* Các văn bản liên quan đến danh mục thuốc, danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế: - Thông tư 19/2018/TT-BYT về xây dựng danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán
TỔNG QUAN
DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TRONG BỆNH VIỆN VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC
1.1.1 Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện
Danh mục thuốc (DMT) đã sử dụng trong bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, là kết quả của các hoạt động lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng thuốc [44]
Do mô hình bệnh tật của một bệnh viện khác nhau nên mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc đặc thù riêng cho mình Giám đốc bệnh viện căn cứ vào kết quả tham mưu của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện như xây dựng DMT bệnh viện, sự lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước Từ đó, Giám đốc bệnh viện sẽ ra quyết định phù hợp góp phần thực hiện tốt Chính sách Quốc gia về thuốc trong bệnh viện [7]
Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng là để chỉ ra những mặt đạt được, những ưu điểm của nó Đồng thời, để chỉ ra những tồn tại, hạn chế tại đó để giúp cho Giám đốc Bệnh viện kịp thời điều chỉnh hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện được tốt hơn
1.1.2 Một số phương pháp phân tích dữ liệu thuốc đã sử dụng
Chi phí cho chăm sóc sức khoẻ tăng nhanh và bất hợp lý có thể do chi phí cho thuốc chiếm tỉ trọng cao Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp can thiệp HĐT&ĐT có chức năng quản lý, tham mưu và tư vấn giám sát về các vấn đề liên quan đến DMT sử dụng tại bệnh viện.
1.1.2.1 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị
Phân tích nhóm điều trị là phương pháp dựa vào đánh giá số lượng và giá trị tiền thuốc sử dụng của các nhóm tác dụng dược lý Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc của toàn bệnh việngiúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý
Ngoài ra, phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế [7],[44]
1.1.2.2 Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [7],[44]
Phân tích ABC có thể cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin này được sử dụng nhằm 5 mục đích sau:
- Lựa chọn những thuốc có chi phí thấp hơn
- Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện ra những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá hấp dẫn hơn mà vẫn đảm bảo chất lượng và số lượng
- Xác định phương thức mua thuốc không có trong DMT thiết yếu của bệnh viện
1.1.2.3 Phương pháp phân tích VEN
Phương pháp phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [7]
Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
- Thuốc V (Vital drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của BV
- Thuốc E (Essential drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của BV
- Thuốc N (Non-Essential drugs): Là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương ứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [7],[44]
* Ứng dụng Ứng dụng chính của phân tích VEN là xác định các chính sách ưu tiên khi tiến hành lựa chọn, mua sắm, sử dụng thuốc và các hoạt động quản lý tồn kho Các thuốc V, E nên được ưu tiên trong lựa chọn, mua sắm sử dụng, bảo quản và quản lý tồn kho, đặc biệt khi ngân sách bị thiếu hụt Các thuốc N nên được quản lý việc sử dụng, tránh lạm dụng [41]
1.1.2.4 Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Sau khi hoàn thành phân tích VEN, cần phải so sánh giữa phân tích ABC và VEN để xác định xem có mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc không ưu tiên hay không Cụ thể cần phải loại bỏ những thuốc N trong danh sách nhóm thuốc A có chi phí cao/lượng tiêu thụ lớn trong phân tích ABC
1.1.3 Đặc điểm trong sử dụng thuốc của các bệnh viện ở Việt Nam
0-2Hình 1.1 Đặc điểm trong sử dụng thuốc của các Bệnh viện tại Việt Nam [2]
THỰC TRẠNG THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
1.2.1.1 Cơ cấu thuốc đã sử dụng tại bệnh viện trên Thế Giới
Theo WHO, việc có sẵn thuốc trong khu vực công ở các khu vực của WHO chưa đến 60%, dao động từ 32% ở khu vực Đông Địa Trung Hải đến 58% ở Châu Âu [46] Tại các quốc gia nghèo nhất của Châu Phi và Châu Á, gần 50% dân số không được tiếp cận với thuốc Một nghiên cứu được thực hiện tại các cở sở y tế công cộng ở thị trấn Gondar nằm phía Bắc Ethiopia cho thấy lượng thuốc thiết yếu sẵn có trung bình chung là 91% [42], 73% thuốc thiết yếu có sẵn trong khu vực tư nhân [41] Nghiên cứu khác được thực hiện ở Tây Nam Ethiopia cho thấy 55,65 % loại thuốc có sẵn [37]
Tại Trung Quốc, thuốc Y học cổ truyền chiếm khoảng 30% chi phí về thuốc tại quốc gia này Thuốc cổ truyền chiếm 48,8% khoản mục và 39% giá trị trong danh mục thuốc được bảo hiểm y tế chi trả [40] Phân tích xu hướng sử dụng thuốc tại các bệnh viện công trong một nghiên cứu mẫu về khu vực thí điểm cải cách chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc cho kết quả thuốc hoá dược được sử dụng thường xuyên nhất và chiếm 60%
~ 70%, kết quả cũng cho thấy mức tiêu thụ thuốc tiêm của Trung Quốc tăng lên Ba nhóm thuốc hoá dược được tiêu thụ nhiều nhất là thuốc chống nhiễm khuẩn (12,92%), thuốc hệ tim mạch (11,61%) và thuốc hệ tiêu hóa (8,42%) Đáng chú ý là mặc dù thuốc thiết yếu được ưu tiên sử dụng trong bệnh viện nhà nước, nhưng tỷ lệ tiêu thụ của các loại thuốc này lại thấp hơn dự kiến [47]
1.2.1.2 Một số tồn tại trong sử dụng thuốc tại bệnh viện trên Thế Giới
Việc phân loại thuốc dựa theo ABC, VEN là rất quan trọng để đưa ra quyết định kiểm kê, tối ưu hoá việc sử dụng thuốc hợp lý, đặc biệt với thuốc khan hiếm Tại Bệnh viện Dessie ở Ethiopia đã phân tích ABC –VEN trong 5 năm, cho thấy 310 (17%), 368 (20,18%) và 1146 (62,83%) là lần lượt các hạng A, B, C, trong khi 610 (34,56%), 1125 (63,74%) và 30 (1,7%) khoản mục lần lượt là V, E, N, trong đó, loại AV chiếm 43,52% chi phí thuốc hàng năm [45] Nghiên cứu xu hướng chi tiêu, sử dụng thuốc trong 5 năm tại quỹ bảo hiểm y tế quốc gia ở Suda cho thấy bất cập tại nhóm thuốc loại A- khoản
VEN: Nhóm V chiếm số lượng, giá trị nhỏ (n = 11,2,34% SL, 5,46 % GT), nhóm N cao (n = 212, 45,01% SL, 26,43% GT) [39] Tại Ấn Độ, một nghiên cứu được tiến hành năm
2010 tại Bệnh viện Pgimer nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát đặc biệt Nghiên cứu chỉ ra trong số 421 thuốc trong danh mục có 13,8% thuốc nhóm A, 21,9% thuốc nhóm
B và có 64,4% thuốc nhóm C [39] Tại một bệnh viện ở Nam Phi, việc sử dụng thuốc hợp lý thể hiện việc thay thế các thuốc đắt tiền bằng các thuốc rẻ tiền hơn, loại bỏ các thuốc không thiết yếu ra khỏi danh mục đã tiết kiệm 20% ngân sách cho thuốc [38] Kết quả phân tích VEN thực hiện từ năm 2011-2014 tại Nga và nhóm nghiên cứu tiến hành can thiệp cho thấy: Năm 2011 thuốc nhóm V chiếm tỷ lệ thấp, nhóm N chiếm tỷ lệ cao Năm 2013, các bệnh viện tiến hành các giải pháp can thiệp bằng các hoạt động đào tạo dựa trên bằng chứng về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Đến năm 2014, kết quả sau khi can thiệp cho thấy, chi phí tiền thuốc giảm so với năm 2013 và đến 40% ngân sách tiền thuốc dùng cho thuốc nhóm V [48]
1.2.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng của một số bệnh viện tại Việt Nam
* Cơ cấu thuốc, vị thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc
Tại bệnh viện, nhu cầu tiêu thụ thuốc tăng dần qua các năm Theo báo cáo của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) thì tổng số tiền thuốc, hóa chất của các bệnh viện năm 2012 là 906,599 tỉ đồng, chỉ sau 3 năm, năm 2015 con số này tăng gấp 3 lần Kinh phí tiêu thụ thuốc bệnh viện năm 2016 tăng 44,1% do tăng giá thuốc và một phần do tăng mức tiêu thụ thuốc trong bệnh viện [18]
Năm 2019 tổng giá trị tiền thuốc tiêu thụ trong bệnh viện là 10.791 tỷ VND, chiếm khoảng 40% tổng trị giá tiền thuốc tiêu thụ Các bệnh viện từ Trung Ương đến địa phương đều duy trì được hoạt động đấu thầu thuốc TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 2 địa bàn tập trung nhiều các bệnh viện lớn, có tỉ trọng tiêu thụ cao [18] bảng 0.1 Bảng 1.2 So sánh tiền thuốc tiêu thụ trong bệnh viện tại các tỉnh, thành phố [18] Đơn vị: Tỷ VNĐ Địa bàn Năm 2018 Tỉ lệ % Năm 2019 Tỉ lệ %
Bảng trên cho thấy sự phân bố tiêu thụ thuốc ở các bệnh viện trên cả nước là không đồng đều Phần lớn thuốc được tiêu thụ tại các bệnh viện ở hai thành phố lớn là
TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, tổng giá trị tiêu thụ thuốc ở hai bệnh viện này chiếm gần 1/2 lượng thuốc tiêu thụ tại các bệnh viện trên cả nước bảng 0.2Bảng 1.3 Tỉ trọng theo giá trị tiêu thụ tiền thuốc tại các bệnh viện [12]
Tỉ trọng theo giá trị tiền thuốc Năm 2013 Năm 2014 Năm 2016 Năm 2017
Thuốc sản xuất trong nước 19% 20% 32,5% 48,3%
Thuốc tiêu thụ trong bệnh viện hiện nay chủ yếu là thuốc ngoại nhập với tỉ trọng đạt 66,1 %, chỉ có 33,0 % là thuốc sản xuất trong nước Điều này phù hợp với thị phần thuốc sản xuất trong nước tại thị trường Việt Nam tính theo giá trị tiền thuốc Tuy nhiên, thuốc sản xuất trong nước là thuốc generic, giá thấp hơn thuốc nhập khẩu, do đó giảm được chi phí khám chữa bệnh nên được khuyến khích tiêu thụ và thực tế là tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước được tiêu thụ tại các bệnh viện ngày càng tăng trong những năm gần đây
Nghiên cứu cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện chuyên khoa YHCT cho thấy, nhóm vị thuốc cổ truyền (gọi tắt là vị thuốc) thường chiếm tỷ lệ về giá trị sử dụng cao nhất, tiếp đến là nhóm thuốc hoá dược bảng 0.3 Bảng 1.4 Tỷ lệ nhóm thuốc hoá dược và nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu tại một số bệnh viện có hạng khác nhau
Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu 35,6 8,0 18,9
* Cơ cấu và giá trị tiền thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý Đối với DMT hoá dược, tại các BV chuyên khoa y học cổ truyền, khi xem xét danh mục thuốc hoá dược thì nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất là nhóm thuốc tim mạch, nhóm hormone – thuốc nội tiết Kết quả tại Bệnh viện YHCT Hưng Yên cho thấy với nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất là nhóm tim mạch (31,7%), nhóm hormone – thuốc nội tiết cao thứ 2 chiếm đến 25,4% [30] Tại Bệnh viện Quân y 354 năm 2017, nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn được sử dụng nhiều nhất (26,2% GTSD), tiếp đó là nhóm tim mạch (20,7% KM, 25,5% GTSD) [26] Đối với các bệnh viện chuyên YHCT thì thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, thuốc thang luôn chiếm một phần kinh phí không nhỏ trong tổng chi tiêu thuốc của bệnh viện, theo nghiên cứu của một số bệnh viện YHCT, có 03 nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao đó là nhóm an thần, định chí, dưỡng tâm; khu phong trừ thấp; nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ, được thể hiện cụ thể tại bảng 1.5 bảng 0.4 Bảng 1.5 Nhóm thuốc cổ truyển có giá trị sử dụng cao nhất
Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2019 [24] (% GTSD)
An thần, định chí, dưỡng tâm 63,5 11,9
Nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ 7,8 18,4
Nghiên cứu tại Bệnh viên Y dược cổ truyền Tuyên quang năm 2019 [32] và Bệnh viện YHCT Hà Đông năm 2017 [31] cho thấy nhóm thuốc an thần định chí, dưỡng tâm chiếm tỷ lệ cao nhất 59,2% và 51,07% Bệnh viện YHCT Trung ương năm 2018 không giống 2 bệnh viện trên, nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ có giá trị sử dụng lớn nhất với gần 8,3 tỷ đồng (chiếm khoảng 35% tổng giá trị sử dụng của nhóm thuốc cổ truyền) [34] Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn cho thấy, nhóm thuốc khu phong trừ thấp chiếm tỷ lệ GTSD cao tới 41,8%, thấp nhất là nhóm thuốc chữa bệnh về phế (12,2%), và nhóm nhuận tràng không nằm trong 5 nhóm có giá trị cao của BV [22]
* Cơ cấu thuốc hoá dược sử dụng theo thành phần: Đơn thành phần, đa thành phần
Việc sử dụng thuốc đơn thành phần sẽ an toàn hơn so với sử dụng thuốc đa thành phần vì tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi dùng đồng thời 2 hay nhiều thuốc với nhau Tỷ lệ tương tác thuốc tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc phối hợp [3]
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc hoá dược đơn thành phần và đa thành phần tại Bệnh viện YHCT Hưng Yên cho thấy thuốc đơn thành phần (224 KM) gấp 7,7 lần thuốc đa thành phần (29 KM) về số lượng khoản mục [30] Bệnh viện Quân y 354 cũng có sự tương đồng với thuốc đơn thành phần (497 KM) và đa thành phần (109 KM) [27]
VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN TUỆ TĨNH – HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Bệnh viện Tuệ Tĩnh được thành lập năm 2006, trực thuộc Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam Đây là đơn vị khám chữa bệnh và cũng là đơn vị thực hành lâm sàng của Học viện
Bệnh viện Tuệ Tĩnh là Bệnh viện đa khoa hạng II về YHCT với 18 khoa lâm sàng tham gia đào tạo cả Bác sĩ YHCT và bác sĩ đa khoa, dược sĩ Bệnh viện có các khoa điều trị vừa YHCT vừa YHHĐ như khoa Sản, khoa Nội… có khoa chỉ điều trị theo YHHĐ như khoa Mắt, khoa Tai Mũi Họng, khoa Răng Hàm Mặt, khoa Hồi sức cấp cứu… Bệnh viện đã chuyển sang tự chủ tài chính từ tháng 6 năm 2019 và đây là giai đoạn hoạt động thay đổi mạnh mẽ về quản lý tài chính trong đó có việc đầu tư tài chính cho việc mua sắm thuốc phục vụ công tác điều trị tại bệnh viện
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 được thể hiện tại bảng 1.8 ng 0.1bảBảng 1.8 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
STT Nhóm bệnh Tần suất Tỷ lệ
2 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa 7.213 21,52
STT Nhóm bệnh Tần suất Tỷ lệ
3 Các bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết 4.953 14,77
5 Bệnh hệ sinh dục – tiết niệu 1.594 4,75
6 Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở phần khác 1.214 3,62
8 Các bệnh da và mô dưới da 949 2,83
10 Bệnh mắt và phần phụ 800 2,39
11 Bệnh tai và xương chũm 790 2,36
12 Bệnh nhiễm trùng và kí sinh trùng 630 1,88
13 Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi 481 1,43
15 Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài 384 1,15
16 Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch 92 0,27
17 Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản 38 0,11
18 Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể 14 0,04
19 Nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong 6 0,02
20 Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh 5 0,02
Khoa Dược là một khoa cận lâm sàng, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám đốc Bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo về cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
Tổ chức bộ máy khoa Dược của Bệnh viện Tuệ Tĩnh được thể hiện tại hình 1.2
0-1Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức khoa Dược Bệnh viện Tuệ Tĩnh
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh viện Tuệ Tĩnh tự chủ tài chính từ tháng 6 năm 2019 Điều này đòi hỏi bệnh viện chủ động hơn trong việc tìm nguồn thuốc, quản lý sử dụng thuốc với hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo công tác điều trị theo mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị
Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị trong 3 năm liên tiếp có xu hướng giảm dần, cụ thể: Năm 2018 có 46.969 BN, năm 2019 có 48.345 BN, đặc biệt năm 2020 số lượng bệnh nhân chỉ chiếm 64,6% so với năm 2019 (31.234 BN) Tổng kinh phí sử dụng thuốc Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2020 là 10.690 triệu đồng, trong đó thuốc hoá dược chiếm 4.363 triệu đồng (40,8 %), thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền chiếm 868,6 triệu đồng (8,1
%), vị thuốc cổ truyền (thuốc thang) chiếm 6.327 triệu đồng (51,0%)
Năm 2018, Bùi Thị Thu Hằng đã có nghiên cứu phân tích về danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh ở mức mô tả cơ cấu DMT sử dụng trước giai đoạn tự chủ. Đến nay tại bệnh viện vẫn chưa có một nghiên cứu nào phân tích sâu về sử dụng danh mục thuốc sau tự chủ tài chính, những bất cập, tồn tại và những mặt tích cực trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang tự chủ chưa được phân tích đánh giá Do vậy việc xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện đáp ứng mô hình bệnh tật của bệnh viện, giảm chi phí điều trị, tiết kiệm ngân quỹ, tăng uy tín bệnh viện, nâng cao vai
Dược chính Kho Dược lâm sàng và thống kê Bào chế Nhà thuốc
Kho vật tư y tế tiêu hao
Kho Đông dược Kho tây y trò của người thầy thuốc trong việc sử dụng thuốc và khoa dược trong việc cung ứng thuốc nhanh nhạy kịp thời là một yêu cầu khách quan Vì vậy, việc cần có một đánh giá đúng mức về danh mục thuốc đã sử dụng sau tự chủ sẽ là một giải pháp hữu ích giúp khoa Dược và Bệnh viện Tuệ Tĩnh có giải pháp cung ứng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế Đây là bước đệm vững chắc cho các bệnh viện công lập trong tự chủ tại chính và dần tới tự chủ toàn diện Như vậy, việc nghiên cứu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh vừa mang tính cấp thiết vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của bệnh viện.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021:
+ Danh mục thuốc hóa dược
+ Danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
+ Danh mục vị thuốc cổ truyền quy đổi thành thuốc thang
- Phân bổ thầu Bệnh viện Tuệ Tĩnh cho năm2021
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2021 đến 31/12/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tuệ Tĩnh – Số 2 Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
No table of figures entries found.1Bảng 2.9 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại biến
PP thu thập số liệu Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
1 Nhóm thuốc được sử dụng
Thuốc sử dụng theo nhóm căn cứ TT 30/2018/TT-BYT và TT 05/2015/TT-BYT
- Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
2 Nhóm tác dụng của thuốc
- Thuốc hoá dược sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý căn cứ thông tư 30/2018/TT-BYT
Biến phân loại Tài liệu có sẵn
STT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại biến
PP thu thập số liệu
- Thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền theo nhóm tác dụng dược lý căn cứ thông tư 05/2015/TT-BYT
- Thuốc gây tê, gây mê, giãn cơ, giải giãn cơ
- Thuốc giảm đau chống viêm không steroid…
3 Thành phần thuốc hoá dược
- Thuốc đơn thành phần là thuốc chỉ có một hoạt chất chính
- Thuốc đa thành phần là thuốc có từ
2 hoạt tính trở lên có tác dụng rõ ràng
- Thuốc biệt dược gốc (BDG): là các thuốc nằm trong DM công bố BDG của Cục Quản lý Dược
- Thuốc generic: là thuốc không nằm trong DM công bố BDG
5 Nguồn gốc, xuất xứ của thuốc
Thuốc theo nguồn gốc xuất xứ căn cứ nước sản xuất ghi trên giấy phép lưu hành sản phẩm
6 Đường dùng của thuốc Đường dùng: là đường sử dụng của thuốc được ghi trên nhãn của sản phẩm
+ Đường dùng thuốc hoá dược: đường uống, đường tiêm, đường khác
+ Đường dùng thuốc cổ truyền: đường uống, đường dùng ngoài
STT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại biến
PP thu thập số liệu
7 Nơi bào chế vị thuốc
Các vị thuốc cổ truyền được bảo chế, sơ chế sau khi được cung cấp đến bệnh viện
- Không do BV bào chế
Mục tiêu 2: Xác định một số tồn tại trong danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
8 Tồn trữ thuốc, vị thuốc
Là thuốc, vị thuốc còn tồn trữ tại các kho của Bệnh viện sau năm 2021
- Thuốc hoá dược tồn trữ
- Thuốc cổ truyền, thuốc DL tồn trữ …
9 Thuốc sử dụng tại các khoa có SD thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; thuốc thang
- Thuốc sử dụng tại các khoa có SD thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; thuốc thang là tất cả thuốc (hoá dược, dược liệu, cổ truyền) đã sử dụng tại khoa có SD thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, thuốc thang
- Khoa cơ xương khớp (Thuốc hoá dược)
- Khoa cơ xương khớp (Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, thang)
10 Thuốc, vị thuốc sử dụng
- Thuốc, vị thuốc sử dụng ngoài danh mục thuốc trúng thầu là những
STT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại biến
PP thu thập số liệu ngoài danh mục thuốc trúng thầu thuốc, vị thuốc nằm ngoài quyết định trúng thầu
- Thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền
11 Thuốc, vị thuốc theo danh mục thuốc trúng thầu
- Thuốc, vị thuốc theo danh mục thuốc trúng thầu: là những thuốc nằm trong quyết định trúng thầu
- Thuốc trúng thầu không sử dụng
- Thuốc trúng thầu sử dụng
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp (PP) mô tả cắt ngang
- PP mô tả cắt ngang: Sử dụng hồi cứu số liệu về số lượng các khoản mục, giá trị từng khoản mục trong DMT đã được sử dụng tại bệnh viện, DTM trúng thầu Từ đó xác định những tồn tại của DMT đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh từ 01/01/2021 đến 31/12/2021
0-Hình 2.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Nguồn thu thập số liệu
* Hồi cứu các tài liệu sẵn có liên quan đến toàn bộ thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và vị thuốc cổ truyền (quy đổi thành thuốc thang) đã sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021, bằng các biểu mẫu thu thập, bao gồm:
+ Các báo cáo thống kê sử dụng thuốc năm 2021
- Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc
- Cơ cấu thuốc đã SD theo nhóm tác dụng
- Cơ cấu thuốc hoá dược đã sử dụng theo thành phần
- Cơ cấu thuốc hoá dược đã sử dụng theo thuốc BDG và thuốc generic
- Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc, xuất xứ
- Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo đường dùng, nơi bào chế
- Tồn tại trong sử dụng thuốc theo phân tích ABC/VEN
- Tồn tại trong sử dụng thuốc và vị thuốc theo DMT đã sử dụng tại BV
- Tồn tại trong sử dụng kết quả trúng thầu năm 2021
BÀN LUẬN – KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TUỆ TĨNH – HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM NĂM 2021
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
Xác định một số tồn tại trong danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
+ Bảng dự trù thuốc năm 2021 của các khoa lâm sàng
+ Danh mục thuốc trúng thầu năm 2019, 2021
+ Số liệu từ phần mềm quản lý xuất, nhập, tồn thuốc, vị thuốc cổ truyền năm 2021
- Tại các khoa/phòng khác:
+ Các thông tin về mô hình bệnh tật lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp khoa Dược BV + Các báo cáo sử dụng thuốc, kinh phí mua thuốc lưu tại phòng Tài chính khoa Dược BV
2.2.3.2 Biểu mẫu thu thập số liệu Điền các thông tin cần thu thập được từ hồi cứu nguồn dữ liệu có sẵn vào mẫu thu thập số liệu (mẫu chi tiết đính kèm tại Phụ lục 2) để có được bộ số liệu hoàn chỉnh về các loại thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện với các tiêu chí cụ thể
2.2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ nguồn tài liệu sẵn có liên quan đến toàn bộ DMT hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và vị thuốc cổ truyền (quy đổi thành thuốc thang) đã sử dụng trong Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021
* Thu thập thông tin từ khoa Dược, phòng Kế hoạch tổng hợp trích xuất trên các phần mềm của Bệnh viện
Từ phần mềm Khoa Dược của bệnh viện, dữ liệu thuốc năm 2021 được xuất ra bảng bằng phần mềm Microsoft Excel 2020 Thu thập thông tin chi tiết liên quan đến toàn bộ các thuốc được sử dụng tại BV năm 2021, cụ thể gồm các trường thông tin: Tên hoạt chất; tên thuốc/vị thuốc; hàm lượng/nồng độ; đơn vị tính; đường dùng; nơi bào chế; nhóm TDDL; nguồn gốc, xuất xứ; thuốc đơn TP/đa TP; thuốc BDG/generic; đơn giá; số lượng/khối lượng sử dụng; thành tiền sử dụng Sau đó bổ sung các nội dung cho cho mục tiêu 2: Số lượng thuốc trúng thầu; sử dụng/không sử dụng; SL nhập, xuất, tồn kho; khoa sử dụng (số lượng) Tiến hành mã hoá các trường thông tin này Dùng biễu mẫu tại phụ lục 2 để thu thập thông tin cho các thuốc, vị thuốc
* Đối với thu thập số liệu liên quan đến thuốc thang (quy đổi từ vị thuốc): Thu thập toàn bộ đơn thuốc thang tại quầy Đông y (đơn ngoại trú) và đơn thuốc thang nội trú theo phần mềm từ Phòng Kế hoạch tổng hợp
- Toàn bộ thuốc hoá dược; thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; vị thuốc cổ truyền (quy đổi thành thuốc thang) đã sử dụng năm 2021 (Bao gồm: 282 KM thuốc hoá dược, 13 KM thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và 170 KM vị thuốc cổ truyền quy đổi thành 338 KM loại thuốc thang)
- Toàn bộ thuốc, vị thuốc nằm trong phân bổ thầu Bệnh viện Tuệ Tĩnh cho năm 2021
* Tiêu chuẩn loại trừ: Thuốc, vị thuốc từ nguồn viện trợ, thuốc cho tặng, thuốc theo chương trình
2.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
2.2.5.1 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập, được kiểm tra dữ liệu còn thiếu, làm sạch, sau đó mã hóa và được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2020, hiện thị dưới dạng các bảng số liệu Sau đó các số liệu được mang đi phân tích bằng các phương pháp phân tích số liệu
* Đối với quy đổi vị thuốc thành thang thuốc thực hiện như sau:
- Bước 1: Sau khi thu thập được đơn thuốc thang, tiến hành tính tổng giá trị của 1 đơn thuốc thang (đối với đơn thuốc ngoại trú) bằng cách lấy đơn giá vị thuốc nhân với khối lượng vị thuốc tương ứng trong đơn thuốc thang Đối với đơn thuốc thang tại khoa nội trú, có sẵn giá trị sử dụng trên phần mềm
- Bước 2: Tiến hành phân loại đơn thuốc thang theo tên bệnh chính được ghi trên đơn thuốc Mỗi một tên bệnh không trùng nhau được tính là một khoản mục thuốc thang
* Đối với các biến thuộc mục tiêu 1:
- Bước 1: Dữ liệu nghiên cứu được cập nhật vào biểu mẫu thu thập số liệu được lấy từ phần mềm của Khoa Dược bệnh viện
- Bước 2: Phân tích số liệu đã thu thập theo các chỉ số cần nghiên cứu:
+ Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc:
2.1 = Nhóm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
+ Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng: Chia các hoạt chất thành các nhóm tác dụng theo thông tư 30/2018/TT-BYT (27 nhóm TDDL) và 05/2015/TT-BYT (11 nhóm TDDL của thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền) Sau đó mã hoá theo nhóm và phân nhóm tác dụng dược lý từ 1 đến hết
+ Cơ cấu thuốc hoá dược đã sử dụng theo thành phần: Căn cứ vào số lượng hoạt chất có tác dụng điều trị của từng thuốc, phân chia những thuốc có 01 hoạt chất chính có tác dụng điều trị là thuốc đơn thành phần, còn lại thuốc có từ 02 hoạt chất chính có tác dụng điều trị là thuốc đa thành phần
+ Cơ cấu thuốc hoá dược đã sử dụng theo thuốc BDG và thuốc generic: Thuốc Biệt dược gốc (BDG) theo danh mục BDG do BYT công bố trên Website của Cục Quản lý Dược Việt Nam, thuốc generic là thuốc không nằm trong danh sách BDG mà cục công bố
+ Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc, xuất xứ:
1 = Thuốc sản xuất trong nước (Việt Nam)
2 = Thuốc nhập khẩu (Nước ngoài)
+ Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo đường dùng, nơi bào chế
Căn cứ đường dùng của thuốc được thu thập, để phân chia: Đối với thuốc hoá dược:
3 = Đường dùng khác Đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; thuốc thang:
Căn cứ vào nơi bào chế:
1 = Do bệnh viện bào chế
2 = Không do bệnh viện bào chế
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
MÔ TẢ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG CỦA BỆNH VIỆN TUỆ TĨNH NĂM 2021
3.1.1 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc bảng 0.1 Bảng 3.11 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm thuốc
Khoản mục Giá trị sử dụng
2 Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu 13 2,1 436,8 6,3
Cơ cấu danh mục thuốc tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh bao gồm 3 danh mục: DM thuốc hóa dược; DM thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; DM thuốc thang được quy đổi từ 170 vị thuốc Trong đó, thuốc thang có khoản mục cao nhất chiếm 53,4% và đứng thứ hai về giá trị sử dụng (41,4%) Ngược lại, thuốc hóa dược ít hơn thuốc thang 90 khoản mục nhưng giá trị sử dụng cao nhất chiếm 52,3%
Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu chiếm tỷ lệ thấp nhất cả về khoản mục (2,1%) và giá trị sử dụng (6,3%)
3.1.2 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
3.1.2.1 Cơ cấu thuốc hoá dược đã sử dụng theo nhóm tác dụng bảng 0.2 Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc hoá dược sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
TT Nhóm thuốc điều trị
Khoản mục Giá trị sử dụng
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 44 15,6 396,8 11,0
TT Nhóm thuốc điều trị
Khoản mục Giá trị sử dụng
3 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 32 11,4 1.003,6 27,8
5 Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác 25 8,8 25,2 0,7
6 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không
Steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp 22 7,8 93,8 2,6
8 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh 14 4,9 252,7 7,0
9 Thuốc gây tê, gây mê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ 13 4,6 18,4 0,5
10 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 10 3,6 10,3 0,3
11 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 9 3,2 11,4 0,3
12 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 7 2,5 15,4 0,4
14 Thuốc tác dụng đối với máu 3 1,1 16,9 0,5
15 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 3 1,1 3,7 0,1
Danh mục thuốc hóa dược bệnh viện sử dụng năm 2021 gồm 282 thuốc nằm trong
21 nhóm thuốc với tổng giá trị sử dụng là 3.607,6 tỷ đồng
Trong đó, nhóm thuốc tim mạch ít hơn nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (nhóm 1) 01 khoản mục nhưng giá trị sử dụng cao nhất trong các nhóm, chiếm 28,6% và cao gấp 2,6 về GTSD so với nhóm 1 Nhóm hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết có 32 khoản mục với giá trị sử dụng chỉ sau nhóm thuốc tim mạch, chiếm 27,8% Khảo sát cho kết quả hai nhóm này đặc trưng cho sử dụng thuốc hóa dược phù hợp với mô hình bệnh tật năm 2021 của Bệnh viện
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn có khoản mục cao nhất (44 KM) nhưng tỷ lệ GTSD chỉ chiếm 11,0% Tìm hiểu cho thấy, đối với các bệnh nhiễm trùng, ngoài thuốc hóa dược, bệnh viện có sử dụng thuốc y học cổ truyền có tác dụng thanh nhiệt giải độc chống viêm điều trị bệnh nhân có nhiễm trùng nhẹ đến vừa Đây là lợi thế giúp bệnh viện hạn chế sử dụng kháng sinh
Sáu nhóm thuốc có số khoản mục ít và giá trị sử dụng thấp bao gồm: điều trị bệnh mắt, tai mũi họng; thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn; thuốc lợi tiểu; thuốc tác dụng đối với máu; thuốc tẩy trùng và sát khuẩn; nhóm khác đều có số khoản mục dưới 10 và giá trị sử dụng thấp dưới 1%
3.1.2.2 Cơ cấu thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc thang đã sử dụng theo nhóm tác dụng bảng 0.3 Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc thang sử dụng theo nhóm tác dụng y lý
TT Nhóm thuốc điều trị
Khoản mục Giá trị SD
I Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
1 Thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ 4 30,8 45,1 10,3
2 Thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 3 23,1 255,4 58,5
3 Thuốc thanh nhiệt, giải độc tiêu ban lợi thủy 3 23,1 120,4 27,6
4 Thuốc chữa bệnh về Âm, về Huyết 1 7,7 9,8 2,2
5 Thuốc khu phong trừ thấp 1 7,7 3,8 0,9
6 Thuốc chữa các bệnh về phế 1 7,7 2,3 0,5
II Thuốc thang (quy đổi từ 170 vị thuốc)
Nhận xét: Đối với danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu đã sử dụng năm 2021, bao gồm
13 khoản mục tương ứng với 6 nhóm thuốc Trong đó, có 3 nhóm: thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ; an thần, định chí, dưỡng tâm; thanh nhiệt, giải độc tiêu ban lợi thủy chiếm số khoản mục cao với tổng 3 nhóm là 77% và có giá trị sử dụng chiếm đến 96,4% GTSD của thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu Nhóm an thần, định chí, dưỡng tâm và nhóm thanh nhiệt, giải độc tiêu ban lợi thủy có tác dụng dược lý tương đồng với 3 nhóm thuốc có số thứ tự nhóm 1,2,3 tại bảng 3.12
Với số lượng khoản mục thuốc rất ít trong danh mục, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu chưa phản ánh được thực tế của mô hình bệnh tật bệnh tật Danh mục thuốc thang đã biểu hiện cụ thể hơn với nhóm thuốc khu phong trừ thấp có sự khác biệt rõ về có số khoản mục và giá trị sử dụng (cao nhất với 108 KM và 1.325,8 tỷ đồng); nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thuỷ có số khoản mục cao gấp 15,6 lần và nhóm chữa các bệnh về phế có số khoản mục cao gấp 17 lần so với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; ngoài ra, so với danh mục thuốc cổ truyền, danh mục thuốc thang có có thêm hai nhóm thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí; thuốc điều kinh, an thai và giải biểu Sở dĩ có điều này là vì bệnh viện thường điều trị các bệnh của các nhóm thuốc này theo phương pháp điều trị đối pháp lập phương, bệnh cảnh cần thuốc thang để điều trị theo gia giảm của vị thuốc và linh hoạt trong sử dụng các nhóm thuốc Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm tại hai danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc thang đều chiếm tỷ lệ cao về khoản mục và giá trị sử dụng
2 An thần, định chí, dưỡng tâm 69 20,4 751,9 26,4
3 Thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thuỷ 47 13,9 226,9 8,0
4 Thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí 44 13,0 226,1 7,9
5 Nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 34 10,1 104,0 3,7
6 Chữa các bệnh về phế 17 5,0 121,5 4,3
7 Thuốc điều kinh, an thai 11 3,3 35,4 1,2
8 Thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 6 1,8 56,8 2,0
3.1.3 Cơ cấu thuốc đã sử dụng theo một số thông tin của thuốc
3.1.3.1 Cơ cấu các thông tin về thành phần, nguồn gốc, nước sản xuất và đường dùng của thuốc hóa dược đã sử dụng trong danh mục thuốc bệnh viện
Cơ cấu thuốc hóa dược sử dụng theo thành phần, đường dùng, nước sản xuất và nguồn gốc tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 được thể hiện theo bảng dưới đây: bảng 0.4 Bảng 3.14 Cơ cấu thành phần, đường dùng, nước sản xuất, nguồn gốc thuốc hóa dược đã sử dụng Đặc điểm phân loại Khoản mục Giá trị sử dụng
Thành phần Đơn chất (1 thành phần) 238 84,4 2.411,1 66,8 Đa chất 44 15,6 1.196,5 33,2
Nhập khẩu 113 40,0 2.942,5 81,6 Đường dùng Đường dùng uống 165 58,5 2.759,1 76,5 Đường dùng tiêm 81 28,7 754,8 20,9 Đường dùng khác 36 12,8 93,7 2,6
- Số khoản mục thuốc đơn thành phần gấp 5,4 lần khoản mục (238/44) so với thuốc đa thành phần, nhưng GTSD chỉ gấp 2 lần (66,8/33,2) Kết quả này cho thấy thuốc đa thành phần thường có giá trị sử dụng của mỗi khoản mục trung bình cao hơn thuốc đơn chất (1.196,5/44 > 2.411,1/238) Ví dụ các thuốc đa thành phần như thuốc Coveram, Coversyl plus, Dorover plus
- Số khoản mục thuốc generic sử dụng là 244 khoản mục và cao gấp 8,7 (244/28) lần so với thuốc biệt dược gốc, trong khi giá trị sử dụng chỉ gấp 3,1 lần (75,4/24,6) Như vậy thuốc generic có giá trị sử dụng trung bình thấp hơn thuốc BDG Khoản mục thuốc generic nhiều hơn thuốc BDG cũng thể hiện việc ưu tiên sử dụng thuốc generic, phù hợp với tiêu chí trong thông tư 21/2013/TT-BYT về tổ chức, hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của HĐT&ĐT [7]
- Thuốc sản xuất trong nước là 169 khoản mục, chỉ cao gấp 1,5 lần so với thuốc nhập nhẩu về khoản mục, nhưng về GTSD thì thuốc nhập khẩu chiếm đến 81,6%, gấp 4,4 lần so với thuốc sản xuất trong nước Kết quả này cho thấy thuốc nhập khẩu có GTSD rất cao, có thể ảnh hưởng lớn đến nguồn kinh phí bệnh viện Cần tránh lạm dụng thuốc nhập khẩu mà chỉ nên lựa chọn sử dụng thuốc nhập khẩu khi không thể thay thế bằng thuốc sản xuất trong nước
- Tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh, đa phần sử dụng thuốc đường dùng uống với 165
KM (58,5%) và có giá trị sử dụng 2.759,2 triệu đồng (tương ứng 76,5%) Thuốc đường dùng tiêm và đường dùng khác chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ này cho thấy phù hợp với xu hướng chung của các bệnh viện hiện nay là cơ bản dùng thuốc đường uống Theo kết quả tại bảng 3.14, đường uống có số khoản mục gấp 2 lần đường dùng khác, GTSD gấp hơn 3 lần so với đường tiêm, điều này cho thấy bệnh viện sử dụng đường uống với nhiều khoản mục nhưng mỗi khoản mục lại có đơn vị tính có giá trị thấp
3.1.3.2 Cơ cấu các thông tin về nơi sản xuất, đường dùng và nơi bào chế của thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, vị thuốc đã sử dụng trong danh mục thuốc Bệnh viện
Cơ cấu thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, vị thuốc sử dụng theo đường dùng, nước sản xuất và nơi bào chế tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 được thể hiện theo bảng dưới đây:bảng 0.5
Bảng 3.15 Cơ đường dùng, nước sản xuất, nguồn gốc thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, vị thuốc đã sử dụng Đặc điểm phân loại Khoản mục Giá trị sử dụng
Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
Nước ngoài 5 38,5 291,6 66,8 Đặc điểm phân loại Khoản mục Giá trị sử dụng
SL % GT % Đường dùng Đường uống 13 100 436,8 100 Đường dùng ngoài 0 0 0 0
Việt Nam (thuốc Nam) 90 52,9 626,2 21,9 Nhập khẩu (thuốc Bắc) 80 47,1 2.222,8 78,1
Do Bệnh viện bào chế 79 46,5 1.566,2 55,0 Không do Bệnh viện bào chế 91 53,5 1.282,8 45,0
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG CỦA BỆNH VIỆN TUỆ TĨNH NĂM 2021
3.2.1 Tồn tại trong sử dụng một số nhóm thuốc qua phân tích ABC/VEN
3.2.1.1 Phân tích cơ cấu thuốc đã sử dụng theo phân tích ABC
Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích ABC cho thấy mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ và chi phí nhằm phân định ra những nhóm thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Kết quả phân tích ABC của DMT sử dụng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2021 cho kết quả như sau: bảng 0.6 Bảng 3.16 Cơ cấu thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu sử dụng theo phân tích ABC
TT Nhóm thuốc Giá trị sử dụng Khoản mục
Ghi chú: (*) là tổng khoản mục thuốc hóa dược (282 KM) và thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu (13 KM)
Cơ cấu thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm
2021 cho kết quả: có tổng số 295 khoản mục tương ứng với 4.044,4 triệu đồng, trong đó các nhóm thuốc hạng A, hạng B và hạng C đều đạt cả về giá trị sử dụng và số khoản mục theo quy định tại thông tư 21/2013/TT-BYT về tổ chức, hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của HĐT&ĐT Đề tài tiến hành phân tích nhóm thuốc hạng A theo phương pháp ABC, kết quả được ghi tại bảng 3.17 ng 0.7 Bảng 3.17 Cơ cấu thuốc hạng A đã sử dụng theo tác dụng dược lý
TT Nhóm thuốc điều trị
Khoản mục Giá trị sử dụng
1 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 9 25,7 911,2 28,2
3 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 5 14,3 260,4 8,1
4 Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh 3 8,6 220,7 6,8
6 Thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu 2 5,7 60,0 1,9
Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
8 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 2 5,7 245,5 7,6
9 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 1 2,9 119,7 3,7
10 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tỳ 1 2,9 34,7 1,1
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý (TDDL) trong nhóm A cho thấy: Nhóm thuốc A được phân thành 07 nhóm TDDL theo y học hiện đại và 03 nhóm tác dụng theo y học cổ truyền
- Đối với thuốc hóa dược: Về số lượng khoản mục chiếm nhiều nhất là 3 nhóm thuốc hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết; thuốc tim mạch và thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn với tổng giá trị sử dụng chiếm cao nhất, trên 63%
Nhóm thuốc có giá trị sử dụng thấp nhất là nhóm thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu (1,9% GTSD)
Về tỷ lệ giữa giá trị sử dụng với khoản mục cho thấy, thuốc khoáng chất và vitamin chiếm tỷ lệ cao nhất khi chỉ có 01 KM nhưng GTSD chiếm đến 12,1%, tiếp theo là nhóm thuốc tim mạch với tỷ lệ 3,35 (26,8/8) Một số nhóm thuốc khác cơ bản có tỷ lệ dưới 2 như thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn; thuốc đường tiêu hóa và thuốc điều trị bệnh đường tiết niệu
- Đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu trong nhóm A chiếm tỷ lệ thấp, chỉ có
11,5% KM (04 khoản mục), trong đó nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm chiếm tỷ lệ cao nhất với 02 KM chiếm 7,6% GTSD Nhóm thuốc này đặc trưng cho bệnh viện YHCT đó là những bệnh không nhiễm trùng
Hầu hết các thuốc có tỷ lệ giữa giá trị sử dụng với khoản mục là thấp, thấp nhất là nhóm nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì (1,1/1)
Về tỷ lệ giữa giá trị sử dụng với khoản mục của hai nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm và nhóm thuốc tim mạch có sự tương đương nhau (7,6/2 và 26,8/8), cho thấy cả hai nhóm thuốc của hai DMT thuốc khác nhau đều cùng phù hợp với mô hình bệnh tật của bệnh viện Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có tỷ lệ giữa GTSD và KM cao hơn thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (3,7/1 > 8,1/5)
Bảng 3 18 Cơ cấu nhóm thuốc thang sử dụng theo phân tích ABC
TT Nhóm thuốc Giá trị sử dụng Khoản mục
Nhận xét: Đối với nhóm thuốc thang với 338 khoản mục, cho thấy cả 3 nhóm không đạt về số khoản mục theo quy định, cụ thể: nhóm A chiếm 26,6%, nhóm B 40,8%, nhóm C 32,5%, nhưng tỷ lệ phân phối về giá trị sử dụng giữa các nhóm lại phù hợp theo quy định Tiếp tục phân tích thuốc hạng A tại bảng 3.19
8 Bảng 3.19 Cơ cấu thuốc thuốc thang hạng A đã sử dụng theo tác dụng y lý
Nhóm thuốc khu phong trừ thấp có 40 khoản mục chiếm 50,6% GTSD, tiếp theo là nhóm an thần, định chí, dưỡng tâm với 28 KM chiếm 28,8% GTSD Hai nhóm thuốc thuốc đặc trưng cho bệnh viện YHCT đó là những bệnh không nhiễm trùng Thấp nhất là nhóm thuốc điều kinh, an thai với 2 KM chỉ có 0,9% GTSD
Hầu hết các thuốc có tỷ lệ giữa giá trị sử dụng với khoản mục là thấp, thấp nhất là nhóm nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì (1,5/4); tiếp đến là nhóm điều kinh, an thai (0,99/2) Nhóm có tỷ lệ cao nhất là nhóm chữa các bệnh về phế chỉ có 01 KM nhưng chiếm đến 3,9% GTSD
3.2.1.2 Tồn tại trong việc sử dụng cùng 1 hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đường dùng thì các biệt dược nằm trong nhiều hạng A, B, C
Việc lựa chọn sử dụng thuốc hợp lý, tiết kiệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng thuốc đặc biệt điều đó càng có ý nghĩa trong giai đoạn các bệnh viện hướng tới cơ chế tự chủ và quỹ Bảo hiểm y tế phân cho các bệnh viện ngày càng hạn hẹp Nghiên cứu cho thấy, mặc dù nhóm A của thuốc hóa dược được phân phối phù hợp theo quy định về khoản mục và giá trị sử dụng (theo quy định hạng A chiếm 60-80% GTSD và 10-20% KM), tuy nhiên khi phân tích sâu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện lựa chọn một số thuốc có cùng hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đường dùng, thấy rằng 06 hoạt chất của nhóm A trùng lặp với nhóm B hoặc nhóm C, kết quả thể hiện tại bảng 3.20
STT Nhóm thuốc điều trị
Khoản mục Giá trị sử dụng
2 An thần, định chí, dưỡng tâm 28 31,1 655,4 28,8
3 Thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí 8 8,9 119,1 5,2
4 Thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thuỷ 5 5,6 154,3 6,8
5 Nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 4 4,4 35,0 1,5
6 Thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 2 2,2 51,6 2,3
7 Thuốc điều kinh, an thai 2 2,2 21,2 0,9
8 Chữa các bệnh về phế 1 1,1 88,4 3,9
Tổng 90 100 2.277,48 100 bảng 0.9 Bảng 3.20 Thuốc có cùng hoạt chất, nồng độ hàm lượng sử dụng nằm trong nhiều hạng A, B, C
TT Tên hoạt chất Tên thương mại
Hạng Số lượng Đơn giá (VN đồng)
Giá trị tiêu thụ (trđ)
Giá trị chênh lệch so với A (trđ)
Actelsar HCT A 29.823 9.597 287,4 Mibetel HCT B 1.563 3.990 6,2 281,2 Hangitor plus C 1.034 1.197 1,2 286,2
Ghi chú: Giá trị chênh lệch so với A: Là giá trị chênh lệch thuốc hạng A so với thuốc hạng B (hoặc hạng C) cùng hoạt chất, bằng hiệu giá trị tiêu thụ của thuốc hạng A trừ giá trị tiêu thụ thuốc hạng B (hoặc thuốc hạng C)
Kết quả cho thấy cùng một hoạt chất, nồng độ, hàm lượng được sử dụng thì hầu hết các thuốc có đơn giá cao hơn được sử dụng nhiều hơn về số lượng, thậm chí còn cao hơn rất nhiều lần so với thuốc có đơn giá thấp hơn Đặc biệt thuốc có thành phần hoạt chất gồm (telmisartan + hydrochlorothiazid) đều có 3 thuốc được lựa chọn sử dụng, thì thuộc cả 3 hạng A, B, C với sự chênh lệch về giá trị tiêu thụ giữa thuốc hạng A và thuốc hạng B, C là nhiều
Việc lựa chọn tên thương mại khác nhau dẫn đến giá trị sử dụng có sự khác biệt rõ ràng, đối với thuốc thuộc nhóm A như Actelsar HCT, Vastarel Mr, Garosi, Curam đều là các thuốc có nguồn gốc nhập khẩu vừa có đơn giá cao lại còn được sử dụng với số lượng lớn