văn này chúng tôi xin chọn cách hiểu về địa
danh của tác giả Nguyễn Kiên Trường “Địa danh là tên riêng của các đối
tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”
[37;16] để làm cơ sở cho việc khảo sát địa danh huyện Tam Đường, huyện Tân Uyên của tỉnh Lai Châu
Trang 1510
1.1.2.Cách phân loại địa danh
Phân loại địa danh kà một vấn đề khá phức tạp, tùy theo cách tiếp cận, đối tượng, phương pháp, mục đích nghiên cứu mà các nhà địa danh học đưa
ra những cách phân loại khác nhau
- Cách phân loại của A V Superanskaja
1) Tên gọi của các địa điểm dân cư 2)Tên gọi của các con sông 3) tên gọi của núi non 4) Tên gọi các công trình trong thành phố 5) Tên gọi đường phố 6) Tên gọi quảng trường 7) Tên gọi mạng lưới giao thông 8) Tên gọi những địa điểm dân cư nhỏ
- Cách phân loại của Nguyễn Văn Âu
Nguyễn Văn Âu dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí - xã hội để phân chia địa danh, kiểu địa danh và dạng địa danh
Loại địa danh: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội
Kiểu địa danh: thủy danh; sơn danh; lâm danh; làng xã; huyện thị; tỉnh/ thành phố; quốc gia
Dạng địa danh: sông ngòi; hồ đầm; đồi núi; hải đảo; rừng núi; truông, trảng; làng xã; huyện, quận; thị trấn; tỉnh; thành phố; quốc gia
- Cách phân loại của Lê Trung Hoa
Bằng những tiêu chí khác nhau, tác giả Lê Trung Hoa đã đưa ra hai
bảng phân loại Theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên địa danh được chia thành hai nhóm lớn: Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và Địa danh chỉ các
đối tượng nhân tạo Trong đó, địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên gồm có tên
các địa hình núi, đồi, gò, sông, rạch Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo lại
có thể chia thành ba loại nhỏ: địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều; địa danh chỉ các đơn vị hành chính; địa danh chỉ các
vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng Theo tiêu chí ngữ nguyên, tác giả
phân chia địa danh Việt Nam thành bốn nhóm lớn: 1) Địa danh thuần Việt; 2)
Trang 1611
Địa danh Hán Việt; 3) Địa danh bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số; 4) Địa danh bằng các ngoại ngữ Tác giả cũng chỉ rõ, nhóm thứ 3 là các địa danh có nguồn gốc các ngôn ngữ dân tộc thiểu số như: Chăm, Khmer, Bana, Êđê, Gia rai Nhóm thứ 4 chủ yếu là các địa danh gốc Pháp, một số là địa danh gốc Inđônêsia, Malaysia [17;11]
- Cách phân loại của tác giả Nguyễn Kiên Trường
Tác giả Nguyễn Kiên Trường, khi phân loại địa danh Hải Phòng, bên cạnh việc tiếp thu hai tiêu chí phân loại của Lê Trung Hoa còn đưa thêm một tiêu chí là: dựa vào chức năng giao tiếp Theo tiêu chí này, tác giả đã phân chia địa danh
thành các nhóm: tên chính thức, tên cổ, tên cũ hay các tên gọi khác
Trong những cách phân loại trên chúng tôi nhận thấy cách phân loại cuả tác giả Lê Trung Hoa là hợp lí Việc phân loại đia danh theo nguồn gốc ngữ nguyên là cần thiết vì từ đó chúng ta sẽ hiểu thêm sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ và văn hóa; hơn nữa một trong những nội dung cơ bản của địa danh học
là nghiên cứu nguồn gốc địa danh
1.1.3 Về địa danh hành chính
Địa danh hành chính là địa danh do chính quyền hoặc người dân đặt tên cho các đơn vị hành chính trong một khu vực nhằm cá thể hóa địa danh đó
và phục vụ cho Nhà nước trong việc quản lý
Các đơn vị hành chính của Lai Châu gồm có Tỉnh, thành phố, huyện,
Trang 171.2 Vài nét về địa bàn huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
1.2.1 Về điều kiện tự nhiên
Tam Đường có vị trí khá thuận lợi so với các huyện khác trong tỉnh Lai Châu có quốc lộ 4D chạy qua, cách trung tâm thành phố Lai Châu 25 km
vì thế việc đi lại của người dân cũng như giao thương giữa các xã, bản trong huyện cũng như với thành phố Lai Châu và các huyện lân cận cơ bản thuận lợi Huyện cũng có các điểm du lịch như Động Tiên Sơn, thác Tác Tình, và các địa điểm du lịch cộng đồng, hàng năm cũng thu hút một lượng khách nhất định đến tham quan, huyện có 01 làng nghề là làng nghề làm miến dong Bình Lư Những yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, dịch vụ
du lịch của địa phương Như vậy, với vị trí địa lý đó, huyện Tam Đường có các điều kiện để phát huy các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.1.2 Về địa hình, đất đai
Tam Đường có địa hình phức tạp, được cấu tạo bởi các dãy núi chạy
Trang 1813
dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Phía Đông Bắc là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài hơn 80km với đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m Phía Đông Nam là dãy
Pu Sam Cáp dài khoảng 60km Xen kẽ giữa các dãy núi cao là các lòng chảo
và sông suối như: Lòng chảo Tam Đường- Bản Giang có diện tích khoảng 3.500ha, dốc thoải đều từ Bắc xuống Nam, độ cao trung bình 900m; Lòng chảo Tam Đường- Thèn Sin chạy dài theo suối Nậm So, diện tích khoảng 500ha; Lòng chảo Bình Lư- Nà Tăm- Bản Bo diện tích 1800ha, độ cao từ 600- 800m Đây là các vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong cây lương thực, cây công nghiệp
Tam Đường có trên 68.000ha đất tự nhiên, chiếm 8,1% diện tích tự nhiên của tỉnh Lai Châu với nhiều nhóm đất khác nhau như nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi Trong
đó, có trên 9000ha (trong tổng số 33.000ha chưa sử dụng) đất rừng có thể phát triển trồng rừng kinh tế với các loại cây ăn quả ôn đới, trồng keo lấy gỗ, trồng cây lấy quả sản xuất dầu sinh học, trồng các loại hoa xứ lạnh, các loại dược liệu quý hiếm Với ưu thế là diện tích đất chưa sử dụng tương đối lớn nên trong thời gian qua, đã có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đăng ký thuê đất để trồng rừng, trồng cây ăn quả và dược liệu Đặc biệt Tam Đường có hàng trăm ha đất nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn có nguồn nước sạch, độ lạnh trung bình dưới 20°C rất thích hợp nuôi các loại cá nước lạnh có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá hồi,
1.2.1.3 Về khí hậu, thủy văn
Tam Đường nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 75- 80% tổng lượng mưa trong năm, trung bình từ 1800- 2000mm/năm, cao nhất
là 2500mm/năm Vào mùa này thường xuất hiện mưa đá, trung bình 1,6 lần/năm; giông xuất hiện nhiều nhất vào tháng 5, kèm theo gió xoáy Mùa khô
Trang 1914
kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh, ít mưa, lạnh và thường xuất hiện sương mù, sương muối vào tháng 12, tháng 01 ở vùng cao như đèo Hoàng Liên Sơn, đèo Giang Ma
Số giờ nắng trung bình trong năm ở Tam Đường từ 2100- 2300 giờ Độ
ẩm không khí trung bình là 83%, độ ẩm thấp nhất là 56% Hướng gió chính là hướng Đông Nam, tốc độ gió trung bình từ 1-2m/s Lượng bốc hơi trung bình năm là 889,6mm
Do diện tích rộng và địa hình phức tạp nên biên độ dao động nhiệt ở Tam Đường khá mạnh, trung bình khoảng 8- 9°C, vào mùa đông lên tới 9- 10°C, có nơi 11- 12°C Tuy nhiên, ở một số nơi có độ cao trên 1000m, trị số biên độ ngày đêm giảm, trung bình khoảng 7- 8°C, vào mùa đông nhiệt độ khoảng 8- 9°C Nhiệt độ trung bình năm từ 22- 26°C, nhiệt độ cao nhất 35°C, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 0°C
Hệ thống sông suối- thủy văn của Tam Đường được phân bố tương đối đều với 2 hệ thống chính: Sông Nậm Mu chảy qua Nà Tăm, Bản Bo và suối Nậm So từ Tả Lèng qua xã San Thàng (thành phố Lai Châu), xã Thèn Sin hòa vào dòng Nậm Na Những con suối là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho người dân trên địa bàn huyện Do địa hình bị chia cắt mạnh, các con sông có
độ dốc lớn nên có nhiều tiềm năng để xây dựng các trạm thủy điện nhỏ và vừa
1.2.1.4 Về tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn huyện có một số mỏ khoáng sản có giá trị kinh tế cao như:
mỏ đất hiếm Đông Pao; mỏ vàng, vàng đa kim ở xã Khun Há, Tả Lèng, Thèn Sin; mỏ sắt, chì, kẽm ở xã Khun Há, Bình lư, Sơn Bình; đất sét ở xã Bình Lư; nước khoáng ở xã Bình Lư, mỏ đá vôi ở xã Bản Bo có chất lượng tốt để làm
xi măng và hàng chục điểm khai thác cát, đá, sỏi trên dòng sông Nậm Mu, Nậm Đích, Với nguồn khoáng sản khá phong phú, trữ lượng lớn, Tam Đường có nhiều thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp
Trang 201.2.3 Lịch sử và địa giới hành chính
Ở Tam Đường, Phong Thổ, dấu tích sinh sống của con người có từ khá sớm Nhiều dấu vết về khảo cổ học đã được tìm thấy như ở Thẩm Cung (Mường Xo), trống đồng ở Bản Giang, Ngoài ra, các tài liệu khảo sát về dân tộc cũng chứng minh sự cư ngụ từ khá sớm của người Thái, người Mông và người Dao trên vùng đất này
Vào thời Lý, vùng đất Tam Đường nằm trong châu Đăng Sang thời Trần- Hồ kéo đến tận Lê- Nguyễn, châu Đăng đổi tên là châu Chiêu Tấn (hoặc Châu Tiến) thuộc Hưng Hóa Người Thái gọi vùng này là Mường Xo, khi họ di cư từ Mường Xo Luông tới (thế kỷ VX- thời Tà Ngần) Trong bộ sử thi “Quắm tố Mường” (Kể chuyện bản Mường) cho biết, người địa phương còn gọi là Mường Pá Phạn (mường miệng trời) hoặc Mường Pá Phạng (mường trời thét) vì nơi này hay có sấm sét, cũng có khi được gọi là Mường Tiến (“tiến” là tiếng tượng thanh chỉ tiếng sét trong ngôn ngữ Thái)
Theo Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” và Hoàng Trọng Chính trong “Hưng Hóa Phong Thổ lục” thì Chiêu Tấn có thổ âm là Mường Thu hoặc Mường Xo, phía trên giáp huyện Kiến Thủy nước Thanh, phía dưới giáp châu Quỳnh Nhai, phía đông giáp với Lai Châu, phía tây giáp Thủy Vĩ, gồm
14 động, số đinh 201 xuất, địa thế rộng rãi, ruộng đất màu mỡ, dân cư đông
Trang 21bo, san thàng (tam đường), mường kim, mường khóa (thông lâm)
Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, ghi châu Chiêu Tấn có 14 động, còn sách “Các tổng, trấn, xã danh bị lãm” lại ghi có 11 động, trại, thôn, nhưng khi thống kê chỉ có 10, gồm: Thanh Quỳ, Minh Lang, Phong Thu, Ngo Phúc, Làng Nam, Li Bô, Dương Đạt, Than Nguyên Sách
“Đại Nam nhất thống chí” cho biết năm Minh Mệnh thứ 19 (1824) mới đặt lưu quan, đổi động làm xã và đặt tên tổng, nay lãnh 2 tổng, 5 xã, 2 trại và 4 thôn
Dưới thời Pháp thuộc, châu Chiêu Tấn nằm dưới chế độ quân quản bắt nguồn từ chính sách “Thực dân bằng quân sự” (Colonissation militaire) của Galiêni, chủ trương không lập chế độ cứng rắn càng lâu càng tốt Sau một thời gian nằm trong Quân khu Tây, đến ngày 24- 5- 1886, châu Chiêu Tấn được cắt khỏi tỉnh Hưng Hóa, sáp nhập vào tỉnh Lào Cai (nguyên tên là Lão Nhai- tức phố cũ) thành lập cùng ngày, đặt dưới quyền tài phán quân sự, đứng đầu
là một phó công sứ quân sự
Ngày 15- 4- 1888, theo Nghị định của toàn quyền Đông Dương, Lào Cai trở thành Quân khu 1, do thiếu tá Vanhken Mayê chỉ huy Ngày 23- 1-
1890, Lào Cai được quay trở lại chế độ cai trị dân sự, đứng đầu là một công
sứ người Pháp Hơn một năm sau, ngày 20- 8- 1891, Lào Cai lại bị đưa vào Đạo quan binh (Tereitoiri militaire), trở thành tiểu quân khu Lào Cai, sáp
Trang 2217
nhập với tiểu quân khu Yên Bái thành Đạo quan binh 4 Ngày 01- 4- 1900, tỉnh Yên Bái được thành lập, Đạo quan binh 4 chỉ còn lại Lào Cai (Thủy Vĩ, Chiêu Tấn, Văn Bàn, Lục Yên) Ngày 28- 3- 1903, Đạo quan binh 4 chia làm
3 tiểu quân khu gồm Lào Cai, Cố Lừu, Bảo Hà Ngày 28- 2- 1904 chỉ còn lại Lào Cai, Cố Lừu và ngày 20- 6- 1905 chỉ còn lại Lào Cai, do đó Đạo quan binh 4 đổi thành Đạo quan binh Lào Cai gồm châu Chiêu Tấn, Thủy Vĩ Ngày 12- 7- 1907, tỉnh Lào Cai được thành lập Phần lớn đất đai của châu Chiêu Tấn chuyển thành Đại Lý Phong Thổ nằm dưới chế độ quân quản, do một sĩ quan cấp úy phụ trách
Ngày 9- 3- 1944, theo Nghị định do Thống sứ Bắc Kỳ ký, Đại Lý Phong Thổ được đổi tên thành châu Phong Thổ trên cơ sở phủ Thủy Vĩ trả lại một số vùng trước đây Chiêu Tấn nhập vào Theo đó, châu Phong Thổ gồm 4 xã: Phong Thổ (Mường Xo), Tam Đường (San Thàng), Dào San, Bình Lư (Mường Lự), bao gồm 193 bản mường, 4085 đinh xuất với diện tích là 1400km2, lỵ sở đặt tại Phong Thổ Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn công nhận Phong Thổ là đơn vị cấp huyện nằm trong tỉnh Lào Cai
Ngày 24- 12- 1962 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa II quyết định thành lập lại tỉnh Sơn La, Lai Châu và thành lập tỉnh mới Nghĩa Lộ Phong Thổ lúc này trở thành một trong 8 huyện của tỉnh Lai Châu
Ngày 14- 1- 2002, Chính phủ ra Nghị định số 08/2002/NĐ- CP về việc điều chỉnh địa giới huyện Mường Tè, huyện Mường Lay để thành lập huyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Theo Nghị định này, huyện Phong Thổ được chia thành 2 huyện Tam Đường và Phong Thổ ngày nay Huyện Tam Đường gồm 82 843,7ha diện tích đất tự nhiên và 52.567 nhân khẩu
Trang 2318
Tháng 11- 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia
và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên; huyện Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu mới, thị trấn Phong Thổ thuộc huyện Tam Đường đồng thời là tỉnh lỵ
Tháng 10- 2004, Chính phủ ra Nghị định số 176/2004/NĐ- CP về việc thành lập thị xã Lai Châu và thành lập các thị trấn thuộc các huyện Tam Đường, Phong Thổ Theo Nghị định này, một phần diện tích và dân số của huyện Tam Đường được tách ra để thành lập thị xã Lai Châu mới, đồng thời thị trấn Tam Đường cũng được thành lập Huyện Tam Đường còn lại 75 760, 70ha diện tích tự nhiên và 42.131 nhân khẩu
Tháng 12- 2006, Chính phủ ra Nghị định số 156/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; thành lập xã thuộc các huyện Than Uyên, Tân Uyên, Sìn Hồ và Tam Đường, tỉnh Lai Châu Nghị định quyết định thành lập xã Sơn Bình thuộc huyện Tam Đường, đồng thời chuyển xã Lả Nhì Thàng thuộc huyện Tam Đường về huyện Phong Thổ Huyện Tam Đường thời điểm này có 68 656,56ha diện tích đất tự nhiên và 40 685 nhân khẩu
Tháng 4- 2008, Chính phủ ra Nghị định số 41/2008/NĐ- CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Than Uyên, Tam Đường và Mường Tè, tỉnh Lai Châu Quyết định thành lập xã Giang Ma thuộc huyện Tam Đường Huyện Tam Đường lúc này có 68.472,56ha diện tích tự nhiên và 46 271 nhân khẩu
1.2.4 Truyền thống văn hóa
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng như trong lao động, sản xuất, các dân tộc Tam Đường đã tạo ra một nền văn hóa, nghệ thuật
đa dạng và phong phú Những thành tựu to lớn nhất đã được đúc kết là: Trồng lúa nước, làm nhà sàn, đúc trống đồng
Người Lự thường làm nhà sàn hai mái, mái sau ngắn, mái trước dài che
Trang 2419
khoảng không ở cầu thang và hàng hiên Người Lự còn có nghề dệt thổ cẩm, trang phục của họ thường có hoa văn trang trí sặc sỡ trên nền vải nhuôm chàm Người Lự thích ăn cơm nếp hơn cơm tẻ, thích ăn ớt, uống nước chè và đàn ông thường hút thuốc lào Người Thái cũng có truyền thống văn hóa rất độc đáo: ăn cơm nếp, uống rượu cần, ở nhà sàn, mặc xửa cóm, nghệ thuật đánh đàn tính cùng các tác phẩm viết về luật tục, tập quán như: nọn xứa (ngủ đệm), xư nạng (chữ nàng), lạng cụn (dạy người); trong sản xuất, đời sống sinh hoạt, hát (tiếng Thái là khắp) khắp sứ, khắp sao, tức là đọc, là ngâm, là hát những tác phẩm dân tộc, đã đóng góp cho kho tàng nghệ thuật và tri thức Việt Nam một phần đáng kể Điệu múa khèn và tiếng khèn lá của người Mông ở
Hồ Thầu, Tả Lèng, tiếng kèn pí kẻo của người Giấy ở Tam Đường, cùng với điệu múa chông của người Dao càng làm phong phú các sắc thái văn hóa của dân tộc Việt Nam
Tam Đường có nhiều lễ hội độc đáo như Lễ hội té nước Bun Vốc Nậm của bà con dân tộc Lào được tổ chức vào dịp thu hoạch lúa Lễ hội Tủ Cải của người Dao Đầu Bằng (là sự kết hợp giữa đạo giáo và tín ngưỡng bản địa, gắn ý niệm tâm linh với sự kiện đánh dấu tuổi trưởng thành của người nam giới dân tộc Dao) Bên cạnh đó, Tam Đường còn nổi tiếng với nhiều lễ tết của người Môn như Tết Soong Síp (Tết Cơm mới), Tết Kim Lao Mao (Tết uống rượu), tết ông Táo Đặc biệt, Tết Nen- Bươn- Tiền (Tết Nguyên Đán) là lễ hội lớn nhất của người Mông, được tổ chức giữa mùa đong (trước hoặc sau tết Dương lịch) Trong đêm giao thừa, các gia đình thường cử người con trai đi lấy nước ngoài sông, suối đem về nhà cúng tổ tiên Vào ngày đầu năm, người Mông đem dao, rựa phát quang đường đi để năm mới thông thoáng Trong hội chơi núi mùa xuân, người Mông thích các trò chơi bắn súng, bắn nỏ, hát giao duyên, múa khèn, múa võ, ném pa páo, biểu diễn khèn, Ngoài ra, Tam Đường còn có lễ mừng măng mọc (Kin Lẩu Nó) của người mảng, Kháng, Thái diễn ra vào đầu
Trang 2520
mùa mưa, khi những búp măng đâm chồi, đây là thời điểm bắt đầu mùa sản xuất trong năm Người Lự có lễ hội Xên Mường (cúng Mường) tổ chức vào tháng 2 âm lịch để tưởng nhớ đến các vị thần đã khai sáng ra Mường Trong lễ hội, người dân dâng trâu, ném còn, múa các điệu dân gian
Những giá trị văn hóa truyền thống cùng các tri thức bản địa phong phú
đã tạo nên một miền quê Tam Đường giàu bản sắc, là nguồn vốn văn hóa quan trọng của nhân dân trong huyện nói riêng và của tỉnh Lai Châu nói chung
1.3 Vài nét về địa bàn huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu
1.3.1 Về điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Về vị trí địa lý
Huyện Tân Uyên là huyện mới được thành lập, có vị trí địa lý: nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lai Châu Phía Đông giáp huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai Phía Tây giáp huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu Phía Nam giáp huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu Phía Bắc giáp huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu Sau khi được thành lập, huyện Tân Uyên có diện tích tự nhiên 90.319,65 ha
Huyện Tân Uyên có trục đường Quốc lộ 32, là tuyến đường huyết mạch nối liền các huyện, thị trong tỉnh và các tỉnh lân cận, nơi chung chuyển hàng hoá từ cửa khẩu Ma Lù Thàng đi Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội và tuyến đường Lào Cai đi Than Uyên, Sơn La Đặc biệt trong tương lai có sân bay dân dụng tạo diện mạo khu đô thị mới với nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển kinh
tế - xã hội của huyện
Huyện Tân Uyên có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế nông
- lâm nghiệp, hiện nay toàn huyện có 1.200 ha chè, với các giống chủ lực là Tuyết San, Bát Tiên và Thanh Tâm, sản lượng chè búp tươi của toàn huyện hàng năm đạt trên 8.500 tấn Đây là những điều kiện quan trọng để Tân Uyên phát triển bền vững và toàn diện trong tương lai không xa
Trang 2621
1.3.1.2 Về địa hình, đất đai
Tân Uyên có địa hình chia cắt rất phức tạp, phổ biến là kiểu địa hình núi cao trung bình có độ dốc lớn, trên 60% diện tích tự nhiên của huyện có độ cao trên 800m, hơn 90% địa hình có độ dốc lớn hơn 20 - 25o và bị chia cắt mạch bởi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có nhiều dãy núi có độ cao từ 1500 - 2000m so với mực nước biển Về cơ bản, địa hình phức tạp bị chia cắt bởi đồi núi, sông, suối, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn Tân Uyên
có 2 loại đất cơ bản là đất Feralít đỏ vàng và đất Feralít vàng đỏ
1.3.1.3 Về khí hậu, thủy văn
Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới núi cao
Tây Bắc, ngày nóng đêm lạnh Khí hậu chia thành 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, có nhiệt độ, độ ẩm cao; mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau vào mùa này khí hậu lạnh, độ ẩm, lượng mưa thấp, có gió Lào Nhiệt độ bình quân hàng năm ở Tân Uyên khoảng 22,25oc
Về chế độ mưa và độ ẩm: Lượng mưa bình quân 1.800 - 2.200 mm/năm
và phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 6, 7, 8, lựơng mưa hàng năm phân bố không đều do vậy thường xảy ra lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán, cháy rừng vào mùa khô Độ ẩm hàng năm 80%
1.3.1.4 Về tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên là 90.319,65 ha trong đó gồm các loại đất, đất nông nghiệp 7.325,12 ha, đất lâm nghiệp 25.430,44 ha, đất phi nông nghiệp 2.184,95 ha, đất chưa sử dụng 55.379,14 ha Chủ yếu là nhóm đất đỏ phù hợp cho sản xuất lâm nghiệp và phát triển cây chè
Tài nguyên rừng
Huyện có 20.320,1 ha rừng gồm 17.646,68 ha rừng tự nhiên, 2.673,42 ha rừng trồng Trong đó 1.180,02 ha rừng phòng hộ, 1.493,4 ha rừng sản xuất Độ
Trang 2722
che phủ của rừng tương ứng 22,5 % Với các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu nên rừng ở huyện Tân Uyên thuộc loại rừng nhiệt đới với nhiều quần thể thực vật rất phong phú, nhiều loài động vật quý hiếm sống trên các đỉnh núi cao Nhìn chung độ che phủ của rừng Tân Uyên còn thấp so với độ che phủ rừng của tỉnh Vì vậy trong thời gian tới, để phát huy thế mạnh sản xuất lâm nghiệp, tăng thu nhập cho người dân lao động cần ưu tiên phát triển trồng rừng
Tài nguyên khoáng sản
Huyện không có tiềm năng lớn về khoáng sản Trên địa bàn huyện có
mỏ quặng vàng thuộc xã Pắc Ta với diện tích ước tính có quặng ban đầu 500ha Khu vực có quặng đang được các doanh nghiệp thăm dò khai thác là 182ha nhưng trữ lượng vàng và tuổi vàng chưa được xá định Ngoài ra huyện còn có trữ lượng cát, đá, sỏi tập trung theo các lưu vực sông, suối trên địa bàn đây là nguồn khoáng sản quan trọng cung cấp vật liệu xây dựng trên địa bàn huyện Trong những năm qua việc khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện không lớn, song đóng góp một phần đáng kể trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.3.2 Về dân số
Theo thống kê, dân số của huyện Tân Uyên hiện nay có khoảng
dân số 40 người/km2 Huyện có 10 dân tộc anh em: dân tộc Thái 49,28%, dân tộc Kinh 14,99%, dân tộc Mông 17,79%, dân tộc Khơ Mú 7,48%, dân tộc Dao 4,68%, dân tộc Lào 4,48%, dân tộc Giáy 1,06%, dân tộc Tày 0,13%, dân tộc Êđê 0,01%, dân tộc khác 0,1% Do tập quán sinh hoạt và hình thức sản xuất của các dân tộc khác nhau nên mỗi dân tộc có một địa bàn cư trú riêng biệt, mật độ phân bố không đồng đều phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sống rải rác ở các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa với cơ sở hạ tầng kém phát triển, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
Trang 28Ngày 28/6/1909 thực dân Pháp đặt ra châu Than Uyên thuộc tỉnh Lai Châu Ngày 20/2/1920 châu Than Uyên lại sát nhập tỉnh Yên Bái
Sau hoà bình lập lại năm 1955, huyện Than Uyên thuộc khu tự trị Mèo[2] Cuối năm 1962 thành lập tỉnh Nghĩa Lộ, Than Uyên là huyện thuộc tỉnh Nghĩa Lộ, gồm thị trấn nông trường Tân Uyên và 16 xã: Hố Mít, Hua Nà, Khoen
Thái-On, Mường Cang, Mường Khoa, Mường Kim, Mường Mít, Mường Than, Nậm Cần, Nậm Sỏ, Pắc Ta, Pha Mu, Ta Gia, Tà Hừa, Tà Mít, Thân Thuộc
Ngày 3/1/1976 Than Uyên là một huyện của tỉnh Hoàng Liên Sơn (sau khi sát nhập 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Nghĩa Lộ thành Hoàng Liên Sơn) Từ tháng 10/1991 huyện thuộc tỉnh Lào Cai
Tháng 2 năm 1978, hợp nhất 2 xã Hua Nà và Mường Cang thành xã Nà Cang.[3]
Tháng 11 năm 1991, thành lập thị trấn Than Uyên - thị trấn huyện lị huyện Than Uyên - gồm phần đất của các xã Nà Cang và Mường Than
Tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên đồng thời chuyển huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu mới
Tháng 12 năm 2006, thành lập các xã Tà Mung, Phúc Than, Phúc Khoa thuộc huyện Than Uyên Huyện Than Uyên thời điểm này có 169.550 ha diện tích tự nhiên và 87.249 người
Trang 2924
Tháng 4 năm 2008, thành lập các xã Trung Đồng, Hua Nà, Mường Cang và thị trấn Tân Uyên thuộc huyện Than Uyên Huyện Than Uyên lúc này có 170.000 ha diện tích tự nhiên và 95.559 người
Từ đó, huyện Than Uyên có 2 thị trấn: Than Uyên (huyện lị), Tân Uyên
và 20 xã: Pha Mu, Mường Mít, Phúc Than, Mường Than, Mường Cang, Hua
Nà, Tà Hừa, Ta Gia, Tà Mung, Mường Kim, Khoen On, Mường Khoa, Phúc Khoa, Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc, Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít
Ngày 30/10/2008, Chính phủ ban hành Nghị định 04/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Than Uyên để thành lập huyện Tân Uyên Huyện Tân Uyên được thành lập trên cơ sở điều chỉnh 90.326,75 ha diện tích tự nhiên và 42.221 nhân khẩu của huyện Than Uyên (bao gồm toàn
bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Mường Khoa, Phúc Khoa, Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc, Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít và thị trấn Tân Uyên)
Ngày 15/01/2009, sau khi chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất, tổ chức bộ máy, nhân sự… huỵên Tân Uyên chính thức ra mắt và đi vào hoạt động
Huyện Tân Uyên hiện nay có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các
xã, thị trấn: Mường Khoa, Phúc Khoa, Nậm Sỏ, Nậm Cần, Thân Thuộc, Trung Đồng, Hố Mít, Pắc Ta, Tà Mít và thị trấn Tân Uyên
1.3.4 Truyền thống văn hóa
Tân Uyên là nơi sinh sống của bà con các dân tộc: Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Dao, Lào, Giáy và Tày Trong đó, người Thái chiếm số đông với gần 50% Dự kiến khi 2 công trình thủy điện Huội Quảng và Bản Chát hoàn thành, dân số Tân Uyên sẽ có sự biến động lớn vì phải tiếp nhận thêm gần 2.000 hộ dân tái định cư
Người Thái (còn có tên gọi khác là Táy, Hàng Tổng, Pa Thay, Thổ Đà Bắc) ở Tân Uyên gồm 2 nhóm là Thái đen và Thái trắng, 2 nhóm được phân
Trang 3025
biệt qua trang phục và cách vấn tóc của phụ nữ có chồng Phụ nữ Thái đen khi
đã lấy chồng phải “tằng cẩu” (búi tóc lên đỉnh đầu) còn với phụ nữ Thái trắng thì vấn tóc bình thường như các thiếu nữ Trang phục của phụ nữ Thái rất độc đáo với chiếc áo cóm bó sát người đính hàng cúc bướm bằng bạc; chiếc váy màu đen dài chấm gót, đầu đội khăn piêu
Người Thái có nhiều kinh nghiệm trong kỹ thuật tưới nước, đắp phai, đào mương lúa nước là nguồn lương thực chính, ngoài lúa nước, dân tộc Thái còn nổi tiếng với các sản phẩm như vải thổ cẩm có hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, đệm ngủ làm từ bông lau bền, đẹp Người Thái ở nhà sàn, mỗi bản thường có từ 30 – 80 nóc nhà kề nhau, sinh sống dọc theo các con suối, nguồn nước
Dân tộc Giáy (tên gọi khác là Pú Giáy hoặc Hún Giáy hay Nhắng, Dẳng, Xạ ) chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, ngoài ra còn làm rẫy, chăn nuôi và nghề thủ công đan lát các sản phẩm phục vụ nghề chài lưới Người Giáy rất thích màu đỏ, theo quan niệm của dân tộc Giáy, màu đỏ là biểu tượng của may mắn và hưng phát, người Giáy có hình thức hát giao duyên rất sôi nổi và hấp dẫn
Tân Uyên còn hấp dẫn du khách nhờ những lễ hội truyền thống của bà con dân tộc thiểu số như lễ hội Lồng tồng, cầu cho mùa màng tốt tươi của dân tộc Giáy; lễ Mừng mưa rơi (Om đim, Om đang); lễ Cầu mưa (Pa sưm); lễ xin lửa Thần bếp; lễ hội Mah grợ và điệu múa Vêlr guông, lễ cúng Hồn lúa, Mẹ lúa (Hmạl, Hngọ) của dân tộc Khơ Mú.Vào dịp tháng 3, tháng 4 âm lịch, người Khơ Mú thường đốt nương gieo trồng, trỉa hạt xuống đất Họ làm lễ Palr Hmal Phlưa (lễ xin lửa với hồn bếp), đồng thời tổ chức Lễ Pa Sưm (cầu mùa, cầu mưa), đây là lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu
Tháng 3, tháng 4 âm lịch những năm hạn hán, người già trong bản
Trang 3126
thường bày trò cho trẻ em múa sạp, múa mắc chân ba người để trời làm sét cho mưa Trai gái mặc áo mưa, đội nón giữa trời nắng, đi đến từng nhà trong bản, đến nhà nào thì nhà đó lấy chậu nước vo gạo hay nước trong ống dội vào
họ Người Khơ Mú tin rằng làm như vậy thì trời sẽ đổ mưa giúp cây lúa lên xanh tốt
Vào tháng 8, tháng 9 âm lịch, khi cây lúa đã trổ bông Những bà chủ nướng sẽ đóng vai “Mẹ lúa” (Ma ngọ) lên nương cắt những bông lúa xanh làm cốm, bông vàng đem về luộc chín, phơi khô làm cốm để làm lễ Mah Quai, dâng cơm, lúa non cho tổ tiên
Với truyền thống văn hóa phong phú và độc đáo, Tân Uyên cũng là một huyện có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng rất lớn, hứa hẹn mang đến cho huyện nhà một nguồn thu ngân sách đáng kể
1.4 Tiểu kết
Địa danh là một phân ngành của ngôn ngữ học, có nhiệm vụ nghiên cứu sự ra đời, đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, nguồn gốc, mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa… của địa danh
Địa danh là một khái niệm có nội hàm khá phức tạp Tùy theo cách tiếp cận, đối tượng, phương pháp, mục đích nghiên cứu… mà các nhà địa danh học đưa ra định nghĩa, cách phân loại cũng như xử lí địa danh khác nhau
Địa danh học là một môn khoa học có tính chất liên ngành Địa danh phát triển trên nền tảng của ba khoa học cơ bản: ngôn ngữ học, lịch sử, địa lí; ngoài ra còn cần đến phương pháp và kết quả nghiên cứu của khảo cổ học, nhân chủng học và văn hóa học…
Hệ thống địa danh hành chính huyện Tam Đường và Tân Uyên trải qua những thăng trầm của lịch sử, những thay đổi về địa danh, địa giới hành chính; cùng với quá trình biến đổi của riêng mình sẽ ẩn chứa những yếu tố tiềm tàng về lịch sử, văn hóa
Trang 3227
Khi nghiên cứu địa danh hành chính của một tỉnh cần nghiên cứu ở tất
cả các địa bàn thì mới có những đáng giá chuẩn xác, khái quát Tuy nhiên, do hạn chế nhất định nên trong khóa luận này chúng tôi chỉ giới hạn, khảo sát nghiên cứu địa danh hành chính của huyện Tam Đường và Tân Uyên tỉnh Lai Châu Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ phần nào đó cung cấp những
tư liệu thiết yếu cho việc nghiên cứu địa danh Lai Châu nói riêng và địa danh Việt Nam nói chung
Trang 3328
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH HUYỆN
TAM ĐƯỜNG VÀ HUYỆN TÂN UYÊN 2.1 Kết quả thu thập và phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên
2.1.1 Kết quả thu thập
Căn cứ vào phạm vi, đối tượng và nguyên tắc cùng các tiêu chí thu thập, phân loại địa danh như đã nêu, chúng tôi đã thu thập được 324 địa danh hành chính trên địa bàn huyện Tam Đường và Tân Uyên Các địa danh này được xác định trên sự phân bố theo không gian ở địa bàn các huyện
Số lượng địa danh được thu thập từ hai nguồn chính Nguồn thứ nhất là theo các văn bản hành chính, bản đồ các loại, các văn bản, thư tịch cổ ghi chép lại Nguồn thứ hai là từ cứ liệu điền dã theo sự tồn tại của địa danh trên thực tế (đây được coi là nguồn tư liệu quan trọng nhất)
2.1.2 Kết quả phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên theo nguồn gốc ngôn ngữ
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu về địa danh hành chính của hai huyện Tam Đường và Tân Uyên Theo đó, địa danh hành chính của 2 huyện này về cấu tạo ngôn ngữ mang đậm nét những đặc điểm của địa danh vùng núi- nơi mà có nhiều dân tộc quần cư Điều này được thể hiện qua kết quả phân loại địa danh
Bảng 2.1: Phân loại địa danh hành chính huyện Tam Đường và
huyện Tân Uyên theo nguồn gốc ngôn ngữ
Loại hình
Địa danh hành chính chia theo nguồn gốc ngôn ngữ
Trang 34- Địa danh có nguồn gốc Hán Tây Nam (còn gọi là Quan Hỏa) có 70 trường hợp, chiếm 21.60% tổng số địa danh, chủ yếu xuất hiện ở huyện Tam Đường (68 trường hợp) và là khu vực cư trú của người dân tộc Mông và Dao
Ví dụ: bản Tề Suối Ngài, bản Thèn Thầu, bản Chinh Chu Chải, bản Phan Chu Hoa, bản Lao Tỷ Phùng, (Huyện Tam Đường)
- Địa danh có nguồn gốc các dân tộc khác là 39 địa danh, chiếm 12.04% tổng số địa danh được khảo sát Ví dụ địa danh được đặt tên theo tiếng dân tộc Lào: Nà Tăm, Cóoc Cuông, Cóoc Nọoc, ; địa danh được đặt tên theo tiếng dân tộc Lự: bản Thẳm, bản Đông Pao, ; địa danh được đặt tên theo tiếng dân tộc Mông: bản Cư Nhà La, bản Pan Khèo, ; địa danh được đặt tên theo tiếng dân tộc Khơ Mú: bản Ui Dao, bản Ui Thái,
- Địa danh có nguồn gốc Hán Việt chiếm số lượng lớn thứ 4 với 32 trường hợp, chiếm 9.88% Đây chủ yếu là địa bàn cư trú của người Kinh Ví
dụ xã Trung Đồng, thị trấn Tân Uyên (Huyện Tân Uyên), bản Tiên Bình, xã Sơn Bình (Huyện Tam Đường),
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt là ít 23 trường hợp, chiếm 7.1%
Ví dụ: Khu 19, bản 25, Tổ dân phố 1, (Huyện Tân Uyên), bản Chăn Nuôi, Bản Máy Đường, bản Sân Bay (Huyện Tam Đường)
- Trong 06 nguồn gốc ngôn ngữ tạo ra địa danh huyện Tam Đường và Tân Uyên thì địa danh được đặt tên hỗn hợp là ít nhất với 15 trường hợp, chiếm 4.63% Ví dụ: bản Sàn Phàng Thấp, Bản Ngài Thầu Cao, bản Chù
Trang 3530
Khèo Thấp (Huyện Tam Đường) là sự kết hợp giữa tiếng Quan Hỏa và tiếng Việt hay bản Bút Dưới, bản Bút Trên (Huyện Tân Uyên) là sự kết hợp giữa tiếng Thái và tiếng Việt,
Như vậy, theo kết quả khảo sát địa danh hành chính hai huyện Tam Đường và Tân Uyên của tỉnh Lai Châu thì địa danh có nguồn gốc Tày-Thái chiếm số lượng lớn nhất, đặc biệt ở huyện Tân Uyên có đến 109/145 trường hợp chiếm 75.17% tổng số địa danh có nguồn gốc Tày- Thái ở đây Tiếp đến
là địa danh có nguồn gốc Tây Nam Hán (Quan Hỏa) với 70 địa danh chiếm 21.60% ,loại địa danh này hầu hết ở huyện Tam Đường Địa danh có nguồn gốc từ các dân tộc khác như Dao, Mông, Giáy, Khơ Mú, cũng chiếm một số lượng không nhỏ với 39 địa danh, chiếm 12.04% Ba loại địa danh với ba nguồn gốc ngôn ngữ này đã góp phần tạo nên nét riêng của địa danh hai huyện Tam Đường, Tân Uyên nói riêng, địa danh của tỉnh Lai Châu và khu vực Tây Bắc nói chung Nó khác so với cách đặt tên địa danh của các tỉnh khu vực đồng bằng chủ yếu là có nguồn gốc Hán Việt và thuần Việt Dẫn đến sự khác biệt này là do Tam Đường và Tân Uyên là nơi hợp cư của nhiều dân tộc thiểu số khác nhau, nên số lượng địa danh bản địa chiếm tỷ lệ khá lớn
2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên
2.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh
Khi nghiên cứu về cấu trúc phức thể địa danh, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất một phức thể địa danh gồm hai bộ phận, đó là: thành tố chung
và tên riêng Thành tố chung của địa danh đứng ở phía trước của phức thể địa danh, thường là danh từ hay danh ngữ , có chức năng chỉ loại hình của đối tượng địa lí được định danh Còn tên riêng (thành tố riêng, tên riêng địa danh, địa danh), ở đây chúng tôi thống nhất dùng tên “địa danh”- chứa đựng thông tin về đặc điểm riêng của đối tượng hay ý nghĩa mà chủ thể đặt tên gửi gắm
Trang 3631
vào đó “Địa danh” đứng sau thành tố chung, được viết hoa theo quy định chung của tiếng Việt; thường là danh từ hay danh ngữ, dùng để cá thể hóa và khu biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hình hay giữa
các loại hình với nhau Ví dụ: phức thể thị trấn Tam Đường, xã Hồ Thầu, bản
Nà Đa, … có bộ phận từ ngữ chung là những danh từ chỉ loại hình đối tượng
“thị trấn”, “xã”, “bản” còn các địa danh- tên riêng khu biệt đối tượng là
“Tam Đường”, “Hồ Thầu”, “Nà Đa”
Qua quá trình khảo sát, thống kê, miêu tả cấu trúc các địa danh trong tổng
số 324 địa danh được điều tra ở huyện Tam Đường và Tân Uyên, chúng tôi có thể đưa ra mô hình cấu trúc địa danh hành chính ở hai huyện này như sau:
Bảng 2.2: Mô hình cấu trúc phức thể địa danh hành chính
huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên
Mô hình này là kết quả của sự phân tích, miêu tả các địa danh dựa trên
độ dài lớn nhất của một phức thể địa danh tồn tại ở hai huyện Tam Đường và Tân Uyên Mô hình này chỉ mang tính chất khái quát nhất, không phải tất cả các phức thể tên gọi đều có độ dài như nhau Hầu hết các phức thể địa danh được sắp xếp theo trật tự: thành tố chung chỉ loại hình đứng trước, tên riêng
khu biệt đối tượng đứng sau Ví dụ: bản Pho Lao Chải (Tam Đường) có thành tố chung là “bản” đứng trước, tên riêng “Pho Lao Chải” đứng sau
Trang 37Như chúng ta đã biết, trong tổ hợp từ gọi tên một đối tượng địa lí đều
phải gồm hai thành tố: thành tố chung và địa danh Mỗi bộ phận có chức năng
riêng nhưng lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Theo mô hình cấu trúc phức thể địa danh thì quan hệ giữa thành tố chung và địa danh là quan hệ giữa
cái hạn định và cái được hạn định Trong đó thành tố chung là cái hạn định với
sự biểu thị một loạt đối tượng có cùng thuộc tính, còn địa danh là cái được dùng để hạn định được dùng để hạn định cho thành tố chung với chức năng chỉ những đối tượng cụ thể, xác định trong lớp đối tượng mà thành tố chung chỉ ra
Ví dụ: trong phức thể địa danh bản Mào Phô (Tam Đường) thì “bản” là cái được hạn định (thành tố chung), “Mào Phô” là cái hạn định (địa danh), dùng để
chỉ một bản cụ thể trong tổng số các bản ở Tam Đường nói riêng
Như vậy, có thể nói rằng, mối quan hệ giữa các thành tố trong một phức thể địa danh là quan hệ gắn kết một cách bền chặt Cấu tạo phức thể của địa danh là một sự kết hợp rất đa dạng giữa thành tố chung và địa danh Trong
đó, thành tố chung là bộ phận thứ nhất đứng đầu còn địa danh là bộ phận thứ hai đứng sau Và địa danh thường là một danh từ hoặc một danh ngữ có thể kết hợp với từ chỉ loại hình đi trước
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu và theo dõi, trong luận văn này chúng tôi tách một phức thể địa danh ra làm hai phần để trình bày: thành tố chung và địa danh
2.2.2 Thành tố chung
2.2.2.1 Khái niệm thành tố chung
Như đã trình bày ở trên, một phức thể địa danh bao giờ cũng gồm hai bộ
Trang 3833
phận là thành tố chung và địa danh Về khái niệm, thành tố chung đã được các nhà địa danh đề cập đến với những cách tiếp cận khác nhau Theo tác giả Từ Thu
Mai: “Khái niệm thành tố chung trong phức thể địa danh được hiểu là những
danh từ (danh ngữ) chung, được dùng để chỉ loại hình của một lớp đối tượng địa
lí có cùng thuộc tính bản chất Thành tố chung thường được đứng trước địa danh để phản ánh loại hình của đối tượng được định danh” [27;58]
Hay theo Nguyễn Kiên Trường: “Thành tố chung là danh từ chỉ loại
hình đối tượng địa lí, các danh từ này có tần số xuất hiện cao nhưng đã chuyển hóa thành tên riêng hay một bộ phận tên riêng” [36;49]
Trong luận văn này chúng tôi theo quan niệm của A V Superanskaja Định nghĩa của ông phần nào khái quát được vấn đề và đã chỉ ra đặc điểm
bản chất thành tố chung để phân biệt với địa danh: “là những tên gọi chung
liên kết các đối tượng địa lí với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định” Thành tố chung
được phân biệt với địa danh bởi chức năng chỉ loại và đảm nhiệm vai trò thành tố chung bao giờ cũng là một danh từ (hay ngữ danh từ) Ngoài chức năng hạn định cho địa danh thì nó còn có thể chuyển hóa thành các yếu tố trong địa danh
Trang 3934
a Cơ sở của hiện tượng chuyển hóa
Trong một phức thể địa danh, hai bộ phận thành tố chung và địa danh
có quan hệ bền chặt Thành tố chung có tính chất khái quát, còn địa danh có tính chất cụ thể hóa đối tượng Khi mới hình thành, các thành tố chung dùng
để chỉ loại hình của đối tượng, sau đó những đối tượng này đi sâu vào đời sống, vào vốn tri thức của con người, nó lại được tri nhận cụ thể, có tính chất xác định Vì thế, tên gọi được cấu tạo từ các danh từ chung này đã xen nhập
và chuyển hóa vào tên riêng (địa danh)
Nguyên nhân của sự chuyển hóa này là do quá trình định danh một địa danh cụ thể đã có sự khu biệt về nghĩa Do đó, kết quả của sự chuyển hóa này dẫn đến sự thay đổi về mặt cấu tạo của địa danh nói riêng và cả phức thể địa
danh nói chung Điều này không khó hiểu vì “một đơn vị từ ngữ khi trở thành
địa danh ít nhất phải đảm bảo hai tiêu chí: tiêu chí về nghĩa và tiêu chí về mặt cấu tạo” [23, 54].
b Vấn đề thành tố chung trong địa danh hành chính huyện Tam Đường
và Tân Uyên
Đối với địa danh hành chính, thành tố chung gồm có hai nhóm: nhóm thành tố chung chỉ địa danh cư trú theo cách đặt tên của chính quyền như: huyện, thị trấn, xã, tổ dân phố và nhóm thành tố chung chỉ địa danh cư trú theo cách đặt tên của tổ chức làng xa như: bản Trong đó, loại ít nhất có một
âm tiết, loại nhiều nhất có ba âm tiết Kết quả tổng hợp các thành tố chung được thể hiện quả bảng sau:
Bảng 2.3: Kết quả thống kê cấu tạo của các thành tố chung
Há, huyện Tam Đường
trấn Tân Uyên
Bệnh viện
Trang 4035
c.Các xu hướng chuyển hóa từ thành tố chung vào địa danh
Chuyển hóa là cách thức biến một địa danh này thành một hay nhiều địa danh khác Kết quả của sự chuyển hóa là địa danh mới có thể giữ nguyên dạng hoặc thêm một yếu tố mới so với địa danh cũ
Qua kết quả phân tích, xử lý tư liệu, hiện tượng chuyển hóa từ thành tố chung thành địa danh có 226 trường hợp, chiếm 69.75% Ví dụ xét trong các phức thể địa danh “bản Nậm Tường”, “bản Nà San”, “xã Bản Giang” (Huyện Tam Đường), bản “Nà Pầu”, bản “Pá Pặt” (Huyện Tân Uyên) thì “nậm” có nghĩa là nước, “nà” có nghĩa là ruộng, “bản” vốn là danh từ chung chỉ loại hình địa danh đã trở thành địa danh và một bộ phận của địa danh
Trong số 226 trường hợp có hiện tượng chuyển hóa, thì tất cả đều là thành tố chung chuyển hóa thành một bộ phận của địa danh Theo xu hướng này, ta có thể thấy nó được chia ra làm bốn tiểu xu hướng nhỏ:
+ Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất của địa danh có hai yếu tố trở lên có 144/226 trường hợp có sự chuyển hóa, chiếm 63.71% Ví dụ:
“bản Nà Đa”, “bản Suối Thầu” (Huyện Tam Đường), “bản Nậm Đanh”, “bản
Bó Lun” (Huyện Tân Uyên), các yếu tố “ruộng”, “nước”, “mó nước” vốn là thành tố chung chỉ loại hình địa danh của đơn vị dân cư đã được chuyển hóa thành yếu tố thứ nhất trong phức thể địa danh
+ Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ hai của địa danh với số lượng là 69/226 địa danh có sự chuyển hóa, chiếm 30.54% Ví dụ: “bản Lao
Tỷ Phùng”, “bản Sin Chải”, “bản Lùng Than Chung Chải” (Huyện Tam Đường), “bản Hô Pù”, “bản Hô Ta” (Huyện Tân Uyên), thì các yếu tố “bản”,
“nương”, “rừng”, “núi”, “nguồn” cũng vốn là thành tố chung chỉ loại hình địa danh của đơn vị dân cư đã được chuyển hóa thành yếu tố thứ hai trong phức thể địa danh
+ Thành tố chung chuyển hóa thành yếu tố thứ ba có 07/ 226 trường