Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo Chuyên đề đào tạo
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
T
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
Hiệp hội da - giầy - túi xách Việt NamVietnam Leather, Footwear and Handbag Association
Leather and Shoe research Institute
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Mục tiêu nghiên cứu 1
Nội dung nghiên cứu 1
Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU ĐỂ LÀM GIẦY CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 3
1.1 Tổng quan về vật liệu để làm phần mũ giầy cho người bệnh đái tháo đường 3
1.1.1 Vật liệu làm các chi tiết bên ngoài (mũ giầy) 3
1.1.2 Vật liệu làm các chi tiết lót mũ giầy 7
1.1.3 Vật liệu làm các chi tiết tăng cường cho mũ giầy 10
1.2 Tổng quan về vật liệu để làm phần đế giầy cho người bệnh đái tháo đường 11
1.2.1 Vật liệu làm đế giầy 11
1.2.2 Vật liệu làm lót giầy 14
1.2.3 Vật liệu làm đế trong và độn đế 19
1.3 Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ GIẦY VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO GIẦY CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 22
Trang 32.1 Tổng quan các loại giầy cho người bệnh đái tháo đường theo nguy cơ loét bàn
chân 22
2.1.1 Giầy “sâu rộng” sản xuất hàng loạt với lót giầy bình thường 22
2.1.2 Giầy “sâu rộng” sản xuất hàng loạt có lót giầy tùy chỉnh 23
2.1.3 Giầy tùy chỉnh 24
2.2 Tổng quan công nghệ chế tạo giầy cho người bệnh đái tháo đường 25
2.2.1 Thiết kế và chế tạo phom giầy “sâu rộng” 25
2.2.2 Thiết kế và sản xuất giầy “sâu rộng” 30
2.3 Công nghệ chế tạo giầy tùy chỉnh cho người bệnh đái tháo đường 31
2.3.1 Thiết kế và chế tạo phom giầy tùy chỉnh 31
2.3.2 Thiết kế và chế tạo giầy tùy chỉnh 33
2.3.3 Thiết kế và chế tạo lót giầy tùy chỉnh 34
2.4 Kết luận chương 2 39
CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIẦY CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 40
3.1 Các tiêu chí chất lượng giầy cho người bệnh đái tháo đường 40
3.2 Đánh giá chất lượng giầy cho người bệnh đái tháo đường bằng phương pháp đi thử nghiệm 44
3.3 Đánh giá chất lượng giầy cho người bệnh đái tháo đường bằng phương pháp đo áp lực lên bàn chân 46
3.4 Kết luận chương 3 47
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Bảng tổng hợp vật liệu in 3D 16
Bảng 2 Mối quan hệ giữa các đặc trưng thiết kế giầy dép, mục tiêu cơ sinh học và các thông số phom phải được chỉnh sửa [14] 27
Bảng 3 Yêu cầu đối với giầy cho nữ BNTĐ 41
Bảng 4 Khuyến cáo giầy dép cho BNTĐ theo phân loại nguy cơ bàn chân [26] 42
Bảng 5 Đặc điểm của giầy dép cho bệnh nhân tiểu đường [15] 43
Bảng 6 Bảng câu hỏi để đánh giá các đặc điểm egomomi 45
Bảng 7 Hệ thống định lượng cho từng yếu tố của giày 46
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Giầy được làm từ vải dệt thoi 5
Hình 2 Mặt cắt ngang của da từ xơ vi mảnh “Island-in-the-sea” 6
Hình 3 Mũ giầy và giầy được làm từ vải dệt kim 7
Hình 4 Vải không dệt Camprella 10
Hình 5 Hình ảnh đế ngoài 13
Hình 6 Xốp EVA làm lót mặt 14
Hình 7 Mẫu lót giầy (hỗ trợ bàn chân) làm bằng PU 14
Hình 8 Cấu trúc vải dệt kim “không gian” 19
Hình 9 Hình ảnh mex làm đế trong 21
Hình 10 Giầy sâu rộng và lót giầy 23
Hình 11 Giầy sâu rộng sản xuất hàng loạt và lót giầy tuỳ chỉnh 24
Hình 12 Giầy tuỳ chỉnh và lót giầy tuỳ chỉnh 25
Hình 13 Mối tương quan khi thiết kế phom giầy [12] 25
Hình 14 Quy trình thiết kế phom giầy cho BNTĐ [13] 26
Hình 15 Bốn bước để định hướng bàn chân/phom giầy [14] 29
Hình 16 Các số đo đặc trưng nhất của phom giầy [14] 30
Hình 17 So sánh kích thước bàn chân và phom được chỉnh sửa [14] 30
Hình 18 a Sự thay đổi áp lực đỉnh trung bình theo các thông số hình học của đế cong (rocker sole); Xu thế giảm áp lực ở phần mũi bàn chân có thể đạt được theo kích thước hình học của đế cong [14] 30
Hình 19 Hình ảnh minh họa cấu trúc sản phẩm giầy [20] 31
Hình 20 Mẫu đáy phom giầy xây dựng dự trên kích thước hình ảnh bàn chân 33
Hình 21 Thiết bị quét bàn chân 3D 35
Hình 22 Thiết bị quét lòng bàn chân 3D 35
Hình 23 Hình ảnh 3D bàn chân trái và phải sau quét 3D 35
Hình 24 Tạo lưới và phân tích mô hình 3D bàn chân 36
Hình 25 Tạo mô hình 3D của gót giầy trên phần mềm CAD 36
Hình 26 Vật liệu nhiệt dẻo TPU để in 3D lót giầy tuỳ chỉnh 36
Trang 6Hình 27 In 3D lót giầy tuỳ chỉnh trên thiết bị 3in 3D 36 Hình 28 Lót giầy tuỳ chỉnh được in 3D 36 Hình 29 Lót giầy tuỳ chỉnh in 3D có lớp phủ bề mặt hoàn chỉnh 36 Hình 30 Lót giầy kết hợp có bốn điểm A, B, C và D tương ứng với bốn cảm biến FBG 36 Hình 31 Tư thế trong phép thử quỳ gối/cúi xuống [23] 45 Hình 32 Các tư thế đo khi đối tượng đi giầy mẫu thử 47
Trang 7MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
Bệnh tiểu đường là một vấn đề sức khỏe ngày càng gia tăng trên toàn thế giới
Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng vào năm 2030, hơn 334 triệu người sẽ mắcbệnh tiểu đường [1] Ngày nay, những vấn đề chính đối với những người mắcbệnh tiểu đường là do những biến chứng mà căn bệnh này gây ra Một trongnhững biến chứng liên quan nhất được gọi là “bàn chân đái tháo đường” Nóthường dẫn đến cắt cụt chi Bệnh thần kinh ngoại biên, mất cảm giác ở tứ chi,khiến những người này không biết về các vết loét phát triển trên bàn chân của
họ cho đến khi vết thương bị nhiễm trùng Sau đó, do các biến chứng khác liênquan đến bệnh tiểu đường, nhiễm trùng thường bất chấp việc chữa lành vàphom dẫn đến cắt cụt chi Nguyên nhân chính của loét bàn chân ở bệnh nhântiểu đường bệnh thần kinh người lớn được cho là sự hiện diện của áp lực vùngchân cao bất thường thứ phát sau bệnh thần kinh Rõ ràng là có thể giảm đượctình trạng cắt cụt chi nếu có thể ngăn ngừa loét bàn chân một cách hiệu quả
Trong chuyên đề này, nhóm nghiên cứu thực hiện nội dung: Nghiên cứutổng quan về vật liệu để làm giầy cho người bệnh đái tháo đường, giầy và côngnghệ chế tạo giầy, đánh giá chất lượng giầy cho người bệnh đái tháo đường
Mục tiêu nghiên cứu
Vật liệu để làm giầy, giầy, công nghệ chế tạo giầy và đánh giá chất lượnggiầy cho người bệnh đái tháo đường
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan vật liệu để làm giầy cho người bệnh đái tháođường
- Nghiên cứu tổng quan về giầy và công nghệ chế tạo giầy cho ngườibệnh đái tháo đường
- Nghiên cứu tổng quan phương pháp đánh giá chất lượng giầy chongười bệnh đái tháo đường
Trang 8Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước trong lĩnh vực nghiên cứuTổng quan tài liệu theo phạm vi nghiên cứu, thu thập và tổng hợp các kếtquả nghiên cứu về vật liệu để làm giầy, giầy, công nghệ chế tạo giầy và đánhgiá chất lượng giầy cho người bệnh đái tháo đường một cách có hệ thống và quy
củ, góp phần hiểu biết đầy đủ về chủ đề được nghiên cứu như một phương phápluận cung cấp tổng hợp kiến thức và kết hợp khả năng ứng dụng các kết quả củacác nghiên cứu quan trọng vào thực tế
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU ĐỂ LÀM GIẦY
CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1 Tổng quan về vật liệu để làm phần mũ giầy cho người bệnh đái tháo đường
1.1.1 Vật liệu làm các chi tiết bên ngoài (mũ giầy)
Để làm các chi tiết bên ngoài của mũ giầy người ta thường sử dụng dathuộc, vải dệt thoi và giả da (còn gọi là vải tráng phủ), cũng như kết hợp một sốvật liệu khác Vật liệu phải có các đặc tính cần thiết để làm mũ giầy có thể là dathuộc, vải dệt thoi, vải không dệt hoặc dệt kim từ sợi tự nhiên và tổng hợp, hoặcpolyme (Larcombe 1975) Da thuộc là vật liệu thích hợp nhất để sản xuất giầydép, nhưng hiện nay đã có nhiều nghiên cứu tạo ra các vật liệu tổng hợp thaythế cho da thuộc Các vật liệu tổng hợp thay thế da thuộc chủ yếu được sử dụngtrong sản xuất giầy dép thời trang nữ, vì chi phí sản xuất chúng thấp hơn so vớicác sản phẩm da thuộc tự nhiên (Covington 2009)
Da thuộc: là vật liệu truyền thống và được sử dụng nhiều để làm giầy bởi
chúng có nhiều ưu điểm như thông hơi, thoáng khí… Đến nay, da thuộc vẫn làloại nguyên liệu lý tưởng thích hợp với việc làm giầy
Da thuộc được sản xuất từ da nguyên liệu là các bộ da động vật Da độngvật cấu tạo từ lớp biểu bì, lớp bì và lớp thịt (bạc nhạc) dưới da (hình 1.1) và lớplông phủ Trong sản xuất da thuộc người ta chỉ sử dụng lớp bì, loại bỏ lớp lông,lớp biểu bì và lớp bạc nhạc
Da thuộc được sử dụng nhiều để làm các chi tiết bên ngoài và lót mũgiầy, làm các chi tiết phần đế giầy như đế trong, lót giầy do chúng có tính tiệnnghi tốt (hút ẩm, nhả ẩm, hút nước, thải nước, thông hơi tốt, thân thiện với da cơthể người v.v.) và thỏa mãn các yêu cầu công nghệ sản xuất (độ giãn, tính đànhồi, tính ổn định hành dạng v.v.)
Thành phần cấu tạo chính của da là protit colagen Các tính chất của daphụ thuộc chủ yếu vào tính chất của colagen Tính chất của colagen được xácđịnh bởi cấu tạo hóa học, dạng và các đặc điểm của các nhóm hoạt tính và cácmối liên kết xuất hiện giữa chúng với colagen
Sự phù hợp của da để sản xuất giầy dựa trên các đặc tính nhất định, cụ thể
Trang 10là; khả năng loại trừ nước của nó, nhưng cho phép không khí và hơi nước đi quamặt cắt của mũ giầy Điều này cũng được gọi là hấp thụ nước và thấm hơi nước.
Da có đặc tính đàn hồi tốt, mang lại sự ổn định hình dáng giầy dép sau quá trìnhđịnh hình mũ giầy trên phom (Ol’Shanskii et al 2009) Những đặc tính này giúpcho giầy dép có tính tiện nghi tốt và thoải mái cho bàn chân khi sử dụng, ngàynay nhiều công trình nghiên cứu sản xuất vật liệu tổng hợp có đặc tính vật liệugiống da thuộc Da thuộc vẫn là chất liệu được ưu tiên lựa chọn để làm giầy vìtính tiện nghi của nó, tính ổn định hình dáng sản phẩm trong quá trình sử dụng.Nói chung, các đặc tính của da thuộc phụ thuộc vào nguồn gốc của da nguyênliệu thô nghĩa là da sống, phương pháp thuộc da, phương pháp hoàn thiện dathuộc…
Các đặc tính thoải mái của da thuộc được đề cập ở trên làm cho da thuộctrở nên thích hợp để làm các chi tiết giầy mà tiếp xúc trực tếp với bàn chân.Thông thường, nếu da được sử dụng làm phần mũ giầy, việc hút mồ hôi ở chânkhông có vấn đề gì Phần giầy tiếp xúc với mồ hôi, thường gồm hai loại da viz;Phần da mũ giầy (chủ yếu là da thuộc bằng crom) và phần lót mặt giầy, thường
là da thuộc thực vật (O’Flaherty 1978) Da làm mũ giầy được chuẩn bị và tăngcường trong quá trình thuộc da khác nhau và các chi tiết tăng cường khác nhaucũng được thêm vào mũ giầy trong quá trình sản xuất giầy
Để làm mũ giầy cho bệnh nhân tiểu đường thường sử dụng da cật và daváng Thông thường người ta sử dụng da bò hoặc dê, da cừu mềm (hoặc rấtmềm) thuộc crom có độ dày từ 1,0 đến 1,5 mm Các loại da này có thể là da cậtnguyên (không xẻ) hoặc da cật xẻ Đôi khi người ta dùng các loại da váng (dalớp 2) để làm chi tiết bên ngoài cho một số loại kiểu giầy Da váng có thể đượchoàn tất bằng cách tráng phủ và tạo vân hoa bề mặt nhằm tăng độ bền của da,tạo cho da có ngoại hình của da cật Tuy nhiên các tính chất cơ lý và tính vệsinh của loại da này kém hơn so với da cật, chúng được sử dụng để làm mũ giầy
có chất lượng thấp
Vải dệt thoi: Vải ngày càng được sử dụng nhiều trong công nghiệp sản
xuất giầy một phần do nhu cầu về giầy dép ngày càng tăng, trong khi đó sảnlượng da thuộc không đủ để đáp ứng nhu cầu này, mặt khác do chúng có cáctính chất đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (hút ẩm, hút nước tốt, thải ẩm tốt, thônghơi, thông khí rất tốt v.v.), công nghệ và giá thành rẻ hơn so với da thuộc Để
Trang 11làm chi tiết bên ngoài của giầy thông dụng người ta sử dụng chủ yếu là vải đi từ
xơ sợi bông hoặc vải pha bông với xơ sợi tổng hợp như Pe/co Tuy nhiên vảibông pha có các tính chất tiện nghi bị giảm nên người ta thường dùng vải bông
Vải bông làm mũ giầy thường là vải bạt dày dệt từ sợi bông hoặc sợibông pha được sản xuất theo kiểu dệt vân điểm có khối lượng mét vuông từ 250đến 400 g/m2, mật độ sợi khoảng từ 100 đến 200 sợi/10 cm Để tăng độ bền và
độ chống thấm nước cho các loại vải này người ta thường tráng phủ keo ở mặttrái hoặc bồi dán chúng với vải lót Tuy nhiên cách xử lý này làm giảm đáng kểtính vệ sinh (hút ẩm, thông hơi, thoáng khí của vải)
Hình 1 Giầy được làm từ vải dệt thoi
Da nhân tạo từ xơ vi mảnh hay da từ xơ vi mảnh (Microfiber ArtificialLeather hay Microfiber Leather) là bước phát triển mới của da nhân tạo truyềnthống Loại da này có thành phần chính là xơ vi mảnh (thường là xơ polieste vàpoliamit) và poliuretan Da nhân tạo từ xơ vi mảnh ngày càng được sử dụngnhiều để thay thế cho da thuộc (da được sản xuất từ các bộ da động vật) [1,2]
Trang 12Da nhân tạo từ xơ vi mảnh mô phỏng theo cấu trúc da thuộc tự nhiên, sửdụng nguyên liệu ban đầu là xơ vi mảnh “sea-island” và nhựa polyuretan chấtlượng cao, sử dụng công nghệ sản xuất vải không dệt xuyên kim để tạo cấu trúc3D Cấu trúc theo mặt cắt ngang của da [1, 2].
Hình 2 Mặt cắt ngang của da từ xơ vi mảnh “Island-in-the-sea”
Vải dệt kim được tạo ra bằng sự liên kết các vòng sợi với nhau theo mộtquy luật nhất định Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vải dệt kim thường
có tính đàn hồi, xốp và thẩm thấu không khí tốt hơn các loại vật liệu khác Cấutrúc vải dệt kim phụ thuộc vào loại, độ dày của xơ sợi, kiểu dệt, các chỉ số độchứa đầy và các công đoạn hoàn tất Kiểu dệt của vải dệt kim xác định hìnhdạng và kích thước vòng sợi, do vậy có ảnh hưởng quyết định đến các tính chấtcủa vải
Mặt hàng vải dệt kim dùng để làm giầy khá đa dạng Số lượng vải dệtkim sử dụng trong ngành giầy nói chung ngày càng tăng nhanh do chúng có ưuđiểm như giá thành rẻ hơn so với vải dệt thoi, tính giữ nhiệt tốt, các tính chất cơ
lý của vải dệt kim cho phép dễ dàng tiến hành các công đoạn định hình giầy vàcấu trúc lỏng lẻo cho phép thoát hơi ẩm nhanh
Vải lưới - xu hướng mới sử dụng vải lưới làm mũ giầy Đây là cùng mộtloại vật liệu được sử dụng trong giầy chạy và vì bản chất mỏng, cảm giác rấtnhẹ Nhược điểm là nó cho phép độ ẩm đi vào trong giầy, vì vậy nó làm tăngtrọng lượng và làm chân ướt
Trang 13
Hình 3 Mũ giầy và giầy được làm từ vải dệt kim 1.1.2 Vật liệu làm các chi tiết lót mũ giầy
- Da thuộc: Da thuộc được sử dụng nhiều để làm lót giầy, trong đó có
giầy cho bệnh nhân tiểu đường vì có tính vệ sinh tốt (hút ẩm, hút nước, thải ẩm,thải nước, thông hơi tốt, tính cách nhiệt tốt) có độ bền mài mòn khô và ướt cao,
da mềm mại và thân thiện với bàn chân
Da làm lót giầy có loại da cật và loại da váng (từ da lợn, bò, trâu nguyênliệu) Da lót cật thường là các loại da có chất lượng thấp không phù hợp làm dacho mũ giầy Da váng được sử dụng nhiều để làm lót vì có các tính chất tiệnnghi tốt, giá thành thấp Da làm lót giầy thường yêu cầu độ mền mại do đóthường dùng da thuộc crôm và được tẩm dầu (mỡ)
Da váng dùng để làm lót giầy hiện đang được sử dụng phổ biến trên thịtrường do chúng có cấu tạo từ các chùm xơ colagen mỏng đan xen vào nhau nênrất mềm mại, khả năng thẩm thấu không khí và hơi nước tốt tương tự da mặtcật Một yếu tố quan trọng nữa là loại da này có giá thành rẻ hơn nhiều so với
da mặt cật, nên hợp lý để làm lớp lót giầy Tuy nhiên do độ bền đứt kém nhiềuhơn so với da cật nên cũng gây không ít khó khăn cho công nghiệp sản xuất đặcbiệt là khâu gò mũi giầy trên phom
Riêng về da lợn, loại nguyên liệu này được sử dụng một cách rộng rãi đểlàm lớp lót giầy vì da lợn là một nguồn nguyên liệu vô cùng dồi dào, có độ bềnmài mòn tốt, độ thông hơi tốt rất phù hợp làm lót mũ giầy Các lông cứng xuyênsâu qua tạo nên trong da thuộc các lỗ thủng xuyên làm cho da thẩm thấu nướctốt Ngoài ra da lợn có giá thành rẻ hơn so với các loại da khác và rất phù hợp
để làm lót giầy
- Vải dệt thoi: Để làm lót mũ giầy người ta có thể dùng vải dệt thoi (vải
Trang 14bạt bông) bởi vì vải bông có các tính chất vệ sinh tốt đảm bảo được các yêu cầu
vệ sinh và công nghệ cho nhiều loại giầy Vải bông làm lớp lót giầy thường làvải bạt mỏng dệt từ sợi bông được sản xuất theo một số kiểu dệt chính sau: kiểudệt vân điểm, vân chéo hoặc vân đoạn Do vải bông 100 % có độ bền mài mònướt không cao nên chúng thường không được sử dụng làm lót phần gót giầy, màchủ yếu được sử dụng làm lót phầm mũi mũ giầy
Để làm lót mũ giầy người ta sử dụng vải mỏng hơn so với vải làm chi tiếtbên ngoài của mũ giầy Các loại vải lót có các tính chất giữ nhiệt thấp có khốilượng 190 - 300 g/m2 mật độ sợi trên 10 cm theo sợi dọc là 220 - 420, theo sợingang là 200 - 300 Vải có lông tuyết có tính chất giữ nhiệt cao hơn và có khốilượng lớn hơn 210 g/m2 và mật độ sợi trên 10 cm theo chiều dọc lớn hơn 130,theo chiều ngang lớn hơn 110
Để tăng độ êm xốp cho giầy người ta có thể sử dụng cấu trúc vải dệt thoi+ mút xốp Các lớp vật liệu này được bồi dán keo với nhau trước khi pha cắt.Tuy nhiên tính vệ sinh của hệ vật liệu này bị giảm do có mặt của màng keo
Để tăng tính vệ sinh cho giầy, có thể sử dụng các mặt hàng vải dệt có xử
lý kháng khuẩn Mặt hàng này rất phù hợp cho loại giầy cho bệnh nhân tiểuđường để phòng tránh nhiễm trùng bàn chân do vi khuẩn
- Vải dệt kim: Vải dệt kim được tạo ra bằng sự liên kết các vòng sợi với
nhau theo một quy luật nhất định Do được tạo thành bởi các vòng sợi nên vảidệt kim thường có tính đàn hồi, xốp và thẩm thấu không khí tốt hơn các loại vậtliệu khác Cấu trúc vải dệt kim phụ thuộc vào loại, độ dày của xơ sợi, kiểu dệt,các chỉ số độ chứa đầy và các công đoạn hoàn tất Kiểu dệt của vải dệt kim xácđịnh hình dạng và kích thước vòng sợi, do vậy có ảnh quyết định đến các tínhchất của vải Để sản xuất vải dệt kim dùng làm lớp lót giầy và lót giầy người tathường sử dụng một số kiểu dệt sau đây: kiểu dệt xucno, dệt futer, dệt rib, dệtinterloc
Mặt hàng vải dệt kim dùng trong để làm lót mũ giầy bảo vệ khá đa dạng
Số lượng vải dệt kim sử dụng trong ngành giầy nói chung và trong sản xuất lótgiầy nói riêng ngày càng tăng nhanh do chúng có ưu điểm như giá thành rẻ hơn
so với vải dệt, tính giữ nhiệt tốt, các tính chất cơ lý của vải dệt kim cho phép dễdàng tiến hành các công đoạn định hình lót giầy và cấu trúc lỏng lẻo cho phépthoát hơi ẩm nhanh
Trang 15Tuy nhiên do độ giãn quá cao, độ đàn hồi lớn nên không được dùng làmlót cho các phần mũ giầy chịu biến dạng lớn trong sản xuất vì không đảm bảo
độ ổn định hình dạng Do vậy chúng thường được dùng kết hợp với lớp mút xốphoặc với EVA xốp, PU xốp để làm lót giầy và làm lót phần gót cho mũ giầy
Để làm lót giầy người ta thường sử dụng kết cấu vải dệt kim (ví dụVisatery thành phần 100 % polyeste) bối dán với lớp mút xốp 4-5 mm và lớpvải dệt kim mỏng tricot Cấu trúc này đảm bảo cho giầy êm xốp, hút ẩm, hútnước tốt, thông hơi, truyền ẩm tốt Tương tự vải dệt thoi, hiện nay có một sốmặt hàng vải dệt kim được xử lý kháng khuẩn để làm lót mũ giầy và lót giầy.Chúng phù hợp làm lót giầy cho bệnh nhân tiểu đường
- Vải không dệt: Vải không dệt cấu tạo từ đệm xơ liên kết với nhau bằng
phương pháp hóa học, cơ học và hóa lý v.v Do được cấu tạo từ đệm xơ nên vảikhông dệt có độ bền thấp, độ giãn lớn và sự không đồng đều về tính chất nênđược sử dụng hạn chế để làm các chi tiết bên ngoài của mũ giầy mà chủ yếudùng làm các chi tiết lót, đệm giữa của mũ giầy hoặc làm lót giầy một lớp
Vải không dệt dùng để làm lớp lót giầy chủ yếu là vải không dệt khâu đan
có lông trên bề mặt được làm từ xơ bông Vải không dệt khâu đan được sản xuấtbằng cách gắn kết hai hệ sợi sợi dọc và sợi ngang đặt chồng lên nhau bằng hệsợi thứ ba nhờ sử dụng đường may ziczắc một chỉ Đệm xơ của vải có thể đượcgắn kết bởi kiểu dệt kim đan dọc đơn và dệt đơn đan dọc kép Loại vải này bền
và có độ xốp lớn, tính giữ nhiệt tốt rất thích hợp để làm lót giầy đi mùa đông
Ngành sản xuất vải không dệt phát triển rất mạnh bởi vì ngành này sửdụng nguyên liệu xơ cấp thấp và phế liệu trong sản xuất, trang thiết bị có năngsuất cao và diện tích nhà xưởng ít Ngoài những yếu tố kể trên thì yếu tố quyếtđịnh vẫn là loại vải này có giá thành thấp hơn so với các loại vải khác Ngàynay người ta sử dụng nhiều loại vải không dệt mới được sản xuất từ các chấtchống được tác dụng của vi khuẩn và có lớp màng dẻo để dán với các chi tiết
mũ giầy, đế giầy Các vật liệu này đảm bảo không tạo thành môi trường vikhuẩn và nấm mốc trên bề mặt bên trong của mũ giầy, duy trì độ thẩm thầukhông khí và thấm hút mồ hôi cần thiết của giầy
Vải không dệt ngày càng được sử dụng nhiều để lể làm lót mũ giầy, đặcbiệt là các loại vải không dệt mới như Camprrela (hình 8) có khả năng thông hơitốt nhưng có độ kháng thấm nước cao phù hợp cho các loại giầy yêu cầu có tính
Trang 16bảo vệ khỏi nước
Vải không dệt Cambrella là loại vải được làm từ 100% polypropylene(PP), có khối lượng từ 15 - 260 g/m2; khổ rộng đến 3,2 m, được sản xuất theophương pháp ép –gia nhiệt Đây là loại vật liệu thân thiện với môi trường, có độbền kéo giãn cao, mềm mại, nhẹ, không độc, kháng nước, hạn chế cháy, vàthông khí tốt, chống tia UV, chống tĩnh điện, kháng khuẩn Loại vải này được
sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong đó có may mặc và sản xuất giầy.Giầy có lót làm từ vải không dệt Camprella đáp ứng các yêu cầu vệ sinh, trongkhi vẫn đảm bảo chức năng bảo vệ
Hình 4 Vải không dệt Camprella 1.1.3 Vật liệu làm các chi tiết tăng cường cho mũ giầy
Chi tiết tăng cường trong mũ giầy bao gồm chi tiết tăng độ bền (các chitiết tăng cường ô dê, cánh lắc v.v.) và chi tiết đảm bảo tính ổn định hình dạngcủa giầy và tính năng bảo vệ (pho gót và pho mũi)
- Chi tiết tăng độ bền thường sử dụng khi vật liệu làm mũ giầy và làm lót
có độ dày nhỏ hoặc có độ bền kéo đứt kém Khi đó người ta thường sử dụng vảidệt thoi vân điểm cotton pha polieste CVC mỏng khối lượng 80 - 120 g/m2 đểdán vào giữa chi tiết bên ngoài và chi tiết lót nhằm tăng độ bền và tính ổn địnhhình dáng cho mũ giầy Vật liệu làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường có độ dàynhỏ nên có thể cần đến các chi tiết này
- Vật liệu làm pho gót và pho mũi: Pho gót và pho mũi có tác dụng tạocho mũ giầy có hình dạng phần gót và phần mũi phom và duy trì hình dạng nàytrong quá trình sử dụng Pho gót và pho mũi còn có tác dụng bảo vệ phần gót vàphần mũi bàn chân khỏi các tác động va đập từ bên ngoài
Trang 17Da thuộc được sử dụng làm pho gót và pho mũi do có tính vệ sinh tốt,tính đàn hồi và tính ổn định hình dạng cao, nên chất lượng pho rất tốt Tuynhiên việc sử dụng da thuộc làm pho gót kéo theo công nghệ sản xuất giầy phứctạp hơn, năng suất giảm và vì thế giá thành pho gót, giá thành giầy cao hơn Dovậy da thuộc thường dùng làm pho gót cho giầy da cao cấp, sản xuất thủ công.
Hiện nay để sản xuất các loại giầy thông thường, sử dụng pho gót và phomũi làm từ mex (chemi shet) Đây là loại vải không dệt (mex) cứng có độ dày từ0,8 đến 2,5 mm, sản xuất ở dạng cuộn Trong quá trình sản xuất, sử dụng chất
xử lý – các dung môi làm mềm, tan lớp keo liên kết các xơ trong mex Sau khiđịnh hình và gia nhiệt, dung môi bay hơi và lớp nhựa đóng rắn, tạo cho pho gót
và pho mũi có độ rắng cứng cần thiết và duy trình hình dạng pho gót trong quátrình sử dụng Tuy nhiên yếu điểm của loại pho này là tính đàn hồi kém hơn phogót làm từ da thuộc
Để sản xuất giầy người ta còn sử dụng pho nhựa PVC Pho gót được sảnxuất ở dạng đúc thành pho gót thành phẩm Trong quá trình sản xuất giầy, phogót được gia nhiệt trở lên mềm, được định hình theo hình dạng phần gót phom,sau khi làm nguội trở lên cứng và duy trì hình dạng pho gót trong quá trình sửdụng Tuy nhiên loại pho này có giá thành cao, phải bổ sung công đoạn địnhhình pho trong quá trình sản xuất
1.2 Tổng quan về vật liệu để làm phần đế giầy cho người bệnh đái tháo đường
1.2.1 Vật liệu làm đế giầy
Tất cả các đôi giầy đều có phần đế ngoài, là phần dưới cùng của giầy tiếpxúc trực tiếp với bề mặt di chuyển Chúng chịu tác động lớn nhất, giúp bảo vệđôi chân và nâng đỡ cơ thể trong quá trình sử dụng giầy
Đế giầy thường được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau như cao sunhiệt dẻo, cao su lưu hóa, PVC, EVA, PU Mỗi vật liệu đều có ưu điểm vànhược điểm riêng nên mỗi loại vật liệu có các ứng dụng khác nhau và sẽ chohiệu quả khác nhau khi sử dụng làm đế giầy Việc lựa chọn vật liệu phù hợpnhất cần dựa trên tính chất của từng loại vật liệu, như: tính chống trượt (độbám), chống mài mòn, trọng lượng nhẹ, độ mềm xốp, hình thức, khả năngchống thấm nước, chống dị ứng, khả năng giữ bền lâu các tính chất hóa-lý, khả
Trang 18năng tái chế, sinh thái …
Một số các tính chất như: độ thông thoáng, độ mềm xốp, trọng lượng nhẹ
và khả năng chống thấm nước của vật liệu, có mức yêu cầu cao hơn, nhằm tạo
sự thoải mái cho người sử dụng giầy Ngoài ra, việc lựa chọn nguyên liệu cũngdựa trên tính chất an toàn của các vật liệu khi sử dụng làm đế giầy, nhất là tránhtrượt ngã là yêu cầu quan trọng đối với người sử dụng giầy thể thao Độ màimòn là một yếu tố quan trọng đối với đế, gót giầy và liên quan đến độ cứng cùavật liệu làm đế Nếu độ cứng thấp, đế sẽ mềm hơn giầy đi êm hơn, nhưng tốc độmài mòn đế giầy cũng nhanh hơn Không dùng vật liệu “quá mềm” làm đế giầy
vì sẽ làm thời gian sử dụng giầy ngắn hơn
Trong quá trình sử dụng giầy, đế giầy bị mài mòn và uốn cong nhiều lần.Bán kính độ cong bẻ uốn của đế thường là 4 – 8 cm, tuỳ thuộc vào cấu trúc vàtính chất cơ lý của vật liệu làm phần đế giầy, mà chủ yếu là độ dày và độ cứngcủa chúng Độ giãn tương đối trên bề mặt của đế da khi bị uốn cong đạt khoảng
16 %, ở đế cao su có độ dày lớn và bề mặt có hình nổi (hoa văn) độ giãn tươngđối theo bề mặt tựa đạt tới 25 % Tuỳ thuộc vào cấu tạo phần mũi bàn chân vàkiểu đi của người sử dụng mà lớp ngoài của đế chịu áp lực riêng khác nhau Ởcác trường hợp riêng biệt, áp suất riêng đạt tới 106 Pa và lớn hơn Thường nóđạt (4 – 7)105 Pa ở phần mũi của đế và khoảng 2.105 Pa ở phần khớp ngón
Để làm đế giầy thông thường cũng như đế giầy cho bệnh nhân tiểu đườngngười ta có thể sử dụng đế làm bằng da thuộc Tuy nhiên loại đế này có độ dàyhạn chế, khó tạo hoa văn bề mặt để chống trơn trượt, nhanh bị mài mòn, kémchống thấm nước, sản xuất phức tạp nên người ta thường sử dụng các loại đếcao su, đế PU (polyuretan) hoặc đế kết hợp cao su + EVA v.v
Đế PU có ưu điểm là khá nhẹ do cấu trúc xốp, được đúc sẵn, nhưng cónhược điểm là đắt hơn nhiều so với đế cao su, kém mềm bẻ uốn hơn đế cao su,lão hóa nhanh Do nhẹ và xốp (giảm chấn cho bàn chân) nên phù hợp làm đếgiầy cho bệnh nhân tiểu đường Tuy nhiên khi sản xuất giầy theo bàn chânkhách hàng, giầy sẽ có giá thành rất cao Polyurethane (PU) đã trở thành mộtchất thay thế chính cho các vật liệu đế truyền thống như da và cao su Ưu điểmlớn của nó so với các vật liệu khác trong quá trình sản xuất giầy dép dành chongười tiểu đường là nó kết hợp các đặc tính vật lý tuyệt vời với trọng lượng nhẹ
để tạo ra giầy dép cực kỳ bền và thoải mái khi mang Ứng dụng giầy dép chính
Trang 19của nó là như các hợp chất tế bào vi mô được sử dụng để sản xuất đế đơn hoặc
đế kép, hoặc làm đế đúc sẵn hoặc bằng cách ép đúc trực tiếp với mũ giầy saukhi gò định hình mũ giầy trên phom Ngoài ra, PU có thể được pha trộn để trởnên rắn chắc, dạng tế bào, linh hoạt hoặc cứng nhắc Các tính năng khác của nóbao gồm trọng lượng nhẹ và bền nhất trong số các đế di động ở mật độ tươngđương (SATRA 1983)
Đế cao su được sử dụng nhiều để làm giầy nói chung và giầy cho bệnhnhân tiểu đường nói riêng với nhiều đặc tính vượt trội hơn so với các loại vậtliệu khác để làm đế giầy, cụ thể :
- Độ lão hóa chậm hơn nhiều so với PU;
- Giá thành thấp, công nghệ sản xuất đơn giản và dễ thay đổi thành phầnhóa chất;
- Độ mềm dẻo cao, nên tạo độ mềm uốn cho phần đế giầy
Đế kết hợp cao su và EVA được sử dụng nhiều để làm giầy cho bệnhnhân tiểu đường vì kết hợp được mặt mạnh của hai loại vật liệu này làm cho đếgiầy vừa bền, vừa nhẹ và êm xốp, có thể chế tạo nhiều loại đế khác nhau, đặcbiệt là đế giầy theo bàn chân bệnh nhân với chi phí hợp lý
Để làm giầy cho bệnh nhân tiểu đường yêu cầu đế giầy phải đảm bảo tínhbảo vệ và độ mềm dẻo, đồng thời phải nhẹ và êm xốp Có thể sử dụng cấu trúc
đế liền gót hoặc đế giầy có gót rời
Trang 20
Hình 5 Hình ảnh đế ngoài 1.2.2 Vật liệu làm lót giầy
1.2.2.1 Vật liệu làm lớp nền xốp cho lót giầy
a Vật liệu làm lớp nền xốp cho lót giầy sản xuất hàng loạt
Đối với lót mặt có nhiều lớp, người ta làm lớp nền xốp các loại vật liệusau:
Xốp EVA (Ethyl Vinyl Acetat) loại vật liệu này xốp (mềm) nên tạo độ
êm cho lót mặt, chúng bền và có độ bền xé tốt Bên cạnh sản xuất dạng tấmhoặc dạng cuộn, có thể định hình nóng thành lót mặt thành phẩm Nhược điểm
là mềm nên chịu nén kém (chịu tải trọng nén thấp)
có tính vệ sinh không cao (khả năng hút ẩm, hút nước kém)
Hình 7 Mẫu lót giầy (hỗ trợ bàn chân) làm bằng PU
Trang 21Xốp Polietylen: ưu điểm là bền, nhẹ thô ráp (hệ số ma sát cao), mềm uốntốt, có thể định hình nóng Nhược điểm: độ xốp (êm) trung bình, dễ bị ép nén
Cao su: có hai loại cao su đặc, cao su xốp Cả hai loại cao su đều cho khảnăng đàn hồi rất tốt nhưng cao xu xốp cho phép sản xuất lót mặt nhẹ hơn, lót êm(giảm chấn tốt)
b Vật liệu làm lớp nền xốp cho lót giầy tùy chỉnh theo công nghệ in 3D
Lót giầy tuỳ chỉnh theo giải phẫu lòng bàn chân có vai trò rất quan trọngđối với BNĐTĐ có nguy cơ loét bàn chân cao và rất cao, những người không sửdụng được các lót giầy thông thường (lót giầy định hình cho BNĐTĐ) Lót giầytuỳ chỉnh được thiết kế để giảm và phân phối đều áp lực cơ thể lên lòng bànchân, do đó giảm áp lực đỉnh lên lòng bàn chân Theo phương pháp truyềnthống, lót giầy tùy chỉnh được sản xuất thủ công hoặc bằng kỹ thuật phay vậtliệu Những tiến bộ mới nhất trong kỹ thuật sản xuất phun đúc và đặc biệt là sựphổ biến của in 3D đã mở ra những cách thức mới để sản xuất lót giầy tuỳchỉnh Công nghệ này cho phép bổ sung các chức năng, thay đổi cấu trúc bêntrong lót giầy, kiểm soát vùng trong thiết kế 3D để tăng khả năng đệm êm cholòng bàn chân, cho phép sử dụng vật liệu có đặc tính kháng khuẩn, vật liệuchuyển pha để điều chỉnh nhiệt độ, lắp ghép thêm các cảm biến cảnh báo áp lựcv.v
Một số vật liệu làm lớp nền xốp cho lót giầy theo công nghệ in 3D gồmmột số loại nhựa Polime như: TPU, ABS, PLA, TPE, PETG…
Trang 22 Có tính kháng chất lỏng và dầu mỡ hoặc các vết bẩn vô cùng hiệu quả Vì vậy các sản phẩm được tạo ra từ nhựa TPU rất dễ lau chùi và làm sạch.
Chống mài mòn tốt giúp các sản phẩm bền bỉ, không bị trầy xước và có thời
gian sử dụng lâu hơn
Có khả năng chịu nhiệt tốt, không bị nóng chảy hay cong vênh khi tiếp xúc
trực tiếp với nguồn nhiệt cao Bên cạnh đó vật liệu này cũng giữ nguyên trạng thái trong môi trường có nhiệt độ thấp đến - 500C
Độ bền cao: TPU được đánh giá là có độ bền cao nhất trong tất cả các nguyên
vật liệu in 3D Do đó để phá vỡ các sản phẩm làm từ TPU cần phải tác động một lực cực kỳ mạnh
Dễ ngả màu: sau một thời gian sử dụng do tiếp xúc với ánh sáng, nhiệt độ và một số loại hóa chất khác
Độ cứng của TPU có thể được tùy chỉnh để làm vật liệu có dạng từ mềm (giống như cao su) đến cứng (nhựa cứng) Chất liệu này được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau trong đó có ngành da giầy
Trang 232 Nhựa Thermoplastic
Elastome (TPE) là nhựa
nhiệt dẻo có tính đàn hồi,
Độ bền cơ học cao: Có tính đàn hồi tốt và khả năng chịu lực cao, nhựa TPE
có khả năng trở lại hình dạng ban đầu sau khi chịu tác dụng lực (trong giới hạn) Tùy vào thành phần phối trộn mà độ bền cơ học của thành phẩm có thể khác nhau
Dễ dàng pha trộn tốt với các loại nhựa thông dụng để tăng tính đàn hồi và
độ bền của các sản phẩm nhựa dẻo
Nhựa TPE vừa có tính cứng của nhựa, vừa có tính đàn hồi của cao su, tính chất cơ lý tốt, tạo ra các sản phẩm có độ dẻo dai, đàn hồi, mềm và chống trơn trượt
Độ cứng của sản phẩm từ nhựa TPE có thể điều chỉnh qua sự liên kết, pha trộn với các loại nhựa thông dụng (PP, PS, ABS, PC, PA, PBT, POM, nylon, và các vật liệu nhựa yêu cầu đặc tính kỹ thuật cao)
3 Nhựa Acrylonitrin Butadien
Styren (ABS) là nhựa
nguyên sinh và được nhiều
người quan tâm nhất hiện
nay
Nhựa ABS có tính chất cứng, không giòn và cách điện tốt, tồn tại bền qua nhiệt độ và hóa chất
Không lưu mùi nhựa gây khó chịu và không bị loang màu,
4 Nhựa Polylactic Acid
(PLA) là một loại nhựa nhiệt
dẻo phân hủy sinh học có
nguồn gốc từ các nguồn tái
PLA có nhiệt độ nóng chảy trong khoảng 190oC – 220oC
Có độ đàn hồi khá tốt, có tính mềm, dẻo vượt trội
Đặc biệt là khả năng lặp lại nhiều lần quá trình chảy mềm dưới tác dụngnhiệt và trở nên rắn khi được làm nguội Trong quá trình tác động nhiệt, nó chỉ
Trang 24tạo thay đổi tính chất vật lý và không bị thay đổi tính chất hóa học
terephthalate
glycol (PETG) là một loại
polyester nhiệt dẻo
Trang 251.2.2.2 Vật liệu làm lớp phủ mặt cho lót giầy
Lót giầy là chi tiết rất quan trọng của giầy cho bệnh nhân tiểu đường, cótác dụng giảm chấn cho bàn chân, phần bố đều áp lực lên lòng bàn chân, giữ vệsinh cho bàn chân Ở các loại giầy da thông thường, lót mặt thường được làm từlớp da mỏng (0,8 - 1 mm) sử dụng làm lót mũ giầy Đối với giầy cho bệnh nhântiểu đường sử dụng các loại vật liệu sau:
- Da thuộc: Tương tự như ở giầy da, người ta có thể sử dụng lớp da làm
lót mũ giầy bảo vệ để làm lót mặt và dán trực tiếp lên bề mặt đế trong Tuynhiên phương án này thường không hợp lý từ góc độ tính vệ sinh của giầy, dolót mặt có tính giảm chấn, tính hút ẩm, nhả ẩm kém, hạn chế đế trong hút ẩm,thải ẩm, khó vệ sinh Do vậy người ta sử dụng da thuộc dạng này để làm lót mặt
đa lớp (lớp da ở bên trên, lớp vật liệu đệm và lớp vật liệu lót bên dưới) và lótmặt không dán với đế trong mà được đặt vào trong giầy
Người ta có thể sử dụng da cứng dày như da dùng làm đế trong để làm lótmặt một lớp Lót mặt làm từ loại da này có các tính chất cơ lý và vệ sinh tốt:bền mài mòn khô và ướt, mềm mại khi hút ẩm, hút ẩm tốt nhưng không ướt bềmặt, thải ẩm tốt Loại lót mặt này được cắt thành chi tiết và đặt vào trong giầy
Để tăng tính vệ sinh của giầy có thể xử lý kháng khuẩn cho loại da này để giảmmùi hôi cho giầy
Vải: Để tăng khả năng giảm chấn cũng như khả năng định hình với bàn
chân nhằm phân bố đều áp lực, trên thế giới nghiên cứu sản xuất các loại vải
“không gian” (hình 10) cho các loại giầy y tế Tuy nhiên loại vải này chưa được
sử dụng rộng rãi do giá thành khá cao
Hình 8 Cấu trúc vải dệt kim “không gian”
Trang 261.2.3 Vật liệu làm đế trong và độn đế
Đế trong là chi tiết có vai trò quan trọng trong quá trình gò ráp mũ giầyvới đế giầy, góp phần đảm bảo tính vệ sinh cho giầy Yêu cầu đối với vật liệulàm đế trong phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp ráp đế Ví dụ đối với phươngpháp dùng đinh vít, phương pháp khâu, đế trong cần có yêu cầu cao hơn đối vớiphương pháp dán Khi sử dụng phương pháp khâu riễu, đế trong phải có bệ riễuchắc chắn Đế trong cũng phải chịu tác động nén và uốn cong lặp lại ở phầnkhớp ngón như đế giầy khi bàn chân cử động (khi đi lại) Sự mài mòn của đếtrong khác sự mài mòn của đế ngoài ở chỗ nó bị bàn chân tác động lên trướctiên, và bàn chân thường mang tất bị làm ẩm bởi mồ hôi
Để làm đế trong người ta thường sử dụng các vật liệu: da thuộc, cacton,mex
- Da thuộc: Da thuộc là vật liệu rất tốt đế làm đế trong Nó hội tụ đầy đủ
các tính chất tốt mà đế trong cần có như độ bền bẻ uốn, độ đàn hồi, độ bám dínhkeo, độ chắc chắn cho các vật liên kết (chỉ, đinh v.v.) hút nước, hút ẩm, thảinước, thải ẩm tốt v.v Do vậy da thuộc được sử dụng cho các loại giầy cao cấp
Da thuộc để làm đế trong thường được làm từ các loại da nguyên liệu có chấtlượng thấp, không đủ điều kiện để làm chi tiết mũ giầy hoặc làm từ lớp da xẻ(da váng) Da làm đế trong có độ dày từ 1,2 - 3 mm tùy thuộc vào loại giầy Đểgiảm giá thành giầy, thường người ta sử dụng đế trong làm từ da lợn hoặc từ daváng
- Các-tông là vật liệu được sử dụng phổ biến nhất để làm giầy dép nói
chung và giầy cho bệnh nhân tiểu đường nói riêng Với các ưu điểm như đảmbảo độ cứng, độ đàn hồi, hút ẩm, thải ẩm tốt (do được làm từ nguyên liệu thiênnhiên), giá thành vừa phải nên đế trong làm từ các-tông đảm bảo các yêu cầucần thiết của nhiều loại giầy
- Mex để làm đế trong giầy có thành phần cơ bản là xơ poliesste Đệm xơ
polieste được ép nén, gia nhiệt để các xơ liên kế với nhau Mex mềm hơn so với
da thuộc và các tông, có độ bền mài mòn tốt, độ bền nhiệt và cách nhiệt tốt, hútnước, thải nước tốt, do vậy ngày càng được sử dụng nhiều để sản xuất giầy có
sử dụng công nghệ dán keo đế
Trang 27Hình 9 Hình ảnh mex làm đế trong
Đối với giầy cho bệnh nhân tiểu đường có thể không sử dụng đế trong đểtăng cường độ mềm uốn cho phần đế giầy Khi đó người ta sử dụng mặt tẩy đểmay với chân gò mũ giầy và định hình cưỡng bức Trong các trường hợp này cóthể sử dụng vải dệt thoi hoặc da thuộc để làm lót tẩy
1.3 Kết luận chương 1
Có nhiều nguyên liệu làm các chi tiết giầy Mỗi chi tiết giầy nằm ở các vịtrí khác nhau nên có thể sử dụng vật liệu khác nhau để tạo ra chúng như các chitiết ngoài của mũ giầy có thể làm từ da thuộc, vải dệt thoi, vải dệt kim Các chitiết lót của mũ giầy có thể làm từ da thuộc, vải dệt thoi, vải dệt kim, vải khôngdệt Các chi tiết phần đế giầy có thể làm từ các vật liệu cao su, PU, EVA… Chitiết lót mặt theo công nghệ in 3D có thể sử dụng các loại nhựa in 3D như TPU,TPE, ABS, PLA…
Trang 28CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ GIẦY VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO GIẦY CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 2.1 Tổng quan các loại giầy cho người bệnh đái tháo đường theo nguy cơ loét bàn chân
2.1.1 Giầy “sâu rộng” sản xuất hàng loạt với lót giầy bình thường
Giầy tốt, thoải mái rất quan trọng đối với mọi người Tuy nhiên, đối vớimột số người, chất lượng của đôi giầy tạo nên ranh giới giữa việc cứu đôi châncủa họ và việc đánh mất chúng Đối với những người mắc bệnh tiểu đường,giầy dép kém chất lượng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng, chẳng hạnnhư loét chân, nhiễm trùng và lưu thông máu kém Những người mắc bệnh tiểuđường phải thực hiện các biện pháp để giảm nguy cơ mắc các vấn đề như vậy -
và mang giầy dành cho bệnh nhân tiểu đường là điều cần thiết
Nhìn tổng thể về kiểu dáng bên ngoài, giầy “sâu rộng” không khác giầybình thường nhưng nó có thể tích bên trong giầy cao hơn, rộng hơn, lớn hơngiầy bình thường để có đủ không gian chứa bàn chân, đảm bảo không có vùngnào tì, đè lên bàn chân người bệnh Các chi tiết giầy đều được sản xuất hàngloạt với các tiêu chí lựa chọn vật liệu cao hơn giầy thông thường nhằm tạo rasản phẩm giầy phù hợp với bệnh nhân tiểu đường
mại
mài mòn, chống trượt và trọng lượng nhẹ
giầy bình thường, tối thiểu 3/16 inch (4,8 mm) đảm bảo độgiảm chấn, độ êm cho bàn chân người bệnh
Trang 29a Giầy sâu rộng nam b Giầy sâu rộng nữ
chống mài mòn, chống trượt và trọng lượng nhẹ,
- Có thể phân tán các điểm căng thẳng của bàn chân vàgiảm áp lực bàn chân hiệu quả
thước) bàn chân của từng bệnh nhân tiểu đường nhằm mụcđích giảm đau đồng thời ngăn ngừa và làm giảm sự xuấthiện và thoái hóa của bàn chân bệnh nhân tiểu đường một