NGUYỄN CẢNH HIẾU NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOÀI TRE MAI XANH Dendrocalamus latiflorus LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP THÁI NG
Trang 1NGUYỄN CẢNH HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2NGUYỄN CẢNH HIẾU
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: LÂM NGHIỆP
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HUY SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong các công trình khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Cảnh Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo Chương trình Đào tạo sau đại học khoá 21 giai đoạn 2013 - 2015 tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên Trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sỹ, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cán bộ công nhân viên chức và nhân dân địa phương nơi nghiên cứu, cơ quan đơn vị nơi tôi công tác Đặc biệt là được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Huy Sơn
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp
đỡ đó
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi đã hết sức cố gắng nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian điều tra thực địa ngắn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại nhất định Tác giả rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của thầy cô và đồng nghiệp
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Cảnh Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình trồng tre lấy măng ở trong nước 14
1.1.3 Tình hình trồng tre lấy măng ở tỉnh Yên Bái 24
1.1.4 Thảo luận 24
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 25
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, KT - XH của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.2.1 Thực trạng tình hình trồng tre lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 36
2.2.2 Thực trạng vấn đề khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng ở huyện Trấn Yên 36
Trang 62.2.3 Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình điển hình 36
2.2.4 Ảnh hưởng của các chính sách đến thực trạng phát triển tre lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 37
2.2.5 Đề xuất các giải pháp phát triển tre măng ở huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận 37
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 38
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Thực trạng trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 41
3.1.1 Về chủ trương trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên 41
3.1.2 Thực trạng diện tích đã trồng, đặc điểm khí hậu, đất đai 43
3.1.3 Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng 45
3.1.4 Thực trạng về năng suất măng 49
3.2 Thực trạng khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng ở huyện Trấn Yên 51
3.2.1 Thực trạng về kỹ thuật khai thác măng 51
3.2.2 Kỹ thuật sơ chế và chế biến măng 53
3.2.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm măng 55
3.3 Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình điển hình 57
3.3.1 Đặc điểm mô hình 57
3.3.2 Năng suất măng hiện tại và một vài năm gần đây 59
3.3.3 Suất đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc cho năm thứ hai và năm thứ ba cho 01 ha tre Mai xanh 60
3.3.4 Hiệu quả kinh tế của mô hình 61
3.4 Ảnh hưởng của các chính sách và chủ trương đến sự phát triển tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên 64
3.4.1 Ảnh hưởng của chính sách giao đất, khoán rừng 64
Trang 73.4.2 Ảnh hưởng của chính sách tín dụng ưu đãi 65
3.4.3 Ảnh hưởng của chính sách về thuế 66
3.4.4 Ảnh hưởng của mối liên kết bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp 66
3.4.5 Ảnh hưởng của các chính sách đầu tư, hỗ trợ khác có liên quan 66
3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển tre măng tại huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái 71
3.5.1 Quan điểm về đề xuất các giải pháp 71
3.5.2 Đề xuất các giải pháp phát triển 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHẦN PHỤ LỤC 86
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trấn Yên qua 3 năm 2012,
2013, 2014 31
Bảng 1.2 Thành phần dân tộc, số hộ và nhân khẩu huyện Trấn Yên 32
Bảng 2.1 Cơ cấu hộ điều tra tại xã Kiên Thành, Tân Đồng và Hồng Ca 39
Bảng 3.1 Phạm vi, quy mô thực hiện chương trình tre măng Mai xanh 42
Bảng 3.2 Số xã và diện tích trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 43
Bảng 3.3 Số hộ tham gia trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 44
Bảng 3.4 Năng suất và sản lượng măng từ năm 2003 đến năm 2014 50
Bảng 3.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm măng tre Mai xanh 56
Bảng 3.6 Giá thu mua măng tre Mai xanh của Công ty TNHH Vạn Đạt 56
Bảng 3.7 Những kỹ thuật đã được áp dụng của 03 mô hình 58
Bảng 3.8 Năng suất măng của 03 mô hình 59
Bảng 3.9 Suất đầu tư ban đầu cho 01 ha trồng mới tre Mai xanh 60
Bảng 3.10 Kết quả và hiệu quả sản xuất tre Mai xanh kinh doanh tính trên 1 ha trong năm 2014 62
Bảng 3.11 Những lợi ích người dân được hưởng trong liên kết với Công ty TNHH Vạn Đạt sản xuất tre Mai xanh 63
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Giao giống tre Mai xanh cho nông dân 46
Hình 3.2 Tre Mai xanh mới trồng 47
Hình 3.3 Bón phân cho tre Mai xanh 48
Hình 3.4 Khai thác măng tre Mai xanh 52
Hình 3.5 Luộc ống măng tre Mai xanh 54
Hình 3.6 Luộc phần ngọn tre Mai xanh 54
Hình 3.1 Mối quan hệ ảnh hưởng giữa các tác nhân tham gia chương trình tre măng Mai xanh huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 68
Hình 3.2 Sơ đồ VENN 69
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các loài tre trúc nói chung thuộc họ phụ tre (Bambusoideae), họ hòa thảo (Poaceae), là loại lâm sản quan trọng đứng thứ 2 sau gỗ, phân bố trong một số trạng
thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng rộng rãi
ở khá nhiều nơi Ngày nay người ta đã thống kê được tre trúc có hơn 30 công dụng,
trong đó chủ yếu làm nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, chế biến giấy, sợi và làm thực phẩm Măng tre trúc nói chung từ lâu đã trở thành nguồn thực phẩm ưa dùng của người dân Việt Nam nhất là những người dân miền núi Măng là thực phẩm có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao, trong măng có đầy đủ các chất như protein, gluxit, muối khoáng, vitamin Lượng chất béo trong măng thấp nên rất phù hợp với những người có chế độ cần ăn ít lipit Ngày nay măng được sử dụng như một loại thực phẩm sạch của thiên nhiên Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn măng, Việt Nam ước tính tiêu thụ khoảng 500.000 tấn măng tươi các loại mỗi năm Nguồn thực phẩm sạch này chủ yếu do người dân vào rừng thu hái đem về bán làm ảnh hưởng rất lớn đến diện tích
và trữ lượng rừng
Năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Khuyến nông và Khuyến lâm cho nhập nhiều giống tre lấy măng có giá trị xuất khẩu từ Đài Loan và Trung Quốc như tre Lục trúc, tre Điềm trúc, Mạnh tông, Tạp giao, tre Bát độ và đã triển khai xây dựng một số mô hình trồng tre ngọt chuyên lấy măng ở nhiều địa phương trên cả nước Trong những năm gần đây trồng tre lấy măng đã bắt đầu phát triển ở nhiều vùng trong cả nước và đã cho thấy việc trồng tre lấy măng có tác dụng nhiều mặt Theo thống kê, hiện nay, cả nước có 34 tỉnh, thành xây dựng mô hình trồng và phát triển tre măng Tổng diện tích tre măng đạt khoảng 4.070 ha Trong
đó tre Mai xanh lấy măng là giống tre bản địa chuyên trồng để lấy măng làm thực
phẩm, là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Hiện nay các nhà khoa học đã xác
định các giống tre măng nhập nội như: Bát độ, Điềm trúc, tre Tầu đều cùng là một
loài với tre Mai xanh của Việt Nam [20] Măng tre Mai xanh ngoài tác dụng để ăn
Trang 12tươi còn dùng để chế biến đồ hộp, đóng túi, làm măng chua, sấy khô dạng lát, dạng sợi để xuất khẩu được thị trường ưa chuộng Hiện nay, ở một số nước châu Á măng tre Mai xanh đã trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu
Tỉnh Yên Bái đã trồng khảo nghiệm loại tre Mai xanh lấy măng với các tên nhập nội như Bát độ, Điềm trúc, kết quả cho thấy loại tre này phát triển tốt và phù hợp tại Yên Bái Cây phát triển nhanh cho năng suất măng cao, thời gian cho sản phẩm dài hơn các loài tre măng khác ở địa phương, chất lượng măng ngon và có giá trị xuất khẩu Để đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, tăng thu nhập cho người lao
động, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã quyết định cho phát triển vùng trồng tre
Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên
Huyện Trấn Yên là một huyện miền núi của tỉnh Yên Bái, đã có những hướng
đi đúng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cùng với những cây trồng chính như lúa,
chè, dâu tằm, cây tre Mai xanh lấy măng đã và đang phát huy hiệu quả giúp nhân dân các dân tộc huyện miền núi Trấn Yên đạt được những thành quả nhất định
Chương trình trồng tre Mai xanh lấy măng - một chương trình kinh tế trọng
điểm đã phát huy hiệu quả góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn miền núi các xã
vùng sâu, vùng xa của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
Thành công trong gây trồng cây tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là do đâu? Cây tre Mai xanh lấy măng đã có đóng góp gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương? Trong quá trình thực hiện gây trồng cây tre Mai xanh lấy măng có những thuận lợi và khó khăn gì? Cần có những giải pháp nào nhằm phát triển bền vững cây tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên
Bái? Xuất phát từ những vấn đề trên, việc “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển loài tre Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus) lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xác định được các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái ở địa phương, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân
Trang 132.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng các mô hình trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Bao gồm cả quy mô về diện tích, kỹ thuật, năng suất, sơ chế, chế biến và thị trường tiêu thụ các sản phẩm
- Đề xuất các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp tại huyện Trấn Yên và các huyện khác có điều kiện tự nhiên tương tự tại tỉnh Yên Bái
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các số liệu khoa học về thực trạng gây trồng loài tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, góp phần bổ sung thông tin về việc phát triển đa dạng các loài cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn
- Ý nghĩa thực tiễn: Là tư liệu tham khảo cho địa phương nhằm định hướng phát triển loài tre Mai xanh lấy măng bền vững tại huyện Trấn Yên nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân địa phương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới
1.1.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và sử dụng măng
Trung Quốc là quốc gia rất giàu tiềm năng về tre, tre lấy măng ở Trung Quốc
có trên 50 loài nhưng chỉ có khoảng 30 loài chính như: Phyllostachys edulis, Ph praecox, Ph vivax, Ph iridenscens, Dendrocalamus latiflorus, D oldhamii, D giganteus, D beecheynus var pubescens Diện tích trồng tre chuyên lấy măng có
khoảng 100.000 ha với năng suất bình quân từ 10 - 20 tấn/ha/năm Năng suất măng
ở một số nơi có thể lên tới 30 - 35 tấn/ha/năm Ngoài ra, Trung Quốc còn có khoảng
trên 3 triệu hecta trồng tre để sản xuất thân tre kết hợp với thu hoạch măng [22]
Thái Lan cũng là nước sản xuất măng tre lớn trên thế giới Với một số loài
măng như Dendrocalamus asper (Pai Tong), D brandisii (Pai Bongyai), D strictus (Pai sang doi), Bambltsa blumenana (Pai Seesuk), Thyrsostachys siamensis (Pai Ruak), T oliveni (Pai Ruakdum) và Gigantochloa albociliata (Pai Rai) Trong số
đó, loài D asper (Mạnh tông) là chủ lực trồng để sản xuất măng Năm 1994, giống
tre Mạnh tông được trồng ở 67 trong tổng số 76 tỉnh của Thái Lan, với diện tích 424.169 rai Trong giai đoạn 1996 đến 1997, Thái Lan đã xuất khẩu măng Mạnh tông với tổng giá trị trên 1 nghìn triệu Bath [22]
Đài Loan có ít nhất 9.000 ha tre măng Bát độ và Điềm trúc Hằng năm, Đài
Loan xuất khẩu trên 40.000 tấn măng ra thị trường thế giới [22]
Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác cũng là những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu [22]
Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối Sản phẩm măng hộp đã có mặt ở hầu như trên khắp thị trường thế giới Một tỉnh ở Thái Lan chế biến khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40.000 tấn/năm
Trang 15Nhật Bản đưa ra thị trường khoảng 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu khoảng 100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc Đài Loan hàng năm xuất
sang Nhật Bản khoảng 40.000 tấn măng Bát độ Trung Quốc xuất khẩu khoảng 140.000 tấn măng Bát độ và lượng lớn măng Moso (Victor Cusack, 1997) [43]
Như vậy, sản phẩm măng tre ngày nay được rất nhiều nước trên thế giới biết
đến Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh vào việc gây trồng, kinh doanh măng
tre để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
1.1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống
- Giâm hom cành
Nghiên cứu về giâm hom tre từ cành đã được nhiều công trình đề cập đến với các kỹ thuật khác nhau và cũng đã đạt được thành công lớn trong công tác trồng rừng tre trên thế giới, đáp ứng được một phần nhu cầu về giống hiện nay Có thể kể
đến một số công trình điển hình như sau:
A.N Rao và V Ramanatha (2000) [31] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp hiệu quả với hầu hết các loại tre Nhân giống bằng giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp tốt cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang Tác giả đã nhận định các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm Khả năng ra rễ của các loài rất khác nhau
và phụ thuộc vào kích thước của đoạn hom và độ dày của vách Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng nhiều hơn trong đoạn giâm hom
Tác giả cho rằng loài Bambusa vulgaris có thể nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn
như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ, sau đó được cho vào túi bầu polyetylen thích hợp bao gồm đất tầng A trộn với xơ dừa vụn theo tỷ lệ 1:5 Tưới nước thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cấy hom vào túi bầu, khả năng ra chồi
và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian từ 2-4 tuần sau đó
Nghiên cứu của Trung tâm tre trúc Trung Quốc (2008) [34] về giâm hom tre cho thấy sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng
Trang 16cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10% Cành sử dụng giâm hom là cành của cây 01 năm tuổi, đoạn hom phải có từ 2 mắt sống trở lên, đường kính cành khoảng trên 01
cm, chiều dài cắt khoảng 30 cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, để lại 3-5 lá
Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng sự (2000) [38] về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3 đốt, hom nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên của hom nhô lên khỏi mặt đất Luống giâm được phủ bằng lá và tưới nước thường xuyên Tác giả cho rằng nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không gây tổn thương cho cây mẹ và khả năng ra măng của nó Thời vụ nhân giống có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 9 hằng năm, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng giâm hom
có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá thành Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao
Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [35] lại cho thấy thời vụ giâm hom vào mùa xuân (tháng 3-4) là tốt nhất, vì nhiệt độ
và độ ẩm tăng, thuận lợi cho hom nảy chồi và măng không mọc mùa này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom, vì vậy cho tỷ lệ sống cao Vào mùa thu măng đã lên cao, chất dinh dưỡng kém Nếu sử dụng cành trong thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp Giâm hom bằng cành nên chọn những cành chính tròn mập, mắt khỏe từ 3 năm tuổi, đường kính lớn hơn 1 cm ở lóng cành Khi giâm hom, hom cành được ngâm trong nước hoặc ở nơi râm mát Sau đó ngâm vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ Tạo rãnh sâu 30 cm, đặt hom cành cách nhau từ 15-18 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có
lá ở trên mặt đất Giẫm đất xung quanh chặt vừa phải và phủ rơm, tưới nước đủ ẩm, mật độ giâm hom là 120.000-150.000 cành/ ha
- Giâm hom thân
Victor Cusack (1997) [43] đã nghiên cứu sử dụng hom thân để nhân giống, kết quả cho thấy tỷ lệ thành công rất khác nhau giữa các loài tre, thời gian nhân giống tốt nhất vào mùa xuân Cây để làm hom là cây trưởng thành từ 2-3 năm tuổi, hom thân cắt từ 1,5-2 m, cắt bỏ tất cả các cành và lá, có thể để các cành dài và nhô
Trang 17ra khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3 tuần tiếp theo và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp Sau 4 tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ
sẽ phát triển tạo thân ngầm và măng mới Tác giả đã đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt
Một nghiên cứu khác của A.N Rao và V Ramanatha Rao (2000) [31], nghiên cứu về giâm hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả
để nhân giống các loài tre có vách dày và kích thước lớn (đường kính 8-12 cm)
như loài Bambusa blumeata Chọn cây mẹ làm hom thân 1 năm tuổi, cắt đoạn mỗi
hom từ 1 hoặc 2 đốt Hom cắm nghiêng với một góc 45 độ và độ sâu 20 cm trong môi trường ra rễ Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên Tưới nước đủ ẩm 2 lần/ ngày, chồi mới có thể mọc sau 2-4 tuần sau đó Thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được sử dụng trong 6-12 tháng trước khi ra ngôi
Fu Maoyi và các cộng tác viên (2000) [38] cũng đã nghiên cứu nhân giống
sử dụng các cây tre non sau khi kết thúc sinh trưởng về chiều cao, chặt phần ngọn
để kích thích sự phát triển của mắt, khi mắt đã phát triển đủ lớn thì ngả cây xuống
luống (rãnh) đã được chuẩn bị sẵn với độ sâu và độ rộng 10-15 cm có chứa hỗn hợp phân bón và đất Cây ngả được phủ đất với độ dày 2-3 cm và phủ tiếp một lớp cỏ khô, thường xuyên tưới nước và giữ ẩm cho đất Thời vụ ngả cây tốt nhất vào tháng 2-3, măng sẽ mọc vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi
đạt chiều cao khảng 120 cm là đủ tiêu chuẩn trồng rừng Phương pháp này được tác
giả khuyến cáo sử dụng cho các loài tre có kích thước trung bình
- Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô
Nhân giống bằng phương pháp nuôi cây mô cho các loài tre cũng đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới và đã đạt được những kết quả nhất định, có thể kể đến một số kết quả nghiên cứu về nuôi cấy mô như sau:
Nghiên cứu về nhân giống bằng nuôi cấy mô tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [33] đã giới thiệu một số loại môi trường và mô cấy thường
Trang 18được sử dụng như sau: Phần mô cắt của mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong
môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ sung với đường mía saccarozo 88µm, 6g thạch trắng/ lít, NAA (2,7; 5,4) và BA (2,2; 4,4; 8,8; 22) Phần
mô lá (1 cm2) từ măng non dưới đất được đặt trong môi trường MS bổ sung 2,4- dichlorophenoxyacetic acid (2,4D) (4,5; 13,5; 27; 40,5) và NAA (2,7) Phần mô phân sinh đỉnh cắt từ măng (0,1 cm) sử dụng mô trường MS+2,4D (0,45; 2,3; 4,5) + NAA (0,54; 2,7 hoặc 5,4) Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1
cm được nuôi trong tối và sáng trên môi trường MA+2,4D (11,3; 22,5) Phần hạt non với môi trường MS+BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4 hoặc 8,8) + NAA (2,7 hoặc 5,4) + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27)
Nghiên cứu tại Thái Lan về nuôi cấy mô cho hai loài tre Dendrocalamus membranaceus và D brandisii cho thấy cây con sau 4 tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu
chuẩn cấy ra môi trường ngoài và có khả năng sinh trưởng tốt trong vườn ươm Kết luận cũng cho thấy nhiều loài đã được phát triển bằng nuôi cấy mô và không có sự bất thường sau khi trồng 4-6 năm (Rungnapanr Pattanavibool, 1998) [41]
- Nhân giống bằng hom gốc
Nghiên cứu sử dụng giống gốc để trồng tre đã được một số tác giả đánh giá
có tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên cũng có nhiều mặt hạn chế như chi phí cao, số lượng giống hạn chế Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình như sau:
Theo Zhou Fangchun (2000) [44] cho rằng sử dụng giống gốc thích hợp cho
các cây giống như Bambusa, Dendrocalamus, Sinocalamus Chọn những cây mẹ
đánh gốc có ít rễ và cắt phần trên thân khí sinh chỉ để lại chiều dài khoảng 1 m Gốc được lựa chọn từ những cây khỏe mạnh, phát triển trung bình, 2 năm tuổi, không
sâu bệnh Khi đánh gốc, rễ và thân ngầm được giữ lại, cây được cắt để lại 5-6 cành
và để lại lá Giữ đất xung quanh gốc để bảo vệ chồi và rễ, nên được bọc bằng bầu rơm hoặc túi nhựa để giữ ẩm
Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [43] cho thấy nhân giống bằng hom gốc có thể đạt được tỷ lệ thành công 100% Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những
Trang 19loài tre có kích thước nhỏ, vì có thể sản xuất với quy mô lớn Trong phương pháp này giống gốc được cắt ở cổ thân ngầm nơi tiếp giáp với cây mẹ, gốc được đào bao gồm cả rễ và phần đất xung quanh, cụm gốc có khoảng 3-4 mắt nằm trong lớp đất, phần trên của thân được cắt để lại khoảng 3-4 đốt
A.N Rao và V Ramanatha Rao (2000) [31] cũng cho rằng nhân giống tre sử dụng hom gốc là một phương pháp tốt nhất, khả năng mọc mạnh nhất được thấy ở các gốc 1 năm tuổi Gốc được cắt ngắn với 2-3 đốt ở trên và bao gồm cả củ và rễ Phương pháp này thành công ở các loài tre vách dày, trồng tốt nhất vào mùa mưa Tác giả cũng cho thấy khoảng 3-7 mắt to của gốc cây mẹ 1 năm tuổi có xu hướng mọc đồng thời nhưng chỉ có 1 hoặc 2 mắt mọc hoàn chỉnh Đây là một hạn chế của phương pháp trồng thân củ, ngoài ra phương pháp này có chi phí quá đắt cho các vườn ươm quy mô lớn
- Nhân giống bằng hạt
Nhân giống bằng hạt cũng đã được thực hiện ở một số nước như Thái Lan, Trung Quốc Tuy nhiên, nhân giống bằng hạt có nhiều hạn chế do tre có chu kỳ ra hoa rất dài, trung bình 60-70 năm mới có một lần ra hoa, mặt khác nhiều loài cho hạt nhưng khả năng nảy mầm thấp hoặc bất thụ
Nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [34] cho thấy hạt tre được để ở trạng thái khô nhất định, nhưng mức độ ẩm của hạt phụ thuộc vào từng loài, lượng độ ẩm phần lớn được giữ ở giới hạn 5-12%, hạt được đóng trong túi vải hoặc túi đay và bảo quản lạnh Lưu giữ hạt không nên quá nửa năm, trong trường hợp cần lưu trữ lâu hơn có thể bảo quản ở điều kiện nhiệt độ từ 0-5oC khả năng nảy mầm của hạt giống có thể duy trì được trên 1 năm Xử lý hạt nằng cách rửa bằng nước sạch sau đó tuyệt trùng bằng 0,3% thuốc tím trong 2-3 giờ, sau
đó rửa lại lần nữa, hạt sau khi xử lý có thể đem gieo để nảy mầm Sau khi hạt này
mầm 10-15 ngày cần phải tưới 0,2-0,3% đạm
Nghiên cứu tại Thái Lan (Rungnapanr Pattanavibool, 1998) [41] cho thấy hạt tre nên được bảo quản ở độ ẩm 5-8% và bảo quản ở nhiệt độ dưới 5oC sẽ cho chất
Trang 20lượng bảo quản hạt tốt nhất Tuy nhiên, thời gian bảo quản tùy thuộc vào từng loài khác nhau Phương pháp xử lý hạt nảy mầm tốt nhất trong môi trường có độ ẩm từ 30-60%, nhiệt độ ở mức 23-35oC tùy theo loài
1.1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng tre lấy măng
Năm 1998 trong công trình “Bamboo Research and Deverlopment in Thailand” Rungnapar Pattanavibool đã đề cập đến một số loài tre trúc lấy măng được gây trồng ở
Thái Lan như: Dendrocalamus asper (Pai Tong), D brandissi (Pai Bongyai), D.strictus (Pai Sangdoi) trong đó có D.asper là loài tre trúc được nhập vào trồng ở Miền Nam,
Việt Nam từ trước năm 1975 và được gọi là tre Mạnh tông [41]
Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng xuất măng, Zhou Fangchun (2000) [44] đã chỉ ra rằng nhiệt độ và độ ẩm đất có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình sinh sản và phát triển măng của nhiều loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc Ngoài
ra, đất tốt sẽ cho sản lượng măng cao, cây to, đẻ nhiều măng, giá trị sử dụng lớn; đất nghèo, xấu, đồi trọc bạc màu tre vẫn sống được nhưng sản lượng thấp Tre mọc tản thường ở nơi nhiệt độ bình quân năm khoảng 14oC, mùa đông trên 4oC, lượng mưa
từ 1000mm/ năm trở lên Thường tre mọc tản yêu cầu đất đai tốt hơn, tầng đất sâu,
ẩm, nhiều mùn, đất phong hóa từ phiến thạch, phiến thạch sét, phiến thạch mica và
sa phiến thạch Cũng chính vì vậy, Yang Yuming và các cộng sự (2000) đã ứng dụng những đặc điểm sinh thái và năng suất để làm tiêu chí lựa chọn loài tre trồng rừng công nghiệp
A.N Rao và V.Ramanatha Rao (2000) [31] khi nghiên cứu về điều kiện đất thích hợp để gây trồng tre cho thấy tre thường thích hợp ở nơi thoát nước tốt, đất cát mùn, đất sét pha cát và có nhiều dinh dưỡng, đất bằng phẳng hoặc ở đồi có độ dốc thấp
Đất thường có màu vàng, nâu vàng hoặc đỏ vàng, tầng đất sâu Tại Bangladesd, một số
loài tre được trồng trên đất có độ pH từ 6-8 hoặc đất đồi có độ pH 4,5-5,5
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [33] cho thấy trong kinh doanh tre có thể bón phân từ 1-3 lần trong năm đã tăng sản lượng của măng lên cao khá rõ rệt Bón phân lần đầu vào tháng 3 được gọi là bón phân của lứa măng đầu chủ yếu là phân chuồng kết hợp phân hóa học từ 750-900 kg/ ha
Trang 21Lần thứ 2 vào tháng 8 được gọi là phân bón giai đoạn măng và chủ yếu là phân Urê hoặc phân hỗn hợp từ 0,5-1 kg/ bụi Lần thứ 3 bón vào tháng 12 và chủ yếu là phân hữu cơ 50 kg/ bụi
Theo Prosea (1995) thì bón 20-25 kg phân hữu cơ cho mỗi khóm trước mùa sinh trưởng, phân hóa học bón 4 lần mỗi năm, mỗi lần bón cho 1 ha là 80 kg NPK với tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 kg Si (dẫn theo Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2005) [8]
Victor Cusack (1997) [43] nghiên cứu trồng thâm canh cho loài D asper hằng
năm đã bón 300 kg/ ha phân NPK 15:15:15 kết hợp với khảng 40-60 kg/ rơm hoặc cỏ khô để phủ và 0,65 kg/ ha silic dioxyt Tác giả cho rằng phân nên bón một lượng nhỏ nhưng bón nhiều lần trong năm thì tre hấp thụ tốt hơn vì tre là loài rễ nông, do vậy ứng dụng phân bón đậm, đặc biệt là Urê có thể gây hại hoặc làm chết cây Ở Indonesia sau khi khai thác măng, người ta đào rãnh xung quanh bụi tre khoảng 2m, trộn phân hóa học với rơm hoặc cỏ khô đã phủ gốc trước đây vùi vào rãnh Việc đào rãnh đã cắt đứt các rễ tre, để chúng phát triển rễ mới trực tiếp vào rãnh đã bón phân
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [32] về
loài D oldhami cho thấy mật độ trồng tốt nhất là khoảng 600-700 bụi/ha, với kích
thước hố đào cho cây trồng từ giống cành là 60x50x40cm và bón lót đầy đủ phân trước khi trồng Trong năm đầu chăm sóc bón phân hỗn hợp hoặc phân Urê mức 0,1-0,2 kg cho mỗi bụi vào tháng 9 Năm thứ 2 bón 230 kg Urê kết hợp bón 800 kg các nguyên tố Ca, Mg, P trên 1 ha vào tháng 4 và tháng 9 Nghiên cứu cũng cho thấy hàng năm nên bón từ 1-3 lần phân Urê hoặc phân hỗ hợp từ 750-900 kg/ ha
Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc [33] đã đề xuất cấu trúc sản lượng cao
cho loài Phyllostachys heterocycla với mật độ 3000-3750 cây/ha, trong đó trên mỗi
bụi có 10 cây, 3 cây 1 năm tuổi, 3 cây 2 năm tuổi, 3 cây 3 năm tuổi và 1 cây 4 năm tuổi Vào mùa đông cắt ngọn chỉ còn cao từ 1-2m với 13-15 cặp cành còn lại Đồng thời bón phân hóa học với lượng 375 kg/ha, chia làm 2 lần bón vào mùa xuân và thu, phân bón hữu cơ 5 tấn bón vào mùa đông
1.1.1.4 Kỹ thuật khai thác
Khi nghiên cứu quá trình phát triển măng của loài D latiflorus, Trung tâm
nghiên cứu tre trúc của Trung Quốc (2001) [32] đã chỉ ra rằng quá trình phát triển
Trang 22măng của loài tre này được chia làm 4 giai đoạn Giai đoạn 1 kéo dài khoảng 20 ngày, măng sinh trưởng chậm và rễ bắt đầu phát triển; giai đoạn 2 sinh trưởng nhanh hơn; giai đoạn 3 khả năng sinh trưởng của măng là nhanh nhất, có thể tăng trưởng chiều cao hơn 10cm/ngày, có khi tới 30-40cm/ngày; giai đoạn 4 măng sinh trưởng chậm dần đến khi thành cây hoàn chỉnh thì dừng hẳn Toàn bộ 4 giai đoạn phát triển của măng mất khoảng 3 tháng, nhưng chỉ mất có 10 ngày để phát triển từ măng thành cây hoàn chỉnh Tuy nhiên, để khai thác măng thường khai thác vào giai đoạn 3 của măng Để nâng cao năng suất măng thường người ta phải dọn cỏ, cào đất và phơi mắt vào giữa tháng 4 hằng năm
Theo Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001, 2008) [32], 35], tre 4 tuổi phải cắt hết, để lại 20% tre 3 tuổi, 40% tre 2 tuổi và 40% tre 1 tuổi; nhưng theo Prosea (1995) chỉ nên giữ lại 3-4 cây trưởng thành mỗi khóm
Công trình nghiên cứu “Trồng và sử dụng tre ở Trung Quốc” năm 2001 [32] cho thấy sau khi trồng tre, măng sẽ mọc vào tháng 6-7 hàng năm Trong 3 năm đầu nếu được chăm sóc cẩn thận và giữ cấu trúc rừng tốt, lượng măng sẽ ngày càng tăng Lớp măng tre đầu tiên của năm đầu không nên chọn làm cây mẹ Những măng ra vào tháng 8-9 có thể được sử dụng làm cây mẹ và nên để lại 2 măng khỏe mạnh Trong năm tiếp theo, nên giữ 2 măng để làm cây mẹ 1 năm tuổi Trong năm thứ 3 nên để lại 1-2 cây mới cho mỗi cây và tổng số không nên vượt quá 10 cây/khóm Vào năm thứ 4, nên giữ lại 2 cây mẹ cho mỗi bụi và cùng thời gian những cây già được chặt và để lại 8-9 cây trên mỗi bụi Khai thác khi măng
đạt chiều cao 20-25cm, nếu làm măng khô chiều cao có thể đạt 1-1,5m Thời gian
cắt măng tốt nhất trước lúc mặt trời mọc vì khi đó nhiêt độ thấp, độ ẩm cao có lợi cho cây mẹ sinh sản Khi cắt măng cố gắng tránh làm ảnh hưởng để tăng sức sản xuất, sau khi cắt gốc còn lại dễ bị lây nhiễm khuẩn, do vậy không nên phủ đất ngay cho đến khi vết cắt khô
Công trình “Cultivation of Bamboo” của Trung tâm nghiên cứu tre trúc
Trung Quốc [35] cho loài D.oldhami cho thấy cây 3 năm tuổi bắt đầu bước vào giai
đoạn ổn định, vì vậy cây mẹ sau giai đoạn này cần chặt bỏ Cây một năm tuổi nên
Trang 23được để với cấu trúc hợp lý, và cắt bỏ những cây yếu kém 2 tuổi, sau đó chặt bỏ
toàn bộ cây 3 năm tuổi vào mùa đông Mật độ ban đầu ở tre cho măng và thân nên
điều chỉnh là 600-750 bụi/ha, giữ lại 7-8 cây mẹ mỗi bụi Mật độ cây đứng khoảng
4000-6000 cây trên ha Trong cấu trúc tuổi, cây 1-2 năm tuổi chiếm 80-90%, và cây
3 năm là 10-20%
Nghiên cứu về cấu trúc tuổi để tăng sản lượng măng cho loài D.latiflorus tại
Trung Quốc cho thấy trong bụi tre cần có các cây từ 1-4 năm tuổi, cây từ 1-2 năm tuổi chiếm 80%, cây 3-4 năm tuổi chiếm 20%
Khi nghiên cứu sinh lý tre trúc, Koichiro Ueda (1976) [18] đã cho thấy sau
10 năm tập trung nghiên cứu, đã thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng
Phyllostachys edulis chiếm 60-80%, Phyllostachys reticulata 30-50%
Xiao Jianghua (1996) cũng đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh (dẫn theo Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2005) [8]
Nhìn chung ở nước ngoài tre trúc được gây trồng với 3 mục đích là: kinh doanh chuyên măng, chuyên thân khí sinh hoặc cả hai Các loài tre trúc được kinh doanh chỉ cho năng suất, chất lượng cao khi có tác động bởi một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp Các biện pháp thâm canh tăng năng suất và chất lượng
được nghiên cứu và thực nghiệm chủ yếu gồm: Bón phân, điều chỉnh mật độ khóm
trên hecta, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi bụi, mỗi thế hệ, khai thác măng, khai thác thân khí sinh, phòng trừ sâu bệnh cho từng loại cụ thể ngoài
ra, điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, điều kiện thổ nhưỡng cũng là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của rừng tre trúc và được chọn làm những tiêu chí khi lựa chọn biện pháp kỹ thuật thâm canh Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, đặc biệt
đối với những loài có quan hệ thân thuộc với những loài ở Việt Nam
Trang 241.1.2 Tình hình trồng tre lấy măng ở trong nước
1.1.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và sử dụng măng trong nước
- Chủ trương phát triển tre măng tại Việt Nam
Thông tư số 28/1999/TTLT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng đã xác định cây trồng lấy măng là một trong số những cây trồng chủ yếu để trồng rừng cây đặc sản
Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15 tháng 3 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp đã xác định tre Điềm trúc, Bát
độ là một trong những loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất
Quyết định số 147/2007/ QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ Tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 đã quy
định mức hỗ trợ 2 triệu đồng/ha rừng trồng mới, hỗ trợ chi phí quản lý bảo vệ rừng là
100.000 đồng/ha/năm, ngoài ra còn ban hành các chính sách hỗ trợ đầu tư để xây dựng
đường lâm nghiệp, chi phí vận chuyển chế biến nông lâm sản đến nơi tiêu thụ…
Để giải quyết khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm ngày 24 tháng 6 năm 2002
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ sản phẩm hàng hóa thông qua hợp đồng để bảo đảm cho quá trình sản xuất của bà con nông dân cũng như doanh nghiệp chế biến nông lâm sản Quyết định đã nêu lên một số chính sách khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp
đồng tiêu thụ nông lâm sản với người sản xuất như về đất đai, đầu tư vùng sản xuất
nguyên liệu tập trung gắn với cơ sở chế biến, tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá có hợp
đồng tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá Về tín dụng người sản xuất, doanh nghiệp ký
hợp đồng tiêu thụ nông lâm sản có dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu được hưởng các hình thức đầu tư nhà nước từ Quỹ hỗ trợ phát triển theo quy định tại Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về Tín dụng đầu tư của Nhà nước và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 2 tháng 01 năm
Trang 252001 của Thủ tướng Chính phủ Hàng năm, ngân sách nhà nước dành khoản kinh phí để hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất có hợp đồng tiêu thụ nông sản áp dụng, phổ cập nhanh các loại giống mới, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong bảo quản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất
và nhân giống cây trồng, đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, thông về tin thị trường, giá cả đến người sản xuất, doanh nghiệp Các vùng sản xuất hàng hoá tập trung có hợp đồng tiêu thụ nông lâm sản được ưu tiên triển khai và hỗ trợ về công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Ngoài các chính sách hiện hành, đối với vùng sản xuất hàng hoá tập trung các doanh nghiệp xuất khẩu thuộc các thành phần kinh tế có hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá với nông dân ngay từ đầu vụ được
ưu tiên tham gia thực hiện các hợp đồng thương mại của Chính phủ và các chương
trình xúc tiến thương mại do Bộ Thương mại, bộ, ngành có liên quan, Hiệp hội ngành hàng và địa phương tổ chức
- Kết quả phát triển trồng tre lấy măng ở Việt Nam
Trồng tre chuyên măng ở nước ta hiện nay đang phát triển mạnh và rộng khắp Tre bản địa đang được coi là một trong một số những đối tượng chính cần phát triển và phù hợp với mục đích của nhiều dự án, chương trình nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở nước ta
Theo số liệu thống kê ban đầu của Cục Lâm nghiệp (cũ), nay là Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN & PTNT, đến năm 2003 chương trình khuyến lâm đã đầu tư trồng khoảng gần 1.500 ha tre lấy măng, với sự tham gia của trên 3.000 hộ dân [9]
Công ty Đầu tư xuất nhập khẩu Nông lâm sản chế biến thuộc Tổng Công ty Rau quả, nông sản từ 2001 đến 2003 đã cung cấp 191.000 cây giống cho 28 Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm của một số tỉnh để trồng trên tổng diện tích khoảng 2.700 ha [29]
Tổng diện tích trồng tre lấy măng ở nước ta trên thực tế cao hơn con số đã thống kê Bên cạnh các chương trình, dự án trồng tre lấy măng của Nhà nước còn có thêm một số dự án của nước ngoài cũng đầu tư cho phát triển tre măng Một số địa phương và thậm chí nhiều cá nhân cũng đã tự bỏ vốn đầu tư để mở rộng thêm diện tích trồng tre lấy măng
Trang 26Tình hình thực tế việc gây trồng và kinh doanh tre lấy măng trên cả nước
được đánh giá qua kết quả điều tra khảo sát năm 2004 trên 21 tỉnh thành với một số điểm chính như sau:
Tre Mạnh tông được trồng phổ biến một số địa phương ở miền Nam và hiện nay chủ yếu được trồng rải rác Tại Cà Mau, Cần Thơ, Bến Tre, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước cho thấy tre Mạnh tông đã không còn được trồng tập trung với mục đích chuyên măng mà chỉ trồng rải rác và không được chăm sóc vì măng Mạnh tông cũng không được ưa chuộng [8]
Ở Quỳnh Phụ, Vũ Thư - Thái Bình, tre Mạnh tông được trồng ven sông
phía ngoài đê nhằm mục đích chắn sóng, lấy măng và mô hình này đang được phát động mở rộng cho các địa phương khác trong tỉnh Tuy nhiên, mô hình này cần phải được nghiên cứu đánh giá về mức độ chắn sóng, hiệu quả kinh tế cũng như các giá trị khác [22]
Nhìn chung măng tre Mạnh tông không được ưa chuộng và tương lai có thể
bị một số loài tre chuyên măng khác thay thế
Tre Lục trúc hầu như ít được ưa trồng vì măng nhỏ, năng suất thấp Mô hình của Công ty Đầu tư xuất nhập khẩu Nông lâm sản - chế biến với diện tích khoảng
20 ha (giống từ Đài Loan), được trồng từ năm 1997 tại Tân Yên - Bắc Giang là mô hình tập trung lớn nhất trong các điểm được điều tra khảo sát Cho đến thời điểm này chưa thấy có mô hình nào kể cả mô hình nói trên được đưa vào sản xuất măng
đại trà Các đơn vị, cá nhân trồng Lục trúc mới chỉ tập trung vào sản xuất giống để
bán Trước đây giống được nhân bằng cách tách thân gốc 1 năm tuổi (giống thân gốc) là chính Sau này kỹ thuật nhân giống hom cành đã được áp dụng Giá giống gốc tại thời điểm 2001 khoảng 14.000 đồng/gốc và năm 2002 khoảng 8.000 - 10.000 đồng/hom cành [24]
Loài tre được quảng cáo nhiều nhất và được phát triển mạnh nhất là loài Bát
độ và Điềm trúc Diện tích trồng tập trung lớn nhất trong các điểm khảo sát thuộc
Công ty TNHH Nuôi trồng thuỷ hải sản Đông Thành (Bình Phước) là 247 ha Điềm
Trang 27trúc trồng từ 1993; Công ty Fang Fuh (Đồng Nai) là 180 ha (1999) và năm 2004 lên
đến 300 ha tre Điềm trúc, đây là hai cơ sở đã và đang sản xuất măng chủ yếu để
xuất khẩu với hai dạng sản phẩm măng muối chua và muối dòn Giá măng muối dòn là 12.000 đồng/kg (chế biến từ cây măng cao từ 0,8 đến 1,2 m so với mặt đất)
và măng chua là 8.000 đồng/kg (chế biến măng củ cao chừng 30 cm so với mặt đất) Thân tre già được lấy ra để bán cho nhà máy giấy với giá 400 đồng/kg (thời điểm năm 2004) Qua khảo sát đánh giá đó là hai mô hình điển hình cho việc kinh doanh tre lấy măng có hiệu quả [26]
Các mô hình còn lại, nhất là các mô hình thuộc chương trình khuyến lâm, khuyến nông hầu như có quy mô nhỏ theo hộ gia đình, lớn nhất chỉ vài hecta và phân bố rải rác Hầu hết mô hình đều mới được trồng từ 1-2 năm, lợi nhuận trước mắt mà mô hình mang lại chỉ là tiền bán giống Giá cây giống vào khoảng từ 8.000
đồng đến 15.000 đồng/ cây tùy thuộc vào nhu cầu của từng nơi Có nhiều hộ gia đình vài năm gần đây đã thu hàng chục triệu đồng mỗi năm qua việc bán giống Tuy
nhiên, việc phát triển tre lấy măng quy mô nhỏ theo hộ gia đình và phân tán như thực tế hiện nay khó có thể quy hoạch thành vùng nguyên liệu sau này Chỉ trong thời gian ngắn nữa, nhu cầu về giống không còn, chắc chắn sản phẩm măng và thân tre già sẽ là đối tượng được quan tâm Cũng chính vì vậy đa số các hộ gia đình trồng tre hiện đang quan tâm lo lắng đến đầu ra cho sản phẩm của mình
Ở những vùng du lịch như Quảng Ninh, Thanh Hoá có một số mô hình đã
khai thác măng bán chủ yếu cho nhà hàng, khách sạn
Giá măng cũng tuỳ thuộc vào mùa vụ Đầu vụ giá măng khoảng 8.000
đồng/kg và giữa vụ khoảng 4.000 đồng/kg (măng tươi còn cả bẹ mo) Nhiều nơi, do
măng rừng còn đang dễ khai thác và cũng đã quen khẩu vị của nhân dân địa phương nên măng tre nhập nội không được ưa chuộng trên thị trường
Một số địa phương như Bình Dương, Thanh Hoá, Lạng Sơn, Lào Cai đang
có kế hoạch phát triển mở rộng tre lấy măng với quy mô lớn và đầu tư xây dựng nhà máy chế biến măng để xuất khẩu Việc đầu tư xây dựng nhà máy chế biến chính là
Trang 28cơ sở quan trọng, có tính quết định đến việc phát triển tre lấy măng lâu bền Hầu hết các hộ gia đình trồng tre hiện nay đang hết sức quan tâm đến đầu ra cho sản phẩm măng tre, thân cây tre già, với đà phát triển tre măng như hiện nay thì chỉ vài năm nữa nhiều địa phương sẽ có hàng ngàn hecta tre và hàng năm sẽ có một lượng lớn măng và thân tre già được khai thác Như vậy, thị trường tiêu thụ sản phẩm từ cây tre măng trong tương lai gần sẽ trở thành thách thức đối với người sản xuất
- Một số địa phương điển hình phát triển trồng tre lấy măng tại nước ta
Chương trình tre măng Bát độ tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ [28]:
Xã Yến Mao, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ là một xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ Dân số của xã là 4074 khẩu với 4 dân tộc Mường (chiếm 49,6%), dân tộc Kinh (chiếm 47,6%) và hai dân tộc khác (chiếm 2,8%) Trung tâm dịch vụ Phát triển nông thôn (RDSC) đã tham gia góp sức thúc
đẩy các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của xã từ năm 1997
Yến Mao là một xã thuần nông, thuộc khu vực dân tộc miền núi của huyện Thanh Thủy, nguồn thu chủ yếu của các hộ trong xã là từ cây lúa, cây ngô, cây sắn, trong khi đó diện tích đất đồi bỏ trống của xã thì còn khá nhiều Trong khuôn khổ
dự án “Nâng cao năng lực giảm nghèo cho cộng đồng lựa chọn tại Phú Thọ, Quảng Bình và Kontum” do RDSC thực hiện giai đoạn 2001 - 2004, Ban phát triển và giảm nghèo xã Yến Mao đưa ra sáng kiến cộng đồng đó là trồng tre măng Bát độ và
được RDSC thống nhất cùng thực hiện vào tháng 10 năm 2003
RDSC phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Thanh Thuỷ tập huấn Phần Một tại văn phòng RDSC giới thiệu các kỹ thuật về trồng cây, chọn giống, chăm sóc măng trong năm đầu tiên Cuộc tập huấn Phần Hai tại Phượng Mao thực hiện vào đầu năm 2005 với nội dung thực hành chiết cây nhân giống Các buổi tập huấn thu hút được sự tham gia đầy đủ của cả cán bộ và các thành viên, có cả hộ chưa tham gia Tổ trồng nhưng cũng đã tham gia
RDSC hỗ trợ kinh phí cho đoàn tham quan, ngân sách cho tập huấn kỹ thuật, ngoài ra còn giúp các thành viên trong Tổ trồng măng vay 70 % tiền vốn mua giống Tính đến cuối năm 2003, 15 tổ viên đã hoàn thành việc đào hố và trồng được hơn 1000 gốc măng
Trang 29Sau hai năm hoạt động các tổ viên đã có măng tre thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 10 hằng năm Mỗi khóm tre trung bình cho từ 30 đến 40 kg măng, có hộ đạt
từ 50 - 60 kg măng/khóm Măng được tiêu thụ ngay tại xã với giá thời điểm đầu mùa từ 4.000 - 5.000 đồng/kg, vào lúc giữa vụ thì giá giảm còn 2.500 - 3.000đồng/kg Như vậy nếu chỉ tính thu từ măng thì một năm thu được 7,5 tạ/sào măng, giá trung bình là 3.000 đồng/kg thì mức thu nhập đạt được 2.250.000
đồng/sào măng, cao hơn hẳn so với các loại cây trồng khác (Theo tính toán của các
hộ gia đình thì lãi từ trồng lúa tối đa 150.000 đồng/sào, còn lãi từ trồng sắn chỉ khoảng 300.000 - 400.000 đồng/sào) Ngoài măng củ, các tổ viên còn có thu nhập
từ chiết cành Mỗi khóm tre có thể chiết được 20 cành vào hai thời điểm tháng 1, tháng 2 và tháng 7, tháng 8 hàng năm
Trong quá trình tham gia trồng măng tre Bát độ, trong 15 hộ thành viên có 8
hộ nghèo nhưng sau 3 năm thực hiện trồng tre măng Bát độ đã có 5 hộ được công nhận thoát nghèo
Chương trình trồng tre măng Bát độ tại Long Khánh (Đồng Nai) [26]:
Năm 2002, Sở NN & PTNT tỉnh Đồng Nai đã đưa cây tre Bát độ về trồng thử nghiệm để nhân giống nhằm nghiên cứu khả năng sinh măng và phương thức quản lý phù hợp để nâng cao năng suất măng Tháng 3/2003, Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai đã tiến hành trồng thử nghiệm tre Bát độ trên 3 vùng đất chủ yếu của Đồng Nai gồm: Đất đỏ Bazan (ở huyện Long Khánh), đất xám (huyện Long Thành) và đất Ferralit (huyện Vĩnh Cửu) Sau 3 năm theo dõi cho thấy khả năng sinh trưởng và phát triển của loại tre này rất thích hợp trên vùng đất đỏ Bazan ở huyện Long Khánh
Từ hiệu quả tại mô hình trồng thí điểm của hộ ông Hồ Ngọc Tố, rất nhiều người dân trong và ngoài tỉnh đã đến tham quan học tập về ứng dụng kỹ thuật trồng tre Bát độ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Nai đến nay cũng đã tổ chức được hàng chục lớp tập huấn về kỹ thuật trồng tre Bát độ cho nông dân ở các huyện trong tỉnh Hiện nay diện tích trồng tre Bát độ ở Đồng Nai cũng đang phát triển mạnh với khoảng 150 hecta
Trang 30Chương trình tre măng Bát độ tại huyện Vị Xuyên và Bắc Quang, tỉnh
Hà Giang:
Bên cạnh những thành công đạt được từ chương trình trồng tre măng Bát độ như xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân cũng có không ít địa phương đang phải đương đầu với những khó khăn do chính dự án trồng tre măng Bát độ mang lại Một trong các địa phương đó là hai huyện cùng núi thấp Vị Xuyên
và Bắc Quang (tỉnh Hà Giang)
Con số 10 tỷ đồng là vốn đầu tư của “ba nhà”: Nhà doanh nghiệp, Nhà nước
và nhà nông cho thực hiện dự án tre măng Bát độ tại hai huyện vùng núi thấp Vị Xuyên và Bắc Quang (tỉnh Hà Giang) Sau hơn 5 năm thực hiện, dự án đã không
đem lại kết quả như mong muốn, không những thế dự án này còn làm nghèo cho cả
“ba nhà” Đây là bài học kinh nghiệm rút ra cho cả “ba nhà”
Dự án trồng tre măng Bát độ tại hai huyện được thực hiện dựa trên phương thức đầu tư: nhà doanh nghiệp bỏ vốn 60% (Công ty TNHH Vạn Đạt), Nhà nước (UBND tỉnh Hà Giang) hỗ trợ lãi suất vốn vay ngân hàng cho nông dân trồng tre lấy măng với thời hạn không quá 3 năm và người dân bỏ đất, công sức để trồng, chăm sóc và thu hoạch Trên cơ sở đó, Công ty TNHH Vạn Đạt sẽ nhận thu mua bao tiêu toàn bộ sản phẩm măng và trừ dần vốn ứng đầu tư ban đầu mà Công ty đã bỏ ra cho
hộ trồng măng vay chủ yếu là để dùng mua cây giống Lợi nhuận còn lại người dân
sẽ hưởng và trả nợ dần vốn vay cho Nhà nước với thời hạn kéo dài 3 năm Với một
dự án có tính khả thi đã tạo ra bước khởi động ban đầu đầy hào hứng cho người dân trong chương trình Năm 2002, cây tre măng Bát độ đã được đưa vào trồng tại địa bàn hai huyện trên và đến năm 2004 diện tích tre măng đã lên đến gần 1.000 ha Trong đó tại huyện Bắc Quang trồng được 520 ha, huyện Vị Xuyên trồng được 480
ha Sau hơn 5 năm triển khai, đến nay diện tích cây tre măng Bát độ trong hai huyện
đã giảm xuống đáng kể so với diện tích thực trồng Huyện Vị Xuyên còn khoảng
150 ha (giảm 230 ha), huyện Bắc Quang còn gần 250 ha (giảm 270 ha) Nguyên nhân là do việc đầu tư dàn trải, phân tán và triển khai dự án tại theo kiểu phong trào Bên cạnh đó, việc thu mua sản phẩm măng tre của Công ty TNHH Vạn Đạt lại
Trang 31không ổn định, giá thu mua không hợp lý, nên người trồng măng không muốn thu hái măng để bán
Từ những nguyên nhân này, diện tích trồng tre măng Bát độ tại các xã vùng sâu, vùng xa của hai huyện đã giảm đi đáng kể và người dân đã tự ý chặt bỏ cây tre măng Bát độ để chuyển sang trồng các loại cây khác hiệu quả kinh tế cao hơn
Đi kèm với việc chặt bỏ cây tre măng Bát độ, người dân ở đây còn nỗi lo lấy đâu ra tiền để trả nợ vốn đầu tư ban đầu cho Công ty, trả nợ cho Ngân hàng mà họ
đã vay mà đã đến kỳ hạn trả cả gốc lẫn lãi Vậy là dự án này đã đã không đạt được
hiệu quả nếu xét về góc độ kinh tế Theo số liệu báo cáo của Công ty TNHH Vạn
Đạt thì lợi nhuận thu hồi vốn của năm 2004 là 20 triệu đồng, năm 2005 là 40 triệu đồng và năm 2006 với những biện pháp khắc phục thì số lợi nhuận thu được từ việc
trồng tre măng Bát độ cũng không vượt quá 300 triệu đồng Vậy cả 3 năm sau, khi
có gần 1.000 ha cây tre măng Bát độ đã trồng cho củ, có sản phẩm bán ra mà lợi nhuận chỉ thu được gần 400 triệu đồng là con số quá ít so với gía trị đầu tư ban đầu Nếu tính về giá trị xã hội thì hàng ngàn người dân tham gia dự án đã lại nghèo thêm
vì dự án, chưa kể đến sự lãng phí của gần 1.000 ha đất, vốn, sức lao động, thời gian vật chất bỏ ra sau hơn 5 năm
- Tình hình tiêu thụ và sử dụng măng trong nước
Măng tre trúc từ lâu đã là nguồn thực phẩm quen thuộc và ưa thích của người dân Việt Nam, được xác định là thứ rau sạch, bổ dưỡng Hiện chưa có số liệu thống
kê cụ thể về số lượng măng tre trúc tiêu thụ trong nước hàng năm, nhưng phải khẳng định đây sẽ là con số rất lớn
1.1.2.2 Những nghiên cứu nhân giống và trồng tre măng ở trong nước
Trịnh Đức Trình (1990) [21] khi nghiên cứu về “Thâm canh rừng luồng lấy măng xuất khẩu” đã cho thấy nếu quản lý khai thác măng hợp lý có thể nâng hệ số
đẻ măng lên 2 măng/ cây mẹ
Ngô Quang Đê (1994) [11] đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng, gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng
Trang 32Năm 2000, Lê Quang Liên và cộng sự [15] đã “Nghiên cứu kỹ thuật trồng tre trúc để lấy măng” cho 2 loài Luồng và tre Gầy, trong đó có khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK và khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần phải trồng thâm canh
Trong một công trình nghiên cứu khác của Lê Quang Liên (2001) [16] đã giới thiệu kết quả nhân giống Luồng bằng phương pháp chiết cành cho thấy công thức chiết tất cả cành đã có và chưa có rễ khí sinh, cành chiết bọc bằng hỗn hợp bùn rơm phía ngoài có bao nilon giữ ẩm cho kết quả số cành ra rễ đạt tỷ lệ 97,5%, cao nhất trong 3 công thức thí nghiệm
Triệu Văn Hùng (2004) [14] đã thống kê hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng, gồm: Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông, trong đó phát triển mạnh nhất là Điềm trúc và Lục trúc Diện tích trồng đang ngày càng được mở rộng Đến năm 2003, Chương trình khuyến lâm đã đầu tư cho nông dân trồng được 1.461 ha, tổng diện tích trồng tre Điềm trúc bằng nguồn giống do Công ty đầu tư xuất nhập khẩu nông sản chế biến cung cấp tính đến năm
2003 là trên 2.700 ha Diện tích tre nhập nội lấy măng trên thực tế vượt xa những con số thống kê được trên vì bên cạnh đó còn rất nhiều tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn
đầu tư trồng
Hiện nay kỹ thuật gây trồng tre măng có “Quy phạm kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác măng tre Điềm trúc (Tiêu chuẩn ngành 04TCN 69-2004)” ngoài quy phạm trồng cho tre Điềm trúc còn có “Hướng dẫn kỹ thuật trồng, khai thác, sơ chế và bảo quản măng tre Điềm trúc, Tạp giao và Lục trúc” của Đỗ Văn Bản và cộng sự (2005) [10], “Kỹ thuật trồng tre Đài Loan” của Công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm (1997) [12], “Trồng trúc Tạp giao lấy măng” và
“Trồng tre Bát độ lấy măng” của Nguyễn Đức Thanh (1999) [22], “Trồng tre trúc lấy măng” của Anh Tùng (1999) [22] “Bản hướng dẫn kỹ thuật trồng Lục trúc lấy măng” của Ngô Quang Đê (2000) [22] “Một số vấn đề trong kỹ thuật trồng tre kinh doanh măng - Nghề mới chớm nở trên đất Quảng Ninh” của Đan Truyền Thế (2001) [24] Nhìn chung, hầu hết các tài liệu đều đã nêu được các nội dung về kỹ thuật gây trồng như:
Trang 33+ Về mật độ trồng: Mật độ trồng trong một số tài liệu chưa có sự thống nhất,
ví dụ: trồng tre Điềm trúc 400-500 khóm/ ha (Anh Tùng, 1999) [22]; 650-700 khóm/ ha (CNBRC, 2001, 2008) Trồng Lục trúc từ 500-625 khóm/ ha (Anh Tùng, 1999) [22]; 400-660 khóm/ ha (Ngô Quang Đê, 2000) [22]; 650-700 khóm/ ha (CNBRC, 2001, 2008) Cho Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao 400-625 khóm/ ha (Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2005) [8]
+ Về phân bón: Lượng phân bón, loại phân bón cũng khác nhau trong một số tài liệu, ví dụ: Anh Tùng (1999) [22]: dùng phân tổng hợp bón 2 lần, mỗi lần khoảng 400kg/ ha cho Trúc sào Đỗ Văn Bản và cộng sự (2005) [8]: Bón lót cho
Điềm trúc, Lục trúc và Tạp giao là 15 kg phân chuồng hoai/ khóm và 0,5 kg NPK
(5:10:3)/ khóm, từ năm thứ 2 trở đi mỗi kh bón khóm bón 15-20 kg phân chuồng hoai mục và 1-1,5 kg NPK (5:10:3) Nhìn chung các tài liệu đều đề cập đến việc bón phân chuồng và phân hóa học NPK nhưng tỷ lệ bón lại khác nhau
+ Về tỷ lệ cây mẹ trong khóm tre lấy măng cũng có nhiều quan điểm, Ngô Quang Đê (2000) [22] trong khóm tre chỉ để lại hai thế hệ cây 1 tuổi và cây 2 tuổi
và mỗi thế hệ để 4 đến 5 cây mẹ Theo Đỗ Văn Bản và cộng sự (2005) [8] trong khóm tre nên để 2 thế hệ mỗi thế hệ 3-4 cây to khỏe phân bố xung quanh khóm tre
Đinh Công Trình (2011) [13] khi nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh một
số loài tre bản địa lấy măng ở Tây Bắc đã cho thấy 100% các hộ dân trong vùng đều
sử dụng măng làm thức ăn hàng ngày, mùa măng nào thì ăn măng đó như: Mạy lay, Mạy bói, Mạy hốc, Nó khôm Người dân địa phương chủ yếu trồng theo kinh nghiệm và kiến thức bản địa, chưa áp dụng tiến bộ kỹ thuật Ngoài ra, tác giả đã xác
định được biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính cho cây Mạy bói và cây Mạy lay
cùng kỹ thuật gây trồng cho 2 loài này
Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu ở trong nước về tre lấy măng nhập nội tương đối phong phú, còn nghiên cứu về tre bản địa lấy măng lại rất
ít Mặt khác, nước ta là nước có thành phần loài tre phong phú, nhưng chỉ rất ít loài tre trúc được nghiên cứu gây trồng để làm nguyên liệu, chủ yếu là Trúc sào
Trang 34(Phyllostachys edulis), Luồng (Dendrocalamus barbatus), Giang (Ampelocalamus patellaris), Diễn trứng (Dendrocalamus sp Nov.), Vầu đắng (Indosasa angustata), Nứa lá nhỏ (Neohouzeana sp.), Tre gai (Bambusa blumeana)
1.1.3 Tình hình trồng tre lấy măng ở tỉnh Yên Bái
1.1.3.1 Các dự án phát triển tre lấy măng ở tỉnh Yên Bái
Đến nay dự án trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên là dự án duy
nhất của tỉnh Yên Bái về trồng tre trúc lấy măng Ngoài ra, còn một số địa phương khác của tỉnh Yên Bái cũng trồng tre trúc lấy măng nhưng ở quy mô nhỏ lẻ, tự phát của các hộ gia đình, như: trồng tre Mai lấy măng tại huyện Lục Yên, trồng sặt lấy măng ở vùng Văn Chấn, Nghĩa Lộ
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu tre lấy măng tại Yên Bái
Ngoài các mô hình của Trạm Khuyến nông huyện Trấn Yên khảo nghiệm về giống và kỹ thuật thâm canh tre Mai xanh lấy măng, hiện tại ở tỉnh Yên Bái chưa thấy
có công trình khoa học nghiên cứu về trồng tre trúc lấy măng nào được công bố
1.1.3.3 Tình hình chế biến và tiêu thụ măng tre ở tỉnh Yên Bái
Toàn bộ sản phẩm măng tre trúc ở tỉnh Yên Bái hiện chỉ được chế biến thủ công theo truyền thống như: sử dụng măng tươi, phơi khô, làm măng chua, ngâm măng ớt và tiêu dùng nhỏ lẻ tại chỗ Riêng sản phẩm măng tre Mai xanh ở huyện Trấn Yên có số lượng thu hoạch lớn, tập trung, được người dân sơ chế bằng cách luộc và bảo quản yếm khí để bán cho Công ty TNHH Vạn Đạt chế biến, xuất khẩu sang Đài Loan
1.1.4 Thảo luận
Mai xanh thực chất là các loài tre Bát độ, tre Tàu, Điềm trúc nhập nội vào trồng ở nước ta từ nhiều năm trước đây (Nguyễn Huy Sơn, 2013) [20]
Thông qua các thông tin đã tổng hợp ở trên cho thấy:
+ Trên thế giới thị trường tiêu thụ măng tre khá rộng lớn, nhu cầu nhưng khả năng cung cấp còn thấp
+ Trong nước chưa quy hoạch, chưa có công nghệ chế biến kèm theo, chủ yếu sử dụng măng tươi, công nghệ bảo quản chưa đảm bảo, giá thành cao, giao thông hạn chế
Trang 35+ Tại Yên Bái chưa có những nghiên cứu thực trạng để làm cơ sở quy hoạch vùng tre chuyên măng, chưa có những nghiên cứu cụ thể về chính sách tác động, thị trường tiêu thụ
Vì vậy, cần nghiên cứu thực trạng tình hình sản xuất măng tre ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển loài tre măng Mai xanh là cần thiết, đây cũng là những nội dung cơ bản của bản luận văn này
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và địa hình
Huyện Trấn Yên nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Yên Bái, có diện tích 62.857,99
ha, trên toạ độ địa lý: từ 21031’48’’ đến 21047’38’’ vĩ độ Bắc; từ 104038’37’’ đến 104059’00’’ kinh độ Đông Danh giới hành chính của huyện được xác định:
+ Phía Bắc giáp huyện Văn Yên;
+ Phía Nam giáp huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ;
+ Phía Đông giáp huyện Yên Bình và Thành phố Yên Bái;
+ Phía Tây giáp huyện Văn Chấn;
Trấn Yên có trung tâm huyện lỵ là thị trấn Cổ Phúc cách thành phố Yên Bái 13,5km Trấn Yên còn có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua, có dòng sông Hồng chảy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đồng thời có đường Quốc lộ 37, Quốc lộ 32C và 03 đường tỉnh lộ 163, 166, 172 là các trục đường giao thông huyết mạch của huyện Với vị trí địa lý khá thuận lợi đã tạo điều kiện quan trọng để huyện Trấn Yên phát triển kinh tế năng động, đa dạng và hoà nhập cùng với các địa phương trong và ngoài tỉnh
Địa hình của huyện có dạng chuyển tiếp từ địa hình trung du (từ tỉnh Phú
Thọ) lên địa hình vùng núi (tỉnh Lào Cai), được kiến tạo bởi dãy núi cổ Con Voi phía tả ngạn và núi Pú Luông phía hữu ngạn sông Hồng, có độ cao trung bình từ
100 - 200m so với mặt nước biển Nơi thấp nhất là xã Minh Quân có độ cao 20 m so với mặt nước biển Địa hình của huyện thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, các
xã phía Nam có địa hình phần lớn là đồi bát úp, đỉnh bằng, sườn thoải thuận tiện
Trang 36cho việc trồng cây lương thực và cây công nghiệp Các xã nằm dưới chân núi Con Voi, núi Pú Luông có địa hình phức tạp, chia cắt, núi đồi xen lẫn với thung lũng sâu, có độ dốc lớn nên khó khăn cho đi lại và giao lưu kinh tế, song có điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề rừng và chăn nuôi đại gia súc
- Thổ nhưỡng đất đai
Theo kết quả điều tra năm 1998, huyện Trấn Yên có tổng diện tích tự nhiên 62.857.99 ha, có thể phân chia theo quá trình hình thành và độ dốc, như sau:
Phân theo quá trình hình thành gồm:
+ Nhóm đất phù sa: Có diện tích 1.131,4 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên toàn huyện, thành phần cơ giới cát pha, hàm lượng chất dinh dưỡng trong
đất thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu, phân bổ chủ yếu ở 2
bên bờ sông Hồng
+ Nhóm đất glây: Có diện tích 1.351,47 ha, chiếm 2,15% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, thành phần cơ giới thịt nặng, thịt trung bình, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất cao thích hợp trồng lúa nước Nhóm đất Glây phân bổ chủ yếu ở những khu vự có địa hình thấp, trũng như ở xã Minh Quân, ở các thung lũng nằm rải rác ở các xã
+ Nhóm đất feralit đỏ vàng: Có diện tích 58.263,05 ha, chiếm 92,69% diện tích tự nhiên toàn huyện, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thấp, thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, trồng rừng sản xuất Nhóm đất Xám phân bổ
ở tất cả các xã, tập trung nhiều nhất ở các xã: Hồng Ca, Kiên Thành, Lương Thịnh,
Việt Cường, Việt Hồng, Y Can, Tân Đồng, Hưng Khánh, Hưng Thịnh
+ Nhóm đất tầng mỏng: Có diện tích 81,11 ha, chiếm 0,13% diện tích tự nhiên toàn huyện
+ Nhóm đất sông, suối, hồ, mặt nước chuyên dùng chiếm 3,2% diện tích toàn huyện
+ Núi đá: có diện tích 20,74 ha, chiếm 0,03% diện tích tự nhiên toàn huyện Phân Theo độ dốc
+ Độ dốc từ 0-8 độ: Có diện tích 4.126,90 ha, chiếm 6,57% diện tích tự nhiên toàn huyện, chủ yếu là đất phù sa, đất glây và 1 phần diện tích đất xám, hàm
Trang 37lượng chất dinh dưỡng trong đất tương đối cao thích hợp trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu và cây ăn quả
+ Độ dốc từ 9-15 độ: Có diện tích 1.100,41 ha, chiếm 1,75% diện tích toàn huyện, chủ yếu là đất xám, hàm lượng trong đất thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, cây lấy gỗ
+ Độ dốc trên 15 độ: Có diện tích 57.630,68 ha, chiếm 91,68% diện tích toàn huyện, chủ yếu là đất xám, thành phần cơ giới của đất thấp, thích hợp trồng cây lấy gỗ
Phân theo mục đích sử dụng
+ Đất nông lâm nghiệp 57.668,20 ha, chiếm 91,74 % diện tích tự nhiên, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 10.134,68 ha; đất lâm nghiệp 47.274.73 ha; đất nuôi trồng thủy sản 258,78 ha
+ Đất phi nông nghiệp 5.170, 22 ha, chiếm 8,23% diện tích tự nhiên, trong
đó: Đất ở 596,59 ha; đất chuyên dùng 2.622.72 ha; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng
8,12 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 77,70 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.864,10 ha; đất phi nông nghiệp khác 1,0 ha
+ Đất chưa sử dụng: 19,57 ha, chiếm 0,03 % ha diện tích tự nhiên
- Khí hậu, thủy văn
Trấn Yên mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu vùng trung du miền núi phía Bắc, là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ 23,1°-23,9°, nhiệt
độ cao nhất trong năm 38,9°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 3,3°C Độ ẩm trung
bình năm 84%-87%, lượng bốc hơi nước trung bình 630mm/năm Lượng mưa các tháng trong năm từ 1.400mm - 2.054,6mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn
bộ lãnh thổ của huyện Do ảnh hưởng của dãy núi Con Voi; núi Pú Luông; và dải núi phụ Xuân Tầm (Trái Hút - Văn Yên) nên lượng mưa phân bố không đều trong năm; mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% lượng mưa cả năm; các tháng mưa nhiều là tháng 7, 8, 9 mùa Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm, các tháng ít mưa là tháng 11, 12, 1, 2, có
Trang 38tháng hầu như không mưa Tổng số giờ nắng các tháng trong năm dao động từ 1.199 giờ đến 1.338 giờ, trong đó mùa hè và mùa thu có số giờ nắng chiếm 70% số giờ nắng trong năm Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Mùa Đông: Hướng gió chính là hướng Bắc - Đông Bắc; mùa Hạ: Hướng gió chính
là hướng Đông - Đông Nam Sương mù thường xuất hiện từ tháng 11 năm trước
đến tháng 1 năm sau Lượng bức xạ mặt trời đạt 200kg calo/cm², thời gian chiếu
sáng trong ngày giao động từ 10-13,5 giờ, tổng nhiêt độ đạt mức 8.300ºC/năm
Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của sông Hồng chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy qua địa phận huyện với chiều dài 40km Trong nội đồng có Khe Đát, Khe Sâu, Khe Thẹt … Ngoài ra, trên địa bàn mỗi xã còn có hệ thống kênh tưới, tiêu phục vụ sản xuất cho nhân dân Trấn Yên là huyện thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, các sông, suối của huyện có đặc điểm ngắn, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn Nhất là vào mùa mưa lượng nước chảy dồn từ các sườn núi xuống, nước sông lên nhanh gây ngập lụt trên diện rộng Bên cạnh đó mùa khô mực nước sông xuống thấp, nguồn nước tại các mỏ nước cạn kiệt ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên nước: Trấn Yên có hệ thống sông, suối, ao, hồ khá phong phú, trong đó: nguồn nước sông Hồng có diện tích lưu vực gần 600 km², lưu lượng nước 1.500- 5.000 m³/s Ngoài sông Hồng huyện còn 2.334,34 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, đây cũng là nguồn dự trữ và cung cấp nước cho mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Huyện nằm trong vùng chứa nước đệ tam,
đệ tứ nhưng lưu lượng nhỏ 0,11m³/g, độ khoáng hóa 190mg/lít, độ cứng 3 - 4mg/lít,
độ PH từ 7 - 8 Nhìn chung nguồn nước ngầm có chất lượng tương đối tốt nên cần
khai thác phục vụ nhu cầu tại chỗ của nhân dân Lượng mưa bình quân hàng năm lớn (1.400-2.054,6 mm) nhưng phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 tới 80% lượng mưa cả năm Do vậy, mùa mưa thường gây ra úng lụt, mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt
+ Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê đất đai ngày 01 tháng 08 năm 2014 huyện có 47.274,73 ha đất lâm nghiệp, chiếm 75,21 % tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 39của huyện, trong đó: Rừng sản xuất có diện tích 38.576,94 ha chủ yếu là quế, tre bát
độ, keo, bồ đề Rừng phòng hộ có diện tích 8.697,79 ha chủ yếu phân bổ ở khu
vực có độ dốc trên 25º, không thuận tiện đi lại Trồng rừng phòng hộ của Trấn Yên trong những năm qua đã được bảo vệ nghiêm ngặt, công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ đã phát huy được hiệu quả, hạn chế rất nhiều tình trạng cháy rừng, làm tăng độ che phủ, ổn định cân bằng môi trường sinh thái Với tiềm năng lớn về rừng, đất rừng, cùng với các chủ trương chính sách hợp lý của tỉnh, huyện về đẩy mạnh phát triển vốn rừng sẽ mở ra cho huyện nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản
+ Tài nguyên khoáng sản: Theo đánh giá của Quy hoạch phân vùng hoạt
động khoáng sản tỉnh Yên Bái đến năm 2010 và các tài liệu liên quan đến thăm dò
khoáng sản của tỉnh, huyện Trấn Yên có các khoáng sản có giá trị kinh tế như: Quặng sắt phân bố ở xã Việt Hồng, Lương Thịnh, Hưng Thịnh, Hưng Khánh, Hồng
Ca, Kiên Thành với trữ lượng trên 91 triệu tấn, riêng mỏ quặng sắt ở xã Kiên Thành
có hàm lượng sắt trên 60% hiện đang được khai thác Đá thạch anh phân bố ở xã Hòa Cuông, Việt Hồng, Lương Thịnh, Kiên Thành, Y Can với trữ lượng trên 52.000 tấn, đảm bảo chất lượng cho sản xuất kính và sứ Mỏ cao lanh tại xã Cường Thịnh
có trữ lượng 150.000 tấn Mỏ sét ở xã Bảo Hưng, Y Can, Đào Thịnh … hiện đang
được thăm dò nên chưa có kết quả đánh giá về trữ lượng và chất lượng Quặng
Graphít phân bố ở xã Báo Đáp, Đào Thịnh, Nga Quán hiện đang được thăm dò nên chưa có kết quả đánh giá được trữ lượng và chất lượng Vật liệu xây dựng thông thường như: đá xây dựng, cát sỏi,… phân bố chủ yếu ở xã Minh Quán, Việt Cường, Việt Hồng, Kiên Thành với trữ lượng trên 1.000.000m³; cát, sỏi phục vụ nhu cầu xây dựng của nhân dân được phân bố dọc theo sông Hồng với trữ lượng ước tính 3.100.000m³ Tài nguyên khoáng sản của huyện Trấn Yên được đánh giá rất đa dạng, phân bổ đều trên địa lãnh thổ và đây cũng là một trong những tiềm năng thế mạnh của huyện
+ Tài nguyên nhân văn: Huyện Trấn Yên có 6 thành phần dân tộc anh em, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 66,5%; dân tộc Tày chiếm 20,5%; dân tộc Dao
Trang 40chiếm 8,4%; dân tộc Mường chiếm 2,3%; dân tộc Mông chiếm 1,9%, dân tộc khác chiếm 0,4% Cộng đồng các dân tộc trong huyện với những truyền thống, bản sắc riêng đã hình thành một nền văn hoá phong phú, có nhiều nét độc đáo và giầu bản sắc dân tộc
Trấn Yên là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng, nhân dân các dân tộc trong huyện có tinh thần đoàn kết yêu quê hương,
có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên
Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế
xã hội, trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế; là thuận lợi để
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện vững bước đi lên trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng huyện giàu, đẹp, văn minh
1.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Hiện trạng sử dụng đất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông
lâm nghiệp Vai trò của đất đai càng trở nên quan trọng hơn đối với những địa phương mà sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu như huyện Trấn Yên Vấn đề sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế của huyện Diện tích
đất sản xuất nông lâm nghiệp huyện Trấn Yên đã khai thác đưa vào sử dụng là
58.183 ha, cơ bản là đúng mục đích, hiệu quả sử dụng đất ngày càng tăng nhưng chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng của đất đai Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái qua 3 năm từ 2012 đến 2014 thể hiện ở bảng sau: