1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Bách khoa thư du lịch Hà Giang

256 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bách khoa thư du lịch Hà Giang
Tác giả Bạch Hồng Việt
Người hướng dẫn Nguyễn Hồng Hải, TS. Bạch Hồng Việt, TS. Nguyễn Huy Bỉnh
Trường học Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng
Chuyên ngành Du lịch và Văn hóa
Thể loại Sách bách khoa thư
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bách khoa thư du lịch Hà Giang gồm 100 mục từ, được xếp theo các chủ đề: đặc trưng văn hóa các dân tộc, di tích, danh thắng, lễ hội, ẩm thực, sản vật địa phương và một số sản phẩm du lịch, điểm đến. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 3

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Trang 4

NGUYỄN HỒNG HẢIGiám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang

TS BẠCH HỒNG VIỆTPhó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng

TS NGUYỄN HUY BỈNHPhó Viện trưởng Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam

BAN BIÊN SOẠN

Nguyễn Huy Bỉnh Phó Trưởng ban

Trần Thị Hường Thành viên

Nguyễn Thị Ánh Vân Thành viên

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU 9

Trang 6

Đền thờ các anh hùng liệt sĩ mặt trận Vị Xuyên tại điểm cao 468 100

Trang 7

LỄ HỘI

Trang 8

Làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Mông thôn Pả Vi Hạ 208Làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải 209Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Chì 211làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Hạ Thành 212Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Khiềm 213Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Lũng Cẩm Trên 214làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Na Léng 216Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Nà Ràng 218Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Nắm Ngà 219Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Nặm Đăm 221Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Nậm Hồng 223Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Tát Ngà 226Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Thanh Sơn 228Sản phẩm du lịch đặc trưng theo mùa khu vực đồi núi thấp 229Sản phẩm du lịch đặc trưng khu vực vùng cao núi đá 232Sản phẩm du lịch đặc trưng khu vực vùng cao núi đất 236

Trang 9

Hà Giang là tỉnh ở địa đầu Tổ quốc Việt Nam, nơi tiếp giáp giữa hai vùng văn hóa Đông Bắc - Tây Bắc, giáp với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Vùng đất này có lịch sử văn hoá lâu đời, từ lâu

đã thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước Đây là nơi sinh sống của 19 dân tộc: Mông, Dao, Tày, Nùng,

Pà Thẻn, Cờ Lao, Lô Lô, Bố Y, Phù Lá, Pu Péo, v.v

Tính đến hết năm 2020, Hà Giang có 60 di tích, danh thắng (30 di tích, danh thắng cấp quốc gia, 30 cấp tỉnh), 21 di sản văn hóa phi vật thể nằm trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 3 bảo vật quốc gia

Về địa hình tự nhiên, Hà Giang có thể phân thành ba vùng khác nhau: vùng núi đất phía Tây, vùng núi đá phía Bắc và vùng đồi núi thấp phía Nam Mỗi vùng mang bản sắc văn hoá và giá trị du lịch riêng

Vùng núi đất phía Tây, gồm hai huyện Hoàng Su Phì

và Xín Mần Nơi đây được thiên nhiên ban tặng những cánh rừng nguyên sinh, nơi thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc, với nhiều suối khoáng nóng, như: suối khoáng Nậm Choong, Làng Giang, v.v tốt cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khoẻ Đặc biệt, đỉnh Tây Côn Lĩnh

và đỉnh Chiêu Lầu Thi, cùng một số đỉnh núi có độ cao trên

Trang 10

2000m, tạo nên cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng, thuận lợi cho phát triển du lịch mạo hiểm, du lịch khám phá và du lịch thể thao Nơi đây, còn có Di tích bãi đá cổ Nấm Dẩn, Di tích danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, đặc sản chè Shan tuyết, cùng sự đa dạng về văn hoá độc đáo của các dân tộc: Dao, Tày, Nùng, Mông, v.v được thể hiện qua các lễ hội như: Lễ hội Quỹas Hiéng, Lễ cấp sắc, v.v

Vùng cao núi đá phía Bắc gồm các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, ở độ cao trung bình 1.000 - 1.600m so với mực nước biển, với diện tích rộng hơn 2.356 km² Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với du khách và những nhà nghiên cứu bởi những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển của vỏ trái đất Vùng cao núi đá có cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, đa dạng sinh học, với những đỉnh đèo, vách núi nổi tiếng như

Mã Pì Lèng, hẻm Tu Sản, hoang mạc đá, rừng đá, v.v Đây cũng là nơi sinh sống của các dân tộc như: Mông, Lô Lô, Dao,

Pu Péo, v.v với những làn điệu dân ca, nét văn hoá độc đáo Vùng đất này có Lễ hội chợ phong lưu Khâu Vai nổi tiếng,

Lễ hội khèn Mông , Lễ hội Gầu Tào , Lễ hội Hoa tam giác mạch , v.v Năm 2010 , Cao nguyên đá Đồng Văn (gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ)được Hội đồng tư vấn mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu của tổ chức UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu Đây là Công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam

và được Chính phủ quy hoạch là khu du lịch trọng điểm của quốc gia

Vùng đồi núi thấp, gồm các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Bắc Mê và thành phố Hà Giang, với các địa

Trang 11

danh: Khu di tích lịch sử cách mạng Trọng Con, Căng Bắc

Mê, chùa Sùng Khánh, chùa Bình Lâm, chùa Nậm Dầu, chùa Quan Âm, đền Mẫu, v.v Đặc biệt sản phẩm du lịch tâm linh lịch sử “Về thăm mặt trận biên giới Vị Xuyên” với các điểm: Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, Đài hương 468, hang Dơi, v.v Vùng này còn nổi tiếng với những trang trại trồng cam, trồng táo, v.v những làng văn hóa du lịch cộng đồng của dân tộc Tày, Dao, v.v Thành phố Hà Giang được biết đến là cửa ngõ kết nối tuyến du lịch giữa tỉnh Vân Nam, Trung Quốc với Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy Bên cạnh các khu sinh thái, nghỉ dưỡng như: Khu nghỉ dưỡng suối khoáng nóng Thanh Hà, Khu du lịch sinh thái Thạch Lâm Viên, Trường Xuân, còn có các lễ hội: nhảy lửa huyền bí của người Pà Thẻn, Lồng tồng của dân tộc Tày, Bàn Vương của dân tộc Dao, v.v

Với những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chính quyền và nhân dân các dân tộc Hà Giang đang nỗ lực đầu tư phát triển đồng bộ các loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao, v.v Hiện nay, Hà Giang có hệ thống cơ sở lưu trú tốt ở khắp các vùng An ninh trật tự đảm bảo Các cửa hàng lưu niệm phong phú Nhà hàng có cam kết vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, thái độ phục vụ chu đáo, thân thiện, nhiệt tình, v.v

Hà Giang là mảnh đất hấp dẫn đối với du khách ở khắp mọi miền đất nước cũng như quốc tế, lượng khách đến Hà Giang không ngừng tăng qua các năm Năm 2017, du lịch

Trang 12

Hà Giang vinh dự được chuyên trang du lịch tạp chí Rongh Guides (Vương quốc Anh), bình chọn là một trong mười điểm du lịch hấp dẫn nhất Việt Nam

Để cung cấp các thông tin tri thức cơ bản về du lịch của

Hà Giang, xin trân trọng giới thiệu với Quý bạn đọc cuốn

Bách khoa thư du lịch Hà Giang

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TỈNH HÀ GIANG

Trang 13

Công trình Bách khoa thư du lịch Hà Giang được tổ chức

biên soạn trên nền tảng kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy các giá trị đặc sắc của văn hóa bản địa, tri thức truyền thống, các giá trị thiên tạo của địa phương Công trình bao gồm những thông tin tri thức về văn hoá truyền thống các tộc người, như: Mông, Dao, Tày, Nùng, Pà Thẻn, Cờ Lao, Lô

Lô, Bố Y, Phù Lá, Pu Péo, v.v cung cấp các thông tin về tình hình dân cư, địa bàn cư trú, văn hoá mưu sinh, văn hoá văn vật, văn hoá tinh thần của mỗi tộc người trên địa bàn Đối với các di tích và danh thắng, sẽ cung cấp thông tin về vị trí, tọa

độ, mô tả quá trình hình thành, đặc điểm cấu tạo, kiến trúc, giá trị, ý nghĩa của di tích, danh thắng Với sản vật của địa phương, sẽ giới thiệu về tên gọi, đặc trưng, thời gian sử dụng, thương hiệu đã được công nhận Với ẩm thực, sẽ cung cấp thông tin về tên gọi, nguyên liệu, phương thức chế biến, cách thức sử dụng, tác dụng, thương hiệu Các sự kiện, lễ hội sẽ trình bày về nguồn gốc, tên gọi, các hoạt động diễn ra, chức năng, nhiệm vụ, vai trò, ý nghĩa của sự kiện và lễ hội Mỗi vấn

đề lại có nội dung thông tin tri thức theo một mô hình cấu trúc riêng

Công trình Bách khoa thư du lịch Hà Giang được thực hiện

với quy mô nhỏ (phần 1), chưa thể bao quát toàn bộ các vấn

đề về du lịch của tỉnh Hà Giang Việc biên soạn được tiến hành dựa trên thành tựu nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn về

Trang 14

địa lí, lịch sử, văn hoá của tỉnh Hà Giang, được hoàn thành bởi sự làm việc nghiêm túc, trách nhiệm của các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, với sự giúp đỡ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng nhiều ban ngành của tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản của tỉnh Hà Giang Ban Biên soạn xin trân trọng cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã góp sức vào việc hoàn thành cuốn sách, từ giai đoạn khảo sát thực tế, bổ sung

tư liệu, thẩm định, chỉnh sửa bản thảo đến giai đoạn xuất bản Mặc dù Ban Biên soạn đã hết sức thận trọng, cầu thị, song khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của quý vị độc giả

BAN BIÊN SOẠN

Trang 15

1 Nguyên tắc biên soạn

Cuốn Bách khoa thư du lịch Hà Giang được biên soạn tuân theo một số nguyên tắc sau:

Trình bày các thông tin tri thức chính thống trong các văn bản của tỉnh Hà Giang, của Nhà nước, được đa số người dân trong cộng đồng thừa nhận

Trình bày những thông tin tri thức cơ bản nhất, hướng tới việc tìm kiếm, tra cứu thông tin của độc giả và phục vụ hoạt động du lịch

Trình bày những thông tin khách quan theo cách miêu tả, không đánh giá, suy diễn chủ quan

Trình bày bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, phục vụ bạn đọc có trình độ từ phổ thông trở lên

2 Thể lệ biên soạn

2.1 Cấu trúc bảng từ

Bảng từ Bách khoa thư du lịch Hà Giang gồm 100 mục từ,

được xếp theo các chủ đề: đặc trưng văn hóa các dân tộc, di tích, danh thắng, lễ hội, ẩm thực, sản vật địa phương và một

số sản phẩm du lịch, điểm đến

Các đơn vị đầu mục từ của bách khoa thư là những đơn

vị ngôn ngữ phản ánh đầy đủ một sự vật, hiện tượng, khái niệm, đồng thời có cấu tạo ngắn gọn, chặt chẽ đến mức tối đa Thông thường, đó sẽ là tên gọi thông dụng nhất của sự vật,

Trang 16

hiện tượng, những tên gọi ít thông dụng hơn sẽ được cung cấp trong nội dung thông tin của mục từ.

2.2 Nội dung thông tin trong mỗi mục từ

Trong mỗi mục từ, ngoài đơn vị đầu mục từ, các thông tin được cung cấp theo một trật tự nhất định Về cơ bản, nội dung thông tin gồm có phần định nghĩa về đơn vị đầu mục

từ và phần tri thức bách khoa về mục từ đó Cách trình bày được thực hiện một cách thống nhất cho mọi loại đơn vị mục

từ Tuy nhiên, tùy từng loại đơn vị mục từ mà nội dung chi tiết có sự khác biệt

a Mục từ Đặc trưng văn hóa các dân tộc, gồm các thông tin:

tộc danh; định nghĩa, địa bàn cư trú chủ yếu; tên khác; nhóm ngôn ngữ; dân số (theo thống kê năm 2019); lịch sử cư trú; lao động sản xuất; văn hóa vật chất; văn hóa tinh thần

b Mục từ Di tích, danh thắng, gồm các thông tin: tên di

tích, danh thắng; định nghĩa; các tên gọi khác của di tích, danh thắng; vị trí; miêu tả: lịch sử, quy mô, kiến trúc, cấu tạo, vật liệu; ý nghĩa, ảnh hưởng; bằng xếp hạng các cấp (nếu có)

c Mục từ Lễ hội, gồm các thông tin: tên gốc, tên gọi khác,

tên viết tắt (nếu có); định nghĩa; miêu tả: không gian, thời gian, địa điểm; hoạt động, diễn biến của các sự kiện; tác dụng, vai trò, ý nghĩa, ảnh hưởng

d Mục từ Đặc sản, ẩm thực, gồm các thông tin: tên đặc sản

(ẩm thực); định nghĩa; tên gọi khác; dân tộc sở hữu; miêu tả: nguyên liệu, cách chế biến, hình thức, cách sử dụng; thương hiệu; thành tích, giải thưởng (nếu có)

e Mục từ Sản phẩm du lịch, điểm đến, gồm các thông tin:

tên gọi, tên khác; vị trí; miêu tả: lịch sử, quy mô, dịch vụ; ý nghĩa; xếp hạng (nếu có)

Trang 17

2.3 Quy tắc chính tả

Quy tắc chính tả sử dụng theo quy định của Bộ Giáo dục

và Đào tạo

2.4 Quy tắc sắp xếp

Trong Bách khoa thư du lịch Hà Giang, các mục từ được

chia theo chủ đề Trong mỗi chủ đề, các mục từ lại được sắp xếp theo trật tự chữ cái tiếng Việt Bảng chữ cái tiếng Việt sử

dụng trong Bách khoa thư du lịch Hà Giang gồm 29 chữ cái và

sắp xếp theo thứ tự sau: A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L,

M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y Trật tự các dấu thanh được xếp theo thứ tự: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng

Trang 19

BỐ Y

Dân tộc thiểu số ở Hà Giang, tập trung chủ yếu ở xã Quyết Tiến (huyện Quản Bạ) và rải rác một số xã của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Dân tộc Bố Y còn có các tên gọi khác là Pu Y, Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà, gồm 3 ngành chính: Pầu Y, Pầu Ná, Pầu Thỉn Ngành Pầu Y thành 2 dân tộc: Bố Y (tức

Pu Y) ở Hà Giang và Tu Dí ở Lào Cai, còn ngành Pầu Nả và ngành Pẩu Thỉn thành dân tộc Giáy Giữa các ngành có sự phân biệt ở trang phục của phụ nữ, tiêu biểu cho 3 phương ngữ của tiếng Bố Y xưa Tiếng Bố Y thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Ðai Dân tộc Bố Y di cư từ Trung Quốc sang vào khoảng 160-180 năm trước Dân số có 1.161 người chiếm 0,14% dân số toàn tỉnh

Người Bố Y cư trú ở vùng cao, chủ yếu dựa vào canh tác nương rẫy, ngô là cây trồng chính, mỗi năm canh tác một vụ Mỗi gia đình thường có một mảnh vườn gần nhà để trồng rau Ngoài chăn nuôi gia súc, gia cầm, họ còn nuôi cá, v.v Người Bố Y có các nghề dệt, đan lát, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, làm đồ gỗ, v.v phụ nữ từ xa xưa đã biết trồng bông, dệt vải, may vá, thêu trang phục, túi và khăn

Về ẩm thực, trước đây lương thực, thực phẩm sử dụng hàng ngày chủ yếu của người Bố Y là mèn mén, sau đó là gạo,

Trang 20

ngoài ra còn có khoai, sắn, dong riềng, vừng, v.v và các loại rau đậu khác được trồng xung quanh vườn nhà Đồng bào Bố

Y thích ăn rau xào với mỡ lợn hơn ăn rau luộc Ngày thường,

họ ăn thịt lợn ướp, thịt gà xào; ngày Tết ăn bánh chưng, bánh chay, xôi nhuộm màu, v.v Họ uống rượu ngô, rượu báng

Về trang phục, đàn ông mặc áo tứ thân, cổ viền, tay ngắn, quần lá tọa màu chàm bằng vải thô tự dệt Phụ nữ thường mặc váy xòe, áo ngắn năm thân, xẻ nách phải, ống tay rời, ống tay áo được khâu hay thêu trang trí hoa văn sặc sỡ (thường

có hình ốc, hình thập ngoặc, hình kỉ hà, hình tròn, v.v.) Váy của phụ nữ được dệt nhiều màu sắc như xanh, đỏ, tím, ghi và chàm Áo có hai loại, áo trong và áo ngoài, hai vạt trước của

áo ngoài có hai túi nhỏ cân xứng nhau, để đựng tiền hay đồ dùng cá nhân, thường may bằng vải thô, nhuộm chàm Trang phục của phụ nữ đẹp và đặc sắc hơn nam giới nhờ khăn đội đầu, váy và tạp dề phía trước Phụ nữ đeo trang sức bằng bạc, gồm: dây chuyền, vòng tay, khuyên tai; tóc búi ngược lên đỉnh đầu, đội khăn chàm thêu hoa văn bằng chỉ màu Trang phục truyền thống thường mặc trong các dịp lễ hội, cưới hỏi Ngày nay, trang phục của thanh niên có sự thay đổi theo lối sống mới, khá tương đồng với các dân tộc khác

Về nhà ở, người Bố Y trước đây ở nhà đất, lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất, trang trí nội thất tương đối giống nhau, gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, bên cạnh là chỗ ngủ của phụ nữ

và gia đình Nhà có sàn gác, chỗ để lương thực và nơi ngủ của người con trai chưa vợ và những bạn bè nam giới ở lại đêm Ngày nay, việc bố trí nơi ngủ của các thành viên trong gia đình

đã có sự thay đổi tùy theo điều kiện hoàn cảnh của mỗi gia đình Quan hệ xã hội, người Bố Y có sự phân hoá rõ rệt, dưới chế độ phong kiến, địa vị xã hội của người Bố Y thấp, tầng

Trang 21

lớp trên gồm trưởng bản (pin thàu) và người giúp việc (xeo phái) Người Bố Y theo chế độ phụ quyền, có khoảng 10 dòng

họ, như: Phan (Phàn), Ngũ (Ngủ), Lộc (Lục), Dương (Giàng), Vi (Vầy), Lò (La), Vũ (Ngô), Vàng (Vương), v.v mỗi dòng họ có hệ

thống tên đệm từ 5 - 12 chữ Mỗi chữ đệm dành cho một thế

hệ, chỉ rõ vai vế trong quan hệ dòng họ, dòng họ anh em trai chỉ khác nhau về tên gọi, còn tên đệm giống nhau Người Bố

Y xưng hô theo tuổi, không phân biệt theo chi, nhánh hay thứ bậc dòng họ Người Bố Y có tục lệ con trai không được cắt tóc cho bố, con gái không được chải đầu cho mẹ Chỉ lúc bố mẹ mất, con trai, con gái mới được làm việc đó

Hôn nhân của người Bố Y gồm bốn bước Bước đầu tiên, thăm hỏi, bày tỏ nguyện vọng, nhà trai cử hai bà mối sang nhà gái xin lá số cô gái về để so tuổi Nhà gái tỏ thiện chí bằng cách tặng nhà trai 10 quả trứng gà nhuộm đỏ Nếu thấy hợp tuổi», nhà trai cử hai ông mối sang trả lá số và xin ăn hỏi-giá

ăn hỏi Ở bước ăn hỏi - xin giá ăn hỏi, lễ vật thường có: một đôi gà, 7 đôi bánh dầy, 14 kg gạo tẻ, 15 chai rượu, 30 kg thịt lợn Sau lễ này, hôn nhân của đôi trai gái coi như được định đoạt Lễ cưới nhỏ, nhà trai đưa lễ vật đến nhà gái để chia vui với họ hàng, gồm: một con lợn khoảng 40 kg, một đôi gà, hai chai rượu, 12 kg gạo trắng Cuối cùng, lễ cưới chính thức, nhà trai đưa lễ đến nhà gái, ngoài một số thực phẩm, còn có một

bộ trang phục nữ Chú rể không đi đón dâu, em gái của chú rể mang con ngựa hồng đẹp nhất đến đón chị dâu, cô dâu cưỡi ngựa do em gái chồng dắt và mang theo một cái kéo (dụng cụ

nữ công của người con gái), một con gà mái nhỏ để đến giữa đường thì thả vào rừng Ngày nay, do sự phát triển của đời sống xã hội ngựa đã được thay bằng một số phương tiện, hình thức khác như xe máy, ô tô hoặc đi bộ, v.v

Trang 22

Tục sinh đẻ, xưa kia phụ nữ Bố Y có tục đẻ ngồi, cắt

rốn cho trẻ bằng mảnh nứa, nhau (rau) chôn ngay dưới gầm giường Khi trẻ được ba ngày, làm lễ cúng mụ, đặt tên tục Khi trẻ được hai, ba tuổi mới đặt tên chính thức Nếu trẻ hay ốm đau thì phải tìm bố nuôi cho vía để có chỗ nương tựa Ngày nay, đã có sự thay đổi nhiều do tác động của đời sống mới Tang ma, người Bố Y có hai cách đặt quan tài người chết Nhóm Pầu Nả đặt quan tài theo hướng đầu quay vào bàn thờ

tổ tiên, nhóm Pầu Y đặt đầu quan tài quay về phía bếp lửa

Họ tổ chức lễ cúng để tiễn hồn người chết về quê cũ (tỉnh Quý Châu, Trung Quốc) Trước đây, trước khi đưa tang, người ta bắn bốn phát súng để trừ tà Khi đưa tang, từ nhà đến huyệt phải nghỉ ba lần, nếu vợ hoặc chồng còn sống hoặc bốn lần, nếu vợ hoặc chồng đã chết Người Bố Y có tập quán chỉ cúng một giỗ đầu, để tang ba năm Trong thời gian để tang, các con không được uống rượu, đeo đồ trang sức, lấy vợ, lấy chồng

Về thờ cúng, bàn thờ của người Bố Y đặt ở gian giữa, trên

có ba bát hương Bát thờ trời ở giữa, hai bên thờ táo quân và tổ tiên Bát hương thờ thần thổ địa được đặt dưới gầm bàn thờ Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ Ngoài ra, ở mỗi xóm có người Bố Y

cư trú đều có một miếu thờ thổ thần, miếu thờ này là nơi tín ngưỡng chung của mọi người trong xóm

Về lễ tết, hàng năm, người Bố Y có nhiều lễ, tết như Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, 30 tháng giêng, hàn thực, đoan ngọ, rằm tháng 7, cơm mới, v.v Vào những ngày này, người Bố Y làm xôi nếp nhuộm đỏ, bánh dày, bánh chưng, bánh chay để cúng trời đất, tổ tiên, cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, mọi người bình an, khoẻ mạnh

Trang 23

Về văn nghệ dân gian, trong các lễ hội, lễ cưới hỏi, người

Bố Y thường hát đối đáp bằng những làn điệu dân ca, với các bài hát chào hỏi, chúc tụng, hát ngăn cửa ở lễ cưới, hát giao duyên, v.v Nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca mộc mạc, có phụ hoạ bằng kèn lá Người Bố Y có nhiều trò chơi dân gian, như: đánh đu, đánh quay, đánh khăng, v.v

CỜ LAO

Dân tộc thiểu số ở Hà Giang, cư trú chủ yếu tại các huyện Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Yên Minh, Vị Xuyên

Dân tộc Cờ Lao (cg Cơ Lao) còn có các tên gọi khác là

Voa Ðề, Tứ Ðư, Ho Ki, chia thành các nhóm: Cờ Lao Xanh,

Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Ðỏ Tiếng Cờ Lao thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai Ngôn ngữ của các nhóm Cờ Lao không giống nhau, Cờ Lao Xanh và Cờ Lao Trắng có ngôn ngữ khá tương đồng, nhóm Cờ Lao Đỏ (Hoàng Su Phì)

có ngôn ngữ riêng Người Cờ Lao di cư đến Việt Nam khoảng

150 - 200 năm trước Dân số có 2.922 người, chiếm 0,34% dân

số toàn tỉnh

Nhóm Cờ Lao Đỏ (ở Hoàng Su Phì và Yên Minh) chủ yếu canh tác lúa nước, phần lớn là ruộng bậc thang Ngoài ra, còn trồng ngô, chè và các loại hoa màu khác Quanh nhà thường

có vườn cây ăn quả, rau xanh Nhóm Cờ Lao Xanh và Cờ Lao Trắng ở Đồng Văn, Mèo Vạc canh tác dựa vào việc trồng ngô

ở hốc đá và chăn nuôi Người Cờ Lao chăn nuôi gia súc, gia cầm, như: trâu, bò, ngựa, lợn, gà, vịt Ngoài ra, còn có một số nghề thủ công như dệt vải, rèn sắt, đan lát và làm đồ gỗ

Về ẩm thực, lương thực của người Cờ Lao sử dụng chủ yếu là gạo tẻ, ngô xay (mèn mén), v.v thức ăn chủ yếu là các

Trang 24

loại rau xanh nấu hoặc luộc trong các bữa ăn hàng ngày Sản phẩm chăn nuôi từ thịt động vật, cá thường được dùng trong các trường hợp đặc biệt khi nhà có khách hay có đám

Về trang phục, đàn ông đa số mặc giống các dân tộc khác như quần đen, áo xẻ ngực, áo bốn túi, v.v Trang phục nữ ngày nay có thay đổi, song vẫn giữ được nét riêng Trước đây, phụ

nữ mặc váy, hiện nay đa số mặc quần, kết hợp với áo dài Áo dài năm thân, xẻ tà, cổ đứng, cài cúc bên nách phải, dài quá đầu gối, có trang trí những khoanh vải nhiều màu ở ống tay và phần trên của ngực áo bằng nhiều miếng vải khác màu, khâu lên ngực áo từ giữa sang nách phải, theo mép xẻ Trong ngày cưới, chú rể bắt buộc mặc áo dài xanh như kiểu áo nữ và cuốn một tấm khăn đỏ qua người, cô dâu búi tóc ngược lên đỉnh đầu

Về nhà ở, người Cờ Lao ở nhà đất, thường ba gian hai chái, thưng bằng gỗ hoặc trình bằng đất, mái lợp tranh hoặc ngói âm dương Phía sau của gian giữa là nơi thờ cúng, phía trước là chỗ ăn cơm Trên bàn thờ, đặt các bát hương thờ tổ tiên Trước đây, khi mổ lợn ăn tết, người Cờ Lao thường lấy các mảnh xương hàm treo lên khu vực bàn thờ

Về quan hệ xã hội, người Cờ Lao cư trú thành từng thôn, bản, khoảng 15 - 20 gia đình, mỗi nhóm có một số họ nhất định, con theo họ cha, chung sống nhiều thế hệ Tên các dòng

họ đều được đọc bằng âm Hán phương nam, như: Vần, Hồ, Sềnh, Chảo, Mìn, v.v Mặc dù không có đất đai cũng như nơi thờ cúng chung, không sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng trong phạm vi dòng họ, nhưng mỗi dòng họ vẫn có người đứng đầu (người đàn ông lớn tuổi nhất trong họ), chịu trách nhiệm duy trì các tôn ti trật tự của họ tộc

Về hôn nhân, người Cờ Lao tôn trọng hôn nhân một vợ một chồng Dù cha mẹ gả hay tự nguyện lấy nhau cũng rất ít

Trang 25

bỏ nhau Người thuộc cùng dòng họ, có chung một ông tổ, không được kết hôn với nhau Phong tục cho phép con trai cô được lấy con gái cậu Quá trình cưới hỏi trải qua nhiều bước, như: dạm, hỏi, nạp tài, tổ chức lễ cưới và lại mặt Khi tìm được người ưng ý cho con, nhà trai nhờ ông mối (còn đủ vợ chồng,

có đủ con trai, con gái) đến đánh tiếng với nhà gái, nếu đồng

ý, nhà gái sẽ nhận lễ vật, bàn lễ ăn hỏi và thực hiện các bước tiếp theo

Về sinh đẻ, phụ nữ khi mang thai thường kiêng cữ cẩn thận Để sinh con khỏe mạnh, thai phụ không được ăn thịt trâu (sợ dôi tháng), thịt chó (sợ uế tạp), không ăn thịt các con vật bị bệnh chết hoặc chết đột tử Sau khi sinh, người Cờ Lao ở Đồng Văn, đốt nhau thai của trẻ sơ sinh thành than, rồi bỏ vào hốc đá trên rừng, tránh để cho chó hay lợn giẫm vào Bố mẹ sẽ làm lễ đặt tên cho trẻ khi sinh được 3 ngày 3 đêm (nếu là con trai) hoặc 2 ngày 3 đêm (nếu là con gái) Theo phong tục, con đầu lòng được bà ngoại đặt tên

Về tang ma, khi có người chết, người Cờ Lao làm lễ chôn cất và lễ chay Đám tang gồm hai bước: lễ địa táng và lễ làm

ma khô Địa táng là quan trọng nhất, được tiến hành trang trọng với nhiều nghi thức và vật hiến tế Người Cờ Lao có tục chôn cất xếp đá thành từng vòng quanh mộ, mỗi vòng đá ứng với 10 tuổi của người chết, rồi lấp đất kín vòng đá, cứ thêm 10 tuổi là thêm một vòng đá Sau khi lấp đất kín các vòng đá theo phong tục, lại xếp thêm một lượt đá nữa ở bên trên

Về thờ cúng, người Cờ Lao thờ cúng tổ tiên đến đời thứ

ba hoặc thứ tư Bàn thờ tổ tiên của nhóm Cờ Lao Đỏ thường

là một giá gỗ treo trên vách của gian giữa, trên bàn thờ đặt

ba hoặc bốn ống hương, mỗi ống tượng trưng cho một đời Nhóm Cờ Lao Trắng thờ tổ tiên ở cây cột góc gian nhà bên

Trang 26

trái, cạnh chân cột có cắm một ống hương Ngoài thờ tổ tiên,

người Cờ Lao còn thờ thần đất (gọi là mí xấy hoặc thủ ti, thổ địa),

đây là vị thần quan trọng được các gia đình và toàn bản thờ cúng Người Cờ Lao còn tin mỗi người có 3 hồn, cả lúa, ngô

và gia súc cũng đều có hồn Hồn lúa (gồm: hồn lúa bố, hồn lúa

mẹ, hồn lúa vợ và hồn lúa chồng) được cúng mỗi khi kết thúc

vụ mùa vào dịp Tết 5 tháng 5 hàng năm Người Cờ Lao có lễ cúng thần rừng, đây là nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng phổ biến của nhiều nhóm đồng bào này

Về lễ tết, hàng năm có những ngày lễ, tết theo âm lịch, như tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ, tết Thanh minh, tết rằm tháng bảy, tết Trùng cửu (9 tháng 9), v.v Tết Nguyên Đán được coi là lớn nhất, hầu hết các gia đình đều thịt lợn để cúng

tổ tiên và mời họ hàng, làng xóm

Về văn nghệ dân gian, người Cờ Lao yêu văn nghệ, có vốn văn nghệ dân gian đa dạng, như: truyện thần kỳ, cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao, dân ca, v.v Nội dung những tác phẩm dân gian thường đề cao yếu tố chân - thiện - mĩ, chống lại cái độc ác, xảo trá, xấu xa trong xã hội; đồng thời thể hiện

sự khát khao, mong muốn cuộc sống công bằng, hạnh phúc

DAO

Dân tộc thiểu số ở Hà Giang, phân bố tại hầu hết ở các vùng trong tỉnh, nhưng tập trung đông nhất tại các huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Bắc Mê, Yên Minh

Dân tộc Dao còn có các tên tự gọi là: Kìm Miền, Kìm Mùn, Kìm Mù và tên gọi khác là Mán Tại Hà Giang, chủ yếu

có 4 ngành (nhóm) xếp theo thứ tự dân số: Dao Áo Dài (còn gọi là Dao Chàm), Dao Đại Bản (còn gọi là Dao Đỏ, Tả Pan,

Trang 27

Dao Tiểu Bản (còn gọi là Dao Đeo Tiền) và Dao Quần Trắng

Về ngôn ngữ, tiếng Dao thuộc ngữ hệ Mông - Dao Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, di cư sang Việt Nam từ thế kỷ XII đến nửa đầu thế kỷ XX Dân số có 127.181 người, chiếm 14,8% dân số toàn tỉnh

Người Dao Quần Trắng và Dao Áo Dài chủ yếu làm ruộng nước, Dao Ðỏ làm thổ canh hốc đá, các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi, vùng cao có nuôi ngựa, dê Chạm khắc bạc là nghề truyền thống của người Dao ở Hà Giang nói riêng và các vùng miền khác nói chung; họ làm những đồ trang sức như: vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu, v.v Ngoài ra, người Dao còn có các nghề thủ công khác như: nghề giấy bản, nghề ép dầu thắp sáng, ép dầu ăn, làm đường mật, v.v Người Dao thường xuyên sử dụng lò rèn để sửa chữa nông cụ

Về ẩm thực, thức ăn chính của người Dao là gạo tẻ, ngô

và các loại rau màu như: bầu, bí, khoai, v.v Hàng ngày ăn cơm tẻ, một số nơi ăn cháo và ăn ngô nhiều hơn; người Dao thích ăn thịt luộc, thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua; uống rượu tự chưng cất, một số nơi uống rượu hoãng (rượu không qua chưng cất, có vị chua và ít cay)

Về trang phục, phụ nữ Dao thường mặc áo dài yếm, kết hợp váy hoặc quần; trang phục thêu các hình hoa văn trên vải như: chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây, v.v Phụ nữ Dao Đỏ đội hai khăn trên đầu, một khăn vấn bên trong rất dài màu chàm hoặc màu đen, một khăn màu đen phủ bên ngoài được trang trí bởi các đường viền màu đỏ và trắng, hai đầu khăn thêu hoa văn bằng chỉ màu, khi đội để

rủ sang hai bên vai Áo của phụ nữ Dao Đỏ có bốn thân, kéo

Trang 28

dài từ cầu vai xuống bụng, áo có màu chàm hoặc đen, thêu hoa văn màu đỏ, màu trắng; hai vạt trước áo ngắn, không có

cổ, phía dưới ngực và sau cầu vai gắn các sợi tua đỏ, hai vạt sau dài đến ngang bắp chân Thân trước và thân sau áo được

xẻ từ ngang thắt lưng phía cạnh sườn, hai vạt trước không cài khuy, được thắt bởi một dải vải đỏ phía đuôi vạt áo Yếm được trang trí bằng các hoạ tiết đỏ - trắng - đen và các mảnh bạc hình ngôi sao, phía trên và dưới áo có tua buộc vòng ra phía cổ và thắt lưng Quần có dáng ống suông dài tới mắt cá chân, cạp thắt dải rút, gấu quần có nẹp màu đỏ Phụ nữ Dao

Áo Dài đội khăn hình vuông màu đen, có tua màu đỏ ở 2 góc liền kề; dây lưng vải màu đỏ, đường viền được gắn 2 sợi dây bạc, mặt dây lưng gắn các đồng bạc hoặc nhôm hình tròn xếp chồng gối tiếp lên nhau Áo màu đen hoặc chàm, dáng áo dài,

cổ tròn, xẻ chéo, có khuy cài ở một bên ngực, hai vạt áo cong hình đuôi tôm Quần chân què, cạp lá toạ Phụ nữ Dao Tiền đội khăn màu trắng và khăn màu đỏ có thêu hoa văn, khi đội vắt chéo hai đầu khăn lên phía trước trán tạo thành hình nhân

Họ mặc áo không có cổ, bốn thân dài đến đầu gối, xẻ ngực, xẻ

tà, có cúc bạc cài khuy Phía dải vải liền cổ áo đằng sau gáy có bảy đồng tiền xu bằng bạc hoặc nhôm Hoa văn thêu trên áo

có các hình trám, hình con chó, hình nhện Dây lưng là dải vải lanh hoặc lụa màu xanh Váy màu đen, dáng mở, xoè rộng, gấu váy có hoạ tiết hoa văn in bằng sáp ong, chân cuốn xà cạp Đàn ông Dao trước đây để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn Mũ được may theo kiểu mũ nồi bằng vải mộc Họ mặc áo vải lanh tự dệt, khâu bằng tay, áo gồm 4 thân dài ngang thắt lưng, không

có cổ, tà lệch gài cúc bằng nhôm hoặc bạc về phía phải, tà áo thêu hoặc may các hoa văn màu đỏ, túi áo may phía dưới hai

Trang 29

tà áo Họ mặc quần chân què, lá toạ, dưới gấu có nẹp đỏ, dùng dây vải làm thắt lưng.

Về nhà ở, người Dao ở nhà trệt, nhà sàn hoặc nửa sàn, nửa đất Nhà đất thường có từ hai đến bốn gian, hai chái, mái thấp, tường trình bằng đất, mái lợp bằng cỏ tranh hoặc cây vầu bổ đôi, vách ngăn tường bằng gỗ Nhà sàn thường có từ ba đến năm gian, hai chái, mái lợp bằng lá cọ, tường vách bưng ván hoặc phên tre Bàn thờ được đặt ở gian giữa của nhà, hai gian bên cạnh dành cho các thành viên trong gia đình ngủ và sinh hoạt Quan hệ xã hội, người Dao ở Hà Giang có nhiều họ, như: Bàn, Đặng, Triệu, v.v Các dòng họ thường có gia phả riêng và

hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế

hệ khác nhau Trong gia đình, người đàn ông đóng vai trò trụ cột, phụ nữ lo các công việc nội trợ, đồng áng, dệt may Trước đây, hôn nhân của người Dao thường do cha mẹ quyết định

và mang tính chất gả bán Ngày nay, nam nữ Dao được tự do trong hôn nhân Đám cưới của người Dao ở Hà Giang phải trải qua các bước: dạm ngõ (hai lần), ăn hỏi, đám cưới Người Dao tổ chức nhiều loại hình sinh hoạt văn nghệ với các bài hát truyền thống của dân tộc trong đám cưới Tục ở rể vẫn tồn tại ở dân tộc Dao, có hình thức ở rể tạm thời và ở rể vĩnh viễn Tục sinh đẻ, theo phong tục truyền thống, trước đây phụ

nữ Dao thường đẻ ngồi, đẻ trong buồng ngủ của mình Đến tháng sinh, gia đình mời thầy cúng về làm lễ, cầu mong tổ tiên phù hộ để sinh mẹ tròn con vuông Trẻ em mới sinh được tắm bằng nước nóng, được ba ngày thì làm lễ cúng mụ, cúng thần và cúng tổ tiên với ý nghĩa thông báo Việc đặt tên cho trẻ thường do ông nội quyết định, trong buổi cúng thần linh

tổ chức vào ngày thứ ba sau sinh Sản phụ trong thời gian ở

cữ, kiêng lại gần bàn thờ, kiêng vía dữ đến gần trẻ sơ sinh

Trang 30

bằng nhiều hình thức như: cắm cành cây xanh trước cổng, cắm bông hoa chuối đỏ và nhúm lông đuôi gà trước cổng, v.v Khi vợ mang thai, chồng và những người thân trong gia đình kiêng không được kéo cây ngược, không được khiêng quan tài, không đánh rắn.

Về tang ma, người Dao quan niệm chết là sự chia cắt âm dương Trong gia đình có người chết, người thân phải mời

ba thầy cúng về nhà cúng, việc cúng bái nhằm mục đích mở đường đưa hồn người chết, cúng cơm và giao tài sản cho người chết Trước khi đưa người chết đi chôn, thầy cúng làm

lễ chia tách âm dương và lễ chia của cho người chết Các thủ tục sau khi an táng gồm đưa cơm và cúng định kì Khi sống đã được cấp sắc thì lúc chết, người chết sẽ được lên thiên đàng, nếu chưa được cấp sắc thì xuống âm phủ Mộ của người chết được đắp đất, xếp đá chắc chắn ở chân mộ

Tục thờ cúng, ngoài việc thờ người thân, ông bà tổ tiên, người Dao ở Hà Giang còn thờ thần, như: thần bếp, thổ công, thần gia súc gia cầm, thờ vật long khuyển ngũ sắc và con nhện; thờ các vị thần tự nhiên như: thần gió, thần mưa, thần đất, v.v Thờ các vị thần nông nghiệp như: thần rừng, thần nương, thần lúa, thần ruộng, thần đất, v.v Tôn giáo, tín ngưỡng của người Dao chịu ảnh hưởng của Đạo giáo Họ có nhiều tranh thờ các vị thần thánh của Đạo giáo như Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh Nhóm Dao

Áo Dài và Dao Quần Trắng lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo,

họ thờ Phật, trong cuộc sống hàng ngày thường ăn chay, niệm Phật; họ tin vào sự luân hồi chuyển kiếp của con người

Về lễ tết, người Dao ăn tết Nguyên Đán trùng với người Kinh và nhiều dân tộc khác Trong năm có một số lễ hội quan trọng như: lễ đón xuân, lễ cấp sắc, lễ hội cầu mưa, v.v Lễ cấp

Trang 31

sắc là nghi lễ quan trọng trong vòng đời của người đàn ông dân tộc Dao Người Dao quan niệm rằng, con người ta chỉ thực sự trưởng thành khi trải qua lễ này và được công nhận là thành viên chính thức của cộng đồng.

Về văn nghệ dân gian, người Dao có nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca Trong các nghi lễ tôn giáo, họ sử dụng nhạc và hình thức múa Họ múa chiêng kèm các nhạc cụ như: chuông, trống, não bạt, v.v múa trong các dịp lễ tết, lễ cấp sắc, đám ma: múa cấp sắc, múa cướp hồn, cầu hồn, v.v Người Dao có nhiều bài ca nghi lễ trong các dịp cúng tế như: trong đám cưới có các bài cúng đón dâu, tiễn dâu, nhập dâu vào tổ tiên, v.v có các bài cúng mụ, cúng cầu mùa, cúng giải hạn, cúng cầu may, v.v Trong các dịp lễ tết, lễ hội, người Dao thường chơi đu, chơi quay, đi cà kheo, v.v

GIÁY

Dân tộc thiểu số ở Hà Giang, cư trú chủ yếu tại huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc, Vị Xuyên Dân tộc Giáy còn có các tên gọi khác là Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu,

Xạ Tiếng Giáy là ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tày - Thái Dân số

có 17.392 người, chiếm 2,03% dân số toàn tỉnh

Về lao động sản xuất, người Giáy làm ruộng nước là chính, cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau, cây họ đậu, cây gia vị, cây bông, v.v Họ chăn nuôi lợn, gà, trâu, ngựa, vịt; ngựa thường dùng để cưỡi và vận chuyển hàng phục vụ lao động sản xuất, dùng trâu kéo cày Ngoài

ra, người Giáy còn có một số nghề truyền thống như dệt bông vải, rèn, mộc, đan lát, v.v

Về ẩm thực, người Giáy ăn cơm tẻ là chính, vào dịp Tết thường gói bánh chưng đen (gạo nếp ngâm với nước tro để

Trang 32

thành màu đen), nhân bánh làm bằng đậu xanh tẩm hương liệu thiên nhiên Họ có kĩ thuật chế biến khá ngon: thịt lợn ướp muối rồi nhồi vào lòng non đã được làm sạch, bào mỏng, sau đó treo gác bếp cho khô Khách đến chơi, thường đem thịt thết đãi, kèm với rượu tự chưng cất từ một loại men đặc biệt Khi đến Tết, làm các món bánh truyền thống như bánh bỏng, bánh khảo, để thờ cúng tổ tiên và ăn trong ngày đầu năm mới.

Về trang phục, phụ nữ Giáy thường mặc áo dài xanh hoặc đen, vạt áo dài, cài khuy từ cổ chéo xuống nách, gần giống áo dài của người Kinh; eo thắt đai bằng vải màu xanh đen, vấn tóc kiểu vành khuyên, phía trên đầu choàng khăn vuông màu sắc sặc sỡ, đi giày có thêu hoa văn cầu kỳ Phụ nữ thường dùng đồ trang sức bằng bạc đơn giản, đeo vòng cổ hoặc vòng tay Nam giới mặc áo cánh màu chàm, thân áo ngắn, xẻ ngực, cổ tròn, cài cúc vải Áo thường có ba túi, hai túi dưới, một túi trên bên phải;

họ mặc quần ống đứng (rộng 35 - 40cm), cạp to bản

Về nhà ở, nhà ở của người Giáy có sự biến đổi Trước đây, người Giáy ở nhà sàn, giờ xây nhà bằng đất, trình tường hoặc gạch (được đóng từ việc trộn đất nhão kết hợp với rơm

rạ để xây), nhà có ba gian, gian giữa để thờ và tiếp khách nam, gian bên là bếp và tiếp khách nữ, gian còn lại là phòng ngủ Trong kiến trúc nhà của người Giáy thường có thêm gác xép (cả trong nhà lẫn ngoài hiên) để chứa thóc lúa, quanh nhà có chuồng gia súc, nơi đựng các dụng cụ để chế biến nông sản

Về quan hệ xã hội, người Giáy theo chế độ phụ quyền Trong xã hội truyền thống, các dòng họ đều lấy một chu kì tên đệm gồm 5, 7, 9 nhằm mục đích loại trừ hôn nhân cận huyết

và để xác định thứ vị; hiện nay không dòng họ nào còn giữ truyền thống này Anh em cùng thế hệ, ai sinh ra trước là bề trên, không phân biệt con anh hay con em

Trang 33

Về hôn nhân, trai gái tự do tìm hiểu, tiến tới hôn nhân Việc cưới hỏi, nhà trai chủ động mọi thủ tục, sau lễ cưới, cô dâu về ở cùng nhà chồng Người đàn ông có vị trí, vai trò nhất định trong gia đình, con theo họ cha

Về sinh đẻ, phụ nữ Giáy khi mang thai phải kiêng cữ, cúng cầu mong sinh nở yên lành Khi trẻ đầy tháng, làm lễ trình báo tổ tiên, cầu xin cho đứa bé khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn Thầy cúng ghi tên, tuổi, ngày tháng năm sinh vào một miếng vải đỏ, để sau này tính chuyện dựng vợ gả chồng, làm nhà, hay lo tang ma cho người đó

Về tang ma, khi gia đình có người mất, người thân sẽ đeo tang trên đầu hoặc ở thắt lưng Sau hai năm, mỗi khi đến dịp Thanh minh, gia chủ tổ chức cơm rượu để mời những gia đình, cá nhân đã đến viếng

Về lễ tết, người Giáy có nhiều lễ hội, lễ xuống đồng là quan trọng nhất trong năm Lễ xuống đồng thường được tổ chức ngoài ruộng Mỗi gia đình sắm sửa một mâm cúng, gồm: thịt lợn, gà, bánh khảo, bánh bỏng, hương hoa, v.v mang ra đặt ngoài đồng, nơi tổ chức lễ Mọi người sẽ cùng thắp hương cầu cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Đặc biệt, vào dịp tết Nguyên Đán, người Giáy còn có lễ hội múa trống hay còn được gọi là lễ hội mừng năm mới Ném còn là trò chơi dân gian tiêu biểu của người Giáy, mỗi dịp tổ chức lễ xuống đồng hoặc trong dịp lễ tết, lễ hội

Về văn nghệ dân gian, người Giáy có nhiều truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao, v.v các truyện giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều truyện thơ dài, có truyện kết hợp lời kể với lời hát Số lượng nhiều hơn cả là kho tàng dân

ca Dân ca của họ gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, điệu khác nhau Hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi

Trang 34

nổi và hấp dẫn Họ hát trong dịp lễ, tết, hát trong đám cưới, đám ma, hát khi dựng nhà mới, mừng thọ, chúc tết hay trong lao động sản xuất, giao duyên, v.v

là người Hán và sống xen lẫn với cư dân địa phương, có quê gốc ở Liễu Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Phúc Kiến, Triết Giang (Trung Quốc) Dân số có 7.988 người, chiếm 0,93% dân

số toàn tỉnh

Về lao động sản xuất, người Hoa sống chủ yếu dựa vào canh tác nương rẫy và ruộng nước Họ trồng thêm ngô, sắn, bầu, bí, khoai sọ, tam giác mạch và các cây gia vị khác Một

số nhóm sống ở đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã làm nghề

tiểu thương, bán hàng ăn uống Về chăn nuôi, họ chú trọng

phát triển chăn nuôi trâu, bò, ngựa, lợn, gà, vịt, v.v Chăn nuôi gia súc không chỉ cung cấp sức kéo cho sản xuất, phân bón cho trồng trọt, làm phương tiện vận chuyển, mà còn là nguồn thực phẩm cho tiêu dùng và trao đổi hàng hóa Nghề thủ công của người Hoa phát triển nhất là đóng đồ gỗ và đan mây tre Người Hoa giỏi về may vá, nghề may của họ ảnh hưởng lớn đến các tộc người lân cận Ngoài ra, họ cũng nổi tiếng với nghề làm thuốc, một số bài thuốc đông dược có thể chữa được nhiều loại bệnh nan y

Trang 35

Về ẩm thực, người Hoa sử dụng lương thực chính là gạo tẻ nấu thành cơm hoặc mì sợi, các món ăn được chế biến từ động vật như thịt, cá, thường được chế biến thành món kho hoặc xào mặn kết hợp với rau xanh; nước uống chủ yếu là nước chè, ngoài

ra có rượu gạo, rượu ngô, được sản xuất theo kiểu chưng cất

Về trang phục, trang phục của người Hoa khá đơn giản, không thêu thùa, trang trí nhiều Chất liệu may quần áo thường bằng vải hoặc bằng lụa Đàn ông mặc áo “xá xấu” có

xẻ giữa từ cổ xuống vạt, cài nút thắt, có đường nối ở lưng áo, tay lỡ Phụ nữ mặc áo năm thân dài quá mông, không có túi, cài khuy tết bằng vải ở nách phải, cổ áo cao, mềm, xẻ vạt sang hai bên hông Vải may áo thường dùng loại vải hoa nhiều màu, đeo yếm trước ngực, đi dép nhựa hoặc guốc gỗ, cắt tóc ngắn tới vai, phía trước rẽ đường ngôi vén sau tai

Những người Hoa làm nghề nông thường cư trú tập trung thành thôn xóm ở chân núi, ven đồi Trong các thôn xóm, họ bố trí nhà ở gần nhau theo dòng họ Mỗi thôn xóm thường có một dòng họ lớn, có tiếng nói quyết định đối với các dòng họ khác Quan hệ dòng họ của người Hoa khá chặt chẽ

Nhà ở của người Hoa thường được trình tường bằng đất, mái là những xà kèo bằng gỗ, lợp ngói máng hoặc cỏ tranh, nền đất nện, phổ biến là nhà ba gian hoặc năm gian Người Hoa ở nông thôn thường làm nhà hai mái Hiện nay, người Hoa ở thành thị phổ biến là nhà hình ống, sát đường phố, có cửa hiệu để buôn bán Bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa của ngôi nhà, các buồng ngủ và phòng khách được ngăn riêng

Về quan hệ xã hội, người Hoa sống theo chế độ phụ hệ, trọng nam hơn nữ, thôn xóm là đơn vị xã hội cơ bản Một số dòng họ tiêu biểu như: Trần, Hoàng, Lý, Lương, Hứa, Trương, Đặng, v.v Trong gia đình, nhiều thế hệ cùng sinh sống, phổ

Trang 36

biến nhất là gia đình hạt nhân, gồm: vợ chồng và con, thứ hai

là gia đình ba thế hệ gồm: ông bà, cha mẹ và các con Xưa kia, người Hoa thích có nhiều con, thường có 5 - 6 con

Về hôn nhân, phần đông người Hoa duy trì hôn nhân trong nội bộ tộc người, chủ yếu theo nhóm tiếng địa phương, tuân thủ chế độ một vợ, một chồng; nghiêm cấm hôn nhân cùng dòng họ Trước đây, hôn nhân mang tính gả bán, trai gái lập gia đình thông qua mối lái và sự thỏa thuận của cha

mẹ hai bên Lễ cưới truyền thống gồm các nghi thức: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kì, thân nghinh Hiện nay,

lễ cưới đã được đơn giản hoá, tổ chức phù hợp với điều kiện của gia đình và đúng pháp luật

Về sinh đẻ, phụ nữ Hoa khi mang thai ít phải kiêng trong

ăn uống, được chăm sóc chu đáo và tránh làm công việc nặng nhọc Trước đây, người phụ nữ sinh con ngay tại buồng của mình, có bà mụ giúp đỡ Họ có những tục lệ như: tránh vía xấu cho trẻ mới sinh, cúng đầy tháng, đầy năm (thôi nôi) Người Hoa có nhiều bài thuốc bổ dưỡng cho người mẹ sau sinh Con trai có vai trò nhiều hơn con gái trong xã hội và dòng tộc, nên trẻ em trai được chăm sóc nhiều hơn trẻ em gái

Về tang ma, người Hoa quan niệm chết là từ biệt trần thế

để bước sang thế giới khác Tang ma cho người chết được tổ chức chu đáo với nhiều bước: lễ báo tang, lễ phát tang, lễ dẫn đường, lễ chôn cất, v.v Đám ma thường được tổ chức linh đình,

có nhiều thủ tục và nghi thức Nếu người chồng chết trước thì

vợ chặt đôi chiếc đòn gánh, một nửa chôn theo chồng, nửa còn lại cất đi đến khi chết chôn theo Họ quan niệm, việc chôn đòn gánh là để sang thế giới bên kia dễ nhận nhau Trong đám tang, con trai cả của người chết và thầy cúng cùng điều hành,

là những người có vai trò quan trọng nhất Một đám ma người

Trang 37

Hoa thường có nhiều thầy cúng tham gia vào các nghi thức khác nhau Trước khi an táng có các thủ tục để tiễn biệt người chết: lễ bắc cầu, lễ bái lậy, lễ hạ huyệt, v.v Sau an táng, mang bát hương và chân hương về nhà làm bàn thờ cho người chết,

tổ chức cúng lễ 3 ngày, 49 ngày, 100 ngày và lễ bỏ tang

Về thờ cúng, người Hoa thờ cúng tổ tiên và các loại ma nhà, thần thổ địa, táo công Trong thôn xóm thường có các đền, miếu thờ thần tự nhiên: thần núi, thần sông, thần đá Họ còn thờ những người đầu tiên có công mở mang, khai phá đất đai và tổ nghề Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ phổ biến, có dòng

họ thờ cúng đến chín đời, có dòng họ thờ cúng đến năm đời,

có dòng họ lại chỉ thờ đến ba đời

Văn nghệ dân gian của người Hoa phong phú và đa dạng Tiêu biểu là các làn điệu dân ca giao duyên, ca kịch, múa sư tử, v.v Họ thường hát dân ca trữ tình, hát giao duyên trong các đám cưới, lễ tết, lễ hội, sử dụng những nhạc cụ: đàn, sáo, nhị hồ, thanh la, trống, não bạt, v.v Trong dịp tết hay lễ hội, người Hoa thường tổ chức các trò chơi truyền thống như: đẩy gậy, đu quay, đánh cờ, v.v

Trang 38

Khoảng giữa thế kỉ 18, ở Hà Giang mới có sự hiện diện của quan lại người Kinh Sau năm 1945, lượng người gia tăng đáng kể, hình thành cộng đồng, gồm: cán bộ cách mạng, bộ đội, các gia đình tản cư, di dân phát triển kinh tế - văn hóa miền núi (đa số từ các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ) Sau năm

2000, người Kinh trở thành dân tộc có số dân đông thứ tư tại Hà Giang, sau các dân tộc Mông, Tày, Dao

Về lao động sản xuất, người Kinh vốn có truyền thống làm ruộng nước, trình độ canh tác khá cao, sản phẩm làm ra vừa để đáp ứng nhu cầu hàng ngày, vừa làm hàng hóa Đây là điểm khác biệt so với đa số các dân tộc khác Ngoài trồng lúa, còn có ngô, khoai, sắn, các loại hoa màu như: đỗ, lạc, vừng và rau củ như bầu, bí, cà, mướp, v.v Người Kinh chăn nuôi gia súc, gia cầm và các vật nuôi trong nhà, ngoài ra còn phát triển các vườn chuyên canh, trồng cam, quýt, xoài, chè, v.v Bên cạnh các nghề thủ công như đan đồ gia dụng, làm gạch, ngói, may mặc, v.v người Kinh còn quan tâm đến các ngành nghề thương mại, dịch vụ Họ cư trú chủ yếu ở các trung tâm đô thị, các trục đường giao thông huyết mạch, những vị trí thuận tiện cho giao thương, buôn bán

Về ẩm thực, người Kinh ăn cơm gạo tẻ là chủ yếu, gạo nếp thường để đồ xôi vào dịp giỗ, lễ, tết Thực phẩm chủ yếu là rau,

củ, cá, thịt, và luôn có món canh và nước chấm Đồ uống phổ biến là nước lá chè tươi hoặc khô và lá vối Đàn ông có người uống rượu, hút thuốc lào, thuốc lá Vào dịp Tết Nguyên đán, họ vẫn giữ truyền thống gói bánh chưng vuông, một số gia đình làm chè lam Tết Hàn thực, làm bánh trôi, bánh chay

Về trang phục, đa số người Kinh đến Hà Giang từ nửa sau thế kỉ 20, sử dụng trang phục của vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ Đàn ông thường mặc quần âu, áo sơ mi, áo

Trang 39

phông Phụ nữ mặc quần màu tối, may theo kiểu chân què, áo ngắn, có cài khuyết trước ngực, nhiều màu khác nhau, tóc để dài, có thể thả, cặp, tết hoặc búi tùy theo sở thích và lứa tuổi Ngày nay, người trẻ thường mặc quần âu, quần bò, áo sơ mi, váy, tóc nhiều kiểu đa dạng, chân đi dép hoặc giầy, coi đồng

hồ đeo tay là đồ trang sức

Về nhà ở, người Kinh vẫn xây những ngôi nhà truyền thống của vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, được dựng trên nền đất cao, có hàng hiên, sân phơi Khung nhà có các vì kèo, cột, tường xây hoặc trát vách, mái cỏ, mái lá hoặc ngói Hiện nay, xuất hiện nhiều những ngôi nhà mái bằng, nhiều tầng

Về quan hệ xã hội, người Kinh vẫn giữ truyền thống theo chế độ phụ hệ Đàn ông cưới vợ, con theo họ cha, là người thừa kế tài sản, có trách nhiệm chăm nuôi bố mẹ khi già Gia đình thường gồm hai, ba thế hệ chung sống Tại Hà Giang, những gia đình là họ hàng hoặc người cùng làng xóm rất ít,

họ là những người cùng cảnh ngộ, sống cùng nhau thành xóm làng, dần dần thiết lập mối quan hệ láng giềng

Về hôn nhân, người Kinh tuân thủ chế độ một vợ một chồng Trai gái tự do tìm hiểu, thường do người nam chủ động Nhà trai cử đại diện đến nhà gái ngỏ lời và đặt vấn đề

về hôn nhân Nghi lễ hôn nhân thường gồm hai phần: lễ ăn hỏi và lễ cưới.Nếu kết hôn với người dân tộc khác, họ tôn trọng các nghi lễ, tập tục của nhau

Về sinh đẻ, trước đây khi phụ nữ mang thai có các kiêng

cữ lạc hậu, ngày nay đã bỏ Do ảnh hưởng của chế độ phụ hệ, tâm lí chung của người Kinh vẫn mong muốn có con trai Các tập tục liên quan đến trẻ sơ sinh chỉ còn cúng đầy tháng, khi đầy năm cha mẹ tổ chức tiệc nhỏ mừng sinh nhật

Trang 40

Về tang ma, người Kinh quan niệm con người gồm hai phần, hồn và xác Khi chết là hồn lìa khỏi xác để về với tổ tiên

ở thế giới bên kia Vì thế, tang ma là việc hệ trọng Các nghi lễ tang ma của người Kinh có xu hướng đơn giản hóa, đám tang được tổ chức trang nghiêm, trọng thể, sau đó là các lễ cúng

49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu, giỗ hết (đoạn tang) và ngày giỗ hàng năm Ngoài ra, những ngày rằm, mùng một hàng tháng, những ngày lễ, tết, v.v ít nhiều đều có lễ, thắp hương để cúng

tổ tiên, thổ công, thổ địa

Về thờ cúng, người Kinh gắn bó với nền văn minh lúa nước, kết quả lao động đa phần phụ thuộc vào thiên nhiên

Vì thế, những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến công việc trồng trọt của họ khiến họ có tín ngưỡng vạn vật hữu linh Biểu hiện của tín ngưỡng này là việc họ thờ các vị thần: thần Đất (Thổ công), thần Nước, thần Sông (Hà Bá), thần Mưa, thần Sấm, thần Sét, v.v Việc thờ cúng tổ tiên cũng là một nét đặc trưng của người Kinh

Về văn nghệ dân gian, người Kinh sinh hoạt văn nghệ theo hai hình thức: một mặt, giữ những loại hình văn nghệ dân gian của vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, nơi quê hương

cũ Mặt khác, họ cũng học tập, tiếp thu những bài dân ca, điệu múa của các dân tộc ở địa phương, nơi họ đang cư trú

LA CHÍ

Dân tộc thiểu số ở Hà Giang, phần lớn sống tại huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì và Quang Bình, tập trung đông tại bản Díu (xã Bản Díu, huyện Xín Mần), bản Phùng, bản Máy (xã Bản Phùng, Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì) Họ tự gọi mình

là Cù Tê, nghĩa là Người mình Các dân tộc khác còn gọi họ là

Ngày đăng: 24/04/2023, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w