1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm Tắt Luận Án Tiến Sĩ (Tiếng Việt).Pdf

27 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính đa hình của một số gen liên quan đến loãng xương ở nam giới
Tác giả Nguyễn Thị Hoa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, PGS.TS. Trần Thị Minh Hoa
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 897,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN THỊ HOA NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA HÌNH CỦA MỘT SỐ GEN LIÊN QUAN ĐẾN LOÃNG XƢƠNG Ở NAM GIỚI Ngành đào tạo Nội Khoa Chuyên ngành Nội – Xương khớp M[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HOA

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA HÌNH

CỦA MỘT SỐ GEN LIÊN QUAN

ĐẾN LOÃNG XƯƠNG Ở NAM GIỚI

Ngành đào tạo : Nội Khoa

Chuyên ngành : Nội – Xương khớp

Mã số : 9720107

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

CÔNG TRÌNH NÀY ĐƯỢC TRÌNH BÀY TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

2 PGS.TS TRẦN THỊ MINH HOA

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Mai Hồng

Phản biện 2: PGS.TS Lê Thu Hà

Phản biện 3: GS.TS Trần Huy Thịnh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp trường

tại Trường Đại Học Y Hà Nội Vào hồi: … giờ ngày … tháng … năm ……

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện quốc gia

- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội

Trang 3

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN LUẬN ÁN

1 Nguyễn Thị Hoa, Trần Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Thanh

Phương “Mối liên quan giữa đa hình kiểu gen LRP5 tại SNP

Q89R (rs41494349) với mật độ xương ở nam giới” T p

ọ Việt Nam, tháng 8/2020 493:263-270

2 Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Nàn, Trần Thị Minh Hoa,

Nguyễn Thị Thanh Hương “Mối liên quan giữa đa hình gen Methylene tetrahydrofolate reductase (MTHFR) C677T với

loãng xương ở nam giới” T p ọ Việt Nam, tháng

5/2022 514(2):221 - 226

3 Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Nàn, Trần Thị Minh Hoa,

Nguyễn Thị Thanh Hương “Mối liên quan giữa đa hình Gen fat mass and Obesity - Associated (FTO) Rs1121980 với loãn

xương ở nam giới” T p ọ Việt Nam tháng 11/2022

520(2):161-167

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loãng xương (LX) là bệnh lý do rối loạn chuyển hóa của xương, đặc trưng bởi giảm mật độ chất khoáng của xương và tổn thương cấu trúc của xương, hậu quả là suy giảm sức mạnh của xương và khiến xương trở nên giòn và dễ gãy Gãy xương do loãng xương làm tăng tỷ

lệ tử vong, tăng gánh nặng chi phí cho nền kinh tế và giảm chất lượng cuộc sống đặc biệt ở người cao tuổi Loãng xương là một bệnh lý chịu

sự ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố khác nhau như tuổi, giới, chủng tộc, di truyền, chế độ dinh dưỡng, hormon, hoạt động thể lực Trong đó yếu tố di truyền chiếm một vị trí khá quan trọng, theo nhiều nghiên cứu các cặp song sinh cho thấy 50% – 85% sự biến đổi MĐX (Bone Mineral Density – Mật độ xương) là do gen quy định Các nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện ra 518 locus liên quan đến mật độ xương, loãng xương

và gãy xương nhưng chỉ 20% các đa hình gen trong nghiên cứu giải thích được cơ chế ảnh hưởng của nó đến MĐX và gãy xương Các nghiên cứu trên cả nam và nữ ở nhiều chủng tộc khác nhau cho thấy ba

đa hình gen LRP5Q89R, MTHFRC677T và FTOrs1121980 có liên quan

đến sự thay đổi của mật độ xương và gãy xương Tại Việt Nam chưa có

nghiên cứu nào tiến hành trên 3 đa hình gen LRP5Q89R, MTHFR C677T và FTOrs1121980 đặc biệt trên đối tượng nam giới

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu lần đầu tiên xác định được đặc điểm các đa

hình gen LRP5Q89R, MTHFRC677T và FTOrs1121980 trên đối tượng

nam giới cao tuổi Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu cho thấy 3 đa hình gen đều tăng nguy cơ loãng xương ở nam giới và độc lập với các yếu tố nguy cơ khác: tuổi chỉ BMI, tiền sử gãy xương, mức độ hoạt động thể lực Nam giới mang càng nhiều alen nguy cơ trong tổ hợp 3 đa hình gen càng làm tăng nguy

cơ loãng xương Do vậy các thông tin về các đa hình này trên người bệnh sẽ giúp cho các bác sỹ lâm sàng đánh giá nguy cơ loãng xương ở các đối tượng người trẻ tuổi, đặc biệt mắc nhiều bệnh lý nền và sử dụng các thuốc gây ảnh hưởng đến chuyển hóa xương để từ đó góp phần chẩn đoán sớm, điều trị sớm, giảm tỷ lệ gãy xương, giảm nguy cơ tử vong sau gãy xương do loãng xương và giảm gánh nặng chi phí điều trị cho nền kinh tế

Trang 5

3 Mục tiêu nghiên cứu

1 Xá địn đa ìn gen LRP5Q89R, MTHFRC677T và FTOrs1121980 ở nam giới loãng xương nguyên p át

2 Phân tích mối liên quan giữa đa ìn gen LRP5Q89R, MTHFRC677T, FTOrs1121980 với mật độ xương và một số yếu tố nguy ơ ở đối tượng trên

4 Cấu trúc của luận án

- Luận án được trình bày trong 125 trang (không kể tài liệu tham khảo và phần phụ lục) Luận án gồm 7 phần: Đặt vấn đề 2 trang, Chương 1 Tổng quan tài liệu 34 trang, Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 17 trang, Chương 3 Kết quả nghiên cứu 34 trang, Chương 4 Bàn luận

35 trang , Kết luận 2 trang, Kiến nghị 1 trang

- Luận án gồm 34 bảng (phần kết quả 30 bảng), có 11 biểu đồ và

15 hình Sử dụng 157 tài liệu tham khảo gồm 18 tài liệu tiếng Việt, 139 tài liệu tiếng Anh

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch tễ học loãng xương nam

* Trên thế giới: Tỷ lệ loãng xương nam khác nhau tùy theo từng

nghiên cứu giao động từ 2-16% và tăng dần theo độ tuổi, tỷ lệ loãng xương của nam thường thấp hơn nữ từ 3-4 lần Nghiên cứu NHANES 2005–2006 được thực hiện bởi Trung tâm Thống kê Y tế Quốc gia Mỹ trên 3157 người Mỹ trưởng thành từ 50 tuổi trở lên được đo MĐX tại 2

vị trí cổ xương đùi và toàn bộ xương hông, kết quả cho thấy 49% phụ

nữ lớn tuổi và 30% đàn ông lớn tuổi bị giảm MĐX ở cổ xương đùi, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 10% và tỷ lệ loãng xương nam là 2% Trong một nghiên cứu khác tại nước này tiến hành ở nam giới từ 69 đến 74 tuổi, tỷ lệ loãng xương 10,2% Ở Thụy Sĩ tỷ lệ loãng xương là 6,3% ở nam trong độ tuổi từ 50 - 80 tuổi, tỷ lệ này ở độ tuổi từ 80 - 84 là 16,6% Ở một số nước châu Á tỷ lệ loãng xương ở nữ cũng cao hơn nam tương tự như người da trắng Nghiên cứu tiến hành trên 7042 người độ tuổi từ 20 trở lên ở 10 trung tâm thuộc các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc (2002-2006) cho kết quả tỷ lệ loãng xương ở nữ là 31,2

% và 10,4% ở nam giới trên 50 Tại Hồng Công tỷ lệ loãng xương cột sống thắt lưng ở nam là 7% ở nữ là 37%, tỷ lệ loãng xương ở cổ xương

Trang 6

đùi ở nam là 6% và ở nữ là 16% Ở Hàn Quốc tỷ lệ loãng xương là 35,5% ở nữ và 7,5% nam trên 50 tuổi

* Tại Việt Nam: nghiên cứu của các tác giả ở hai miền Bắc, Nam đã

cho thấy tỉ lệ loãng xương ở cả nam và nữ tương đương với một số nước châu Á và nam giới da trắng Theo số liệu của Nguyễn Thị Thanh Hương tại miền Bắc - Việt Nam nghiên cứu trên 222 nam giới và 612

nữ giới khỏe mạnh tuổi từ 13-83 tỷ lệ loãng xương ở cổ xương đùi nam giới 9% và nữ giới là 17%

Nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự trên 357 nam và

870 nữ tuổi từ 18 - 89 tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ loãng xương nam 10%, trong khi tỷ lệ loãng xương nữ là 30% Như vậy, có thể thấy rằng loãng xương và gãy xương do loãng xương thực sự là bệnh phổ biến tại Việt Nam, cần được quan tâm nghiên cứu thích đáng

1.1 Gen liên quan đến loãng xương

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Vai trò của di truyền (gen) liên quan đến MĐX đã được biết đến từ trước đó Các nghiên cứu trên các cặp song sinh ở cả nam và nữ cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng với bệnh loãng xương, quyết định 50-80% MĐX của mỗi cá thể tùy theo từng nghiên cứu Hơn nữa các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gen đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa xương và quá trình mất xương Các nghiên cứu về các gen liên quan đến loãng xương được tập trung chủ yếu vào các gen (candidate gen) tác động đến các con đường sinh hóa, dược lý và sinh lý học của quá trình tạo xương và hủy xương Phần lớn những SNP này có ảnh hưởng đến MĐX và gãy xương đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu với các giá trị p khác nhau và có sự khác biệt giữa các chủng tộc khác nhau Những SNP quan trọng và phổ biến nhất đã được xác định liên quan đến các quá trình hình thành tế bào tạo xương, hủy xương, tín hiệu Wnt của tế bào tạo xương, vitamin D, Estrogen, Collagen,

Mevalonate như là các gen LRP5, LRP6, DKK1, VDR, ColA1, ESR1,

ESR2…

Trong những năm gần đây với sự phát triển nhanh của khoa học, sự

ra đời của các nghiên cứu GWAS (genome wide association studies -

nghiên cứu tương quan toàn hệ gen) đã phát hiện ra nhiều SNP mới có liên quan đến MĐX và gãy xương Urano và cộng sự tiến hành một phân tích gộp các nghiên cứu GWAS trong 8 năm (2007-2015) đã phát hiện ra nhiều SNP mới liên quan đến loãng xương và gãy xương ở trên

Trang 7

quần thể người da trắng và người Châu Á Trong đó các SNP liên quan đến các quá trình sinh học của xương đã biết đến: con đường tín hiệu

WNT/β-catenin: catenin β1 (CTNNB1), sclerostin (SOST), LRP4, LRP5, GPR177, WNT4, WNT5B, WNT16, dickkopf1 (DKK1), gen tổng

hợp protein xoắn xuyên màng 4 (sFRP4), Jagged 1 (JAG1), MEF2C và AXIN1 Các nghiên cứu GWAS cho loãng xương cũng đã xác định được ba các yếu tố quan trọng, cụ thể là RANK, RANKL và OPG tác động đến quá trình biệt hóa tế bào gốc trung mô thành tế bào tạo xương Tuy nhiên các tác giả cũng tìm thấy một số locus ở trên các gen mà hiện tại chưa thấy được vai trò của nó trong các cơ chế sinh học của xương

(FAM210A, SLC25A13…) Nghiên cứu của tác giả Kempt và cộng sự

năm 2013 tiến hành trên 14.492 người Anh ở cả 2 giới phát hiện được

307 SNP trên 203 locus gây ảnh hưởng đến MĐX ở mức có ý nghĩa, trong đó có 153 locus mới phát hiện so với các công bố trước đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra 12 SNP liên quan đến gãy xương một cách có ý nghĩa Năm 2021 tác giả Zhu X và cộng sự tiến hành nghiên cứu phân tích gộp 512 nghiên cứu GWAS trên thế giới trong vòng 12 năm cho kết quả tìm thấy 518 locus trong bộ gen người ảnh hưởng đến MĐX và gãy xương Trong đó chỉ 20% locus này giải thích được mối liên quan của nó với cơ chế sinh học của xương Loãng xương là một bệnh lý phức tạp đa yếu tố, sự tác động của gen đến MĐX, loãng xương và gãy xương đã được khẳng định Tuy nhiên cơ chế tách động thực sự trên xương vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ Do đó vẫn cần nhiều nghiên cứu trên các đối tượng chủng tộc, giới tính, độ tuổi khác nhau để làm sáng tỏ vai trò của gen với loãng xương và gãy xương

1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam năm 2015 tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự thuộc trường Đại học Tôn Đức Thắng đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định sự ảnh hưởng của các đa hình gen lên MĐX ở người Việt Nam Nghiên cứu được tiến hành trên 564 người khỏe mạnh từ 18 tuổi trở lên với tuổi trung bình 47 (180 nam và 384 nữ) sống tại Thành phố

Hồ Chí Minh, các cá nhân được đo MĐX bằng phương pháp DXA tại

vị trí cột sống thắt lưng, cổ xương đùi và đầu trên xương đùi Đối tượng

nghiên cứu được xác định 32 đa hình gen (của 29 gen: LRP5, SP7, MBL2/DKK1, ESR1, DHCR7, MEF2C, SOST, VDR, RANK, RANKL, SCL25A13, MEPE…), các đa hình gen này đã được xác định có mối

liên quan đến MĐX ở người da trắng và một số nước châu Á Kết quả

nghiên cứu cho thấy 3 gen SP7 rs2016266, ZBTB40 rs7543680 và

Trang 8

MBL2/DKK1 rs1373004 làm giảm MĐX ở mức có ý nghĩa sau khi đã

kiểm soát yếu tố tuổi, giới và cân nặng Ba đa hình gen này ảnh hưởng

từ 0.2% đến 1,1% MĐX, đặc biệt đa hình gen SP7 rs2016266 có mối tương quan cao nhất, alen G làm thay đổi 0,02 g/cm2

MĐX ở cổ xương đùi và toàn cơ thể Trong đó tác giả Hồ Phạm Thục Lan nghiên cứu 2 đa

hình rs3736228 và rs599083 của gen LRP5 cho kết quả không tìm thấy

mối liên quan có ý nghĩa của 2 đa hình gen này với MĐX ở các vị trí Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu tính

đa hình của gen liên quan đến loãng xương ở nam giới trong khuôn khổ

đề tài nghiên cứu tính đa hành của một số gen liên quan đến loãng xương và gãy xương đốt sống Nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm đối tượng: phụ nữ mãn kinh và nam giới Trong đó chung tôi tiến hành xác

định mối liên quan giữa 3 đa hình gen LRP5 Q89R, MTHFR C677T và FTOrs1121980 với loãng xương và gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn

kinh và nam giới Ba đa hình gen này có mối tương quan đến MĐX và

gãy xương trong các nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện cụ thể:

* LRP5 là một gen có nhiều điểm đa hình gen khác nhau đã được

công bố làm giảm MĐX và tăng nguy cơ gãy xương ở cả hai giới trên nhiều chủng tộc khác nhau Ở Việt Nam nghiên cứu của tác giả Hồ Phạm Thục Lan xác định 2 điểm đa hình đơn nucleotid rs3736228 và

rs599083 của gen LRP5 cho thấy không có mối liên quan với MĐX

Tuy nhiên nhóm tác giả chưa xác định mối liên quan giữa đa hình gen

LRP5 tại SNP Q89R; Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ xuất hiện của đa

hình gen này chủ yếu trên đối tượng người châu Á, rất ít ở người da

trắng Tần suất alen G của đa hình gen LRP5 Q89R chiếm 7,5% trên đối

tượng người Việt Nam, đây là một đa hình gen xuất hiện với tỷ lệ không nhỏ, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định mối liên quan giữa đa hình gen này với loãng xương ở nam giới mà các nghiên cứu trước đó chưa thực hiện

* MTHFR (Methylene tetrahydrofolate reductase) là một gen có

nhiều điểm đa hình được tìm thấy trên cơ thể người (khoảng 50 SNP)

Trong đó đa hình gen MTHFR C677T được xác định là làm giảm MĐX

và tăng nguy cơ gãy xương ở trên cả người da trắng và châu Á Ở Việt

Nam các nghiên cứu về mối liên quan của đa hình gen MTHFR C677T

khá nhiều, cho thấy có mối liên hệ giữa đa hình gen này với bệnh đái tháo đường, gút và xảy thai liên tiếp trong sản khoa Các nghiên cứu cho thấy tần xuất alen T dao động từ 14,5 đến 25% tùy theo từng nhóm

Trang 9

đối tượng nghiên cứu Do vậy đây là một đa hình gen phổ biến trong quần thể người Việt Nam và cần được quan tâm nghiên cứu mối liên quan của nó với các bệnh lý khác nhau để xác định nguy cơ của đa hình gen này trên người Việt Nam

* FTO (Fat Mass and Obesity-Associated ) là một gen được phát

hiện trong những năm gần đây, ở Việt Nam các nghiên cứu tiến hành xác định mối liên quan của gen này với béo phì đã được nghiên cứu và công

bố Các nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan của gen này với loãng xương

và gãy xương còn chưa nhiều Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm hiểu xem đa hình gen rs1121980 của gen FTO có ảnh hưởng như thế nào trên đối tượng nam giới Việt Nam

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm lấy mẫu: tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô

- Địa điểm phân tích mẫu: Bộ môn Sinh lý bệnh Trường Đại học Y

Hà Nội

* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2016 đến tháng 12/2021

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 400 đối tượng trong đó 200 bệnh nhân loãng xương và 200 nam giới có MĐX bình thường làm đối chứng với các tiêu chí lựa chọn như sau:

Trang 10

Cushing) Bệnh nhân không sử dụng các loại thuốc gây loãng xương (corticoid, hormon thay thế, heparin): dựa vào hồ sơ bệnh án và khám lâm sàng, nếu có triệu chứng nghi ngờ thì loại khỏi nghiên cứu

- Được chẩn đoán là loãng xương với chỉ số T ≤ -2,5 ở ít nhất 1 trong 3 vị tri cổ xương đùi, đầu trên xương đùi và cột sống thắt lưng

Đo MĐX bằng phương pháp DXA

* Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có bất động từ 1 tháng trở lên; không

đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2.2 Nhóm chứng: Chọn bệnh nhân vào nhóm chứng như tiêu chuẩn

chọn như nhóm bệnh song có MĐX bình thường với chỉ số T ≥ -1 ở cả

3 vị trí cột sống thắt lưng, cổ xương đùi và đầu trên xương đùi

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bệnh - chứng, ghép cặp theo nhóm tuổi

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Cỡ mẫu nghiên cứu: Cỡ mẫu trong mô hình tương tác giữa gen và

môi trường, cỡ mẫu được tính theo phần mềm QUANTO cho nghiên cứu bệnh chứng ghép cặp (http://quanto.software.informer.com) Dựa trên các thông số được ước tính từ nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và các dân tộc Châu Á:

- Tỉ lệ loãng xương là 10 % ở sau tuổi 50

- Số SNP đưa vào khảo sát = 3

- Sai số loại I (α): 0,05 với giả thuyết kiểm định hai phía đã điều chỉnh; lực mẫu là 0,80

- Tỉ lệ alen quan tâm (minor allen) là 0,20-0,40; với mô hình di truyền cộng hợp (log additive inheritance mode)

- Tỉ lệ đối tượng có yếu tố môi trường tương tác: 0,25-0,4

- Ảnh hưởng chính về di truyền (main effect of genetics): 1,25 Ảnh hưởng chính về môi trường (main effect of environment): 1,25 Ảnh hưởng tương tác về gen-môi trường: 4,0-6,0

- Tỉ lệ bệnh chứng = 1:1

Cỡ mẫu tính được cho mỗi nhóm là 179 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn được 200 bệnh nhân bị loãng xương và 200 đối tượng không bị loãng xương làm đối chứng với tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ kể trên

Trang 11

* Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, đối tượng đến khám

bệnh được khám sàng lọc, đo mật độ xương và lấy máu xét nghiệm, đủ tiêu chuẩn của nhóm bệnh hoặc nhóm chứng sẽ được lấy máu gửi về trường Đại học Y Hà Nội để xác định kiểu gen

2.3.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu

- Các biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi,

nhóm tuổi, nghề nghiệp, nơi sống, trình độ học vấn phỏng vấn qua bộ câu hỏi

- Các biến số, chỉ số nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng: cân đo chiều

cao, cân nặng, tính chỉ số BMI, hút thuốc lá, uống rượu, tiền sử bệnh, tiền sử gãy xương, mức độ hoạt động thể lực

- Biến về cận lâm sàng: đo mật độ xương bằng phương pháp hấp

phụ tia X năng lượng kép (DEXA) ở vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi, toàn bộ đầu trên xương đùi

- Các biến số về xá địn đa ìn gen ng iên ứu: Các đa hình

gen (SNP): xác định đa hình đơn của 3 gen LRP5 Q89R,

MTHFRC677T và FTOrs1121980 của 400 đối tượng nghiên cứu bằng 2

phương pháp:

LRP5 Q89R (rs41494349) và FTO rs1121980: xác định bằng phương pháp cắt enzym giới hạn (RFLP-PCR)

MTHFR C677T xác định bằng phương pháp ARMS-PCR

Kết quả xác định kiểu gen được kiểm chứng lại tính chính xác bằng giải trình tự gen

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm phân tích Stata 14.0 để phân tích thống kê Phân loại các biến số lượng và biến phân nhóm Các biến số lượng được kiểm tra phân bố theo phân phối chuẩn bằng kiểm định Kolmologov-Smirnov test Tần số của các alen được kiểm tra phân bố theo định luật cân bằng Hardy - Weinberg bằng kiểm định khi bình phương (χ2) test hoặc Fisher-exact test So sánh giá trị trung bình của các biến theo phân phối chuẩn bằng kiểm định Student T-test và ANOVA test So sánh giá trị trung bình của các biến không theo phân phối chuẩn bằng kiểm định Kruskall-Wallis test Sử dụng OR (Odd ratio) để xác định nguy cơ loãng xương của các đa hình gen và các yếu tố nguy cơ, sử dụng hệ số tương quan r để tìm mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ và MĐX

Trang 12

Phân tích mối liên quan của kiểu gen cùng các yếu tố khác (tuổi, cân nặng, chiều cao, BMI và hút thuốc lá, uống rượu) với bệnh loãng xương bằng hồi quy logistic đa biến

2.4 Vấn đề đức của nghiên cứu :

- Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo đức của Viện nghiên cứu Y học Đinh Tiên Hoàng

- Các đối tượng tham gia nghiên cứu được cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích của nghiên cứu, quy trình tiến hành và có quyền rút

khỏi nghiên cứu khi không muốn tham gia

- Các thông tin liên quan đến bệnh nhân được đảm bảo bí mật, mỗi bệnh nhân được mã hóa một mã số riêng

- Các kỹ thuật thao tác trên bệnh nhân được đảm bảo đúng chuyên

môn

- Đề tài nghiên cứu này được thực hiện hoàn toàn vì mục đích khoa

học chứ không vì mục đích nào khác

Trang 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu 400 người, 200 nam giới bị loãng xương và 200 đối tượng có MĐX bình thường làm đối chứng, với tiêu chí ghép cặp theo nhóm tuổi các đặc điểm như sau:

*Tuổi trung bình nhóm bệnh 74,96 ± 6,73; không có sự khác biệt độ tuổi trung bình của 2 nhóm nghiên cứu, trong đó độ tuổi cao nhất là 91 tuổi và thấp nhất là 59 tuổi; Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 70-79 (52%); kế đến là nhóm tuổi trên 80 (26%) thấp nhất là nhóm tuổi dưới

70 (22%); hai nhóm bệnh và chứng có tỷ lệ nhóm tuổi tương đương vì chúng tôi xử lý số liệu theo tiêu chí ghép cặp theo nhóm tuổi

* Chiều cao trung bình của nhóm bệnh (159,02±5,55) thấp hơn so với

nhóm chứng (161,7±5,61) một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,001); cân nặng trung bình của nhóm bệnh (55,64 ±5,55) thấp hơn so với nhóm chứng (62,72±7,92) (p<0,001) ; tương tự như vậy, chỉ số BMI của nhóm bệnh (21,98±2,85) cũng thấp hơn nhóm chứng (23,96±2,52) một cách có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Nhóm bệnh có tiền sử gãy xương cao hơn so với nhóm chứng, mức độ hoạt động thể lực thấp hơn so với nhóm chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Đối tượng nghiên cứu đa phần sống ở thành phố, có trình độ học vấn, tiền sử hút thuốc lá, tiền sử uống rượu tương đồng ở 2 nhóm bệnh và nhóm chứng (p>0,05) Trong nhóm bệnh, loãng xương tại vị trí cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao nhất (56,7%), trong đó loãng xương loãng xương 1 trong 3 vị trí chiếm tỷ lệ cao nhất (51%)

Ngày đăng: 26/06/2023, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN