ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN CẢNH HIẾU NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRI ỂN LOÀI TRE MAI XANH ( Dendrocalamus latiflorus) LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI LUẬN[.]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN CẢNH HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN CẢNH HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: LÂM NGHIỆP
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HUY SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong các công trình khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Cảnh Hiếu
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo Chương trình Đào tạo sau đại học khoá 21 giai đoạn 2013 - 2015 tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên Trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sỹ, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cán bộ công nhân viên chức và nhân dân địa phương nơi nghiên cứu, cơ quan đơn vị nơi tôi công tác Đặc biệt là được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Huy Sơn
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp
đỡ đó
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi đã hết sức cố gắng nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian điều tra thực địa ngắn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại nhất định Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và đồng nghiệp
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Cảnh Hiếu
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình trồng tre lấy măng ở trong nước 14
1.1.3 Tình hình trồng tre lấy măng ở tỉnh Yên Bái 24
1.1.4 Thảo luận 24
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 25
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, KT - XH của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.2.1 Thực trạng tình hình trồng tre lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 36
2.2.2 Thực trạng vấn đề khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng ở huyện Trấn Yên 36
Trang 6iv
2.2.3 Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình điển hình 36
2.2.4 Ảnh hưởng của các chính sách đến thực trạng phát triển tre lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 37
2.2.5 Đề xuất các giải pháp phát triển tre măng ở huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận 37
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 38
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Thực trạng trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 41
3.1.1 Về chủ trương trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên 41
3.1.2 Thực trạng diện tích đã trồng, đặc điểm khí hậu, đất đai 43
3.1.3 Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng 45
3.1.4 Thực trạng về năng suất măng 49
3.2 Thực trạng khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng ở huyện Trấn Yên 51
3.2.1 Thực trạng về kỹ thuật khai thác măng 51
3.2.2 Kỹ thuật sơ chế và chế biến măng 53
3.2.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm măng 55
3.3 Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình điển hình 57
3.3.1 Đặc điểm mô hình 57
3.3.2 Năng suất măng hiện tại và một vài năm gần đây 59
3.3.3 Suất đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc cho năm thứ hai và năm thứ ba cho 01 ha tre Mai xanh 60
3.3.4 Hiệu quả kinh tế của mô hình 61
3.4 Ảnh hưởng của các chính sách và chủ trương đến sự phát triển tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên 64
3.4.1 Ảnh hưởng của chính sách giao đất, khoán rừng 64
Trang 7v
3.4.2 Ảnh hưởng của chính sách tín dụng ưu đãi 65
3.4.3 Ảnh hưởng của chính sách về thuế 66
3.4.4 Ảnh hưởng của mối liên kết bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp 66
3.4.5 Ảnh hưởng của các chính sách đầu tư, hỗ trợ khác có liên quan 66
3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển tre măng tại huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái 71
3.5.1 Quan điểm về đề xuất các giải pháp 71
3.5.2 Đề xuất các giải pháp phát triển 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHẦN PHỤ LỤC 86
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trấn Yên qua 3 năm 2012,
2013, 2014 31
Bảng 1.2 Thành phần dân tộc, số hộ và nhân khẩu huyện Trấn Yên 32
Bảng 2.1 Cơ cấu hộ điều tra tại xã Kiên Thành, Tân Đồng và Hồng Ca 39
Bảng 3.1 Phạm vi, quy mô thực hiện chương trình tre măng Mai xanh 42
Bảng 3.2 Số xã và diện tích trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 43
Bảng 3.3 Số hộ tham gia trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 44
Bảng 3.4 Năng suất và sản lượng măng từ năm 2003 đến năm 2014 50
Bảng 3.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm măng tre Mai xanh 56
Bảng 3.6 Giá thu mua măng tre Mai xanh của Công ty TNHH Vạn Đạt 56
Bảng 3.7 Những kỹ thuật đã được áp dụng của 03 mô hình 58
Bảng 3.8 Năng suất măng của 03 mô hình 59
Bảng 3.9 Suất đầu tư ban đầu cho 01 ha trồng mới tre Mai xanh 60
Bảng 3.10 Kết quả và hiệu quả sản xuất tre Mai xanh kinh doanh tính trên 1 ha trong năm 2014 62
Bảng 3.11 Những lợi ích người dân được hưởng trong liên kết với Công ty TNHH Vạn Đạt sản xuất tre Mai xanh 63
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Giao giống tre Mai xanh cho nông dân 46
Hình 3.2 Tre Mai xanh mới trồng 47
Hình 3.3 Bón phân cho tre Mai xanh 48
Hình 3.4 Khai thác măng tre Mai xanh 52
Hình 3.5 Luộc ống măng tre Mai xanh 54
Hình 3.6 Luộc phần ngọn tre Mai xanh 54
Hình 3.1 Mối quan hệ ảnh hưởng giữa các tác nhân tham gia chương trình tre măng Mai xanh huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 68
Hình 3.2 Sơ đồ VENN 69
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các loài tre trúc nói chung thuộc họ phụ tre (Bambusoideae), họ hòa thảo
(Poaceae), là loại lâm sản quan trọng đứng thứ 2 sau gỗ, phân bố trong một số trạng
thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng rộng rãi
ở khá nhiều nơi Ngày nay người ta đã thống kê được tre trúc có hơn 30 công dụng, trong đó chủ yếu làm nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, chế biến giấy, sợi và làm thực phẩm Măng tre trúc nói chung từ lâu đã trở thành nguồn thực phẩm ưa dùng của người dân Việt Nam nhất là những người dân miền núi Măng là thực phẩm có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao, trong măng có đầy đủ các chất như protein, gluxit, muối khoáng, vitamin Lượng chất béo trong măng thấp nên rất phù hợp với những người có chế độ cần ăn ít lipit Ngày nay măng được sử dụng như một loại thực phẩm sạch của thiên nhiên Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn măng, Việt Nam ước tính tiêu thụ khoảng 500.000 tấn măng tươi các loại mỗi năm Nguồn thực phẩm sạch này chủ yếu do người dân vào rừng thu hái đem về bán làm ảnh hưởng rất lớn đến diện tích
và trữ lượng rừng
Năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Khuyến nông và Khuyến lâm cho nhập nhiều giống tre lấy măng có giá trị xuất khẩu từ Đài Loan và Trung Quốc như tre Lục trúc, tre Điềm trúc, Mạnh tông, Tạp giao, tre Bát độ và đã triển khai xây dựng một số mô hình trồng tre ngọt chuyên lấy măng ở nhiều địa phương trên cả nước Trong những năm gần đây trồng tre lấy măng đã bắt đầu phát triển ở nhiều vùng trong cả nước và đã cho thấy việc trồng tre lấy măng có tác dụng nhiều mặt Theo thống kê, hiện nay, cả nước có 34 tỉnh, thành xây dựng mô hình trồng và phát triển tre măng Tổng diện tích tre măng đạt khoảng 4.070 ha Trong
đó tre Mai xanh lấy măng là giống tre bản địa chuyên trồng để lấy măng làm thực phẩm, là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Hiện nay các nhà khoa học đã xác định các giống tre măng nhập nội như: Bát độ, Điềm trúc, tre Tầu đều cùng là một loài với tre Mai xanh của Việt Nam [20] Măng tre Mai xanh ngoài tác dụng để ăn
Trang 122
tươi còn dùng để chế biến đồ hộp, đóng túi, làm măng chua, sấy khô dạng lát, dạng sợi để xuất khẩu được thị trường ưa chuộng Hiện nay, ở một số nước châu Á măng tre Mai xanh đã trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu
Tỉnh Yên Bái đã trồng khảo nghiệm loại tre Mai xanh lấy măng với các tên nhập nội như Bát độ, Điềm trúc, kết quả cho thấy loại tre này phát triển tốt và phù hợp tại Yên Bái Cây phát triển nhanh cho năng suất măng cao, thời gian cho sản phẩm dài hơn các loài tre măng khác ở địa phương, chất lượng măng ngon và có giá trị xuất khẩu Để đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, tăng thu nhập cho người lao động, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã quyết định cho phát triển vùng trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên
Huyện Trấn Yên là một huyện miền núi của tỉnh Yên Bái, đã có những hướng
đi đúng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cùng với những cây trồng chính như lúa, chè, dâu tằm, cây tre Mai xanh lấy măng đã và đang phát huy hiệu quả giúp nhân dân các dân tộc huyện miền núi Trấn Yên đạt được những thành quả nhất định
Chương trình trồng tre Mai xanh lấy măng - một chương trình kinh tế trọng điểm đã phát huy hiệu quả góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn miền núi các xã vùng sâu, vùng xa của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
Thành công trong gây trồng cây tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là do đâu? Cây tre Mai xanh lấy măng đã có đóng góp gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương? Trong quá trình thực hiện gây trồng cây tre Mai xanh lấy măng có những thuận lợi và khó khăn gì? Cần có những giải pháp nào nhằm phát triển bền vững cây tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên
Bái? Xuất phát từ những vấn đề trên, việc “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển loài tre Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus) lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xác định được các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái ở địa phương, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân
Trang 133
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng các mô hình trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Bao gồm cả quy mô về diện tích, kỹ thuật, năng suất, sơ chế, chế biến và thị trường tiêu thụ các sản phẩm
- Đề xuất các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp tại huyện Trấn Yên và các huyện khác có điều kiện tự nhiên tương tự tại tỉnh Yên Bái
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các số liệu khoa học về thực trạng gây trồng loài tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, góp phần bổ sung thông tin về việc phát triển đa dạng các loài cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn
- Ý nghĩa thực tiễn: Là tư liệu tham khảo cho địa phương nhằm định hướng phát triển loài tre Mai xanh lấy măng bền vững tại huyện Trấn Yên nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân địa phương
Trang 144
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới
1.1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và sử dụng măng
Trung Quốc là quốc gia rất giàu tiềm năng về tre, tre lấy măng ở Trung Quốc
có trên 50 loài nhưng chỉ có khoảng 30 loài chính như: Phyllostachys edulis, Ph
praecox, Ph vivax, Ph iridenscens, Dendrocalamus latiflorus, D oldhamii, D giganteus, D beecheynus var pubescens Diện tích trồng tre chuyên lấy măng có
khoảng 100.000 ha với năng suất bình quân từ 10 - 20 tấn/ha/năm Năng suất măng
ở một số nơi có thể lên tới 30 - 35 tấn/ha/năm Ngoài ra, Trung Quốc còn có khoảng trên 3 triệu hecta trồng tre để sản xuất thân tre kết hợp với thu hoạch măng [22]
Thái Lan cũng là nước sản xuất măng tre lớn trên thế giới Với một số loài
măng như Dendrocalamus asper (Pai Tong), D brandisii (Pai Bongyai), D strictus (Pai sang doi), Bambltsa blumenana (Pai Seesuk), Thyrsostachys siamensis (Pai Ruak), T oliveni (Pai Ruakdum) và Gigantochloa albociliata (Pai Rai) Trong số
đó, loài D asper (Mạnh tông) là chủ lực trồng để sản xuất măng Năm 1994, giống
tre Mạnh tông được trồng ở 67 trong tổng số 76 tỉnh của Thái Lan, với diện tích 424.169 rai Trong giai đoạn 1996 đến 1997, Thái Lan đã xuất khẩu măng Mạnh tông với tổng giá trị trên 1 nghìn triệu Bath [22]
Đài Loan có ít nhất 9.000 ha tre măng Bát độ và Điềm trúc Hằng năm, Đài Loan xuất khẩu trên 40.000 tấn măng ra thị trường thế giới [22]
Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác cũng là những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu [22]
Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối Sản phẩm măng hộp đã có mặt ở hầu như trên khắp thị trường thế giới Một tỉnh ở Thái Lan chế biến khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40.000 tấn/năm
Trang 151.1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống
- Giâm hom cành
Nghiên cứu về giâm hom tre từ cành đã được nhiều công trình đề cập đến với các kỹ thuật khác nhau và cũng đã đạt được thành công lớn trong công tác trồng rừng tre trên thế giới, đáp ứng được một phần nhu cầu về giống hiện nay Có thể kể đến một số công trình điển hình như sau:
A.N Rao và V Ramanatha (2000) [31] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp hiệu quả với hầu hết các loại tre Nhân giống bằng giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp tốt cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang Tác giả đã nhận định các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm Khả năng ra rễ của các loài rất khác nhau
và phụ thuộc vào kích thước của đoạn hom và độ dày của vách Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng nhiều hơn trong đoạn giâm hom
Tác giả cho rằng loài Bambusa vulgaris có thể nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn
như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ, sau đó được cho vào túi bầu polyetylen thích hợp bao gồm đất tầng A trộn với xơ dừa vụn theo tỷ lệ 1:5 Tưới nước thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cấy hom vào túi bầu, khả năng ra chồi
và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian từ 2-4 tuần sau đó
Nghiên cứu của Trung tâm tre trúc Trung Quốc (2008) [34] về giâm hom tre cho thấy sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng
Trang 3626
cho việc trồng cây lương thực và cây công nghiệp Các xã nằm dưới chân núi Con Voi, núi Pú Luông có địa hình phức tạp, chia cắt, núi đồi xen lẫn với thung lũng sâu, có độ dốc lớn nên khó khăn cho đi lại và giao lưu kinh tế, song có điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề rừng và chăn nuôi đại gia súc
- Thổ nhưỡng đất đai
Theo kết quả điều tra năm 1998, huyện Trấn Yên có tổng diện tích tự nhiên 62.857.99 ha, có thể phân chia theo quá trình hình thành và độ dốc, như sau:
Phân theo quá trình hình thành gồm:
+ Nhóm đất phù sa: Có diện tích 1.131,4 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên toàn huyện, thành phần cơ giới cát pha, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu, phân bổ chủ yếu ở 2 bên bờ sông Hồng
+ Nhóm đất glây: Có diện tích 1.351,47 ha, chiếm 2,15% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, thành phần cơ giới thịt nặng, thịt trung bình, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất cao thích hợp trồng lúa nước Nhóm đất Glây phân bổ chủ yếu ở những khu vự có địa hình thấp, trũng như ở xã Minh Quân, ở các thung lũng nằm rải rác ở các xã
+ Nhóm đất feralit đỏ vàng: Có diện tích 58.263,05 ha, chiếm 92,69% diện tích tự nhiên toàn huyện, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thấp, thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, trồng rừng sản xuất Nhóm đất Xám phân bổ
ở tất cả các xã, tập trung nhiều nhất ở các xã: Hồng Ca, Kiên Thành, Lương Thịnh, Việt Cường, Việt Hồng, Y Can, Tân Đồng, Hưng Khánh, Hưng Thịnh
+ Nhóm đất tầng mỏng: Có diện tích 81,11 ha, chiếm 0,13% diện tích tự nhiên toàn huyện
+ Nhóm đất sông, suối, hồ, mặt nước chuyên dùng chiếm 3,2% diện tích toàn huyện
+ Núi đá: có diện tích 20,74 ha, chiếm 0,03% diện tích tự nhiên toàn huyện Phân Theo độ dốc
+ Độ dốc từ 0-8 độ: Có diện tích 4.126,90 ha, chiếm 6,57% diện tích tự nhiên toàn huyện, chủ yếu là đất phù sa, đất glây và 1 phần diện tích đất xám, hàm
Trang 37+ Độ dốc trên 15 độ: Có diện tích 57.630,68 ha, chiếm 91,68% diện tích toàn huyện, chủ yếu là đất xám, thành phần cơ giới của đất thấp, thích hợp trồng cây lấy gỗ
Phân theo mục đích sử dụng
+ Đất nông lâm nghiệp 57.668,20 ha, chiếm 91,74 % diện tích tự nhiên, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 10.134,68 ha; đất lâm nghiệp 47.274.73 ha; đất nuôi trồng thủy sản 258,78 ha
+ Đất phi nông nghiệp 5.170, 22 ha, chiếm 8,23% diện tích tự nhiên, trong đó: Đất ở 596,59 ha; đất chuyên dùng 2.622.72 ha; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng 8,12 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 77,70 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.864,10 ha; đất phi nông nghiệp khác 1,0 ha
+ Đất chưa sử dụng: 19,57 ha, chiếm 0,03 % ha diện tích tự nhiên
- Khí hậu, thủy văn
Trấn Yên mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu vùng trung du miền núi phía Bắc, là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ 23,1°-23,9°, nhiệt
độ cao nhất trong năm 38,9°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 3,3°C Độ ẩm trung bình năm 84%-87%, lượng bốc hơi nước trung bình 630mm/năm Lượng mưa các tháng trong năm từ 1.400mm - 2.054,6mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn
bộ lãnh thổ của huyện Do ảnh hưởng của dãy núi Con Voi; núi Pú Luông; và dải núi phụ Xuân Tầm (Trái Hút - Văn Yên) nên lượng mưa phân bố không đều trong năm; mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% lượng mưa cả năm; các tháng mưa nhiều là tháng 7, 8, 9 mùa Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm, các tháng ít mưa là tháng 11, 12, 1, 2, có
Trang 3828
tháng hầu như không mưa Tổng số giờ nắng các tháng trong năm dao động từ 1.199 giờ đến 1.338 giờ, trong đó mùa hè và mùa thu có số giờ nắng chiếm 70% số giờ nắng trong năm Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Mùa Đông: Hướng gió chính là hướng Bắc - Đông Bắc; mùa Hạ: Hướng gió chính
là hướng Đông - Đông Nam Sương mù thường xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau Lượng bức xạ mặt trời đạt 200kg calo/cm², thời gian chiếu sáng trong ngày giao động từ 10-13,5 giờ, tổng nhiêt độ đạt mức 8.300ºC/năm
Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của sông Hồng chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy qua địa phận huyện với chiều dài 40km Trong nội đồng có Khe Đát, Khe Sâu, Khe Thẹt … Ngoài ra, trên địa bàn mỗi xã còn có hệ thống kênh tưới, tiêu phục vụ sản xuất cho nhân dân Trấn Yên là huyện thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, các sông, suối của huyện có đặc điểm ngắn, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn Nhất là vào mùa mưa lượng nước chảy dồn từ các sườn núi xuống, nước sông lên nhanh gây ngập lụt trên diện rộng Bên cạnh đó mùa khô mực nước sông xuống thấp, nguồn nước tại các mỏ nước cạn kiệt ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên nước: Trấn Yên có hệ thống sông, suối, ao, hồ khá phong phú, trong đó: nguồn nước sông Hồng có diện tích lưu vực gần 600 km², lưu lượng nước 1.500- 5.000 m³/s Ngoài sông Hồng huyện còn 2.334,34 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, đây cũng là nguồn dự trữ và cung cấp nước cho mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Huyện nằm trong vùng chứa nước đệ tam,
đệ tứ nhưng lưu lượng nhỏ 0,11m³/g, độ khoáng hóa 190mg/lít, độ cứng 3 - 4mg/lít,
độ PH từ 7 - 8 Nhìn chung nguồn nước ngầm có chất lượng tương đối tốt nên cần khai thác phục vụ nhu cầu tại chỗ của nhân dân Lượng mưa bình quân hàng năm lớn (1.400-2.054,6 mm) nhưng phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 tới 80% lượng mưa cả năm Do vậy, mùa mưa thường gây ra úng lụt, mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt
+ Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê đất đai ngày 01 tháng 08 năm 2014 huyện có 47.274,73 ha đất lâm nghiệp, chiếm 75,21 % tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 3929
của huyện, trong đó: Rừng sản xuất có diện tích 38.576,94 ha chủ yếu là quế, tre bát
độ, keo, bồ đề Rừng phòng hộ có diện tích 8.697,79 ha chủ yếu phân bổ ở khu vực có độ dốc trên 25º, không thuận tiện đi lại Trồng rừng phòng hộ của Trấn Yên trong những năm qua đã được bảo vệ nghiêm ngặt, công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ đã phát huy được hiệu quả, hạn chế rất nhiều tình trạng cháy rừng, làm tăng độ che phủ, ổn định cân bằng môi trường sinh thái Với tiềm năng lớn về rừng, đất rừng, cùng với các chủ trương chính sách hợp lý của tỉnh, huyện về đẩy mạnh phát triển vốn rừng sẽ mở ra cho huyện nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản
+ Tài nguyên khoáng sản: Theo đánh giá của Quy hoạch phân vùng hoạt động khoáng sản tỉnh Yên Bái đến năm 2010 và các tài liệu liên quan đến thăm dò khoáng sản của tỉnh, huyện Trấn Yên có các khoáng sản có giá trị kinh tế như: Quặng sắt phân bố ở xã Việt Hồng, Lương Thịnh, Hưng Thịnh, Hưng Khánh, Hồng
Ca, Kiên Thành với trữ lượng trên 91 triệu tấn, riêng mỏ quặng sắt ở xã Kiên Thành
có hàm lượng sắt trên 60% hiện đang được khai thác Đá thạch anh phân bố ở xã Hòa Cuông, Việt Hồng, Lương Thịnh, Kiên Thành, Y Can với trữ lượng trên 52.000 tấn, đảm bảo chất lượng cho sản xuất kính và sứ Mỏ cao lanh tại xã Cường Thịnh
có trữ lượng 150.000 tấn Mỏ sét ở xã Bảo Hưng, Y Can, Đào Thịnh … hiện đang được thăm dò nên chưa có kết quả đánh giá về trữ lượng và chất lượng Quặng Graphít phân bố ở xã Báo Đáp, Đào Thịnh, Nga Quán hiện đang được thăm dò nên chưa có kết quả đánh giá được trữ lượng và chất lượng Vật liệu xây dựng thông thường như: đá xây dựng, cát sỏi,… phân bố chủ yếu ở xã Minh Quán, Việt Cường, Việt Hồng, Kiên Thành với trữ lượng trên 1.000.000m³; cát, sỏi phục vụ nhu cầu xây dựng của nhân dân được phân bố dọc theo sông Hồng với trữ lượng ước tính 3.100.000m³ Tài nguyên khoáng sản của huyện Trấn Yên được đánh giá rất đa dạng, phân bổ đều trên địa lãnh thổ và đây cũng là một trong những tiềm năng thế mạnh của huyện
+ Tài nguyên nhân văn: Huyện Trấn Yên có 6 thành phần dân tộc anh em, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 66,5%; dân tộc Tày chiếm 20,5%; dân tộc Dao
Trang 4030
chiếm 8,4%; dân tộc Mường chiếm 2,3%; dân tộc Mông chiếm 1,9%, dân tộc khác chiếm 0,4% Cộng đồng các dân tộc trong huyện với những truyền thống, bản sắc riêng đã hình thành một nền văn hoá phong phú, có nhiều nét độc đáo và giầu bản sắc dân tộc
Trấn Yên là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng, nhân dân các dân tộc trong huyện có tinh thần đoàn kết yêu quê hương,
có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên
Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế
xã hội, trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế; là thuận lợi để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện vững bước đi lên trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng huyện giàu, đẹp, văn minh
1.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Hiện trạng sử dụng đất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp Vai trò của đất đai càng trở nên quan trọng hơn đối với những địa phương mà sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu như huyện Trấn Yên Vấn đề sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế của huyện Diện tích đất sản xuất nông lâm nghiệp huyện Trấn Yên đã khai thác đưa vào sử dụng là 58.183 ha, cơ bản là đúng mục đích, hiệu quả sử dụng đất ngày càng tăng nhưng chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng của đất đai Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái qua 3 năm từ 2012 đến 2014 thể hiện ở bảng sau: