1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Cương Tthcm.docx

32 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển TTHCM
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Đề cương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 603,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG II CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TTHCM PHẦN I 1 Cơ sở thực tiễn hình thành TTHCM a Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vào năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm[.]

Trang 1

CHƯƠNG II: CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN TTHCM PHẦN I:

1. Cơ sở thực tiễn hình thành TTHCM

a. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vào năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam và biến Việt Nam thành nước thuộc địa của Pháp.

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược VN, với truyền thống yêu nước nồng nàn, nhândân VN đã đứng lên chống lại thực dân Pháp, các phong trào yêu nước giải phóng dân tộc

đã nổ ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế và phong tràođấu tranh của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh Tuy rất sôi nổi nhưng đều thất bại Yêu cầu khách quan đặt ra của XHVN lúc này là: muốn cứu nước giải phóng dân tộc phải

dựa vào sức lực của chính dân tộc mình; phải có một con đường mới và con đường này phải khảo sát ở nước ngoài.

Nhận thức được yêu cầu khách quan đặt ra lúc bấy giờ, Người không dẫm lên vết

xe đổ của các sĩ phu yêu nước đương thời, Bác đã quyết định bắt đầu cuộc hành trình

sang phương Tây để tìm con đường mới cho dân tộc Ngày 5 tháng 6 năm 1911 Hồ ChíMinh đã bắt đầu cuộc hành trình sang phương Tây

- Mục đích của việc ra nước ngoài

Khi được đặt câu hỏi về mục đích của chuyến đi này thì năm 1923, Hồ Chí Minh đã

trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy” Tiếp đến, khi trả lời một nhà văn Mỹ, Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân VN trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh,

có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm

ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Bối cảnh của lịch sử Việt Nam đã tác động đến nhận thức của bác, giúp Bác nhậnthức được rằng muốn giải phóng được dân tộc mình thì phải tìm một con đường mới vàcon đường này phải khảo sát ở Phương Tây

b. Bối cảnh thời đại:

Ở thời kỳ này, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền và khi chuyển sang giai đoạn này thì CNĐQ đã trở thành kẻ thù chung của các quốc gia, dân tộc thuộc địa trên thế giới Vì vậy, nhiều phong trào đấu tranh của giai

cấp công nhân ở các nước tư bản đã nổ ra cùng với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

của nhân dân ở các quốc gia thuộc địa và đỉnh cao của các phong trào đấu tranh là Cách mạng Tháng Mười Nga và khi cuộc đấu tranh này giành thắng lợi đã mở ra thời đại mới

trong lịch sử loài người, đó chính là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội và đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”. Nhận thức cuộc cách mạng này, Hồ Chí

Trang 2

Minh nhận định đây là cuộc cách mạng “Mặt trời rạng đông xua tan đêm tối” Bác đã

quyết tìm hiểu về con đường này và tìm hiểu về Lênin

Cùng với đó, là sự ra đời của Quốc tế cộng sản (3/1919) do Lênin sáng lập đã

làm cho Phong trào đấu tranh công nhân ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dântộc ở các nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thùchung là CNĐQ

* Chính bối cảnh lịch sử đó đã đem lại cho Hồ Chí Minh một nhận thức rằng: “Ở nhữngnăm đầu thế kỷ XX chỉ có những phong trào cách mạng nào có mục tiêu giải quyết đồng thời

xem như là nhận thức đầu tiên của Hồ Chí Minh về 1 con đường cách mạng mới mà ViệtNam phải đi => Ở VN chỉ có giải quyết mâu thuẫn dân tộc mới có thể đi đến thắng lợi

* Nhưng chưa dừng lại ở đó nhận thức này được thể hiện ngày càng rõ hơn thông qua các sựkiện đặc biệt trong cuộc đời cách mạng của Bác:

- Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến hội nghị Vecxay

+ Ý nghĩa: đánh dấu việc Hồ Chí Minh lần đầu tiên bước lên đài chính trị với tên Nguyễn

Ái Quốc

Kết quả: Bản yêu sách không được phản hồi, Hồ Chí Minh nhận ra muốn được giải phóngphải dựa vào sức lực của chính dân tộc mình, không thể trông chờ, ỷ lại sự giúp đỡ của cácdân tộc khác

- Năm 1920, Bác đọc được Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương của Lênin và tìm thấy con

đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng vô sản Chính sự kiệnnăm 1920 này về cơ bản đã đánh dấu sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

2. Cơ sở lý luận hình thành TTHCM? Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành TTHCM như thế nào?

a. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:

Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát triển những truyền thống quý báu của dân tộcnhư: chủ nghĩa yêu nước, nhân nghĩa, thuỷ chung, đoàn kết; tinh thần lạc quan yêu đời;phẩm tính anh dũng, cần cù ham học hỏi và sáng tạo

Trong đó, truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất củangười VN là truyền thống quý báu và Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng VN được LýThường Kiệt tái hiện lại thông qua bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, cụ thể: “Nam quốc sơn hàNam đế cư/ Tiệt nhiên phận định tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳnghành khan thủ bại hư” Không dừng lại ở Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi với bài thơ đãtuyên bố trước kẻ thù chủ nghĩa yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất vớingười nước ngoài qua bài thơ “Bình Ngô Đại Cáo”

Truyền thống yêu nước này đã được Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển lên tầm

cao mới trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng chúng tôi đã giành được độc lập tự do… ” và thêm 1 lần nữa trong Lời kêu gọi

Trang 3

toàn quốc kháng chiến, Bác nói “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định khôngchịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Thêm vào đó, Người còn kế thừa truyền thống nhân nghĩa, thuỷ chung, đoàn kếtcủa dân tộc ta Từ bao đời nay, đối với người Việt Nam tinh thần nhân nghĩa - đoàn kết -thuỷ chung đã trở thành đức tính, lẽ sống của mỗi người được thể hiện qua câu ca dao:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” Bác Hồ

đã kế thừa truyền thống này và phát huy nó thành: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ người chung giai cấp phải thương nhau cùng

Ngoài ra, dân tộc ta còn được đánh giá là một dân tộc có tinh thần lạc quan yêu đờinhư “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” và tinh thần lạc quan này được Bác thể hiện

trong “Nhật ký trong tù”, mặc dù hoàn cảnh trong tù vô cùng gian khổ và rất khắc nghiệt

nhưng Bác vẫn lạc quan vì một tương lai đầy tương sáng

Đây là tinh thần yêu tự do, ý thức nhân nghĩa, thủy chung, đoàn kết; tinh thần lạcquan yêu đời; những phẩm chất anh dũng trong đấu tranh, cần cù trong lao động sản xuất,ham học hỏi và sáng tạo trong học tập và niềm tự hào về lịch sử, trân trọng nền văn hóa,ngôn ngữ, phong tục tập quán và những giá trị tốt đẹp khác của dân tộc

b. Tinh hoa văn hoá nhân loại:

Ở phương Đông, theo Bác quan niệm rằng bất kỳ học thuyết nào, tư tưởng nào

cũng đều có những ưu điểm và hạn chế.

- Phật giáo: Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển:

+ Tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lạiđiều ác:

Quan điểm của Phật giáo: “tất cả mọi người đều có chung dòng máu đỏ” và tiếp thuquan điểm này Bác đã nói rằng: “Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việtcũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”

+ Tinh thần bình đẳng dân chủ

+ Chủ trương sống không xa lánh việc đời

+ Đề cao lao động: coi trọng lao động chân tay, vì miễn sao là hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trong khi đó, thì Nho giáo lại coi khinh lao động chân tay Bác đã tiếp thu:“Lao động là

sự nghiệp quang vinh, vẻ vang”

- Nho giáo:

Hồ Chí Minh phân tích: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết củaKhổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta phải nênhọc”

Ở 1 bài viết khác: “Học thuyết của Nho giáo có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạođức cá nhân” Cụ thể Bác đã tiếp thu:

+ Triết lý hành động, nhập thế

+ Lý thuyết Xã hội bình trị, hòa đồng

+ Quan điểm Đề cao lễ giáo

+ Truyền thống hiếu học

Trang 4

- Chủ nghĩa tam dân: Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc,

dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởngđấu tranh cho Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam theo conđường cách mạng vô sản

+ Học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn: Chủ nghĩa tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền

tự do, dân sinh hạnh phúc) có ưu điểm vì chính sách của nó phù hợp với Việt Nam

- Lão giáo: Bác đã kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên:

+ Con người sống gắn bó, hoà đồng với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống Hồ Chí Minh

đã kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức ‘Tết trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái.+ Thoát mọi sự ràng buộc của vòng danh lợi

Ở phương Tây, Người trực tiếp nghiên cứu tư tưởng nhân văn, tiến bộ về dân chủ

và nhà nước pháp quyền của các nhà khai sáng phương Tây như Vônte, Rútxô,Môngtétxkiơ với tư tưởng chủ đạo là: Tự do-Bình đẳng-Bác ái Đây là câu khẩu hiệu nổitiếng của Đại Cách mạng Pháp 1789 mà Hồ Chí Minh đã quan tâm ngay từ khi còn học ởTrường Tiểu học Pháp

Người đã kế thừa, phát triển những quan điểm về nhân quyền, dân quyền, dân chủ,pháp luật, nhà nước và con người ở các nước tư sản lớn Anh, Pháp, Mỹ như: trong BảnTuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm

1791 của Pháp và đề xuất quan điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc của cácdân tộc trong thời đại ngày nay

c. Chủ nghĩa Mác-Lênin – đóng vai trò quyết định sự hình thành và phát triển TTHCM:

- Chủ nghĩa Mác - Lênin là tiền đề lý luận trực tiếp, quan trọng nhất, có vai trò quyếtđịnh nhất trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Là cơ sở thế giới quan và phươngpháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin: các nguyên lý không phải điểm xuất phát của quá trìnhnguyên cứu mà ngược lại các nguyên lý là điểm kết thúc của quá trình nguyên cứu, tức là,nguyên cứu ta mới rút ra được nguyên lý Mác-Lênin còn nói rằng không thể bắt giới tựnhiên và loài người phù hợp với các nguyên lý mà ngược lại các nguyên lý phải phù hợpvới giới tự nhiên => Học thuyết Mác-Lênin là học thuyết mở, khi vận dụng phải vận dụngsao cho phù hợp với điều kiện thực tế

Hồ Chí Minh đã vận dụng phù hợp đó là trong vấn đề tư tưởng HCM về vấn đề dântộc, cách mạng dân tộc, Hồ Chí Minh đảo lộn trật tự của hai vấn đề, giải quyết vấn đề dântộc rồi mới tới vấn đề giai cấp

* Vai trò của Mác đối với CMVN:

Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của Chủ nghĩa Mác với cách mạng Việt Nam rất quan trọng: “Chủ nghĩa Mác – Lênin đối với chúng ta những người cách mạng và nhân dân Việt

Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ không những là cái kim chỉ nam mà còn

là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng đi tới chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa cộng sản”

Trang 5

- Vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với hình thành TTHCM:

+ Quyết định bản chất thế giới quan khoa học

+ Quyết định phương pháp hành động biện chứng

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin được vận dụng sáng tạo ở Việt Nam,

là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại

Một lần nữa, Người kết luận: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu

dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều mưu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi

cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” → kết luận tổng: nếu như những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN HCM kế thừa và phát huy; nếu như những tinh hoá văn hoá nhân loại được HCM tiếp thu có chọn lọc thì chủ nghĩa Mác- Lênin đã được HCM vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của VN

3. Nhân tố chủ quan hình thành TTHCM

a. Phẩm chất Hồ Chí Minh

+ Tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo:

● Tư duy độc lập: Quan điểm của Bác về vấn đề độc lập: “Độc lập nghĩa là chúngtôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoàivào” Tức, phải là độc lập hoàn toàn, không nửa vời, sự độc lập không có sự canthiệp của bên ngoài

● Tự chủ là phải dựa vào sức mạnh dân tộc tự lực Khi Bản yêu sách của nhân dân

An nam không nhận được sự giúp đỡ của các nước đế quốc, không được chấpnhận tại Hội nghị Vecxay, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra bài học: “Muốn được giảiphóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”

● Sáng tạo: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản ra đời do

sự kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân Khi vận dụng

quan điểm của Mác - Lênin vào điều kiện của VN thì Hồ Chí Minh đã đưa thêm yếu tố phong trào yêu nước vào sự ra đời của Đảng phù hợp điều kiện

của nước Việt Nam

+ Có đầu óc phê phán tinh tường và sáng suốt:

● Trong tác phẩm Bản án chế thực dân Pháp, năm 1925, Hồ Chí Minh viết: “Chủnghĩa tư bản là một con đĩa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc

và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa Nếu muốn giết con vật

ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi ”

+ Hồ Chí Minh là người có ý chí mạnh mẽ:

● Bài thơ rất nổi tiếng của Bác: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng khôngbền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”

Trang 6

● Khi viết tác phẩm “Nhật Ký Trong Tù”, mặc dù điều kiện trong tù khắc nghiệtnhưng tinh thần của Bác rất mạnh mẽ dù thân thể ở trong lao nhưng tinh thần ởngoài lao, muốn nên sự nghiệp lớn tinh thần phải càng cao.

+ Hồ Chí Minh là người luôn thể hiện đạo đức cách mạng: “Tôi chỉ có một sự ham

muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàntoàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.” Đó là khát vọnglớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiệnkhát vọng đó Cả cuộc đời cách mạng của người chỉ có ham muốn này và người đã thựchiện được ham muốn đó

- Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận

+ Không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh:

● Vốn tri thức văn hóa phong phú của thời đại:

● Vốn kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào giải phóng dân tộc: khi nghiêncứu, khảo sát các phong trào đấu tranh cách mạng trên thế giới ở phương tây vàphương đông; ở phương Tây có điều kiện để nghiên cứu CMTS Anh, CMTSPháp và đi tới kết luận: đây là các cuộc cách mạng không đến nơi, không triệtđể; khi khảo sát cách mạng phương Đông, HCM đi đến kết luận rằng sở dĩ cáchmạng phương đông không thành công do thiếu sự hiểu biết lẫn nhau, thiếu tincậy lẫn nhau nên không cổ vũ nhau được => mặc dù rất lớn mạnh nhưng khôngthành công

Kết luận: Những phẩm chất cá nhân cùng những hoạt động thực tiễn phong phú trên nhiềulĩnh vực khác nhau ở trong nước và trên thế giới là nhân tố chủ quan hình thành nên tưtưởng HCM

PHẦN II: Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển TTHCM:

a. Giai đoạn 1: Trước ngày 5/6/1911: Đây là thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước

b. Giai đoạn 2: Từ năm 1911 đến năm 1920: Đây là thời kỳ tìm tòi, khảo nghiệm

con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

- Từ năm 1911 đến năm 1917, Đây là một hành trình dài Người đi qua nhiều nước: lao

động bằng nhiều nghề để tồn tại; hoạt động chính trị để rút kinh nghiệm; học tập, nghiêncứu để tìm tòi, khám phá rồi vận dụng ,từ đó Người hình thành một nhận thức mới:

“Nhân dân lao động các nước, trong đó có giai cấp công nhân, đều bị bóc lột có thể là

Trang 7

bạn của nhau; còn chủ nghĩa đế quốc, bọn thực dân ở đâu cũng là kẻ bóc lột, là kẻ thù của nhân dân lao động”.

- Từ năm 1917 đến năm 1920, những sự kiện đã tác động làm thay đổi nhận thức của Hồ

Chí Minh về con đường cách mạng của Việt Nam:

Sự kiện 1: Sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 mở ra thời kỳmới – thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa Khi nghiên cứu cuộc cách mạng này,Bác kết luận: Cách mạng tháng Mười Nga “Như ánh mặt trời rạng đông xua tanbóng tối”

Sự kiện 2: Năm 1919, Hồ Chí Minh đã gửi bản Yêu sách của nhân dân An nam

tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứngđáng được độc lập”

Bản yêu sách gồm 8 điểm nhưng tựu chung lại có 2 ý: yêu cầu bình đẳng về chế độ pháp lý và đòi những quyền tự do dân chủ tối thiểu của nhân dân An Nam.

● Sự kiện 3: Bác đọc được Luận cương Lênin => Bác đã tìm tòi ra được con đường

cứu nước cho dân tộc: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”

Năm 1920, Hồ Chí Minh đọc bản sơ thảo lần thứ I luận cương của Lênin về vấn đề dântộc và thuộc địa Đây là sự kiện đánh dấu hình thành cơ bản về tư tưởng HCM HCM đãthực sự tìm thấy con đường cách mạng mà cách mạng VN phải áp dụng, đó là con đườngcách mạng vô sản Như HCM đã nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không cócon đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

=> Hình thành cơ bản con đường cứu nước

c. Giai đoạn 3: Từ năm 1920 đến năm 1930: Đây là thời kỳ mà TTHCM hình thành

những nội dung cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam

HCM tham gia sáng lập đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ 3 => HCM

đã thực hiện một bước chuyển về nhận thức từ lập trường của một nhà yêu nước, HCM đãchuyển sang lập trường vô sản

Trong các tác phẩm lý luận của Hồ Chí Minh, có 3 tác phẩm quan trọng trong thời kỳ này

đó là Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách Mệnh và Cương lĩnh năm 1930 Trong

đó, tác phẩm Cương lĩnh 1930 là tác phẩm Bác trực tiếp soạn thảo thể hiện rõ nét nhất quan điểm của Hồ Chí Minh đặt ra về con đường cách mạng Việt Nam mà ta phải đi về

giai cấp, lực lượng,… Đây là thời kỳ mục tiêu, phương hướng cách mạng giải phóng dântộc Việt Nam từng bước được cụ thể hoá, thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiêncủa Đảng Cộng sản Việt Nam

d Giai đoạn 4: Từ năm 1930 đến năm 1941 Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh vượt qua

thử thách, kiên trì giữ vững quan điểm của mình, nêu cao tư tưởng độc lập, tự do

và quyền dân tộc cơ bản

Bác đã kiên trì bảo vệ quan điểm về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, về cách mạng giảiphóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản mà mình đã vạch ra trong Cương lĩnh năm

Trang 8

1930 Ở thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã trải qua 2 thử thách, khó khăn trong cuộc đời cáchmạng của mình

Thứ nhất, Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo chỉ thành lập 1 Đảng duy nhất cho 3 nước Đông

Dương từ thực tiễn 3 nước Đông Dương bác đã nhìn thấy và chứng kiến thực tiễn đó chonên khi 3 tổ chức cộng sản cùng 1 lúc ra đời ở trong nước thì HCM đã làm ngược lại chỉđạo của Quốc tế Cộng sản đó là thành lập mỗi nước 1 đảng riêng để lãnh đạo phong trào ởtừng nước và đối với Việt Nam Bác đã hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sảnViệt Nam Sau khi hợp nhất các tổ chức Cộng sản thì Bác lên đường quay lại Liên Xô hoạtđộng trong Quốc tế Cộng sản đến địa phận Hồng Kông thì Bác bị thực dân Anh bắt Sau

đó, Bác đến Liên Xô và Quốc tế Cộng sản lúc này không liên lạc gì với Bác, không cho Bác tham gia bất cứ nhiệm vụ nào của Bác cũng không cho Bác rời khỏi Liên Xô, bởi

Bác đã làm ngược lại chỉ đạo của QTCS Hồ Chí Minh đã gửi thư cho một lãnh đạo Quốc

tế Cộng sản, đề nghị cho phép trở về nước hoạt động trong đó Bác viết: “Đừng để tôi sốngquá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài củaĐảng” Và đề nghị này được chấp nhận

Thứ hai, khi Bác gần đến ngày bảo vệ Luận án của mình thì Quốc tế Cộng sản chỉ đạo Bác

phải trở về hoạt động và trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam nên Bác đã bỏ Luận ánđang dang dở và quay về Mặc dù trải qua nhiều thử thách nhưng Bác vẫn bảo vệ quanđiểm về CM thuộc địa, cách mạng Việt Nam và vấn đề dân tộc

Sau khi quay trở về Việt Nam, Bác đã trực tiếp chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ

VIII (từ 10 đến 19/05/1941), đây là hội nghị quay trở lại quan điểm của HCM đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu trở về nội dung mà Bác đã vạch ra trong Cương lĩnh 1930.

e Giai đoạn 5: Từ năm 1941 đến năm 1961 Đây là thời kỳ phát triển mới về tư tưởng

kháng chiến và kiến quốc; tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện tư tưởng về độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội

-> Cách mạng T8/1945 và hiệp định Giơ ne vơ

CHƯƠNG III: TTHCM VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CM GIẢI

PHÓNG DÂN TỘC

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc (phân tích kỹ điểm a)

a Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

Khát vọng to lớn của dân tộc ta xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước là luônmong muốn có được một nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân

Tại Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919, thay mặt nhóm những người yêu nướcViệt Nam tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam,với hai nội dung chính là đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý và đòi các quyền tự do, dânchủ Bản yêu sách không được Hội nghị chấp nhận nhưng qua sự kiện trên cho thấy lần

Trang 9

đầu tiên, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của các dân tộc thuộc địa mà trước hết là quyềnbình đẳng và tự do đã hình thành.

Căn cứ vào những quyền tự do, bình đẳng và quyền con người - “những quyền mà không ai có thể xâm phạm được” đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của cách

mạng Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1791, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định những giá trị thiêng liêng, bất biến về quyền dân

tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc được thể hiện qua quyền thiêng liêng, quyền bấtkhả xâm phạm của các dân tộc Và quyền thiêng liêng, quyền bất khả xâm phạm này đượcthể hiện qua mong muốn lớn nhất là dân tộc được độc lập và nhân dân được tự do Và độclập này theo Hồ Chí Minh phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn gắn với hòa bình, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và phải đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho mọi ngườidân Độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của dân tộc Cho nên, độc lập là một quyền thiêngliêng, quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc thuộc địa Người từng nói: “Cái mà tôi cầnnhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”

Để chứng minh cho điều này, nó được thể hiện trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945, Bác đã trịnh trọng tuyên bố: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh

quan điểm này còn được thể hiện thông qua các sự kiện tác phẩm:

- Bản yêu sách của nhân dân An Nam (1919)

- Chánh cương vắn tắt của ĐCS VN (1930): “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp vàbọn phong kiến/ Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”

- Thư gửi Liên hợp quốc (1946):

- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946): “Không! Chúng ta thà hy sinhtất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”

- “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (1966)

b Độc lập dân tộc phải gắn liền tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn với tự do của nhân dân Tiếp cận vàchắt lọc tư tưởng tiến bộ về nhân quyền, dân quyền của học thuyết “Tam dân” của TônTrung Sơn; tư tưởng tự do, bình đẳng, tiến bộ trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dânquyền của Cách mạng Pháp năm 1791

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người cũng đã xác định rõ mục tiêu củađấu tranh cách mạng là độc lập cho dân tộc, mọi người đều được hưởng cuộc sống ấm no,

tự do, hạnh phúc và bình đẳng Người khẳng định độc lập dân tộc phải gắn với tự do nhândân: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa

lý gì”

Trang 10

Ngoài ra, độc lập cũng phải gắn với cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân.Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong hoàn cảnh “Giặc đói, giặcdốt và giặc ngoại xâm” là những hiểm họa đối với chế độ mới, vận mệnh dân tộc như

“ngàn cân treo sợi tóc”, Tổ quốc lâm nguy.…, Hồ Chí Minh đề ra những nhiệm vụ, biệnpháp cụ thể về đối nội, đối ngoại Người yêu cầu: “Chúng ta phải…

Làm cho dân có ăn

Làm cho dân có mặc

Làm cho dân có chỗ ở

Làm cho dân có học hành”

c Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả

các lĩnh vực Người nhấn mạnh: “độc lập mà người dân không có quyền tự quyết về ngoại giao, không có quân đội riêng, không có nền tài chính riêng…, thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì.” Trên tinh thần đó và trong hoàn cảnh đất nước ta sau Cách mạng Tháng Tám

còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nạn thù trong giặc ngoài bao vây tứ phía, để bảo vệ nềnđộc lập thật sự mới giành được, Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng đề ra, Chínhphủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện sách lược hòa hoãn linh hoạt, mềm dẻo nhưngkiên quyết về độc lập dân tộc đối với cả thực dân Pháp và Tưởng Giới Thạch, giải quyếtvấn đề cấp bách kinh tế - xã hội của đất nước, tạo cơ sở vừa xây dựng vừa bảo vệ nền tảngtiến lên chủ nghĩa xã hội tương lai

- Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946): “Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình.”

“Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do cóchính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình” (Hiệpđịnh sơ bộ 6/3/1946)

d Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Có thể khẳng định rằng tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ quốc,toàn vẹn lãnh thổ là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh.Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt bởi hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, Người

luôn khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”

“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý

đó không bao giờ thay đổi” (Thư gửi đồng bào Nam Bộ 1946)

“Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Đế quốc

Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào NamBắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (Di chúc 1969)

2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc (5 luận điểm phân tích sơ qua 3 luận điểm đầu và phân tích kỹ 2 luận điểm sau)

Trang 11

Luận điểm 1: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản

Từ thực tiễn phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam từ năm 1858 đến đầu thế

kỷ XX liên tiếp nổ ra nhưng lần lượt đều thất bại vì bế tắc, khủng hoảng về đường lối, vềlực lượng lãnh đạo có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử Tiếp xúc, tìm hiểu vànghiên cứu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: Cáchmạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng triệt để và đến nơi

Năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dântộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giảiphóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản, như sau này Người khẳng định: “Muốn cứunước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

Học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin được Người vận dụngmột cách sáng tạo trong điều kiện cách mạng Việt Nam: Giải phóng dân tộc gắn với giảiphóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là trước hết, trên hết Theo Mác và Ăngghen,con đường cách mạng vô sản ở Châu Âu là đi từ giải phóng giai cấp - giải phóng dân tộc -giải phóng xã hội - giải phóng con người Còn theo Hồ Chí Minh thì ở Việt Nam phải là:giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải phóng giai cấp - giải phóng con người

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện rõ nét lần đầu tiên TrongCương lĩnh chính trị của Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã ghi rõ phương hướng chiếnlược cách mạng Việt Nam: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới

xã hội cộng sản Cách mạng tư sản dân quyền trước hết là phải đánh đổ đế quốc và bọnphong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập…mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụchống đế quốc, giải phóng dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến, mang lại ruộng đấtcho nông dân thì sẽ từng bước thực hiện

Luận điểm 2: Cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng cộng sản lãnh đạo

Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và rất chú trọng đến việcthành lập và khẳng định vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc ởcác quốc gia lệ thuộc và thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản: Đảng Cộng sảnĐông Dương là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân

và phong trào yêu nước Việt Nam

Khẳng định Đảng Cộng sản vừa là đội tiên phong của giai cấp công nhân vừa làđội tiên phong của nhân dân lao động Đảng mang bản chất giai cấp công nhân đồng thời

nó cũng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam

Luận điểm 3: Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh công - nông làm nền tảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử”.

Trang 12

Kế thừa tư tưởng các nhà lý luận kinh điển Mác-Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm:

có dân là có tất cả, trên đời này không gì quý bằng dân, được lòng dân thì được tất cả, mất

lòng dân thì mất tất cả Người khẳng định: “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”.

Năm 1930, trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác định lực lượngcách mạng bao gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợpđại bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng; liên lạc vớitiểu tư sản, trí thức, trung nông… để lôi kéo họ về phía vô sản giai cấp; còn đối với phúnông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợidụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập

Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai, trong Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến (12-1946) Hồ Chí Minh thiết tha kêu gọi mọi người không phânbiệt giai, tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái… đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung củadân tộc

Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Hồ Chí Minh lưu ý rằng,

không được quên “công nông là chủ cách mệnh… là gốc cách mệnh”.

Luận điểm 4: Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc (phân tích kỹ)

Xuất phát từ mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, Người cho rằng muốntiêu diệt chủ nghĩa đế quốc thì phải tiến hành song song, chủ động cả hai cuộc cách mạng:cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các quốc gia lệ thuộc,thuộc địa; đồng thời khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủđộng, có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Đầu tiên, đối với tính chủ động và sáng tạo, trong khi các nhà kinh điển cho rằng CM

thuộc địa phải phụ thuộc vào CM vô sản ở chính quốc Từ quan điểm này của các nhà kinhđiển Mác – Lênin và thực tiễn các nước thuộc địa thì Hồ Chí Minh khẳng định giữa Cáchmạng Vô sản ở chính quốc và Cách mạng thuộc địa phải tác động qua lại lẫn nhau tạo nênmối quan hệ bình đẳng, chứ không phải là mối quan hệ lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau

Tại Đại hội V – QTCS (1924), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa ”

Đặc biệt, chỉ ra rằng sự bóc lột thuộc địa không chỉ là nguồn sống của bọn tư bản mà

còn là cái “nền móng” của chủ nghĩa đế quốc: “Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc.”

* Phân tích hình ảnh con đỉa có hai vòi và hai cánh của con chim để nói về CM thuộc địa và Vô sản CQ:

- Trong tác phẩm Bản án chế thực dân Pháp năm 1925, Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa

tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi

Trang 13

khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa Nếu muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi ” => với quan điểm này, HCM đã khẳng định rằng cách mạng giải

phóng dân tộc ở thuộc địa cũng như là cách mạng ở chính quốc phải được tiến hành chủđộng và sáng tạo

- Hai cái cánh của một con chim: nếu mất một trong hai cánh thì chim không thể bayđược nữa, muốn bay thì phải cất đồng thời cả hai cánh => HCM xác định cách mạng vôsản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải được tiến hành chủ

động, không lệ thuộc, không phụ thuộc, là mối quan hệ bình đẳng.

* Khả năng nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc:

Là một người dân thuộc địa, một người cộng sản và là người nghiên cứu vềCNĐQ, Hồ Chí Minh cho rằng: “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc

vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước.” Cơ sở lý luận đódựa trên quan điểm của Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân Người

đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn ” Cho nên, cách mạng ở thuộc địa có vai trò rất lớn trong việc cùng với

cách mạng vô sản ở chính quốc tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc

* Thực tiễn Cách mạng Việt Nam, chúng ta không phụ thuộc, không ngồi chờ CM trên

thế giới thành công mà chúng ta đã chớp thời cơ, chủ động để giành độc lập Tiêu biểu làCách mạng tháng Tám năm 1945 của nước ta thắng lợi trong khi đó thì cách mạng vô sản

ở chính quốc vào những năm đó chưa nổ ra và thắng lợi càng chứng minh luận điểm trêncủa Hồ Chí Minh là độc đáo, sáng tạo, có giá trị lý luận thực tiễn to lớn

Lưu ý: Trong 5 luận điểm này, luận điểm thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của

Chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong thực tiễn cách mạng Việt Nam là luận điểm thứ 4: Cáchmạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giànhthắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Luận điểm 5: Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng

Dựa trên cơ sở quan điểm về bạo lực cách mạng của các nhà kinh điển của chủ

nghĩa Mác - Lênin: “không có bạo lực thì không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được” Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn cách mạng

Việt Nam Dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng

Từ thực tiễn đấu tranh, Hồ Chí Minh đã thấy rõ sự tất yếu phải sử dụng phương

pháp bạo lực cách mạng: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính

quyền và bảo vệ chính quyền” => khẳng định tính tất yếu của bạo lực cách mạng.

Trang 14

Về hình thức bạo lực cách mạng, theo Hồ Chí Minh, bạo lực cách mạng ở đây là bạo lựccủa quần chúng được thực hiện dưới hai lực lượng chính trị và quân sự, hai hình thức đấutranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; chính trị và đấu tranh chính trị của quầnchúng là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang; đấutranh vũ trang có ý nghĩa quyết định đối với việc tiêu diệt lực lượng quân sự và âm mưuthôn tính của thực dân đế quốc, đi đến kết thúc chiến tranh Việc xác định hình thức đấutranh phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà áp dụng cho thích hợp, như Người đã

chỉ rõ: “Tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”.

- Về phương châm cách mạng,

+ Trường kỳ kháng chiến thể hiện trong THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH HỢI NĂM 1947

“ Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Trang 15

CHƯƠNG IV: TTHCM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO

NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

1. Cơ sở hình thành TTHCM về Nhà nước mới Việt Nam

a. Cơ sở thực tiễn:

Từ thực tiễn hình thái nhà nước Việt Nam đương thời: nhà nước phong kiến ViệtNam và nhà nước tư sản Pháp (sự cai quản của chính quyền tư thực dân Pháp) hay gọicách khác là nhà nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa đã gây ra cho nhân dân một cuộcsống cơ cực về kinh tế, bị chà đạp về nhân phẩm, Từ đó, Người đã đi đến khẳng định đầu

tiên: nhà nước của Việt Nam sau khi giành được độc lập không mang bản chất phong kiến và tư sản.

Tiếp xúc, tìm hiểu, nghiên cứu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: Cáchmạng Mỹ năm 1776, Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và các kiểu, các hình thức nhànước mà những cuộc cách mạng này xây dựng sau khi thực hiện cách mạng thành công

Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: những cuộc cách mạng này tuy đã thực hiện cách mạng thành công nhưng chưa đến nơi, chưa triệt để (vì cách mạng rồi nhưng quần

chúng vẫn muốn một cuộc cách mạng nữa và chưa đến nơi đó là quần chúng vẫn tiếp tụccuộc cách mạng để giải phóng nhân dân; chưa triệt để ở chỗ kết quả của cuộc cách mạngthì chỉ giai cấp tư sản được hưởng thành quả)

Sau đó, Bác nghiên cứu Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917,

Người nhận định đây là cuộc cách mạng triệt để và đến nơi, đưa lại quyền lợi thực sự cho nhân dân lao động

=> Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: Cách mạng Việt Nam nên theo cách mạngTháng Mười Nga, đó là cuộc cách mạng xác lập hình thái nhà nước trong đó quyền lựcthuộc về số đông người Bởi, mô hình này đã phù hợp với mong muốn, với thực tiễn củanhân dân Việt Nam, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân

b. Cơ sở lý luận:

Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa 3 cơ sở sau để hình thành TTHCM về Nhà nước:văn hoá chính trị Việt Nam trong lịch sử, các giá trị văn hoá chính trị của nhân loại, quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã kế thừa văn hoá chính trị Việt Nam trong lịch sử thông

qua các bộ sử và các bộ luật mà ông cha ta đã để lại thì Bác đã tiếp thu các kinh nghiệm vềxây dựng và quản lý đất nước qua các triều đại, cụ thể có 3 bộ sử lớn của dân tộc ta được

ghi chép như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại việt thông

sử Ngoài 3 bộ sử, trong việc quản lý đất nước còn xây dựng pháp luật và Bác đã học tập kinh nghiệm qua 2 bộ luật như Hình thư và Quốc triều hình luật Tư tưởng Nho giáo:

“nước lấy dân làm gốc”

Thứ hai, Hồ Chí Minh đã kế thừa các giá trị văn hoá chính trị của nhân loại, cụ thể

là văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây

Đối với văn hoá phương Đông thì Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa 3 tư tưởng vàhọc thuyết Nho giáo, Mặc gia, Pháp gia để vận dụng hình thành tư tưởng của Nhà nước

Trang 16

Về Nho giáo hay còn gọi là học thuyết Khổng Tử, học thuyết này có ưu điểm lớn nhất của

nó là tu dưỡng đạo đức cá nhân và trong việc quản lý đất nước và quản lý xã hội thì Khổng

Tử đề cao vai trò của tư tưởng “đức trị”, “chính danh”, “nước lấy dân làm gốc” Đến

học thuyết trường phái Mặc gia, khi quản lý đất nước và quản lý xã hội thì đề cao việc

trọng dụng nhân tài với Thuyết “kiêm ái”, nguyên tắc “thượng đồng, thượng hiền” Cuối cùng, quan điểm về trường phái Pháp gia, ông đề cao “pháp trị” trong việc quản lý

đất nước Trong văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh đã vận dụng sự kết hợp hài hoà cáchọc thuyết này trong xây dựng Nhà nước Việt Nam sau này, Bác rất quan tâm đến việcgiáo dục đạo đức, kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong quản lý đất nước

Sang đến văn hoá phương Tây, Bác đã kế thừa các tư tưởng như:

+ Đêmôcrit: Nhà nước là trụ cột của xã hội, ông đề cao vai trò pháp luật cần phải xử lýnghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức

+ Platon: xây dựng Nhà nước lý tưởng

+ J.J.Rousseau: Khế ước xã hội

+ C.L.Montesquieu: Tinh thần pháp luật

+ Lincoln: Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Thứ ba, về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước kiểu mới, khi nghiên

cứu về cơ sở này thì Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan niệm về bản chất dân chủ, nhân đạocủa nhà nước, đặc biệt trong đó HCM kế thừa quan niệm về xây dựng nhà nước phápquyền… Sau khi đã kế thừa chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh quán triệt và vận dụngsáng tạo học thuyết về nhà nước và nhà nước vô sản trong xây dựng nhà nước Việt Nammới sau năm 1945

c. Quá trình xác lập nhà nước kiểu mới:

Không phải chờ đến khi cách mạng thành công thì HCM mới lựa chọn tên gọi, môhình của Nhà nước mà tên gọi, mô hình của Nhà nước Việt Nam được HCM tìm tòi vànghiên cứu lựa chọn và thay đổi cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Ngay từ tác phẩm Đường Kách mệnh năm 1927 đã nhắc đến mô hình nhà nước, tên

gọi nhà nước mà Bác mong muốn đó là: Nhà nước của dân, do dân, vì dân Tư tưởng nàyBác đã kế thừa của Lincoln

Thêm vào đó, vào năm 1930, trong tác phẩm Chánh cương vắn tắt, Hồ Chí Minh đã

nhắc đến tên gọi của nhà nước sau khi Bác đã chọn mô hình nhà nước Xô Viết, Bác đã đặt

tên: “Chính phủ công nông binh” theo mô hình nhà nước Xô-Viết

Đến năm 1941, khi Bác về nước trực tiếp lãnh đạo CMVN, Bác nhận thấy rằng nó không còn phù hợp và Bác đổi lại từ “Chính phủ công nông binh” thành “chính phủ dân chủ cộng hoà” Bác thay đổi là vì tên gọi cũ không còn phù hợp với thực tiễn Việt Nam,

bởi nhà nước ta là nhà nước toàn dân, không chỉ có tầng lớp công nông binh, tên gọi mớithể hiện được nhà nước của nhân dân chứ không chỉ của công nông binh, việc đổi này phùhợp với chiến lược của CMVN

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa ra đời – Nhà nước dân chủ tiến bộ đầu tiên ở Đông Nam châu Á

2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền? Nâng cao: Pháp quyền nhân nghĩa là sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị.

Ngày đăng: 23/06/2023, 18:56

w