Nhưng trong quá trình dạy học, HS không chỉ đóng vai trò là kháchthể mà còn đóng vai trò chủ thể, vì họ có ý thức được nhiệm vụ học tậpcủa mình, tự giác tích cực trong học tập, nhận mọi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Với quá trình phát triển và không ngừng nâng cao, đất nước ta đã
và đang là một nước phát triển với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vượtbậc Tuy nhiên, tình trạng thừa thầy thiếu thợ đang trở thành nỗi lo cho sựnghiệp giáo dục nước nhà và cho cả đất nước Chính vì vậy, bài tiểu luậnnày đề cập tới vấn đề: nâng cao chất lượng dạy nghề điện, với mongmuốn đóng góp ý kiến và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạynghề điện tại trường cao đẳng công nghiệp Việt Hung, cũng như chấtlượng dạy nghề điện nói chung Với kinh nghiệm và kiến thức còn hạnhẹp sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong được sự đóng góp vàgiúp đỡ từ giảng viên
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Khang đã giảng dạy tậntình trong quá trình đứng lớp, giúp cho tôi có thêm những kiến thức bổích để hoàn thiện tiểu luận
Trang 2Lời nói đầu 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY
NGHỀ ĐIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ
ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT
1.2 Quá trình dạy học ở trường dạy nghề: 8
1.2.2 Bản chất quá trình dạy học ở trường dạy nghề: 81.2.3 Các yếu tố của quá trình dạy học ở trường dạy nghề: 101.2.3.1 Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy nghề: 10
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ ĐIỆN TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT HUNG
TRONG NHỮNG NĂM QUA
18
2.1 Khái quát về trường cao đẳng Việt Hung:
2.1.1 Khái quát về sự phát triển của nhà trường:
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY NGHỀ ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG VIỆT HUNG
203.1 Một số nguyên tắc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào 20
Trang 4Quá trình học: là quá trình hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội trithức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách và tạo tiền đềcho họ có thể vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả Nó là quá trìnhbiến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn, nhập và xử lýthông tin lấy từ môi trường xung quanh
1.1.3 Quan hệ dạy và học:
Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của quá trình dạy học
- Hoạt động của người GV nhằm lãnh đạo, tổ chức và điều khiểnquá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu của HS trong lĩnhvực khoa học kỹ thuật nhất định có liên quan đến tương lai của họ Người
GV với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội
- Học là hoạt động của học sinh, là sự tự giác tích cực huy độngmọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duyngôn ngữ đến tình cảm, ý trí và hành động Hoạt động học tập của họcsinh học nghề phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập với lao động sản xuất,thực hành nghề nghiệp của mình Bản thân phải phải luôn ý thức mìnhvừa là người học, vừa là người tập dượt nâng cao tay nghề, là người côngnhân, người thợ có tay nghề cao, góp phần vào công cuộc không nhỏ vàocông cuộc phát triển và xây dựng đất nước
- Dạy học phải thống nhất biện chứng với nhau, vì kết quả của hoạtđộng học của HSphụ thuộc rất nhiều vào hoạt động dạy của GV Trongquá trình dạy học, người GV đóng vai trò chủ thể tác động đến HS bằngnhững biện pháp sư phạm thông qua nội dung, phương pháp, phương tiệndạy học HS sẽ nhận sự tác động đó và khi đó, HS đóng vai trò là kháchthể Nhưng trong quá trình dạy học, HS không chỉ đóng vai trò là kháchthể mà còn đóng vai trò chủ thể, vì họ có ý thức được nhiệm vụ học tậpcủa mình, tự giác tích cực trong học tập, nhận mọi tác động từ phía GV.Vai trò chủ thể của HS ngày càng được phát huy, thì tác động sư phạmngày càng có hiệu quả cao
Trang 5Trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt của quá trình dạyhọc, hoạt động dạy bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Người GV phảichỉ rõ phương hướng, nội dung, phương pháp học tập cho HS, làm sao
HS tự giác tuân theo hướng dẫn của mình
Trong quá trình dạy học dù trang thiết bị và phương tiện giảng dạy
có đến đâu đi chăng nữa thì GV vẫn đóng vai trò chủ đạo và không đượclàm lu mờ tính tích cực, tính độc lập, chủ động sáng tạo của HS
GV phải có trách nhiệm khơi gợi, bồi dưỡng và phát huy hứng thúnhận thức, tính tích cực nhận thức, vai trò chủ thể của HS Do đó, cần kếthợp chặt chẽ vai trò chủ đạo của GV với tính tích cực, chủ động, độc lậpcủa HS Phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, đó làvấn đề quan trọng trong nghệ thuật dạy học
1.1.3 Chât lượng giáo dục:
a Quan niệm chất lượng:
Có rất nhiều cách giải thích về chất lượng nói chung nhưng vẫnchưa có, thậm chí không thể có sự thống nhất về một định nghĩa chínhxác cho khái niệm này
Chất lượng là khái niệm “đa chiều” và bao hàm nhiều yếu tố Nóđược định nghĩa không những là sự phù hợp với mục tiêu mà còn chứađựng trong đó tính có thể tin cậy được, tính bền vững, tính thẩm mỹ …
Theo một số quan điểm thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục:
“Chất lượng là một khái niệm có ý nghĩa đối với một người hưởng lợi tùy thuộc vào quan niệm của người đó ở một thời điểm nhất định nào
đó và theo các mục đích và mục tiêu đã được đề ra từ trước nào đó” Nói
cách khác, “chất lượng là sự đáp ứng là sự đáp ứng với mục tiêu, và
mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.”
b Chất lượng giáo dục:
Trang 6Hiện nay, các nhà giáo dục và quản lý giáo dục cũng thống nhấtvới quan niệm” chất lượng tương đối” Theo quan niệm đó thì chấtlượng giáo dục nghề nghiệp có hai mặt:
- Chất lượng giáo dục là sự đạt được mục tiêu đào tạo ( phù hợpvới tiêu chuẩn đào tạo) do người cung ứng dịch vụ đào tạo, đó là cơ sởgiáo dục nghề nghiệp đề ra
- Chất lượng ngoài của giáo dục nghề nghiệp là sự thỏa mãnhnhững nhu cầu của người sử dụng sản phẩm của giáo dục nghề nghiệp,nói rộng ra là nhu cầu của xã hội Sản phẩm đó là những người tốtnghiệp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ trung cấp trong cácngành nghề khác nhau đang tham gia thị trường lao động và việc làm Ởkhía cạnh lao động xã hội này, người ta nói tới hiệu quả ngoài của giáodục nghề nghiệp Ở khía cạnh kinh tế, người ta nói tới hiệu quả chi phícủa đào tạo
1.1.4 Dạy nghề:
a Khái niệm dạy nghề:
Khái niệm “dạy nghề” đã được sử dụng gần năm mươi năm và
cũng đã trở thành quen thuộc đối với những người tham gia trong hoạtđộng dạy nghề
Trải qua quá trình phát triển ấy, khái niệm dạy nghề đã có nhiềubiến đổi Trước đây, dạy nghề được hiểu đơn thuần là truyền thụ nghề từngười này sang người khác, còn gọi là truyền nghề Hiện nay, vẫn cònmột số các nghề thủ công truyền thống được truyền dạy theo phươngpháp này
Trang 7Theo quan điểm giáo dục dạy nghề hiện đại, trong dự thảo Luật
cũng đã bổ sung mục giải thích thuật ngữ “dạy nghề” như sau: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm
hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”(Trích “báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật dạy nghề”- Phó chủ tịch Nguyễn Phúc Thanh - Ủy ban thường vụ Quốc Hội) Với quan điểm này, người
thầy chỉ trang bị cho người học những kiến thưc cơ bản, đồng thời giữ vaitrò định hướng phát triển nghề nghiệp cho họ trong tương lai
Quá trình dạy nghề được thực hiện tại các cơ sở đào tạo nhưtrường, lớp, các nhà máy, các trung tâm dạy nghề theo một kế hoạch, mụctiêu, thời gian xác định nhằm đạt trình độ, kỹ năng nhất định
c Chất lượng dạy nghề:
Khái niệm chất lượng dạy nghề là để chỉ chất lượng các công nhân
kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu
và chương trình dạy xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau,đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động “Chất lượng dạy nghề”cũng phải được xem xét ở hai mặt: mặt chủ quan về hiệu quả sử dụng của
cơ sở sản xuất dịch vụ thông qua thị trường lao động
Tóm lại, chất lượng dạy nghề là một khái niệm bao gồm hệ thốngchuẩn các điều kiện, yếu tố tác động đến quá trình dạy học nhằm nâng đạtđược mục tiêu đề ra và đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
1.2 Quá trình dạy học ở trường dạy nghề:
1.2.1 Đặc điểm trường dạy nghề:
Hiện nay, các trường dạy nghề nước ta phần lớn do nhà nước quản
lý, tuy nhiên vẫn có những trường dạy nghề dân lập Ở đây, chỉ đề cập tớicác trường dạy nghề công lập Đặc điểm chung của các trường hiện naylà:
- Có nhiều ngành nghề khác nhau
Trang 8- Cở sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu.
- Trình độ thực chất về sư phạm cũng như chuyên môn của đội ngũ
GV không cao
- Đối tượng đào tạo hầu hết là HS tốt nghiệp THCS, THPT
- Có nhiều đối tượng đào tạo, bậc thợ, và thời gian đào tạo khácnhau
1.2.2 Bản chất quá trình dạy học ở trường dạy nghề:
a Quá trình dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm:
Quá trình sư phạm thường được chia ra hai quá trình bộ phận: quátrình dạy học và quá trình giáo dục Quá trình giáo dục chủ yếu hìnhthành lý tưởng, niềm tin và hành vi đạo đức cho HS Quá trình dạy học làmột quát trình có nhận thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, cóhướng dẫn nhằm trang bị cho HS học vấn bao gồm chủ yếu những trithức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hình thành và phát triển nhân cáchcon người được giáo dục để đáp ứng yêu cầu của xã hội, thực hiện cóhiệu quả các mục đích của giáo dục
Hai quá trình dạy học và giáo dục có quan hệ với nhau đều phục vụcho mục đích đào tạo con người, đào tạo công nhân lành nghề vừa có tài,vừa có đức
b Đặc điểm riêng của quá trình nhận thức của HS học nghề:
Quy luật nhận thức của loài người: “ Từ trực quan sinh động đến tưduy trừu tượng Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biệnchứng của sự nhận thức thực tại khách quan”
Những yếu tố trực quan như sự vật, hiện tượng, mô hình, những lờimiêu tả, câu chuyện của GV tác động vào các giác quan của HS mà tạonên những biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà HS nghiên cứu Đó lànhững tài liệu cảm tính Dựa vào đó, HS phân tích, tổng hợp, so sánh, tưduy trừu tượng, gạt bỏ cái vụn vặt ngẫu nhiên bề ngoài, để nắm lấy cáckhái niệm khoa học, các định luật, các nguyên tắc và lý thuyết có liên
Trang 9quan đến ngành nghề của mình Quá trình học tập của HS học nghề, tuy
có nét cơ bản giống quá trình nhận thức của loài người, của nhà khoa họcnhưng nó cũng có đặc điểm riêng cần chú ý trong quá trình dạy học
HS học nghề chỉ nhận thức cái mới đối với bản thân Quá trìnhnhận thức đó diễn ra trong điều kiện có sự lãnh đạo tổ chức và điều khiểncủa GV Do vậy, quá trình nhận thức đó diễn ra trong điều kiện có sựlãnh đạo tổ chức và điều kiện có sự lãnh đạo tổ chức và điều khiển của
GV Do vậy, quá trình nhận thức của HS nói chung và HS học nghề nóiriêng đi theo con đường thẳng Trong khi đó các nhà khoa học phải tìm racái mới bằng con đường quanh co, khúc khuỷu đầy khó khăn, gian khổ.Quá trình nhận thức của HS chứa đựng các khâu củng cố, kiểm tra, đánhgiá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành vốn riêng của HS.Đồng thời, quá trình nhận thức của HS phải có tính giáo dục thông quadạy chữ để dạy người Trong khi đó những nét đặc biệt này không thấy cótrong quá trình nhận thức của các nhà khoa học
HS nghề có một số đặc điểm tâm lý riêng đó là tư duy là phẩm chấtquan trọng, giữ vai trò quyết định khi lĩnh hội kiến thức nghề nghiệp vàvận dụng những kiến thức này vào thực tiễn một cách có hiệu quả Tưduy không chỉ là hoạt động nhận thức mà còn là hoạt động phối hợp, sángtạo, tư duy có quan hệ với kỹ năng, kỹ xảo, quan hệ với nhân cách, với trigiác và trí nhớ
Như vậy đặc điểm tâm lý của HS học nghề tương đối phức tạp, đadạng, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, làm chỗ dựa chonhau Nhưng tư duy giữ vai trò chủ đạo, vì vậy việc phát triển tư duy,nhất là tư duy kỹ thuật cần được quan tâm thích đáng Tư duy kỹ thuật cóđặc điểm cơ bản là thống nhất chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành Mỗilời giải thích trong lý thuyết cần phải được kiểm tra bằng thực hành Vìvậy, GV cũng như HS phải “ kiểm tra lý luận bằng thực tiễn và kiểm trathực tiễn bằng lý luận Mặt khác, tư duy kỹ thuật có tính cơ động, linh
Trang 10hoạt, đó là cách giải quyết tình huống có vấn đề và biết sử dụng linh hoạtcác kiến thức của mình và các điều kiện khác nhau của thực tiễn sản xuất.
1.2.3 Các yếu tố của quá trình dạy học ở trường dạy nghề:
1.2.3.1 Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy nghề:
a Xác định mục tiêu, nội dung dạy nghề:
GV cần phải dựa vào yêu cầu của thực tiễn sản xuất, môi trườngkinh tế, xã hội, sự phát triển của khoa học công nghệ, mục tiêu đào tạocủa nhà trường để từ đó xây dựng nên mục tiêu môn và nội dung họcmình phụ trách
Mục tiêu đó phải định rõ kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ tưtưởng Các mục tiêu này phải phù hợp với yêu cầu thực tế, có khả năngthực hiện được, đánh giá được
Sau khi xác định được mục tiêu môn học, cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ dạy nghề, GV lựa chọn phương pháp dạy nghề cho phù hợp vớinội dung dạy nghề
b Lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy nghề:
Để lựa chọn phương pháp dạy nghề phù hợp với nội dung và mụcđích của quá trình dạy nghề, ta cần phải làm rõ một số khái niệm:
- Phương pháp có nghĩa là con đường, cách thức để giải quyếtnhững nhiệm vụ nhất định và đạt được mục đích đề ra
- Phương pháp dạy nghề là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy vàtrò chủ động trong quá trình dạy nghề, thầy giữ vai trò chủ đạo, trò đóngvai trò tích cực chủ động nhằm đạt tới mục đích dạy nghề
- Phương pháp dạy nghề phản ánh sự vận động của quá trình nhậnthức của HS, sự vận động của nội dung giảng dạy,cách thức trao đổithông tin giữa thầy và trò, cách thức giao tiếp giữa thầy và trò, cách thứcđiều khiển hoạt động nhận thức, tổ chức hoạt động nhận thức, kiểm trađánh giá kết quả của hoạt động
1.2.3.2 Quá trình nhận thức của HS:
Trang 11a Quá trình nhận thức tích cực:
Giảng dạy là hình thức chủ yếu để truyền thụ cho HS những trithức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống Cung cấp cho HS hiểu biếtsâu rộng về cuộc sống và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo áp dụng những kiếnthức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế Những nhiệm vụ này chỉ cóthể thực hiện được khi HS hứng thú nhận thức làm cho quá trình học tậpđạt kết quả cao
Hứng thú nhận thức (HTNT):
- Khái niệm:
HTHT là khái niệm phức tạp của con người đối với sự vật, hiệntượng xung quanh Thái độ đó biểu hiện ý nguyện của con người muốnbiết một các toàn diện và sâu sắc những tính chất hiện có của chúng Nó
có tính chất hai mặt: một bên là đối tượng nhận thức ( sự vật, hiện tượng)
và một bên là phương hướng nhận thức, thái độ lựa chọn của bản thâncon người
HTNT có đặc điểm là nó gắn liền với xúc cảm, với quá trình tư duy
và có phương hướng ý chí cố gắng khắc phục những khó khăn trong họctập Vì vậy, nó vừa là động cơ thúc đẩy sự hoạt động, vừa là yếu tố kíchthích sự phát triển cá tính con người Khi nhận thấy sự tiếng bộ của mìnhtrong học tập họ cảm thấy hào hứng, vì thế họ sẽ dũng cảm đi thẳng tớinhững khó khăn mới, sẽ làm việc với tất cả nhiệt tình của mình để chiếnthắng những khó khăn
Vì vậy, Usinkixki đã nói: “Hứng thú nhận thức không những làphương tiện dạy học có kết quả, nó còn có tác dụng kích thích việc giáodục đạo đức Những hứng thú truyền hoặc trống rỗng sẽ làm cho trẻ saonhãng cai đẹp, cái đạo đức sẽ không đạt tới mục đích giáo dục”
Trong dạy học GV vạch ra cho HS khía cạnh hấp dẫn hơn của nộidung môn học, nhờ biết tổ chức khéo léo các quá trình nhận thức của HS,
Trang 12GV khêu gợi HTNT của họ và biến nó thành động cơ học tập của HS.Vậy động cơ và động cơ học tập là gì?
Động cơ học tập là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kíchthích HS đạt kết quả nhận thức và hình thành động cơ học tập của HSđược tăng cường do ảnh hưởng của GV và nó là chỗ dựa vững chắc choviệc phát triển tay nghề của họ
HTNT không phát triển một cách tự phát Nó chỉ được phát triểntrong những điều kiện thuận lợi có tác dụng củng cố và phát triển nó
Tóm lại, việc tạo ra cảm xúc trong giờ lên lớp kích thích tính tíchcực hoạt động trí óc của HS là hai điều kiện cơ bản để HTNT được phátsinh, phát triển và củng cố Vấn đề là người GV phải thường xuyên duytrì và bồi dưỡng HTNT cho HS
Bồi dưỡng HTNT cho HS
HTNT của HS được phát sinh, phát triển và củng cố từ bài học nàysang bài học khác, ngày càng vững chắc và dần dần biến thành một nét cátính của bản thân họ
Tuy nhiên, HTNT còn mang tính ngẫu nhiên chưa được vững chắc,
vì vậy cần phải được củng cố và phát triển nếu không sẽ bị mai một và lumờ
HTNT được củng cố và phát triển trước hết ở cái mới lạ làm cho
HS ngạc nhiên, tri thức các em thêm phong phú, làm thay đổi căn bản cácbiểu tượng trước kia đã có Tuy nhiên không phải cứ có cái mới lạ là gâyHTNT cho HS Cái mới và cái chưa biết bao giờ cũng được gắn với cái