SO SÁNH TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NH N VỚI TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ I. Khái niệm Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.Tranh chấp lao động phân loại theo đối tượng bao gồm tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. II. So sánh Giống nhau
Trang 1SO SÁNH TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN VỚI
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ
I Khái niệm
Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.Tranh chấp lao động phân loại theo đối tượng bao gồm tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể
II So sánh
● Giống nhau
- Đều là tranh chấp lao động: tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát
sinh giữa các phía bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao
động (Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật lao động 2019)
- Trình tự hòa giải tranh chấp (Điều 201 và Điều 204)
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân trong giải quyết tranh chấp
1 Cơ quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động hướng dẫn,
hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động
2 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức việc tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn của hoà giải viên lao động, trọng tài viên lao động trong giải quyết tranh chấp lao động
3 Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chủ động, kịp thời tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền
- Quyền và nghĩa vụ của hai bên trong giải quyết tranh chấp
1 Trong giải quyết tranh chấp lao động, hai bên có quyền sau đây:
a) Trực tiếp hoặc thông qua đại diện để tham gia vào quá trình giải quyết;
b) Rút đơn hoặc thay đổi nội dung yêu cầu;
c) Yêu cầu thay đổi người tiến hành giải quyết tranh chấp lao động nếu có lý do cho rằng người đó có thể không vô tư hoặc không khách quan
2 Trong giải quyết tranh chấp lao động, hai bên có nghĩa vụ sau đây
a) Cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình
b) Chấp hành thỏa thuận đã đạt được, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Trang 2- Tuân theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động: Điều 180 Bộ luật
Lao động 2019
1 Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua dung lượng của các bên
trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động
2 Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài
trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp tôn trọng
lợi ích chung của xã hội không trái pháp luật
3 Công khai minh bạch khách quan kịp thời nhanh chóng và đúng pháp
luật
4 Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết
tranh chấp lao động
5 Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan tổ chức cá nhân có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu
cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan tổ chức cá
nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý
● Khác nhau Tranh chấp lao động cá nhân và Tranh chấp lao động tập
thể
Khái niệm Khoản 7, Điều 3
BLLĐ 2012
Khoản 7,8,9, Điều 3 BLLĐ 2012
Dấu hiệu Thường mang tính chất đơn
lẻ trong tranh chấp lao động không có sự liên kết của nhiều người, nếu có nhiều người tham gia tranh chấp mà mối liên hệ của họ rời rạc không có sự kết dính thì vẫn là tranh chấp lao động cá nhân
Tính tổ chức bao giờ cũng là yếu
tố hàng đầu Giữa những người lao động tham gia tranh chấp có
sự liên kết chặt chẽ với nhau và
sự liên kết này tạo lên sức mạnh của tập thể, là áp lực đối với người sử dụng lao động Do đó, tranh chấp lao động tập thể thường ở quy mô lớn và mang tính đoàn kết cao
Quy mô xảy
ra tranh chấp
+ Không lớn + Thường là những tranh chấp phổ biến
+ Lớn hơn + Nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tới quyền lợi của nhiều người lao động
Trang 3Chủ thể
tranh chấp
Cá nhân lao động (hoặc một nhóm người lao động) với người sử dụng lao động
Tập thể người lao động (hoặc tất
cả người lao động) với người
sử dụng lao động, tập thể người lao động thường bao gồm mọi NLĐ trong một đơn vị sử dụng lao động hoặc 1 bộ phận của đơn vị sử dụng lao động
Nội dung tranh
chấp
Đòi quyền và lợi ích cho bản thân mình Thông thường, cáctranh chấp lao động cá nhân
thường là tranh chấp về hợp đồng lao động.
Ví dụ: như việc đòi tăng lương cao hơn thỏa ước tập thể cũ khi ký kết thỏa ước tập thể mới; việc yêu
cầu cải thiện các điều kiện lao động chung cho toàn bộ xí nghiệp, …
Đòi quyền và lợi ích gắn liền với tập thể lao động Thông thường các tranh chấp này thường là tranh chấp liên quan
đến thỏa ước lao động tập thể
Tính chất
tranh chấp
Đơn lẻ, cá nhân Thông thường chỉ là tranh chấp giữa một cá nhân NLĐ với chủ sử dụng lao động, do mục đích
và hoàn cảnh từng cá nhân khác nhau
Tính liên kết tập thể giữa những người lao động tham gia tranh chấp Họ có chung mục đích đòi quyền và lợi ích cho tập thể lao động, giữa họ phải có sự tổ chức, bàn bạc, thống nhất với nhau
Vai trò của
tổ chức Công
Đoàn
+ Chỉ tham gia vào tranh chấp với tư cách là người đại diện bảo vệ cho người LĐ
+ Công Đoàn chỉ là chủ thể thứ 3 đứng ngoài tranh chấp, không phải là một bên tranh chấp
+ Tổ chức Công Đoàn chỉ đứng ra đề nghị NSDLĐ xem
+ Công đoàn tham gia vào tranh chấp với tư cách là một bên chủ thể của tranh chấp, đại diện cho người lao động làm việc với người sử dụng lao động
+ Có vai trò to lớn trong vận động và tổ chức người lao động nhằm tạo nên sức mạnh của tập
Trang 4xét và giải quyết những yêu cầu của người lao động với tư cách là người đại diện, bảo vệ cho họ
thể người lao động
Hậu quả
của việc
tranh chấp
Hậu quả của tranh chấp chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới cá nhân người lao động
Hậu quả của tranh chấp ảnh hưởng trực tiếp tới tập thể lao động
Mức độ phức
tạp
Đơn giản và dễ giải quyết hơn
Phức tạp và khó giải quyết hơn
Tần suất
xảy ra tranh
chấp
Diễn ra phổ biến và thường gặp nhất trong quan hệ lao động
Ít xảy ra hơn
Cơ quan, tổ
chức, cá nhân
có thẩm
quyền giải
quyết
- Hòa giải viên lao động
- Tòa án nhân dân
+ Tranh chấp về quyền
- Hòa giải viên lao động
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Tòa án nhân dân + Tranh chấp về lợi ích
- Hòa giải viên lao động
- Hội đồng trọng tài lao động
Ví dụ Tranh chấp giữa anh A với
Công ty B về tiền thưởng
Tranh chấp giữa bộ phận văn phòng với công ty chủ quản
về thời giờ làm việc
Trang 5LIÊN HỆ THỰC TẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I Giải quyết tranh chấp lao động là gì ?
Giải quyết tranh chấp lao động là việc các tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tập thể người lao động với người sử dụng lao động về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan
hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại…
II Mục đích
● Giải quyết tranh chấp lao động nhằm củng cố và duy trì quan hệ lao động, phòng ngừa tranh chấp mới phát sinh
● Giải quyết tranh chấp lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động
● Giải quyết tranh chấp lao động góp phần hoàn thiện pháp luật lao động
III Các phương thức giải quyết
● Thông qua thương lượng
● Thông qua hòa giải
● Giải quyết bằng trọng tài
● Giải quyết tại Tòa án
IV Trình tự giải quyết tranh chấp lao động
1 Trình tự giải quyết Tranh chấp lao động cá nhân
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải
- Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu
Trang 6tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành
- Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể
từ ngày lập biên bản Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn gia quyết theo quy định trên mà hoà giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
2 Trình tự giải quyết Tranh chấp lao động tập thể
- Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể được thực hiện theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật lao động Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể
- Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền các bên có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết,
b) Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết
- Trong trường hợp hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật lao động mà hoà giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết
- Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xác định loại tranh chấp về quyền hoặc lợi ích
V Thực trạng giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân
● Theo báo cáo của các địa phương, hoạt động giải quyết TCLĐ của hòa giải viên lao động chủ yếu là giải quyết TCLĐ cá nhân Tuy nhiên, số vụ TCLĐ
cá nhân được hòa giải viên tiếp nhận còn chiếm số ít so với số TCLĐ cá nhân thực tế xảy ra tại các doanh nghiệp trên địa bàn (Bắc Ninh) Hơn nữa, hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân vẫn còn hạn chế tại một số tỉnh, thành phố (Tp Hồ Chí Minh)
Trang 7● Hoạt động giải quyết TCLĐ tập thể không được tiến hành theo luật định mà qua Tổ công tác liên ngành
+ Cho đến nay, việc giải quyết các cuộc TCLĐ tập thể, đình công theo các thiết chế và các quy trình, thủ tục luật định hầu như không thực hiện được mà đang được tiến hành bởi Tổ công tác liên ngành được thành lập tại các tỉnh, thành phố
+ Những cuộc TCLĐ tập thể, đình công luôn được giải quyết nhanh chóng bởi các cơ quan hành chính, với mục tiêu bảo vệ lợi ích cho người lao động, ổn định tình hình sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo an ninh trật tự xã hội tại địa phương Việc thương lượng giải quyết TCLĐ chỉ xảy ra sau khi người lao động đã tiến hành
ngừng việc tập thể và dưới sự hỗ trợ của Tổ công tác liên ngành + Mô hình Tổ công tác liên ngành đã mang lại những hiệu quả nhất định, sớm ổn định trật tự, an ninh xã hội Tuy nhiên, cơ chế can thiệp này về lâu dài sẽ không giải quyết được tận gốc vấn đề Hệ thống cơ chế, thiết chế hòa giải, trọng tài vẫn không có điều kiện hoạt động đúng vai trò, chức năng trong giải quyết TCLĐ tập thể
● Bên cạnh đó, việc giải quyết các TCLĐ cá nhân tại tòa án đều triển khai công tác tổ chức hòa giải một cách nghiêm túc, theo đúng trình tự, thủ tục luật định Đội ngũ thẩm phán được phân công làm công tác hòa giải có kỹ năng cũng như phương pháp hòa giải tốt Vì vậy, các tranh chấp cá nhân sau khi được tòa án thụ lý đã hòa giải thành đạt tỷ lệ cao (đạt 79% theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao)
● Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động này cũng không hoàn toàn được như mong muốn Tình trạng khiếu kiện không theo trình tự thủ tục pháp luật còn phát sinh và diễn biến phức tạp Quản lý nhà nước về lao động, vai trò hỗ trợ phát triển về quan hệ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn…
● Ngoài ra, trong nhiều trường hợp quá trình hòa giải đã vi phạm về thời hạn hòa giải quy định do sự hạn chế về nguồn nhân lực Vì vậy, quá trình giải quyết tại đây còn diễn ra một cách qua loa, sơ sài, chỉ mang tính hình thức nên mục đích và ý nghĩa của việc hòa giải chưa đạt được như mong muốn
● Một vấn đề nữa là năng lực của một số hòa giải viên lao động còn hạn chế, công tác tổ chức hướng dẫn, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ giải quyết lại không được tiến hành một cách thường xuyên và đều đặn Ngoài ra, các cơ
Trang 8quan chức năng chỉ nắm được số liệu qua các báo cáo hằng năm của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng không phản ánh được số lượng thực tế
● Theo số liệu của Tòa án Nhân dân Tối cao, năm 2020, các tòa án đã thụ lý 4.067 vụ việc về tranh chấp lao động; đã giải quyết 3.789 vụ việc; đạt tỷ lệ 93,2%
● Năm 2021, các tòa án đã thụ lý 3.142 vụ việc về tranh chấp lao động; đã giải quyết, xét xử được 2.152 vụ việc, đạt tỷ lệ 68,5% (số vụ việc được thụ lý giảm 925 vụ; giải quyết, xét xử giảm 1.637 vụ so với năm 2020) Các tranh chấp lao động trong năm 2020, 2021 chủ yếu là các tranh chấp lao động cá nhân
● Nhiều phiên họp, phiên tòa giải quyết tranh chấp đã phải tạm hoãn, tạm dừng trong thời gian dài để thực hiện phòng, chống dịch, nhiều cán bộ của các cơ quan giải quyết tranh chấp phải nghỉ việc để thực hiện cách ly hoặc điều trị bệnh dịch Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng gây ảnh hưởng đến sự tham gia của các bên đương sự trong vụ tranh chấp Đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan để thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp
● Dưới đây là một vài số liệu liên quan đến tình hình giải quyết tranh chấp tại một số tỉnh, thành phố từ 2018-2020