PHẦN II: Cơ sở hình thành TTHCM về đại đoàn kết quốc tế. Sự cần thiết của ĐKQT, hình thức, lực lượng; nguyên tắc của nó.
1. Vai trò
Đầu tiên, thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng VN .
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc VN là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần, song theo Hồ Chí Minh sức mạnh của dân tộc VN trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; sức mạnh của tinh thần đoàn kết; của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do… Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn nhắc đến sức mạnh của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, quan điểm của HCM về vấn đề này được thể hiện thông qua việc khi trả lời câu hỏi: “Sức mạnh của nhân dân Việt Nam là ở chỗ nào?” của phóng viên người Cuba, Bác khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới”.
Bác còn nói: “Nước ta ở vào xứ nóng, khí hậu tốt, rừng vàng, biển bạc, nhân dân ta dũng cảm và cần kiệm. Các nước anh em lại giúp đỡ nhiều. Thế là ta đã có 3 điều kiện:
Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa.”
Thứ hai, sức mạnh thời đại là sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới, các phong trào đó nếu được liên kết, tập hợp trong khối đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Ngoài ra, Bác còn đề cập đến sức mạnh khoa học kỹ thuật,... Đặc biệt, Bác đã nhấn mạnh sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, bởi “Thế của thế giới ngày nay đang tiến bộ những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người. Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân mình”.
Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng sức mạnh vai trò của đoàn kết quốc tế là chúng ta phải kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho CMVN.
“Có sức mạnh cả nước một lòng... lại có sự ủng hộ của nhân dân thế giới, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp cộng với phương pháp cách mạng thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng” (1961)
Cách mạng Việt Nam chỉ có thể thành công khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế.
Thứ hai, thực hiện đoàn kết quốc tế góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại.
Trong hành trình tìm đường cứu nước, lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở giải phóng dân tộc mình, mà còn vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc và nhân khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; thực hiện đoàn kết quốc tế không chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế vì các mục tiêu cách mạng của thời đại.
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc ta. Chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế. “Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn tinh thần
“vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế trong sáng”. Trong tư tưởng của Bác luôn hướng tới sức mạnh thời đại để tiến đến hoà bình và trong thực tiễn ý chí chiến đấu của dân tộc ta luôn hướng đến mục tiêu hoà bình, công lý và luôn hướng đến nghĩa cử cao đẹp.
Trong tác phẩm Thưởng thức chính trị, viết năm 1953, ký tên Đ.X, Hồ Chí Minh viết: “Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn quyền độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình. Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới...Tinh thần yêu nước và tinh thần Quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò đoàn kết quốc tế còn được thể hiện: “Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức”. Đây là quan điểm thể hiện sự kết hợp giữa tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế trong sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Hình thức và lực lượng
a. Các lực lượng cần đoàn kết: gồm 3 lực lượng
Thứ nhất, với phong trào cộng sản và công nhân thế giới, đây là lực lượng nòng cốt của đoàn kết quốc tế, đã giúp cho CMVN rất nhiều; quan điểm của Hồ Chí Minh về lực lượng này: “bốn phương vô sản đều là anh em” bởi Bác là thành viên của Quốc tế Cộng sản.
Thứ hai, với phong trào giải phóng dân tộc, chúng ta cần phải liên minh và đoàn kết để tạo nên 1 khối liên minh phương đông, tạo nên sức mạnh to lớn cho cách mạnh. Hồ Chí Minh cho rằng: “Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối
Liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”. Đây là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết.
Thứ ba, với lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và công lý, được thể hiện qua quan điểm chúng ta chống nước Pháp và nước Mỹ chứ chúng ta không chống nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ, có thể thấy rằng Bác đã kêu gọi được sự ủng hộ của nhân dân Pháp/Mỹ yêu chuộng hoà bình. Bác đã sử dụng: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình” và đối với lực lượng tiến bộ thì Việt Nam giữ: “Thái độ của Việt Nam đối với các nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”.
b. Hình thức tổ chức:
Đầu tiên, Bác đề cập đến các tổ chức thể hiện đoàn kết quốc tế với các nước như:
Hội liên hiệp thuộc địa (1921), Quan điểm về thành lập “Mặt trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa” (1924), Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (1925), Năm 1941, Mặt trận độc lập đồng minh cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao Miên, Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào
Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí Trung Quốc thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ngày 9/7/1925 (Về sự thành lập của Đại hội được đăng trên báo Công nhân chi lộ đặc hiệu, do Ủy ban bãi công Cảng Tỉnh xuất bản, số 18, ra ngày 12/7/1925).
Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, trung Quốc, Ấn Độ. Triều Tiên, Inđônêxia, Miến Điện,....
Hội trưởng là Liệu Trọng Khải (Trung Quốc)
Nguyễn Ái Quốc mang tên Lý Thụy là một trong những người lãnh đạo của hội, được bầu làm Bí thư kiêm phụ trách công việc tài chính của hội, đồng thời cũng là người trực tiếp phụ trách chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.
3. Nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ nhất, đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình
Khi đoàn kết với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thì chủ trương của Hồ Chí Minh là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Là lợi ích chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Đối với các dân tộc trên thế giới thì HCM chủ trương giương cao ngọn cờ độc lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.
Đối với lực lượng các lực lượng tiến bộ trên thế giới, HCM chủ trương giương cao ngọn cờ hòa bình trong công lý: “Một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ”
Đoàn kết quốc tế phải trên cơ sở có lý và có tình:
“Có lý” thể hiện ở chỗ:
+ Tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.
+ Xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới.