1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quản lý lưu vực đầu nguồn sông Hồng và sông Mê Kong

11 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 40,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề liên quan quản lý lưu vực đầu nguồn sông.

Trang 1

Câu 1: Nêu và phân tích các mối liên kết/quan hệ giữa vùng núi và vùng đồng bằng?

Địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất đai, làm cho thiên nhiên VN có đặc điểm chung là thiên nhiên của đất nước nhiều đồi núi Đồi núi thấp chiếm ưu thế với > 60% diện tích cả nước, núi cao > 2000m chỉ chiếm 1,0% Đồng bằng chiếm 1/4 diện tích, tạo thành một dải hẹp ở Trung Bộ và mở rộng ở Bắc Bộ và Nam Bộ

Vùng núi và đồng bằng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một thể thống nhất Do đó, vùng núi và đồng bằng có mối tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng nhau

- Những vật liệu được bóc mòn, rửa trôi ở vùng cao sẽ được bồi đắp ở vùng

thấp Các sông lớn mang vật liệu phù sa từ miền đồi núi bồi đắp mở rộng các đồng

bằng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long rộng trên 40.000 km2, Đồng bằng sông Hồng 15.000 km2 Hai đồng bằng này hình thành trên các vùng sụt lún ở hạ lưu sông, có bờ biển phẳng, vịnh biển nông, thêm lục địa rộng Đồng bằng sông Cửu Long thấp, phẳng, không có đê, mạng lưới kênh rạch chằng chịt, mùa lũ nước ngập sâu ở các vùng trũng, mùa khô nước triều lấn mạnh làm cho 2/3 diện tích đồng bằng

bị nhiễm mặn Đồng bằng sông Hồng cao và chia cắt hơn, do có hệ thống đê ven sông ngăn lũ nên vùng trong đê không được bồi đắp phù sa hàng năm, tạo thành các bậc ruộng cao bạc màu và các ô trũng ngập nước, vùng ngoài đê thường xuyên được phù sa bồi đắp Do địa hình khá bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, hai đồng bằng này đã trở thành vùng trọng điểm lương thực – thực phẩm lớn của cả nước Ngoài ra, ở ven biển có các bãi triều, vũng vịnh, đầm phá có tiềm năng lớn cho nuôi

- Địa hình núi cao ăn sát biển làm cho các đồng bằng miền trung bị chia cắt Do đó, vùng đồng bằng khó khăn trong việc giao thương giữa các vùng, …

Vùng núi chủ yếu là đồi núi thấp nhưng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nên nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho giao thông vận tải, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu giữa các vùng Do mưa nhiều, sườn dốc mạnh, miền núi còn là nơi xảy ra nhiều thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất; Tại các đứt gãy sâu có nguy cơ phát sinh động đất; Nơi khô nóng thường xảy ra nạn cháy rừng; Miền núi đá vôi và vùng đất đỏ ba dan thường thiếu nước trong mùa khô; Vùng núi cao địa hình hiểm trở cuộc sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn

Trang 2

- Sử dụng tự nhiên không hợp lý ở miền núi gây tác hại lớn cho vùng đồng

bằng. Nhưng do tài nguyên rừng đang bị khai thác quá mức, diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên kèm theo với nó là cường độ xói mòn đất vào mùa mưa diễn ra ngày càng mạnh đã gây hậu quả rất lớn, làm giảm tuổi thọ các công trình thủy điện, thủy lợi, phù sa lắng đọng ở các vùng cửa sông ven biển cản trở cho giao thông vận tải đường thủy Thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn

- Đồng bằng là hậu phương vững chắc cho miền núi: nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi; là nơi tập trung các ngành công nghiệp "hạ du" (các ngành chế biến, sản xuất các thành phẩm cuối cùng) Nông nghiệp ở đây là thâm canh cây lương thực - thực phẩm; chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm; thủy sản và các ngành dịch vụ

Câu 5: Tác động tiêu cực của thủy điện đến hiện trạng lưu vực Cho ví dụ minh họa?

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đã kéo theo sự phát triển ồ ạt của các nhà máy thủy điện, các công trình nhà máy thủy điện được xây dựng hàng loạt nhưng lại không được đánh giá tác động môi trường và không được nghiên cứu kĩ tác hại của nó khi được xây dựng lên Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, thủy điện cũng có nhiều bất lợi, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái cũng như ảnh hưởng đến hiện trạng lưu vực

Thủy điện đã có những tác động tiêu cực đến hiện trạng lưu vực như sau:

 Tác động gián tiếp

- Rừng đầu nguồn bị suy giảm: Đi dọc miền trung, đâu đâu cũng thấy

những ”túi nước khổng lồ”có thể dội vào hàng triệu người dân bất cứ lúc nào Mới chỉ riêng 4 tỉnh: quảng nam, thừa thiên huế, kontum, đắc nông đã có gần 150 thủy điện lớn nhỏ đã và đang được triển khai Theo các nhà chuyên gia, để tạo 1MW công suất thủy điện, phải mất đi từ 10 – 30 ha rừng, và để có 1.000 ha hồ chứa nước cũng cần san phẳng, giải phóng từ 1.000 – 2.000 ha đất ở phía thượng nguồn Như vậy, số lượng các khu rừng đầu nguồn sẽ bị chặt phá không phải nhỏ.Việc phá rừng, nhất là các khu rừng thượng nguồn sẽ đem lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng Rừng có vai trò đối với môi trường vô cùng quan trọng: điều tiết dòng nước đặc biệt vào mùa mưa lũ, làm tăng mực nước ngầm, hạn chế lũ lụt, làm giảm xói mòn đất và hạn chế sự bồi lấp các lòng sông, lòng hồ Phá rừng sẽ kèm theo việc phá vỡ những vai trò và chức năng về môi trường quan trọng của rừng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiện trạng của lưu vực

 Tác động trực tiếp

Trang 3

- Dòng chảy cạn kiệt: Trong mùa cạn, do chủ yếu chú ý đến sản lượng điện,

nhiều hồ chứa thuỷ điện tăng cường việc tích nước để dự trữ phát điện, nên lượng nước xả xuống hạ lưu không đáng kể, đôi khi ngừng hoàn toàn Do đó, vào mùa khô lưu lượng nước ở các con sông hạ lưu rất thấp

Bên cạnh đó, nhiều công trình thuỷ điện dùng đường ống áp lực để dẫn nước

từ hồ chứa đến nhà máy thuỷ điện, để tạo nguồn nước lớn, nâng cao hiệu quả phát điện, nên đoạn sông từ đập đến nhà máy không có nước trở thành một đoạn sông chết, có chiều dài từ vài km đến hàng chục km ngay sau tuyến đập chính Ví dụ như: sau tuyến đập của hồ sông Ba Hạ đoạn sông chết dài 8km, của hồ Đồng Nai 3 dài 4km, hồ thuỷ điện Nậm Chiến dài hơn 16km và nhiều hồ thuỷ điện nhỏ khác

- Thay đổi dòng chảy: Việc xây dựng đập làm thay đổi dòng chảy đến các cửa sông, làm biến đổi số lượng và chế độ dòng chảy của sông Một số hồ thuỷ điện

đã làm suy giảm, việc cạn kiệt dòng chảy ở lưu vực sông do bị chuyển nước sang lưu vực khác như: hồ thuỷ điện An Khê – Kanak chuyển nước sông Ba sang sông Kone, thủy điện thượng Kon Tum chuyển nước từ nhánh sông Dak Bla thuộc lưu vực sông Sêsan sang lưu vực sông Trà Khúc Một số sông Dak Mi 4, Phước Hoà, Nậm Chiến… đều chuyển gần như toàn bộ lượng nước sau khi phát điện sang lưu vực khác Theo UBND thành phố Đà Nẵng, việc xây dựng Nhà máy thuỷ điện Đắk Mi4 tại Quảng Nam đã cắt dòng Đắk Mi – chiếm 1/3 lưu vực dòng Vu Gia, nhưng chiếm 50% lưu lượng nước của dòng sông lớn này – nhưng không trả về dòng cũ

mà đổ về sông Thu Bồn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạ lưu sông Vu Gia

- Ngăn dòng trầm tích: Đập chặn ngăn dòng trầm tích chảy xuống hạ lưu, khiến nhiều bờ sông suy yếu và sụt đáy sông Sự sút giảm phù sa vận chuyển xuống

hạ lưu còn ảnh hưởng đến cấu trúc của dòng sông và trạng thái cân bằng của nguồn dinh dưỡng: khiến bờ sông bị sạt lở, lòng sông bị bào mòn

- Thay đổi chất lượng nước: Việc sử dụng nước của thuỷ điện làm biến đổi

rất nhiều chất lượng nước trong thời gian đầu tích nước vào lòng hồ do quá trình phân huỷ thực vật trong lòng hồ Do thay đổi chế độ dòng chảy nên lượng các chất hữu cơ trong nước của các công trình thuỷ điện bị giảm Tác động của các hồ chứa còn làm giảm độ phì nhiêu đối với vùng đồng bằng do lượng phù sa bị giữ lại trong lòng hồ; ước tính hàng năm của hồ chứa ở Việt Nam giữ lại trong lòng hồ khoảng 60-70 triệu m3 phù sa, trong đó có 1.610 tấn mùn, 1.260 tấn sun phát đạm, 292 tấn lân, 780 tấn kali

Theo bảng “Đánh giá Môi trường Chiến lược” (Strategic Environmental

Assessment-SEA) của Ủy hội Sông Mekong MRC cho thấy nếu tất cả 11 đập thủy

Trang 4

điện trên hạ lưu sông Mekong được xây thì 90% khối lượng phù sa sẽ bị giữ lại, ảnh hưởng đến đặc tính phì nhiêu và khả năng bành trướng của châu thổ ĐBCLVN

Xây dựng các hồ thủy điện lớn với mục tiêu tích nước sản xuất điện, trong những giờ thấp điểm chỉ xả lưu lượng tối thiểu dẫn đến dòng chảy không đảm bảo

đủ để đẩy mặn tại các tỉnh ven sông biển của đồng bằng sông Cửu Long Điều này càng đặc biệt tệ hại trong bối cảnh biến đối khí hậu và mức nước biển ngày càng dâng cao, đã làm cho nhiều vùng bị xâm thực nặng

- Suy thoái hệ sinh thái thủy sinh: Việc thay đổi dòng chảy của sông dẫn tới

sự thay đổi môi trường sống của cá, sự đa dạng về số lượng các loài cá và các loài thuỷ sinh bị thay đổi rõ rệt, đặc biệt là những loại di trú theo mùa, hoặc làm mất đi các bãi đẻ trong mùa sinh sản Di trú theo mùa là đặc tính sinh học mang tính sinh tồn của các loài cá và hầu hết khoảng 1700 loài cá của sông Mekong cần phải thay đổi nơi sống, lội xuôi ngược dòng sông hoặc di chuyển đến những vùng đất trũng, vùng ngập nước tìm những nơi thích nghi để sinh sản và tăng trưởng Vì dòng sông

là hành lang hoán trú của loài cá, nên xây các đập thủy điện trên dòng chính sẽ làm gián đoạn chu trình sinh lý thiết yếu của cá, như đẻ trứng, gây giống và tăng trưởng Đập Xayaburi ngăn cản lộ trình hoán trú của ít nhất 23 loài cá đến vùng thượng nguồn Luang Prabang ở Lào, Chiang Khong và Chiang Saen ở Thái Lan và tối thiểu

41 loài cá có thể bị diệt chủng Đồng thời, sự sút giảm phù sa vận chuyển xuống hạ lưu làm cho nguồn dinh dưỡng N và P bị xáo trộn, tạo điều kiện cho các loài rong, tảo bộc phát, làm tắc nghẽn dòng sông, với hậu quả hệ thủy sinh học bị hủy diệt

Từ những tác động tiêu cực của thủy điện đến hiện trạng lưu vực trên, cho chúng ta thấy việc xây dựng thủy điện đã kéo theo những hệ lụy rất lớn đến lưu vực.Tuy nhiên, việc xây dựng đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Chính vì vây, trước khi xây dựng thủy điện cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của các bên liên quan và cân nhắc kĩ lưỡng giữa cái được và mất của thủy điện, từ đó đưa ra phương án lựa chọn phù hợp nhất Cần chú ý, khi xây dựng

và vận hành thủy điện cần có sự giám sát và quản lý chặt chẽ, tuân thủ quy định để hạn chế những tác động tiêu cực của thủy điện đến kinh tế - môi trường - xã hội, đặc biệt là ảnh hưởng đến hiện trạng lưu vực

Câu 7: Vì sao phải quản lý tổng hợp lưu vực Cho ví dụ minh họa và liên hệ thực tế?

Lưu vực sông chính là phần bề mặt, bao gồm cả độ dày tầng thổ nhưỡng, tập trung nước vào sông Lưu vực sông thực ra gồm phần tập trung nước mặt và tập

Trang 5

trung nước dưới đất Việc xác định phần tập trung nước dưới đất là rất khó khăn, bởi vậy, trong chừng mực nhất định đối với một dòng sông cụ thể, có thể xem như lưu vực tập trung nước mặt và nước dưới đất là trùng nhau mà không mắc phải sai

số lớn

Việt Nam có tài nguyên nước đứng vào mức trung bình trên thế giới với giá trị trung bình đầu người khoảng 5000m3/năm, tức là cao hơn không đáng kể so với giá trị trung bình của 27 quốc gia vùng Châu á - Thái Bình Dương (khoảng 4410m3/ năm) Trong tổng số nước được sử dụng thì hơn 70% phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Hàng năm có đến 70 - 75% lượng nước tập trung vào 3 - 5 tháng mùa mưa, trong đó có tháng đạt đến 20 - 30% lượng mưa cả năm gây ra lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống va sản xuất Nhưng ngược lại, trong thời gian mùa khô rất nhiều nơi xảy ra tình trạng thiếu nước Một tính toán sơ bộ cho rằng đến 2010, lượng dòng chảy mùa cạn của các sông, kể cả dung tích được điều tiết và lượng nước ngầm không còn đáp ứng được nhu cầu dùng nước Đó la chưa xét đến sự suy giảm dòng chảy, chủ yếu trong mùa khô do việc dẫn nước của các quốc gia vùng thượng lưu cũng như tình trạng ô nhiễm nước vẫn gia tăng do sự phát triển công nghiệp va quá trình đô thị hoá Ô nhiễm hữu cơ của nước sông Sai Gòn, Thị Vải, Đồng Nai va Sông Cầu cao hơn nhiều lần so với tiều chuẩn cho phép Ô nhiễm nước do sản xuất nông nghiệp lại là hậu quả của việc lạm dụng các loại phân bón hữu cơ và hoá chất bảo vệ thực vật Trước bối cảnh như vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững đòi hỏi phải tiến hành những biện pháp thích hợp trong khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước Vì vậy, cần phải quản lý tổng hợp lưu vực sông

QLTHLVS xem lưu vực sông là đối tượng trung tâm, là một hệ thống thống nhất trong đó thể hiện tác động qua lại giữa đất, nước và động thực vật tạo thành một hệ sinh thái ổn định, nhằm mục đích bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như cải thiện chất lượng môi trường trên lưu vực sông QLTHLVS trước hết thực chất là quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng quản lý toàn thể các hoạt động khác như quản lý đô thị, quản lý công nghiệp, quản lý nông nghiệp, quản lý xã hội QLTHLVS là một quá trình linh hoạt và mềm dẻo nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh do hoàn cảnh và điều kiện thay đổi, trong đó bao gồm việc tích luỹ thêm kiến thức khi công tác quản lý tiến triển và tích lũy được ngày càng nhiều thông tin liên quan đến các quá trình quản lý

Các chương trình quản lý tổng hợp LVS có thể tác động toàn diện đến các mặt kinh tế, xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực như:

- Cấp nước: Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát

triển kinh tế - xã hội, cả ba nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước ngầm) ở

- Chất lượng nước: Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng nước bao

Trang 6

gồm địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật, quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra các vấn đề về chất lượng nước chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực Quản lý LVS sẽ

- Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do

quan trọng nhất của các nỗ lực quản lý LVS Cách tiếp cận quản lý tổng hợp LVS quan tâm đến các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước Kiểm soát bồi lắng: Sự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh, giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí Nó còn ảnh hưởng đến các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng, và che phủ các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn

- Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường

gây ô nhiễm môi trường nước do việc xả dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu

mỡ khoáng cũng như chất thải sinh hoạt Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với các hoạt động giao thông thuỷ là sự cố tràn dầu

- Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện-thuỷ lợi: Có thể thực hiện các

mục tiêu phát triển kinh tế bằng việc quản lý LVS Ở Việt Nam ngay từ những năm

80, Nhà nước đã đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa

lũ và xả nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dòng chảy ở

hạ lưu và đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo

- Đa dạng sinh học: LVS, đặc biệt là những nơi cư trú ven sông là nơi cư trú

cần thiết và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối liên kết giữa hệ sinh thái thuỷ sinh với hệ sinh thái vùng cao Chẳng hạn như, thảm thực vật ven sông sẽ kiểm soát nhiều cơ chế môi trường của hệ sinh thái sông, và đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lưu lượng, điều chỉnh dòng chảy cũng như nhiệt độ sông Các vùng đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng tương tự trong việc duy trì đa dạng sinh học và các quá trình trong LVS Quản lý LVS có thể là công cụ được sử dụng để làm tăng số lượng động thực vật hoang dã, một nhân tố của sự đa dạng sinh thái Mặc dù không phải là thích hợp với mọi trường hợp nhưng việc lập kế hoạch quản lý LVS có thể bao gồm những nỗ lực tránh sự suy thoái nơi cư trú của các loài động thực vật hoang dã nguy cấp

- Cá và các sinh vật thuỷ sinh khác: cần có các hoạt động quản lý LVS để

làm giảm các ảnh hưởng và cải thiện, bảo tồn loài cá cũng như các sinh vật thuỷ

Trang 7

- Bảo tồn sinh cảnh: các LVS khi được bảo vệ tốt sẽ phục vụ cho nhiều mục

đích như giải trí, bảo vệ sinh cảnh hoang dã, lọc nước và lưu giữ nước

- Giải trí-du lịch: Nước cấp cho các hoạt động giải trí-du lịch có thể được

tăng cường bằng việc quản lý LVS Chẳng hạn như, các hoạt động quản lý LVS ở phía hạ lưu sẽ giúp đảm bảo cấp nước đầy đủ và bảo vệ chất lượng nước, ngoài ra còn có thể đem lại lợi ích cho các hồ chứa, làm tăng giá trị của chúng đối với các hoạt động giải trí như bơi thuyền và câu cá

Liên hệ thực tế: Kinh nghiệm về công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông tại Pháp

Ở Pháp, các giải pháp đã được tìm kiếm trong suốt 50 năm, từ khi Luật về nước năm 1964, được cập nhật năm 1992 và 2006 đã tạo cơ hội cho tất cả các bên tham gia vào quản lý và sử dụng nước được phối hợp hành động, trong mối quan tâm của tất cả các bên

Chính sách về nước được xác định bởi Nhà nước trong mối quan hệ đối tác với tất cả các cộng đồng địa phương, người sử dụng cho mục đích công nghiệp, những ngành phát triển quy mô lớn, ngư dân, người nuôi trồng thủy sản, các hiệp hội bảo vệ tự nhiên ở tất cả các cấp với quan điểm là tổ chức quản lý tài nguyên mang tính tổng thể nhằm đảm bảo đáp ứng cao nhất tất cả các nhu cầu trong khi vẫn tôn trọng các hệ sinh thái thủy sinh

Cơ chế đối thoại được thiết lập ở các cấp quốc gia, lưu vực sông và địa phương:

- Ở cấp quốc gia, Ủy ban nước quốc gia do một thành viên của nghị viện

chủ trì bao gồm các đại diện của Quốc hội và Nghị viện cùng sự tham gia của các

cơ quan quan trọng và liên bang Ủy ban được các bên tham vấn về các chính sách quốc gia về nước và về các dự thảo về các văn bản pháp lý

- Ở cấp lưu vực của 6 lưu vực sông, Ủy ban lưu vực sông do một quan chức

địa phương được bầu chủ trì giữ một vai trò quan trọng liên quan đến các hoạt động định hướng và khích lệ

Ủy bản xây dựng và thông qua Kế hoạch tổng thể cho việc Phát triển và Quản lý nguồn nước (SDAGE) cho mỗi lưu vực hoặc nhóm các lưu vực, xác định các phương hướng cơ bản cho việc quản lý nguồn nước một cách cân bằng, đảm bảo chất lượng và khối lượng

Được các bên tham vấn về giá cả, cơ sở của thu tiền thuế nước tiêu thụ và nước thải Ủy ban cũng được các bên tham vấn về những ưu tiên cho các chương trình hành động của Cục Nước về lưu vực sông

Trang 8

- Ở cấp chi nhánh và phụ lưu, một Ủy ban nước địa phương chuẩn bị và

thực hiện Kế hoạch Quản lý và Phát triển nước (SAGE) Đối với cả nước mặt và nước ngầm, Cơ quan Nhà nước ủy quyền và kiểm soát/quản lý việc thu phí đối với việc sử dụng nước và việc thải nước,…

- Trong khuôn khổ Luật về nước 1964, một “Cục Nước” đã được thành lập

ở 6 lưu vực sông như một cơ quan hành chính công có quyền dân sự và nguồn tài chính độc lập

Mục đích của những cơ quan “Cục Nước” là nhằm hỗ trợ cho các hành động khác nhau cùng liên quan đến lưu vực sông đó Thẩm quyền của những cơ quan này là:

+ Đóng góp tài chính nhằm hoàn thiện việc xây dựng và vận hành các nhà máy, đáp ứng các nhu cầu do Ủy ban lưu vực sông xác định,

+ Tiến hành hoặc ký hợp đồng phụ về khảo sát, đo đạc và nghiên cứu

về nước

Nguồn lực của các Cục Nước được hình thành thông qua việc áp dụng nguyên tắc “Người sử dụng và gây ô nhiễm phải trả tiền” Nguyên tắc này cho phép

họ thu thuế nước đối với việc dùng và thải nước từ tất cả những người sử dụng, những người có tác động tới chất lượng nước và làm thay đổi cơ chế về nước

Tỷ lệ được áp dụng cho việc tính toán mức phí được quyết định bởi mỗi Cục Nước với sự đồng ý của Ủy ban lưu vực sông nhằm cân đối các chương trình hành động ưu tiên Các chương trình được thiết lập theo vị trí địa lý theo sự ưu tiên và các mục tiêu về chất lượng do Ủy ban lưu vực sông xác định

Việc tổ chức các thông tin và dữ liệu về sản xuất và quản lý đã đạt được những tiến bộ và được lưu trữ trong Hệ thống thông tin Nước Quốc Gia

Ở Pháp, việc hình thành các dịch vụ nước uống cầm tay, việc thu gom và xử

lý nước thải là trách nhiệm của địa phương hoặc nhóm cộng đồng

Từ khi có các luật phân cấp tháng 3/1982 và tháng 01/1983, vai trò vận hành của Nhà nước về nước đã bị giới hạn ở phạm vi thực thi pháp luật về nước (cấp phép sử dụng và thải nước) và đảm bảo về y tế và an toàn

Cộng đồng địa phương có thể hoặc giao trách nhiệm quản lý các dịch vụ cấp nước cho một công ty tư nhân chuyên nghiệp hoặc trực tiếp quản lý như một Cơ quan quản lý nước

Câu 9: Tài nguyên nước mặt và biến đổi khí hậu, liên hệ thực tế?

 Tài nguyên nước mặt

Trang 9

Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa)

Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60%

và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40% Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%) Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%) Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì

hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%)

Sự biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các

sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu

Ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước mặt

Trang 10

Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tài nguyên nước, đặc biệt là tài nguyên nước mặt.Những thay đổi nhiệt độ và lượng mưa có thể dẫn đến thay đổi lớn tỷ lệ dòng chảy, làm nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt Do tác động của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, ở nước ta mùa mưa và lưu lượng nước có xu hướng diễn biến thất thường, nên hạn hán hoặc ủng ngập cục bộ xảy ra thường xuyên và trên diện rộng hơn trước Rõ rệt nhất là vài năm gần đây, mùa mưa thường kết thúc sớm và đến muộn hơn gây nên hạn hán tại nhiều vùng trong cả nước Trong đó việc cạn kiệt nguồn nước biểu hiện rõ nhất trong năm nay là tại khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ

Thế giới đã có những nghiên cứu mô phỏng cho thấy rằng những thay đổi tương đối nhỏ về nhiệt độ và lượng mưa có thể gây ra hiệu ứng lớn trên dòng chảy Với lượng mưa không đổi, dòng chảy giảm ước tính từ 3 -12% khi tăng 2oC; với 4oC tăng lên, dòng chảy giảm 7 – 21% Từ đó cho thấy tăng 10% lượng mưa không đủ bù đắp những tác động tiêu cực đến dòng chảy do tăng 4oC ở nhiệt độ Tại Việt Nam, theo đánh giá sơ bộ, vào năm 2070 với kịch bản nhiệt độ tăng 2,5oC -4.5oC dẫn đến lượng dòng chảy sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của lượng mưa Lưu lượng dòng chảy mặt sẽ làm giảm 10% đến 30% nếu lượng mưa giảm 10% Thay đổi đáng kể sẽ xảy ra khu vực phía nam Trung bộ và Nam Bộ Đặc biệt, trong mùa khô dòng chảy sẽ làm giảm 10% - 15% nếu lượng mưa giảm 10% và nhiệt độ tăng hơn 1,5oC; Bên cạnh đó, mực nước biển có thể tăng 0,3 - 1,0 mét

Thực tế thì biến đổi khí hậu đã và đang tác động lên tài nguyên nước, thể hiện rõ ràng nhất ở thiên tai xảy ra dồn dập trên khắp thế giới trong mười năm qua:

lũ lụt ngập 2/3 lãnh thổ Bangladesh năm 2004, lũ lớn sông Trường Giang Trung Quốc năm 2010 mà hồ chứa khổng lồ Tam Điệp không cắt được lũ như mong đợi; đặc biệt sông Chao Phraya ở Thái Lan, một con sông đã trở nên hiền hòa từ vài chục năm nay nhờ các hồ chứa lớn điều tiết hoàn toàn dòng chảy, bỗng năm 2011 xảy ra lũ lớn mà quản lý tài nguyên nước quốc gia lại bị động, gây ra thảm họa lũ lụt quốc gia trong nhiều tháng liền

Sông Mekong mười năm qua khô hạn đến mức người ta có thể lội qua sông ở đoạn Vientiane trong mùa khô, mùa mưa lũ nhỏ đến mức đồng bằng sông Cửu Long phải góng chờ nước nổi Nhưng đến năm 2011, lũ lớn bất ngờ vượt mức lịch

sử năm 2000 Không phải chỉ có lũ, mà hạn cũng rất khắc nghiệt: lưu vực sông Senegal ở Tây Phi ngày nay có tổng lượng dòng chảy chỉ còn 1/4 so với thập

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w