Lôgic là gì? Sự cần thiết của nó Tại sao có thể nói “Logic là chìa khóa mở vào chân lý?” (Logic - c’est done la clé de là vérité)(1). Bởi chân lý của con người ít nhất - khởi từ mình - hữu Chủ Tri l
Trang 1Logic
I- Légic là gì? Sự cần thiết của nó
Tại sao có thể nói “Logic là chìa khóa mở vào chan ly?” (Logic - c’est done la clé de là verité)” Bởi chân lý của con người ít nhất - khởi từ mình - hữu Chủ Tri là suy lý - lý trí được biểu hiện bằng ngôn ngữ, và logic là hệ thống suy luận cao nhất của ngôn ngữ (nếu không có nó ngôn ngữ chỉ là những hạt cát rời rạc) Có nghĩa là, ngôn ngữ là đại biểu cao nhất, là tiên phong, là hệ thống chảy từ nguồn mạch tư duy đến cứu cánh vật thẻ, đưa lý trí của con người đạt tới chân lý
Cu thé, logic là gì? Theo người Hy Lạp, “logic” khởi nguồn từ chữ “logos” nghĩa là: trật
tự của vật thê đên thời gian Theo quan niệm này co the rut ra, logos la:
1 Trong không gian: Là trật tự của vật thể sắp đặt một cách hệ thống
2 Trong thời gian: Là trật tự có tính kê tục
Trật tự trong không gian, chẳng hạn, một chiếc đầu tau - nếu là “đầu kéo” thì luôn phải ở trước các toa tàu (nêu là “đầu đây” thì ở phía sau), nhưng với bánh lái các con tàu dưới nước, thì trái lại, bánh lái phải luôn ở phía sau
Trật tự thời gian, chẳng hạn, người ta phải nói một con người lớn lên từ trẻ - đến già, chứ không thê nói ngược lại, và một vật nêu chạy từ A đên B, thì phải nói nó vận động từ A đên B, chứ không thê nói ngược lại
Người Hy Lap con chi ra: “Logos dé Id con sé va ly tri, va là do lường, là đối thoại ” (“logos” c’est le nombre, c’est la raison et la mesus c°est la điscour)'? Nhưng trong đó,
họ cũng đặc biệt nêu lên, “đôi thoại” là cái hệ trọng nhât
Lần ngược thời cô đại Hy Lạp, triết gia Socrate chủ trương tách rời môn vật lý - quan sát ngoại vật, băng cách quay vào chính tâm hôn mình qua phép biện chứng đê thiệt lập ngành triệt học Cuộc đời triệt học của Socrate là một cuộc đôi thoại suy lý không ngừng Đến Platon, ông đề cao phép biện chứng lên ngôi chúa tễ của tư tưởng Ông nói: “7oán học, vũ trụ học, âm nhac không phải là khoa học thực sự Khoa học cao nhất, cái xứng với tên gọi nhất là nhắm đối tượng của tư tưởng, đó là biện chứng”?), Và “Biện chứng pháp có sức mạnh đạt tới điều thiện, không có khoa học cao hơn và nó vừa là công việc vừa là vành nguyệt que
Y tưởng của Platon rất rõ ràng, ông cho rằng “khoa học về điều thiện” - tức đạo đức, lớn hơn bất kỳ môn khoa học nhắm về cái gì khác làm đối tượng Và điều thiện thì chỉ có tư duy - lương tri mới đạt tới Và nó chỉ đạt tới bằng ngôn ngỡ, từ đó nó cũng sản sinh ra hiến pháp, tín điều, hay pháp luật cũng bằng ngôn ngữ
Con Aristote thì gọi logic là suy tưởng của suy tưởng - cái lao lên nguyên lý tôi thượng Ông nói: “Logic luôn luôn theo đuổi từ cải trừu tượng đến cải cụ thể, nó đổi mãi đến tư
Trang 2tưởng tuyệt đối và nguyên lÿ tôi thượng” Aristote gọi nó là “suy tưởng của suy tưởng” (Aristote appelait la pensée de la pensé)°)
Sau khi thiết định logic là mô thức cao nhất của tư tưởng, Aristote cho rằng ngôn ngữ đã dịnh danh hữu thể, và đưa hữu thể vào vòng nguyên lý của suy lý logic Như vậy logic không phải chỉ là mô thức suông chỉ chứa ngôn ngữ không nội dung, mà logic dẫn tư duy đến hữu thẻ và chân lý Ông nói: “Hữu thể bao hàm nhiễu chấp thuận, nhưng trong môi chấp thuận mọi định danh tự tạo thành trong quan hệ vào một nguyên ly duy nhấp?) Đến đây, logic, chiếc chìa khóa chân lý của chúng ta đã mở ra khá rõ Để khắng định điều
hệ trọng đó, triệt gia Peirce cho rang: “Logic la học thuyết cua chân ly, tinh chat chan ly
va phuong phap phat hién chan by That 1a mét ton vinh hết cỡ với logic:
1 Logic không chỉ là học thuyết của chân lý mà còn là:
2 Logic là tính chất của chân lý Như vậy, logic như một câu thành của tư duy tham gia trực tiếp như một song hành - song sinh cùng chân lý Nói đễ hiểu, mọi chân lý đều có hai mặt: khách thê và chủ thể Logic chính là chủ thể của chân lý Chưa hết:
3 Logic là phương pháp phát hiện chân lý Với triết gia Kant, thì: “Logic là giáo luận là một hòa hợp của những nguyên tắc, để phục vụ một phản đoán dựa trên sự sử dụng thường nghiệm của những quan niệm”?
Theo Kant thì, nếu không có logic làm giáo luật kết hợp những khái niệm vào trong chuỗi của một nguyên tắc hòa hợp, thì con người không thé phan doan Tu duy chung ta co thé
có khái niệm về dòng suối, con sông và biến cả, nhưng nếu nó không biết xâu chuỗi mọi thứ đó vào trong nguyên lý”nước chảy chỗ trũng” thì không thể suy lý: mọi dòng suối đều chảy về biến cả
Chính xem xét sự phát triển trong tính tất yếu của quy luật, ma Hegel dinh nghia rang:
“Logic, su phat trién của tư duy trong cai tinh tat yéu cia no’ hay: “Khoa hoc logic, la siêu hình học chân chính hay là triệt học thuan túy tự biện 410)
Hai định nghĩa trên, là cách Lênin lĩnh hội và ghi chép trong cuốn “Bứ ký triết học ” của mình Trong sách “Bách khoa các khoa học triết học ”, Mat-xcơ-va xuất ban 1974 (tập 1,
tr 107), có dẫn định nghĩa của Hegcel về logic là: “Logic là khoa học của tw duy và những quy luật của nó” Còn trong cuỗn “Những nhà triết học lớn của phương Tay” (Les Grands Philosophes de 1’Occident), F Tomlin cho rang: “Khoa hoc cua ly tri - chi cé né
là khoa học phổ quát, và Hegel cho nó một cải tên: đó là logic” (la science de la raison est done la seul science universelle, et Hegel lui donne un nom: c’est la logique) (tr 221)
Theo đó thì Hegel coi: Logic vừa là khoa học của lý trí, vừa là khoa học phô quát, nghĩa
là Logic chính là con đường công lý nhất để đi tới chân lý Để khép lại, phần định nghĩa
về logic, tôi xin dẫn ra những nghiên cứu của triết gia Morfaux trong cuốn “Nhận thức và
ly tri’ (La connaissance et la raison): “Logic va toan hoc tham gia vao linh vuc khoa hoc hình thức Cả hai là mô thức đối thoại, có nghĩa những mô thức của tư duy tuân thủ một hòa hợp của những nguyên tắc cấu thành, theo đó sự phát triển theo sau, để tiếp diễn một cách chắc chăn, những quy trình chữ viết biểu tượng nào đó vận động với những kỷ hiệu
Trang 3trong ý nghĩa và trong những nguyên tắc sử dụng xác định đây nghiêm ngặt Chúng và những khoa học hình thức - người ta nói thường xuyên là những ngôn ngữ hình thức - trong đó chúng thể hiện những yêu câu “hình thức ” - có nghĩa hình thành trung nguyên lý không mâu thuân từ bên trong (non confradiction intern) (tr 113)
Va:
“Logic là khoa học của “logos” nhưng trong đó không mang ÿ nghĩa là ngôn ngữ thường ngày: nó là khoa học của những yêu câu của “logos”, cái là tư duy trật tự và liên quan (logos = tính toán, đối thoại, lý trí) Logic không phải là ngữ pháp, cũng chẳng phải là ngôn ngữ” (tr 113)
II - Những phương pháp của Logic
1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trước khi Aristote hệ thống hóa và phát minh làm đầy thêm khoa học về luận lý, các triết gia Hy Lạp, đặc biệt với Socrate và Platon cũng đã bàn và sử dụng những phương pháp logic Có the nói phương pháp “phân tích và tông hợp” là con đẻ sớm nhất của logic Platon cho rang: “Cé hai phương pháp trong biện chứng pháp: chia cắt và nhóm hop cung nhau” (Platon distinguished two methods in dialectic: division and bringing
together)"
Chia cat - đó là nghĩa đen của phép phân tích Và nhóm hợp cùng nhau - là nghĩa đen của phép tông hợp Từ hai biện pháp chính này, phân nào, theo đó cũng sản sinh ra:
1 Phân tích - tiến đến phép diễn địch Đi từ cái chung đến cái riêng
2 Tông hợp - tiên đên phép quy nạp ĐI từ nhiêu cái riêng đên cái chung
Đề nắm rõ hai phép cơ bản này, chúng ta hãy nghe Saint Thomas khẳng định: “Trí năng con người là suy lý, đầu tiên nó tóm bắt yếu tính của vật thể, sau đó nó tìm hiểu những đặc thù phản ánh yếu tính đó, vậy thì nó bó buộc phải kết hợp và chia cắt, và nó là cái
thiết lập nên lý tính” 82
2 Luật Đông nhất (Le principe d identit€)
Luật đồng nhất, chúng ta đã bàn ở chương III (phần II, mục II) Nay để mang tính hệ thong, ching ta hãy rà soát lại Có ba bước:
1 Đồng nhất hình thức: A là A
Dong nhat toan hoc: A= A
2 Nguyên ly trai nguge (Le principe de contradiction): Cai khéng phai la A thi 1a cai khác - tức B
Trang 43 Nguyên lý khử tam (fiers exclu): Một là A, hai không là A thì là B, không thể có cái thứ ba vừa là A lẫn B
Triết gia Kant bàn về tiêu chuẩn logic của phi mâu thuẫn bên trong như cái gì đó là tiêu chuân tương xứng của một” thực tại không chân” Ong rât chú trọng vào luật đồng nhât, như Morfaux diễn tả: “Kant rât tập trung vào những nguyên tắc cô điện của logic - gọi là hình thức, nguyên tác đồng nhất (identifé) và mâu thuần (contradiction) nguyén tac loại trừ cái thứ ba (tIers excÌu)
3 Tam đoạn luận (syllogisme)
a Phép diễn dịch (deductive)
Diễn địch là phép suy luận từ cái Chung đến cái Riêng
Diễn dịch hình thức:
1 Tất cả mọi người đều phải chết (đại tiền đè)
2 Thê mà Socrate là một người (Tiêu tiên đề)
3 Vậy thì Socrate cũng phải chết (kết luận)
Kết luận chỉ đúng khi cả hai tiền đề trên buộc phải đúng
Diễn dịch toán học
A=B
B=C
A=C
b Phép quy nap (inductive)
Là phương pháp suy luận đi từ kết luận đặc thù tới nguyên lý Tổng quát Hoặc:
Là suy luận tiến từ các trường hợp Riêng đẻ ra định luật Chung
4 Phép loại suy (analogy)
Loại suy là phương pháp suy luận dựa trên tính tương đồng của các vật thể hay sự việc ở chương III, chúng ta đã bàn đên phép loại suy của ArIstote Ong đã chỉ ra ba thuộc tính của
Phép loại suy:
1- Déng nghia - univocal
2- Di nghia - equivocal
3- Ca dong nghia ca di nghia
Trang 5Giờ xin được bàn phép loại suy kỹ hơn cùng các triết gia khác Cajetan cho răng có ba cách thức căn bản của phép loại suy, những cách thức này dựa trên sự phân loai cua Saint Thomas:
1 Phép loại suy chỉ đựa trên hữu thể mà không dựa vào định hướng (còn gọi là phép loại suy không tương xứng, hay phép loại suy về chủng loại (genus)
2 Phép loại suy chỉ đựa vào định hướng mà không đựa vào hữu thể (còn gọi là phép loại suy chỉ định)
3 Phép loại suy dựa trên cả hữu thể và định hướng (đây là phép loại suy quan trọng nhất cho môn siêu hình học, nó là phép loại suy tương xứng) #*
Trên cơ sở của Saint Thomas, Cajetan đã sắp đặt lại trật tự cho phép loại suy của mình, theo ông, phép loại suy có ba câp độ sau:
1- Chi định - attributive
2- Chỉ du - metaphorical
3- Tuong ximg - propotional“”
Theo trật tự đó, khi người ta suy luận về bất cứ sự vật nào, mở đầu người ta thường chỉ
định cho nó một thuộc tính chung nào đó, sau đó người †a tiễn từ xa đến gần bằng tất cả những chỉ dụ có thuộc tính gần với chỉ định Cuối cùng người ta tiễn đến kết luận tương xứng giữa ý thức và vật thể
Quan niệm về phương pháp logic của Kant
Quan niệm: “Logic có lẽ là nên nhận diện theo hai dạng thức: logic thực hành nhận thức phổ quát, và logic thực hành luật tắc cân thiết tuyệt đối trong tư duy, không có những luật tặc này thì không có sự thực hành khả dĩ nào của nhận thức, và tóm lại, logic này nhận diện một cách độc lập những sự khác biệt của vật thể nhờ đó nó có thể ap dung Logic thực hành chuyên biệt của nhận thức bao gom những luật tắc phục vụ viéc suy tu chính xác về một chủng loại nhất định cia vat thé’
Từ quan niệm của Kant, chúng ta có thể tóm tắt lại:
1 Logic thực hành nhận thức phố quát (Logique de l?usage de l°entendement en général): Là phương pháp đuy niệm tuyệt đối, độc lập trước mọi Làm nền móng cho .thực hành)
2 Logic thực hành chuyên biệt (logique de son usage particulier): la phuong phap di sâu vào các chuyên ngành
Vô cùng hệ trọng, Kant đã thiết lập bảng:
Chức năng Logic của nhận thức trong những phán đoán (De la fonction logique de l’entendement dans les jugements)
1 Lượng tính của những phán đoán (Quantité des ]ugemenfs)
Trang 6Toàn thê (universels)
Đặc thù (particulier)
3 Riêng rẽ (singulier)
2 Pham tinh (quanlité)
4 Khang dinh (affirmatifs)
5 Phu định (négatifS)
6 Không xac dinh (indéfinis)
3 Tương quan (relation)
7 Chủng loại (catégoriques)
8 Gia thuyét (hypothétiques)
9 Ly gian (disjonctifs)
4 Hinh thai (modalité)
10 Hé nghi (prollématique)
11 Xác nhận (assertorique)
12 Khang dinh (apodictique)"”
Vé logic, Kant cho rang: “Ménh dé nghi van chi là cái bày tỏ một khả tính logic, nó không chứa một yêu tô khách quan nảo ” Điêu đó, có nghĩa Kant muôn thiết lập một phương pháp logIc duy niệm thuần túy
Các bộ ba phép biện chứng của Hegcl:
A Bộ ba thứ nhất
1 Dé tai (thesis): Ý tưởng (the idea)
2 Phan dé (antithesis): Ty nhiên (nature)
3 Tong dé (synthesis): Tri nang hay tinh than (Mind or spirit)
B Bộ ba khác (another triad)
1 Đề tài (thesis): Hữu thể (being)
2 Phản để (antithesis): Không có gì (phi hữu) (nothing)
3 Tổng đề (synfhesis): Trở thành (becoming) #8)
Qua hai bộ ba phép biện chứng của Hegel, có thể nói: đó là phép biện chứng toàn thé, hay nói chính xác hơn đó là phép” biện chứng quá trình” Nhìn vào bộ ba thứ hai, thấy, khác hắn các triết gia trước, coi hữu thể như đang là hữu thê, Hegel khac hắn, đã nhìn nhận
hữu thể như là quá trình về nó thăng trầm qua các chặng
Trang 71 Hữu thể đang là hữu thể
2 Hữu thê vận động không còn 1a hitu the (nothing)
3 Hữu thê sau quá trình vận động đã trở thành
Chính về quan niệm trở thành của hữu thể, mà Hegel cho rằng: “mọi chân lý đều đang trở thành”
Nhìn vào bộ ba thứ nhất, chúng ta có thể đưa ra thí dụ:
1- Đề tài, ý tưởng về một nụ bông
2- Phản đề, tự nhiên, nụ đã nở thành hoa và trở thành phản đề
3- Tổng đè, trí năng, xâu chuỗi tất cả mọi giai đoạn và thấy nụ trở thành quả
Nguon : chungta.com