Do xê măng bám chặt vào ngà chân răng và có nhiều bệnh lý chung với các mô cứng khác của răng men, ngà, về mặt giải phẫu lâm sàng, xê măng là thành phần thường được mô tả cùng với răng..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
Bài giảng RĂNG – HÀM – MẶT
Biên soạn: BS.CKI Bùi Đình Xuyên BS.Triệu Thị Thu Ngân
Hậu Giang – 2022 LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
Bài giảng RĂNG – HÀM – MẶT
Biên soạn: BS.CKI Bùi Đình Xuyên BS.Triệu Thị Thu Ngân
Hậu Giang – 2022 LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 4Chương trình lý thuyết (15 tiết) với mục tiêu tổng quát như sau :
Mô tả được đặc điểm giải phẫu và chức năng hệ thống nhai
Giải thích được sinh bệnh học, nguyên tắc điều trị và dự phòng các bệnh răng miệng thông thuờng như bệnh sâu răng, bệnh nha chu, bệnh niêm mạc miệng
Phân tích được đặc điểm các bệnh lý nhiễm trùng, khối u, dị tật bẩm sinh
Cuối cùng khoa Y rất mong sự đóng góp ý kiến từ quý đồng nghiệp cũng như của các bạn sinh viên là đối tượng của giáo trình này, để tập giáo trình được hoàn thiện hơn
Trân trọng kính chào
TM Ban biên soạn
Bùi Đình Xuyên
Trang 6LỜI TỰA - -
Bài giảng Răng hàm mặt được biên soạn và thẩm định theo các quy chế, quy định hiện hành Khoa Y hy vọng sẽ cung cấp các nội dung kiến thức súc tích về học phần, hỗ trợ tốt nhất cho sinh viên trong quá trình học tập Bên cạnh đó, bài giảng không thể tránh khỏi các thiếu sót ngoài ý muốn, Khoa Y rất mong nhận được các ý kiến đóng góp từ sinh viên và người đọc để bài giảng được hoàn thiện hơn
Hậu Giang, ngày … tháng … năm 2022
Bùi Đình Xuyên
Trang 7BÀI 1:HỆ THỐNG NHAI
1.1Thông tin chung
1.1.1Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về hệ thống nhai, cách gọi tên răng, cấu trúc của răng và mô nha chu
1.1.2 Mục tiêu học tập
1 Kể tên các thành phần của hệ thống nhai
2 Định nghĩa được cơ quan răng và các thành phần của nó
3 Trình bày được công thức răng (nha thức), kể tên được từng răng, viết được ký hiệu răng
1.1.3 Chuẩn đầu ra
Áp dụng kiến thức về hệ thống nhai trong quá trình khám và điều trị
1.14 Tài liệu giảng dạy
1.1.4.1 Giáo trình
Nguyễn Toại (2012) Răng hàm mặt NXB Y học
1.1.4.2 Tài liệu tham khảo
1.Hoàng Tử Hùng (2016) Giải phẫu răng NXB Y học
2.Trần Ngọc Quảng Phi (2021) Giải phẫu răng ứng dụng NXB Y học
1.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo
1.2 Nội dung chính
1.2 1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA
1.2.1.1 Hệ thống nhai
Trang 8Hệ thống nhai là một tổng thể, một đơn vị chức năng, bao gồm:
- Răng và nha chu
1.2.1.2 Cơ quan răng
Cơ quan răng bao gồm răng và nha chu (quanh răng), là đơn vị hình thái và chức năng của bộ răng
Răng là bộ phận trực tiếp nhai nghiền thức ăn, nha chu là bộ phận giữ và nâng
đỡ răng, đồng thời là bộ phận nhận cảm, tiếp nhận và dẫn truyền lực nhai
Răng được cấu tạo gồm: men, ngà (mô cứng) và tủy (mô mềm)
Nha chu gồm xê măng (còn gọi là xương chân răng, men chân răng), dây chằng, xương ổ răng, nướu (lợi)
Do xê măng bám chặt vào ngà chân răng và có nhiều bệnh lý chung với các mô cứng khác của răng (men, ngà), về mặt giải phẫu lâm sàng, xê măng là thành phần thường được mô tả cùng với răng
Bộ răng là một thể thống nhất thuộc hệ thống nhai, tạo thành bởi sự sắp xếp có
tổ chức của các cơ quan răng
Trang 91.2.3RĂNG VĨNH VIỄN
Khi trẻ được khoảng 6 tuổi, các răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, đó là răng số 6 (răng 6 tuổi, răng cối lớn thứ nhất, răng cối lớn 1), sau đó các răng khác của bộ răng vĩnh viễn sẽ lần lượt mọc lên để thay thế các răng sữa Bộ răng vĩnh viễn mọc đầy đủ
Công thức bộ răng sữa của người:
Trang 10Nghĩa là có 10 răng sữa ở mỗi nửa hàm, bộ răng sữa đầy đủ có 20 răng
Công thức bộ răng vĩnh viễn của người:
Các răng cửa và răng nanh gọi chung là răng trước, các răng cối sữa hoặc các răng cối lớn và cối nhỏ gọi chung là răng sau
1.2.5 TÊN RĂNG – SƠ ĐỒ RĂNG – KÝ HIỆU RĂNG
Cách gọi tên
Bắt đầu từ đường giữa của hai cung răng đi về hai phía, răng được gọi tên tuần
tự như sau:
Răng vĩnh viễn (Ký hiệu bằng chữ số Ả rập từ 1 đến 8):
Nhóm răng cửa: - Răng cửa giữa (răng số 1)
- Răng cửa bên (răng số 2) Nhóm răng nanh: - Răng nanh (răng số 3)
Nhóm răng cối nhỏ: - Răng cối nhỏ thứ nhất (cối nhỏ 1, răng số 4)
- Răng cối nhỏ thứ hai (cối nhỏ 2, răng số 5) Nhóm răng cối lớn: - Răng cối lớn thứ nhất (cối lớn 1, răng số 6)
- Răng cối lớn thứ hai (cối lớn 2, răng số 7)
- Răng cối lớn thứ ba (cối lớn 3, răng số 8) Răng sữa (Ký hiệu bằng chữ cái từ A đến E, hay chữ số La mã từ I đến V) Nhóm răng cửa sữa: - Răng cửa giữa sữa (răng A hay răng I)
- Răng cửa bên sữa (răng B hay răng II) Nhóm răng nanh sữa: - Răng nanh sữa (răng C hay răng III)
Nhóm răng cối sữa: - Răng cối sữa thứ nhất (cối sữa 1, răng D, răng IV)
- Răng cối sữa thứ hai (cối sữa 2, răng E, răng V) Tùy vị trí của răng trên cung răng, thuộc hàm trên hay hàm dưới, bên phải hay bên trái, răng được gọi tên đầy đủ bằng cách thêm tên các phần tư hàm đó hay các góc phần tư vào tên răng
Ví dụ: Răng cối lớn 1 hàm trên bên phải
Sơ đồ răng
Là sơ đồ biểu diễn từng răng theo vị trí trên các phần tư hàm của hai hàm Sơ
đồ răng cũng có thể là hình vẽ cung răng hoặc các mặt răng đơn giản hóa dùng trong
mô tả, chẩn đoán, điều trị
Răng vĩnh viễn:
Trang 11Răng sữa:
Ký hiệu răng
Theo Palmer, răng được ký hiệu theo các chữ số ký hiệu răng cùng với ký hiệu
góc phần tư
Ví dụ: Răng cối lớn 1 hàm dưới bên phải 6˥
Răng cửa giữa hàm trên bên phải 2˩
Năm 1970, Liên đoàn Nha khoa thế giới họp tại Bucarest (Rumani) đã đề nghị
thống nhất sử dụng hệ thống ký hiệu răng gồm 2 chữ số, răng được ký hiệu theo các
mã số các phần tư hàm và chữ số ký hiệu răng
Răng vĩnh viễn: Phần tư hàm trên bên phải: phần hàm 1; Răng sữa: phần hàm 5
Phần tư hàm trên bên trái: phần hàm 2; Răng sữa: phần hàm 6 Phần tư hàm dưới bên trái: phần hàm 3; Răng sữa: phần hàm 7 Phần tư hàm dưới bên phải: phần hàm 4; Răng sữa: phần hàm 8
Ví dụ: Răng cối lớn 1 hàm trên bên phải được ký hiệu 16
(đọc là “một sáu”, không đọc là “mười sáu”) Răng nanh sữa hàm dưới bên phải được ký hiệu 83
(đọc là “tám ba”, không đọc là “tám mươi ba”)
1.2.6 SƠ LƯỢC CẤU TRÚC CỦA RĂNG
Trang 12Cơ quan răng Nướu răng viền xung quanh cổ răng tạo thành 1 bờ, gọi là cổ răng sinh lý Phần răng thấy được trong miệng là phần thân răng lâm sàng Cổ răng sinh lý thay đổi theo nơi bám và bờ của viền nướu, khi tuổi càng cao thì nơi bám này có khuynh hướng di chuyển dần về phía chóp răng
1.2.6.2 Cấu tạo của răng
Bao gồm men răng, ngà răng (mô cứng) và tủy răng (mô mềm)
Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà Ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần hốc tủy
Tủy răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân.Tủy răng trong buồng tủy gọi là tủy thân, tủy buồng; tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy
Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng thần kinh
1.2.7 BỘ PHẬN NÂNG ĐỠ RĂNG (NHA CHU, QUANH RĂNG)
Bao gồm xương ổ răng, xê măng, dây chằng nha chu và nướu (lợi) răng
1.2.7.1 Xương ổ răng
Trang 13Là mô xương xốp, bên ngoài được bao bọc bằng màng xương, nơi nướu răng bám vào Xương ổ răng tạo thành một huyệt, có hình dáng và kích thước phù hợp với chân răng
Bề mặt ổ răng, nơi đối diện với chân răng, là mô xương đặc biệt và có nhiều lỗ thủng để cho các mạch máu và dây thần kinh từ xương xuyên qua để nuôi dây chằng nha chu, gọi là xương ổ chính danh hay lá sáng Trên hình ảnh tia X, phần xương ổ chính danh trông cản tia hơn, gọi là phiến cứng
Nền xương ổ không phân biệt được với xương hàm Chiều cao xương ổ răng thay đổi theo tuổi và tùy theo sự lành mạnh hay bệnh lý của mô nha chu Khi răng không còn trên xương hàm thì xương ổ răng và các thành phần của nha chu cũng bị tiêu dần đi
1.2.7.3 Dây chằng nha chu
Là những bó sợi liên kết, dài khoảng 0,25mm, một đầu bám vào xê măng, còn đầu kia bám vào xương ổ chính danh Cả xê măng, dây chằng nha chu và xương ổ chính danh đều có nguồn gốc từ túi răng chính danh
Dây chằng nha chu có nhiệm vụ giữ cho răng gắn vào xương ổ răng và đồng thời có chức năng đệm, làm cho mỗi răng có sự xê dịch nhẹ độc lập với nhau trong khi ăn nhai, giúp lưu thông máu, truyền cảm giác áp lực và truyền lực để tránh tác dụng có hại của lực nhai đối với răng và nha chu
1.2.7.4 Nướu răng
Là phần niêm mạc miệng phủ lên xương ổ răng (nướu dính) và cổ răng (nướu rời)
1.3 Nội dung thảo luận và hướng dẫn tự học
1.3.1 Nội dung thảo luận
- Xác định vị trí răng trên thực tế lâm sàng
- Phân biệt răng sữa và răng vĩnh viễn trên lâm sàng
1.3.2 Nội dung ôn tập và vận dụng thực hành
Ôn tập các kiến thức nền tảng cần thiết từ bài học và chủ động vận dụng các kiến thức, chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng trong quá trình thực hành lâm sàng
Trang 141.3.3 Nội dung hướng dẫn tự học và tự nghiên cứu
Đọc các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung học tập, nghiên cứu thêm các ứng dụng bài học trong thực tế lâm sàng
Trang 15BÀI 2: RĂNG VÀ BỘ RĂNG
2.1Thông tin chung
2.1.1.Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài học cung cấp kiến thức về các thuật ngữ giải phẫu răng và đặc điểm của từng nhóm răng
2.1.2 Mục tiêu học tập
1 Định nghĩa được một số thuật ngữ cơ bản
2 Trình bày những đặc điểm cơ bản của từng nhóm răng, răng
Nguyễn Toại (2012) Răng hàm mặt NXB Y học
2.1.4.2 Tài liệu tham khảo
1.Hoàng Tử Hùng (2016) Giải phẫu răng NXB Y học
2.Trần Ngọc Quảng Phi (2021) Giải phẫu răng ứng dụng NXB Y học
2.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo
Trang 16- Phía trong (phía lưỡi)
Là phía hướng về khoang miệng chính thức, đối với các răng hàm trên, còn được gọi là phía khẩu cái
- Trục răng:
Là một đường thẳng tưởng tượng qua trung tâm của răng theo trục chân răng
Ở răng nhiều chân, mỗi chân răng có trục riêng Ở các răng trước, người ta còn phân biệt trục chân răng và trục thân răng (hai trục này có thể không trùng nhau
- Ngoài ra, một số thuật ngữ định hướng khác cũng được dùng rất phổ biến: phía nhai, phía nướu, phía chóp
2.2.1.2 Thuật ngữ giải phẫu
- Mặt ngoài: mặt hướng về phía ngoài, tức là hướng về phía môi (mặt môi) của răng trước hay hướng về phía má (mặt má) của răng sau
- Mặt trong: mặt hướng về phía trong, tức là hướng về phía lưỡi (mặt lưỡi) Riêng đối với răng hàm trên, còn gọi là mặt khẩu cái
- Mặt gần: mặt hướng về phía đường giữa của răng trước hay hướng về phía trước của răng sau
- Mặt xa: mặt hướng về phía xa đường giữa của răng trước hay hướng về phía sau của răng sau
- Mặt bên: là các mặt của một răng hướng về các răng kế cận trên cùng một cung răng Cả mặt gần và mặt xa được gọi chung mặt bên
- Mặt chức năng: là mặt hướng về cung răng đối diện, là rìa cắn của răng trước
và mặt nhai của răng sau
Trang 17- Múi: là phần nhô lên ở mặt nhai, làm cho mặt nhai bị chia thành nhiều phần Múi được gọi tên theo vị trí của nó
- Trũng, rãnh: là nơi lõm xuống khá rộng trên mặt răng, là phần ngăn cách các múi răng
- Thân chung chân răng: là phần thuộc chân răng của răng nhiều chân, từ
đường cổ răng đến chẽ hai hoặc chẽ ba
- Chẽ hai, chẽ ba: là nơi thân chung chân răng chia thành hai hoặc ba chân răng riêng rẽ
- Vùng chẽ: là vùng thuộc nha chu, nơi mô nha chu có liên hệ đến chẽ hai, chẽ
ba của chân răng
- Chóp chân răng: là đầu tận cùng hay đỉnh của một chân răng, còn gọi là
“cuống răng”
- Các phần ba: là sự phân chia tưởng tượng ở thân răng hoặc chân răng trên một mặt răng nào đó theo chiều nhai nướu (phần ba nhai, phần ba giữa, phần
ba nướu), hoặc theo chiều gần xa (phần ba gần, phần ba giữa, phần ba xa)
2.2.2 PHÂN BIỆT RĂNG SỮA VÀ RĂNG VĨNH VIỄN
2.2.2.1 Thân răng
- Thân răng sữa thấp hơn răng vĩnh viễn, kích thước gần-xa lớn hơn chiều cao
- Mặt nhai thu hẹp nhiều
- Cổ răng thắt lại nhiều và thu hẹp hơn
- Lớp men và ngà mỏng hơn
- Màu răng sáng hơn, thành phần vô cơ ít hơn
- Răng cửa và răng nanh sữa nhỏ và không thanh như răng vĩnh viễn: chiều gần-xa nhỏ hơn nhưng chiều ngoài-trong phồng hơn
- Răng hàm (cối) sữa lớn hơn răng hàm (cối) nhỏ vĩnh viễn, cần phân biệt kỹ với răng hàm (cối) lớn thứ nhất vĩnh viễn
Trang 182.2.2.2 Tuỷ răng
- Tủy răng sữa lớn hơn nếu so theo tỉ lệ kích thước thân răng
- Sừng tủy nằm gần đường nối men-ngà hơn
Vì vậy, chân răng sữa dễ bị gãy khi nhổ răng
Hình 1.4: Sự khác biệt về hình thể giữa răng sữa và răng vĩnh viễn
A: chiều dày lớp men răng sữa mỏng hơn
B: chiều dày lớp ngà ở hố rãnh răng sữa tương đối dày hơn
C: tỉ lệ buồng tuỷ răng sữa lớn hơn và sừng tuỷ nằm gần đường nối men ngà hơn D: gờ cổ răng sữa nhô cao
E: trụ men răng sữa nghiêng về mặt nhai
F: cổ răng sữa thắt lại rõ rệt và thu hẹp hơn
G: chân răng sữa dài và mảnh hơn (so với kích thước thân răng)
H: chân răng hàm sữa tách ra ở gần cổ răng hơn và càng gần về phía chóp thì càng tách xa hơn
Trang 192.2.3 ĐẶC ĐIỂM TỪNG NHÓM RĂNG, RĂNG
2.2.3.1 Nhóm răng cửa
Trên mỗi nửa cung hàm có hai răng cửa: răng cửa giữa nằm gần đường giữa nhất
và răng cửa bên ở sát phía xa răng cửa giữa
Răng cửa giữa hàm dưới là răng mọc đầu tiên trong nhóm (khoảng 6-7 tuổi), tiếp
đó là răng cửa giữa hàm trên (khoảng 7-8 tuổi), sau đó là răng cửa bên hàm trên và hàm dưới
Cùng với răng nanh, các răng cửa tạo thành nhóm răng trước có tầm quan trọng rất lớn về thẩm mỹ và phát âm Ngoài ra, nó còn thực hiện chức năng là cắt thức ăn để chuẩn bị cho quá trình nhai và hướng dẫn vận động ra trước
Nhóm răng cửa thường có một chân hình chóp không nhọn Răng cửa bên có hình dạng tương đồng nhưng thường nhỏ hơn răng cửa giữa
Răng nanh nằm ở bốn góc của 2 cung răng, được coi là nền tảng của cung răng,
và giúp nâng đỡ các cơ mặt
2.2.3.3 Nhóm răng cối nhỏ
Có 8 răng cối nhỏ trên bộ răng vĩnh viễn của người Các răng cối nhỏ mọc thay thế cho các răng cối sữa, và mọc trong khoảng từ 9 đến 11 tuổi trước khi mọc các răng cối lớn thứ hai
Răng cối nhỏ chiếm vị trí giữa răng nanh và răng cối lớn trên cung răng Về mặt hình thái học, chúng có thể được xem là một sự chuyển tiếp giữa răng nanh và răng cối lớn Răng nanh có một múi hình chêm thích hợp với chức năng cắn hoặc xé Trong khi răng cối lớn có nhiều múi với mặt nhai rộng thích hợp với chức năng nhai nghiền Răng cối nhỏ có ít nhất 1 múi lớn và sắc, thường là múi ngoài, để cắn xé thức ăn (giống răng nanh) và có mặt nhai tương tự răng cối lớn nhưng nhỏ hơn để làm dập thức ăn
2.2.3.4 Nhóm răng cối lớn
Có ba răng cối lớn ở mỗi nửa cung răng Đây là nhóm răng không mọc thay thế cho răng sữa Răng cối lớn thứ nhất mọc lúc khoảng 6 tuổi nên còn được gọi là “răng 6 tuổi”, và là răng vĩnh viễn đầu tiên mọc trong miệng
Răng cối lớn có vai trò lớn trong việc nhai nghiền thức ăn và chức năng giữ kích thước dọc của tầng mặt dưới
Trang 20Răng cối lớn có từ ba đến năm múi với mặt nhai lớn trên cung răng Chân răng vững chắc, vị trí thích hợp với chức năng nhai nghiền, thường có từ hai đến ba chân
2.3 Nội dung thảo luận và hướng dẫn tự học
2.3.1 Nội dung thảo luận
- Đăc điểm của từng nhóm răng trên thực tế lâm sàng
-Ứng dụng các thuật ngữ giải phẫu trên thực té lâm sàng như thế nào
2.3.2 Nội dung ôn tập và vận dụng thực hành
Ôn tập các kiến thức nền tảng cần thiết từ bài học và chủ động vận dụng các kiến thức, chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng trong quá trình thực hành lâm sàng
2.3.3 Nội dung hướng dẫn tự học và tự nghiên cứu
Đọc các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung học tập, nghiên cứu thêm các ứng dụng bài học trong thực tế lâm sàng
Trang 21BÀI 3:BỆNH SÂU RĂNG
3.1Thông tin chung
3.1.1Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và dự phòng sâu răng
3.1.2 Mục tiêu học tập
1 Nêu được các yếu tố gây sâu răng
2 Phân biệt các giai đoạn sâu răng
3 Trình bày các nguyên tắc dự phòng, điều trị sâu răng
Nguyễn Toại (2012) Răng hàm mặt NXB Y học
3.1.4.2 Tài liệu tham khảo
Nguyễn Mạnh Hà.(2014) Sâu răng và các biến chứng NXB Giáo dục Việ nam
3.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo
3.2Thông tin chung
3.2.1 ĐỊNH NGHĨA
Sâu răng là một bệnh ở tổ chức cứng của răng (men, ngà và cement), đặc trưng bởi
sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu và không hoàn nguyên được
Trang 22Có nhiều định nghĩa về bệnh sâu răng, dựa trên những nghiên cứu và nhận xét khác nhau về nguyên nhân cũng như tiến trình của bệnh, bệnh sâu răng có thể được định nghĩa như sau:
- Bệnh sâu răng là một quá trình động, diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, đưa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch chung quanh và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng của mô răng (Fejerkov và Thylstrup)
- Là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiện đặc trưng bởi các giai đoạn mất và tái khoáng xen kẻ nhau (Silverston)
3.2.2 DỊCH TỄ
Theo WHO, sâu răng là một trong 10 bệnh phổ biến
- Tỷ lệ bệnh 80% ở một số quốc gia
- Xảy ra rất sớm ở mọi lứa tuổi
- Là nguyên nhân của những cơn đau gây khó chịu và ảnh hưởng đến lao động
- Chi phí điều trị cao
Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000 (Số liệu của Trần Văn Trường - Tạp chí Y Học Việt Nam số10 / 2001), tỉ lệ sâu răng trên toàn quốc ở các lứa tuổi như sau:
- Răng sữa: 6 tuổi 83,7% , chỉ số smt 6,15
3.2.3 BỆNH HỌC SÂU RĂNG
Các yếu tố gây sâu răng:
Có 4 yếu tố chính đồng thời tương tác với nhau để tạo nên sang thương sâu Đó là: vi khuẩn (mảng bám), răng, chất đường và thời gian (Keyes, 1969):
3.2.3.1 Vi khuẩn
Đây là nguyên nhân cần thiết để khởi đầu cho bệnh sâu răng, tuy không có loại
vi khuẩn đặc biệt gây sâu răng, nhưng không phải tất cả vi khuẩn trong miệng đều gây ra sâu răng Vi khuẩn tập trung trong một quần thể gọi là mảng bám
Các loại vi khuẩn lên men carbohydrate tạo ra acid, làm pH giảm xuống < 5, sự giảm pH liên tục có thể đưa đến sự khử khoáng trên bề mặt răng, làm mất vôi ở các
mô cứng của răng
Trang 23+ Streptococcus mutans: đây là tác nhân chủ yếu gây ra sự thành lập mảng bám, dính trên bề mặt răng và nếu có sự hiện diện cùng lúc hai yếu tố chất đường, thời gian thì sẽ có đủ điều kiện thuận lợi để khởi phát sang thương sâu; sau đó L acidophillus làm sang thương tiến triển xuống bên dưới bề mặt
+ Lactobacillus acidophillus: hiện diện với số lượng ít, nhưng lại tạo ra acid có
pH thấp rất nhanh trong môi trường
+ Actinomyces: cũng có thể gây sâu răng
3.2.3.2Tính nhạy cảm của răng
- Vị trí của răng trên cung hàm
+ Răng mọc lệch lạc, xoay dễ bị sâu hơn răng mọc thẳng hàng
+ Nhóm răng hàm bị sâu nhiều hơn nhóm răng cửa
- Đặc điểm hình thái học
+ Mặt nhai bị sâu nhiều nhất vì có nhiều rãnh lõm
+ Mặt bên cũng dễ bị sâu vì men răng ở vùng cổ mỏng, giắt thức ăn
+ Mặt trong, ngoài ít bị sâu hơn vì trơn láng
- Thành phần cấu tạo của răng
Răng bị khiếm khuyết trong cấu tạo như thiểu sản men, ngà rất dễ bị sâu
3.2.3.4 Thời gian
Trang 24Vi khuẩn gây sâu răng sau khi nhiễm vào môi trường miệng, tự nó sẽ không gây sâu răng được mà cần phải có chất đường giúp cho sự chuyển hoá của vi khuẩn Tuy nhiên sâu răng không phụ thuộc vào số lượng, số lần sử dụng đường mà phụ thuộc vào thời gian đường và mảng bám vi khuẩn tồn tại trên bề mặt răng, thời gian tồn tại càng lâu thì vi khuẩn chuyển hoá đường thành acid càng nhiều và acid tấn công gần như thường xuyên trên bề mặt răng làm mất khoáng men
Tuy nhiên, quá trình mất khoáng có thể phục hồi hoặc giảm mức độ nhờ các thành phần khác nhau trong nước bọt, tốc độ tiết
3.2.3.5 Nước bọt
Là môi trường hoạt động của các vi khuẩn trong miệng, nước bọt tiết càng nhiều càng giảm sâu răng (trung bình một ngày nước bọt tiết ra 1.500ml, khi ngủ lượng nước bọt tiết ra giảm đồng thời việc chải rửa vi khuẩn và chất carbohydrat ở mức tối thiểu, vì vậy sâu răng tăng trong giờ nghỉ)
Ngoài ra, tính chất nước bọt lỏng hay quánh cũng ảnh hưởng đến bệnh sâu răng, nước bọt càng quánh thì sâu răng càng cao
Nước bọt giữ vai trò:
- Trung hòa acid: trên bề mặt men răng luôn luôn xảy ra hai hiện tượng trái ngược nhau: sự tạo acid bởi vi khuẩn và sự trung hòa acid bởi nước bọt
- Sát khuẩn: ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật nhờ các chất lysozyme, lactoperosidase, lactofferrin chứa trong nước bọt
- Chải rửa: làm sạch răng thường xuyên, với sự phối hợp cử động của môi, má
và lưỡi v.v , làm chậm quá trình hình thành mảng bám
- Tái khoáng hóa: nhờ thành phần calci, phosphate trong nước bọt có thể tích
tụ ở men trong giai đoạn sớm của sang thương sâu răng, khả năng này sẽ tăng lên nếu có sự hiện diện của fluor
Trang 25
Thời gian
3.2.3.6Các yếu tố đề kháng sâu răng
- Chải răng: việc chải răng, vệ sinh răng miệng sẽ lấy đi mảng bám vi khuẩn và thức ăn đọng lại sau bữa ăn làm giảm đi lượng vi khuẩn đóng khúm trên mặt răng và nguồn dinh dưỡng của chúng
- Nước bọt: có khả năng đệm giúp cho độ pH của môi trường miệng được ổn định nhờ các thành phần bicacbonat của nước bọt và khả năng tiết của nó Khi
độ pH giảm, nhờ khả năng này góp phần làm giảm tác động của acid do vi khuẩn sinh ra Ngoài ra, các thành phần khoáng trong nước bọt như Fluor, Canxi, Phospho sẽ góp phần tái khoáng bề mặt răng
- Sealant trám bít hố rãnh: hố rãnh mặt nhai được trám lại bằng một lớp vật liệu mỏng giúp cho việc vệ sinh dễ dàng và cô lập hố rãnh khỏi sự tấn công của vi khuẩn
- Ý thức của mỗi người trong thói quen ăn uống: tránh ăn quà vặt, nên ăn tập trung vào các bữa chính và chải răng ngay sau khi ăn Giảm lượng đường sử dụng cũng như thời gian tiếp xúc với đường
3.2.4 CÁC GIAI ĐOẠN VÀ BIỂU HIỆN CỦA SÂU RĂNG
Trang 26- Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai, hoặc chung quanh rìa miếng trám cũ
- Men răng đổi màu trắng đục hoặc vàng nâu
- Men răng lởm chởm không còn trơn láng và vướng thám trâm khi khám
3.2.4.2 Sâu ngà:
Là giai đoạn tiếp theo của sâu men không điều trị hoặc sâu ngay từ đầu nếu lộ ngà (thiếu men vùng cổ răng, mòn ngót cement vùng chân răng) Ngà răng là mô có thần kinh và phần kéo dài của nguyên bào tạo ngà trong các ống ngà, nên dù mới chớm cũng có cảm giác đau với những kích thích vật lý, hóa học, cơ học
+ Gõ răng không đau
3.2.4.3 Tổn thương tủy:
Nếu sâu ngà không điều trị sẽ gây ra viêm tủy mà triệu chứng đầu tiên là đau nhức dữ dội nhất là về đêm, có thể lan tỏa ra vùng xung quanh Do tủy là mô liên kết thông ra vùng xương qua lổ chóp răng nên khi tổn thương dễ hoại tử tủy gây viêm
mô tế bào, áp xe xương ổ răng, viêm xương
Hậu quả của sâu răng
- Đau nhức làm ảnh hưởng sức khỏe, việc học tập, công tác do mất ăn, mất ngủ
- Giao tiếp không tự tin, khó chịu, không vui
- Tốn thời gian, tiền bạc cho việc điều trị
- Gây biến chứng tại chỗ hay toàn thân như phải điều trị nội nha hay cả nhổ răng
3.2.5 DỰ PHÒNG SÂU RĂNG
3.2.5.1 Giảm số lượng vi khuẩn
- Vệ sinh răng miệng tốt: chải răng đúng cách với bàn chải thích hợp, ít nhất 2-3 lần/ngày ngay sau khi ăn và tối trước khi ngủ
- Loại bỏ mảng bám vi khuẩn Sử dụng chỉ tơ nha khoa để làm sạch kẻ răng
3.2.5.2 Gia tăng sức đề kháng của răng
- Sử dụng Fluor (tại chỗ) như kem đánh răng, nước súc miệng có chứa Fluor