1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm

36 2,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm
Tác giả Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Biên tập
Năm xuất bản 2025
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 251,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, các doanh nghiệpcũng ít chú ý tới vấn đề chất lượng sản phẩm, mà nếu có cũng chỉ trên giấy tờ, khẩu hiệuChất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ là tập hợp các đặc tính kỹ thu

Trang 1

Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm

Biên tập bởi:

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Trang 2

Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm

Trang 3

MỤC LỤC

1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm

2 Phân loại chất lượng sản phẩm

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

4 Một số quan điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và các giai đoạn phát triển nhậnthức về quản lý chất lượng sản phẩm

5 Nội dung công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp

6 Các công cụ sử dụng trong quản lý chất lượng sản phẩm

7 Một số mô hình quản lý chất lưọng

8 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm

Tham gia đóng góp

Trang 4

Khái niệm về chất lượng sản phẩm

Khái niệm về chất lượng sản phẩm

Trong cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ chất lượng thường xuyên được nhắc tới, nhưngkhông phải ai cũng có thể hiểu được thấu đáo và sử dụng đúng các thuật ngữ này

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau được các nhà nghiên cứu đưa ra trên cơ sở nghiêncứu ở các góc độ khác nhau

Theo Philip.B.Groby cho rằng: "Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặctính nhất định"

J.Jujan lại cho rằng: : "Chất lượng là sự phù hợp với các mục đích và việc sử dụng"

Các khái niệm trên được nhìn nhận một cách linh hoạt và gắn liền nhu cầu, mục đích sửdụng của người tiêu dùng

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: " Chất lượng là tổng thể những tính chất, nhữngthuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác"

Theo tiêu chuẩn số 8402-86 (Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO) và tiêu chuẩn số TCVN5814-94 (Tiêu chuẩn Việt nam): "Chất lượng là tập hợp các đặc tính của 1 thực thể, đốitượng; tạo cho chúng khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn":

Các khái niệm đưa ra trên đây cho dù được tiếp cận dưới góc độ nào đều phải đảm bảođược 2 đặc trưng chủ yếu

-Chất lượng luôn luôn gắn liền với thực thể vật chất nhất định, không có chất lượng táchbiệt khỏi thực thể Thực thể được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là sản phẩm mà cònbao hàm cả các hoạt động, quá trình, doanh nghiệp hay con người

-Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn nhu cầu Nhu cầu bao gồm cả những nhu cầu đãnêu ra và những nhu cầu tiềm ẩn được phát hiện trong quá trình sử dụng

Trong những năm trước đây, quan điểm của các quốc gia thuộc hệ thống XNCN chorằng chất lượng sản phẩm đồng nhất với giá trị sử dụng của sản phẩm Họ cho rằng,:"Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm phản ánhgiá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó" Quan điểm này được xem xét dưới góc

độ của nhà sản xuất Theo đó, chất lượng sản phẩm được xem xét biệt lập, tách rời vớinhu cầu, sự biến động của thị trường, hiệu quả kinh tế và các điều kiện của một doanhnghiệp Tuy nhiên, quan điểm này lại phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ Trong nền

Trang 5

kinh tế kế hoạch hoá tập trung mọi vấn đề đều được thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch,sản phẩm sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường Đồng thời, các doanh nghiệpcũng ít chú ý tới vấn đề chất lượng sản phẩm, mà nếu có cũng chỉ trên giấy tờ, khẩu hiệu

Chất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ

và vận hành sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, nó phản ánh giá trị sử dụng

và chắc năng của sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sảnphẩm Trong những điều kiện xác định về kinh tế xã hội, quan điểm này đã phản ánhđúng bản chất của sản phẩm về mặt kỹ thuật Nhưng ở đây, nó chỉ là 1 chỉ tiêu kỹ thuật,không gắn liền với những biến đổi của nhu cầu thị trường, cũng như điều kiện sản xuất

và hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, mỗi nước mỗi khu vực cụ thể Do vậy,điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ chất lượng sản phẩm không cải tiến kịp thời, khả năng tiêuthụ kém và không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Tuy nhiên quan điểm này đểdùng đánh giá được chất lượng sản phẩm, đồng thời có thể cải tiến, hoàn thiện sản phẩm(về mặt kỹ thuật) thông qua việc xác đinh rõ những đặc tính hoặc chỉ tiêu của sản phẩm

Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo hướng khách hàng là các đặc tính của sản phẩm phùhợp với yêu cầu của khách hàng và có khả năng thoả mãn nhu cầu của họ Theo cáchtiếp cận này thì chỉ có những đặc tính của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàngmới được coi là chất lượng sản phẩm Mức độ thoả mãn nhu cầu là cơ sở để đánh giáchất lượng sản phẩm ở đây, chất lượng sản phẩm không cần thiết phải tốt nhất, caonhất mà chỉ cần nó phù hợp và đáp ứng được các nhu cầu của người tiêu dùng Kháchhàng chính là người xác định chất lượng của sản phẩm chứ không phải nhà sản xuấthay nhà quản lý Do đó, sản phẩm hàng hoá cần phải được cải tiến, đổi mới một cáchthường xuyên và kịp thời về chất lượng để thoả mãn 1 cách tốt nhất nhu cầu của ngườitiêu dùng Đây cũng chính là khó khăn lớn mà nhà sản xuất- kinh doanh phải tự tìm racâu trả lời và hướng đi lên của doanh nghiệp

Theo các hướng tiếp cận trên đây, để giảm đi những hạn chế của từng quan niệm, tổchức ISO đã đưa ra khái niệm về chất lượng sản phẩm như sau: "Chất lượng sản phẩm

là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng); tạo cho thực thể (đối tượng) đó

có khả năng thoả mãn nhu cầu xác định hoặc tiềm ẩn" Quan niệm này phản ánh đượcchính xác, đầy đủ, bao quát nhất những vấn đề liên quan tới chất lượng sản phẩm, từcác yếu tố, đặc tính cơ lý hoá liên quan đến nội tại sản phẩm tới nhứng yếu tố chủ quan

Trang 6

trong quá trình mua sắm và sử dụng của người tiêu dùng: đó là khả năng thoả mãn nhucầu Chính vì sự kết hợp này mà khái niệm trên đây được chấp nhận khá phổ biến.

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp phải không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm Nhưng trái lại, việc nâng cao chất lượng sản phẩm lại bịgiới hạn bởi công nghệ và các điều kiện kinh tế xã hội khác Do đó, chất lượng sản phẩmtrong nền kinh tế thị trường được coi là hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm,được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được và phù hợp vớinhững điều kiênj kinh tế - xã hội và kỹ thuật hiện tại, thoả mãn được nhu cầu nhất địnhcủa xã hội Gắn liền với quan niệm này là khái niệm chất lượng tối ưu và chất lượngtoàn diện Điều này có nghĩa là lợi ích thu được từ chất lượng sản phẩm nằm trong mốitương quan chặt chẽ với những chi phí lao động xã hội cần thiết

Ngày nay, chất lượng sản phẩm còn gắn liền với các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khibán hàng Vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn, thanh toán thuận tiện ngày càngtrở nên quan trọng hơn Và khi các phương pháp sản xuất mới: Just in time; Non stockproduction ngày càng phát triển đến 1 hình thái mới là chất lượng tổng hợp phản ánh 1cách trung thực trình độ quản lý của mỗi doanh nghiệp thông qua 4 yếu tố chính đượcthể hiện trên mô hình sau

Từ các phân tích trên ta có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của chất lượng

Chất lượng được đo bởi thoả mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà khôngđược nhu cầu chấp nhận thì phải được coi là sản phẩm chất lượng kém, dù trình độ côngnghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là

cơ sở để các nhà sản xuất định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình

Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn mà nhu cầu, không gian, điều kiện sử dụng.Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính củađối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể

Trang 7

Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng cónhững nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng có thể đảm nhận chúng, hoặc

có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng

Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá như ta vẫn hiểu hàngngày Chất lượng còn áp dụng cho mọi thực thể, đó có thể là sản phẩm, hay một hoạtđộng, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người

Mặt khác, khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch

vụ sau khi bán Đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sảnphẩm của họ định mua thoả mãn nhu cầu của họ Ngoài ra vấn đề giao hàng đúng lúc,đúng thời hạn là yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất hiện đại, nhất là các phươngpháp dự trữ bằng không đang phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây

Trang 8

Phân loại chất lượng sản phẩm

Phân loại chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là 1 phạm trù tổng hợp cả về kinh tế-kỹ thuật, xã hội gắn với mọimặt của quá trình phát triển Do đó, việc phân loại chất lượng sản phẩm được phân theohai tiêu thức sau tuỳ thuộc vào các điều kiện nghiên cứu thiết kế, sản xuất, tiêu thụ

Phân loại chất lượng theo hệ thống ISO 9000.

Theo tiêu thức này, chất lượng sản phẩm được chia thành các loại sau:

-Chất lượng thiết kế

Chất lượng thiết kế của sản phẩm là bảo đảm đúng các thông số trong thiết kế được ghilại bằng văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường, các đặc điểm của sản xuất,tiêu dùng và tham khảo các chỉ tiêu chất lượng cả các mặt hàng cùng loại

-Chất lượng tiêu chuẩn

Là mức chất lượng bảo đảm đúng các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm do các tổ chứcquốc tế, nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền quy định

+Tiêu chuẩn quốc tế: Là tiêu chuẩn do các tổ chức chất lượng quốc tế nghiên cứu, điềuchỉnh và triển khai trên phạm vi thế giới và được chấp nhận ở các nước khác nhau

+Tiêu chuẩn quốc gia: Là tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành, được xây dựng trên cơ sởứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới phù hợp với điều kiện kinh tế củađất nước

+Tiêu chuẩn ngành: Là chất lượng do các bộ, ngành ban hành được áp dụng trong phạm

Trang 9

Là mức chất lượng có thể chấp nhận được giữa chất lượng thực tế và chất lượng tiêuchuẩn, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- kỹ thuật, trình độ lành nghề của công nhân,phương pháp quản lý của doanh nghiệp

-Chất lượng tối ưu:

Là mức chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao chất lượng lớn hơn chi phíđạt mức chất lượng đó

Ngày nay, các doanh nghiệp phấn đầu đưa chất lượng của sản phẩm hàng hoá đạt mứcchất lượng tối ưu là một trong những mục đích quan trọng của quản lý doanh nghiệpnói riêng và quản lý kinh tế nói chung Tuy nhiên, mức chất lượng tối ưu tuỳ thuộc vàođặc điểm tiêu dùng cụ thể của từng nước, từng vùng trong những thời điểm khác nhau.Nâng cao chất lượng sản phẩm trên cơ sở giảm tỷ suất lợi nhuận trên từng đơn vị sảnphẩm với mức chi phí hợp lý, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm

và thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

Phân loại theo mục đích công dụng của sản phẩm.

-Chất lượng thị trường

Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhất trong điều kiệnkinh tế-xã hội nhất định Nói cách khác, chất lượng là thị trường, là khả năng sản phẩmthoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng có khả năng cạnh tranh trên thị trường, sức tiêuthụ nhanh hiệu quả cao

Trang 10

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Nhóm nhân tố khách quan

-Thị trường

Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả, quy mô thị trường, cạnhtranh Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thị trường,đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Trên cơ sởnghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là đối tượngnào? Quy mô ra sao? và tiêu thụ ở mức như thế nào?

Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để có thểđưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khảnăng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi vì sản phẩm có chất lượng cao khôngphải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lại chất lượng có thể không cao nhưng ngườitiêu dùng lịa mua chúng nhiều Điều này có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ởcác thị trường khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm Điều nàyđược phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuât theomùa vụ

Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu của ngườitiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản phẩm Nhưngkhi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấpnhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình

Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có chấtlượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quan tâm tới khía cạnh tẩm

mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm

-Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật

Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa họccông nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học

kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹthuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: Tự độnghoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tại ra những thay

Trang 11

đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệunâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra những thách thức khôngnhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác và vận hành công nghệ có hiệuquả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì thời gian để chếtạo côngnghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút ngắn lại Sự ra đời của một công nghệmới thường đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó,đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ khôngthể ngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của các doanhnghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều

-Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước

Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cảitiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việc ban hành các hệ thốngchỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêmviệc sản xuất hàng giả, hành kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan,các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng,tạo động lực phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sảnphẩm

Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan hệchặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệtphải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước Cơ chế quản lý vừa là môi trường,vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chấtlượng sản phẩm

-Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng sảnphẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt dới, nóng ẩm mưa nhiều như ViệtNam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi chất lượng củasản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông vàtiêu dùng

Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trực tiếptới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi Đồng thời, nó cũngảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máymóc hoạt động ngoài trời Khí hậu, nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho côn trùng, vi sinhvật hoạt động làm cho sản phẩm bị phân huỷ, nấm mốc, thối rữa ảnh hưởng tới hìnhthức và chất lượng của sản phẩm Điều này dễ dàng gặp ở các sản phẩm có nguồn gốc

từ nông nghiệp,ngư nghiệp

Trang 12

-Văn minh và thói quen tiêu dùng

Trình độ văn hoá, thói quen và sở thích tiêu dùng của mỗi người là khác nhau Điềunày phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố tác động như: Thu nhập, trình độ học vấn, môitrường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, mỗi khu vực Do đó,đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, phân đoạn thị trường theo các tiêu thứclựa chọn khác nhau trên cơ sở các nhân tố ảnh hưỏng để xác định các đối tượng mà sảnphẩm mình phục vụ với chất lượng đáp ứng phù hợp với từng nhóm khách hàng riêngbiệt

Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao thì văn minh

và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn Vì thế, doanh nghiệp cần phải nắmbắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cảo sản phẩm của mình để đáp ứng nhu cầuluôn thay đổi của người tiêu dùng

Nhóm các nhân tố chủ quan.

Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp

có thể( hoặc coi như có thể) kiểm soát được Nó gắn liến với các điều kiện của doanhnghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, trình độ quản lý Các nhân

tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

-Trình độ lao động của doanh nghiệp

Trong tất cả các hoạt động sản xuất, xã hội, nhân tố con người luôn luôn là nhân tố cănbản, quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nó được phản ánh thông qua trình

độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm của từng lao độngtrong doanh nghiệp Trình độ của người lao động còn được đánh giá thông qua sự hiểubiết, nắm vững về phương pháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụngcủa máy móc, thiếtbị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp côngnghệ và các điều kiện đảm bảo an toàn trong doanh nghiệp

Để nâng cao chất lượng quản lý trong doanh nghiệp cũng như nâng cao trình độ nănglực của lao động thì việc đầu tư phát triển và bồi dưỡng cần phải được coi trọng

Mỗi doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức lao động khoa học, đảm bảo và trang bịđầy đủ các điều kiện, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh cho người lao động Bêncạnh đó, các doanh nghiệp phải có các chính sách động viên, khuyến khích nhằm pháthuy khả năng sáng tạo trong cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua chế độthưởng phạt nghiêm minh Mức thưởng phạt phải phù hợp, tương ứng với phần giá trị

mà người lao động làm lợi hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp

-Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng

Trang 13

Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản, quyết địnhtới chất lượng sản phẩm.

Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớn tớichất lượng sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng với trình độ công nghệ,máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản phẩm có chất lượng cao Ngượclại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công nghệ là có thể có được những sảnphẩm chất lượng cao, mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vậtliệu, trình độ quản lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc, thiết bị

Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạtthì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình độ của các doanh nghiệp

về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rất nhiều và không thể tách rời trình độcông nghệ thế giới Bởi nếu không, các nước, các doanh nghiệp sẽ không thể theo kịpđược sự phát triển trên thế giới trong điều kiện đa dạng hoá, đa phương hoá Chính vì lý

do đó mà doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình có chất lượng đủ khả năng cạnh tranhtrên thị trường thì doanh nghiệp đó cần có chính sách công nghệ phù hợp và khai thác

sử dụng có hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại, đã đang và sẽ đầu tư.-Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp

Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù có ở trình độcao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa cáckhâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không nhữngthế, nhiều khí nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanhnghiệp Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuấttrong doanh nghiệp đóng một vai tròn hết sức quan trọng

Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quảthì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nóiriêng một trong những nhân tố cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩmcủa doanh nghiệp Điều này gắn liều với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản

lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xácđịnh được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến

Trên thực tế, sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000

đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của quản lý trong qúa trình thiết kế, tổ chức sảnxuất, cung ứng và các dịch vụ sau khi bán hàng

-Chất lượng nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu thành thựcthể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượngnguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung

Trang 14

ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quátrình sản xuất diễn ra liên tục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngượclại, không thể có được những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất khôngbảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu.

Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào mà doanh nghiệp có thể bảo đảm được việc cung ứngnguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với chất lượng cao, kịp thời, đầy đủ và đồng bộ ?Điều này chỉ có thể thực hiện được, nếu như doanh nghiệp xác lập thiết kế mô hình dựtrữ hợp lý; hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở nghiên cứu đáng giánhu cầu về thị trường (cả đầu vào và đầu ra), khả năng tổ chức cung ứng, khả năng quảnlý

-Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp

Theo quan điểm quản trị chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù công nhân là người trựctiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là người phải chịu trách nhiệm đốivới sản phẩm sản xuất ra Trong thực tế, tỷ lệ tỷ lệ liên quan đến những vấn đề trongquản lý chiếm tới 80%

Do vậy, họ phải nhận thức được rằng đó không chỉ do lỗi ở trình độ tay nghè người côngnhân mà còn do chính bản thân mình Trên thực tế, liệu đã có nhà quản lý nào đặt chochính họ những câu hỏi như: Họ bố trí lao động đã hợp lý chưa? Việc bố trí có pháthuy được khả năng, trình độ tay nghề của người công nhân hay không? Sản phẩm sảnxuất với chất lượng kém có phải do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay donguyên nhân nào khác

Thêm vào đó, chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập ra dựa trên nhữngnghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo doanh nghiệp Quan điểm của họ có ảnh hưởngrất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàn công ty Điều này chứng tỏ rằng, chỉ cónhận thức được trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp thì mới có cở sở thực hiện việccải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

Trang 15

Một số quan điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và các giai đoạn phát triển nhận thức

về quản lý chất lượng sản phẩm

Một số quan điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm

Một số quan điểm về quản trị chất lượng sản phẩm

Chúng ta biết rằng, để đạt được "chất lượng" như mong muốn, nó đòi hỏi phải có sựkết hợp hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Một trong những yếu tốhết sức quan trọng là "quản lý chất lượng" Phải có hiểu biết đúng đắn về chất lượng vàquản lý chất lượng thì mới có thể giải quyết tốt vấn đề chất lượng Quản lý chất lượng

đã được áp dụng trong nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp với quy mô lớn nhỏkhác nhau Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể xác định đúng đắn những nhiệm vụquan trọng và phương pháp nâng cao khả năng cạnh tranh

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiểu và vận dụng đúng nghĩa của nó Từ các khíacạnh, góc độ khác nhau mỗi nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận riêng

Theo nhà quản lý người Anh A.G Robetson: "Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng dụngcác biện pháp , thủ tục, kỹ thuật, đảm bảo cho sản phẩm phù hợp với thiết kế, yêu cầutrong hợp đồng kinh tế bằng con đưòng hiệu quả nhất, kinh tế nhất"

Theo Ishikawa - nhà nghiên cứu chất lượng người Nhật cho rằng: "Quản lý chất lượngsản phẩm có nghĩa là nghiên cứu - thiết kế- triển khai sản xuất và bảo dưỡng, một sảnphẩm có chất lượng phải kinh tế nhất và bao giờ cũng thoả mãn được nhu cầu của ngườitiêu dùng"

Quản lý chất lượng sản phẩm theo định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO là mộthoạt động có chức năng quản lý nhằm đề ra các chính sách, mục tiêu, trách nhiệm vàthực hiện chúng bằng các biện pháp như: Hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng,đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng

Nhìn chung các khái niệm trên đây đều có những điểm giống nhau:Quản lý chất lượng

là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng thoả mãn nhu cầu thị trường với chiphí thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao nhất được tiến hành ở tất cả các công đoạn hìnhthành chất lượng sản phẩm từ nghiên cứu-thiết kế-triển khai sản xuất-bảo quản và vậnchuyển đến tiêu dùng Quản lý chất lượng cần được bảo đảm trong tất cả các khâu, đó

Trang 16

là trách nhiệm của toàn bộ nhân sự trong công ty từ cán bộ lãnh đạo cho tới các nhânviên, công nhân trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm

Trong lịch sử phát triển của sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đã không ngừng tănglên do tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt Cùng với

sự phát triển đó thì khoa học quản lý được phát triển và hoàn thiện ngày càng đầy đủhơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng, phản ánh sự thích ứng với môitrường và điều kiện kinh doanh mới Quá trình nhận thức và ứng dụng về quản lý chấtlượng sản phẩm đã vận động qua các giai đoạn khác nhau:

-Kiểm tra chất lượng

Các sản phẩm sau quá trình sản xuất mới tiến hành kiểm tra các khuyết tật Khi pháthiện ra các khuyết tật mới đề ra các biện pháp xử lý, thông thường phương pháp nàykhông phát hiện ra được nguyên nhân đích thực

Tuy nhiên, để khắc phục những sai sót này thì các doanh nghiệp đã tăng cường các cán

bộ KCS Đi kèm với việc này là việc tăng chi tiêu rất nhiều mà công tác kiểm tra khôngđảm bảo, trong nhiều trường hợp độ tin cậy rất thấp

-Kiểm soát chất lượng

Là việc đề ra các biện pháp đề phòng ngừa các sai sót, hay khuyết tật có thể xảy ra trongquá trình sản xuất thông qua

+Kiểm soát con người

+Kiểm soát phương pháp và quy trình sản xuất

+Kiểm soát người cung ứng ( nguyên, nhiên vật liệu )

+Kiểm soát trang thiết bị dùng trong thử nghiệm và sản xuất

+Kiểm soát thông tin

-Đảm bảo chất lượng

Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mứcchất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Đây là quá trìnhcung cấp các hồ sơ chứng minh việc kiểm soát chất lượng và các bằng chứng việc kiểmsoát chất lượng sản phẩm cho khách hàng

Trang 17

Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được kiểm định nếu cần

để đem lại lòng tin thoả đnág sản phẩm thoả mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng

Quan điểm đảm bảo chất lượng lần đầu tiên được áp dụng đối với các ngành công nghiệpđòi hỏi độ tin cậy cao sau đó phát triển rộng sang các sản phẩm bình thường khác độ tincậy không cao

-Quản lý chất lượng

Là việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế để

có thể có được giá thành rẻ nhất Bằng việc đề ra các chính sách thích hợp, quản lý chấtlượng cho phép tiết kiệm tối đa và giảm thiểu các chi phí không cần thiết

-Quản lý chất lượng toàn diện

Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm có 4 quátrình trên

Quản lý chất lượng toàn diện là một phương phá quản lý trong một tổ chức định hướngvào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đến sự thành công dàihạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên trong công ty và

xã hội

Chất lượng (sản phẩm) toàn diện là sự thoả mãn sự mong đợi của người tiêu dùng cóliên quan đến doanh nghiệp cả bên trong và bên ngoài Quản lý chất lượng toàn diệnđược thực hiện trên quy mô tổng thể với sự tham gia của mọi thành viên trong doanhnghiệp, nhằm đạt được: "chất lượng toàn diện" trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiệncần thiết để có:

+Chất lượng thông tin

+Chất lượng đào tạo

+ Chất lượng trong hành vi thái độ cư xử trong nội bộ doanh nghiệp cũng như đối vớikhách hàng bên ngoài

Trang 18

Nội dung công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp

Nội dung công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp

Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế.

Công tác thiết kế có tầm quan trọng rất lớn thể hiện ý đồ có tính chất quyết định trongchiến lược sản phẩm, chính sách chất lượng của một doanh nghiệp Các sản phẩm đượcthiết kế một cách đúng đắn, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng sẽ góp phần rấtlớn trong thành quản hoạt động, khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Côngtác thiết kế được hiểu là sự kết hợp giữa nghiên cứu của bộ phận Marketing và triểnkhai thực hiện của phòng quản lý sản xuất Nó được xem như cầu nối giữa chức năngmarketing và chức năng tác nghiệp trong một doanh nghiệp Do đó, công tác thiết kếphụ thuộc rất nhiều vào kết quả, hiệu quả, chất lượng của các hoạt động nghiên cứu thịtrường Hoạt động này có ảnh hưởng rất nhiều tới khả năng tiêu thụ, cạnh tranh của sảnphẩm trong tương lai, nó đưa ra những đề xuất cho thiết kế sản phẩm mới phù hợp hơnvới nhu cầu thị trường

Các công việc cần thực hiện trong giai đoạn này:

-Tập hợp và chuyển hoá những nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm của sản phẩmthông qua nghiên cưú đề xuất của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp: marketing, tàichính, tác nghiệp, cung ứng nhằm thiết kế sản phẩm Thiết kế là quá trình bảo đảm thựchiện những đặc điểm sản phẩm đã xác định để thoả mãn nhu cầu khách hàng Kết quảcủa các quá trình này là các bản sơ đồ thiết kế, ích lợi mà người tiêu dùng nhận được từđặc điểm của sản phẩm

-Đưa ra các phương án khác nhau cho quá trình thiết kế để đáp ứng được nhu cầu thịtrường Các đặc điểm sản phẩm có thể lấy từ sản phẩm cũ hay cải tiến cho phù hợp vớinhững đòi hỏi mới, hoặc đưa ra những đặc điểm hoàn toàn mới

-Thử nghiệm, kiểm tra các phương án nhằm lựa chọn phương án tối ưu

-Quyết định những đặc điểm đã lựa chọn Đáp ứng nhu cầu thích hợp với khả năng, bảođảm tính cạnh tranh, tối ưu hoá chi phí

-Phân tích kinh tế: đánh giá mối quan hệ giữa những lợi ích mà sản phẩm đem lại vớichi phí để sản xuất sản phẩm

Những chỉ tiêu cần kiểm tra trong giai đoạn này bao gồm:

Ngày đăng: 23/05/2014, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w