1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

báo cáo đề tài khái quát cán cân thương mại việt nam

28 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 295,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Việc Việt Nam giảm thuế và các nghĩa vụ nhập khẩu đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, ôtô sẽ tạo điều kiện cho nhiều hàng hoá đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước

Trang 1

ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO ĐỀ TÀI

KHÁI QUÁT CÁC CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

GIÃNG VIÊN: DIỆU THẢO

Trang 2

2

MỤC LỤC

1 CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÀNH VIÊN WTO

1.1 Định nghĩa 03

1.2 Thuận lợi 03

1.3 Thách thức 04

2 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI THẾ GIỚI 2.1 VIỆT NAM VỚI TỔ CHỨC ASEAN 06

2.1.1 SINGAPO 07

2.1.2 THÁI LAN 09

2.1.3 INDONEXIA 11

2.2 TRUNG QUỐC 13

2.3 CỘNG HÒA LIÊN BANG HOA KỲ 16

2.3.1 Các hiệp định đã ký kết 16

2.3.2 Kết quả hợp tác 16

2.3.3 Khó khăn và thách thức 19

3 YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC CÂN THƯƠNG MẠI 3.1 Nhân tố lạm phát 22

3.2 Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng 22

3.3 Thu nhập của người không cư trú 22

3.4 Thuế và hạn ngạch thuế quan 22

3.5 Tỷ giá hối đoái 22

4 PHÁ GIÁ ĐỒNG NỘI TỆ 4.1 Phương pháp tiếp cận Marshall – Lerner 23

4.2 Thí dụ (chứng minh điều kiện Marshall – Lerner) 23

4.3 Phân tích 24

4.4 Cán cân thương mại qua hiệu ứng tuyến J 26

5 GIẢI PHÁPNGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 5.1 Thực tiễn 27

5.2 Thực hiện chính sách gia tăng xuất khẩu

5.3 Biện pháp để hạn chế nhập khẩu

5.4 Cần thực hiện thêm

5.4.1 Chính phủ

5.4.2 Doanh nghiệp

5.4.3 Người tiêu dùng

6 KẾT LUẬN 28

7 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

1 CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÀNH VIÊN WTO

là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng

1.2 Thuận lợi

Với các thủ tục được chuẩn hoá và minh bạch hơn, quyền lợi của nhà đầu

tư được đảm bảo hơn và sự phát triển được thúc đẩy thông qua thương mại, đầu tư

và các cơ hội rộng mở hơn

- Việc đơn giản hoá ba thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế và cấp giấy phép khắc dấu có tác động tích cực đối với các doanh nghiệp mới

- Việc mở rộng hệ thống tài chính cạnh tranh sẽ tạo cơ hội tiếp cận tài chính tốt và có tính cạnh tranh hơn cho các doanh nghiệp nhỏ với các dịch vụ tài chính mới trong các lĩnh vực cho thuê tài chính, giải chấp thanh toán, tư vấn tài chính và dịch vụ thông tin

- Viêc mở cửa dịch vụ bưu chính viễn thông sẽ có tác động rất tích cực đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam, cho phép các doanh nghiệp từ nhỏ nhất cạnh tranh toàn cầu nhờ Internet và thương mại trực tuyến

- Tiếp cận với thị trường Hoa Kỳ đem lại sự tăng trưởng trong xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng may mặc, da giầy, sản phẩm gỗ và

đồ dùng gia đình Chính phủ Việt Nam đã cam kết đưa ra sản phẩm, đầu tư và dịch

vụ để giúp hỗ trợ các hoạt động kinh doanh và đổi mới doanh nghiệp trong nước, FDI năm 2007 đã tăng lên gấp đôi tới 20 tỷ đôla và xuất khẩu đã tăng 21,5% so với năm 2006

- Mạng liên kết và các hiệp hội rất quan trọng đối với sự phát triển và tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, tiếp cận thông tin và thị trường, đồng thời là tiếng nói tới các cơ quan chức năng

- Mặc dù tạo ra cạnh tranh nhiều hơn cho các doanh nghiệp trong nước tại Việt Nam, FDI cũng mang lại cơ hội lớn và giá trị tăng thêm

- Việc Việt Nam giảm thuế và các nghĩa vụ nhập khẩu đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, ôtô sẽ tạo điều kiện cho nhiều hàng hoá đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý, giúp DNVVN

Trang 4

4

1.3 Thách thức

Từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra hàng loạt những cải cách

mà nhờ đó đã cải thiện đáng kể môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Với việc trở thành thành viên của WTO và áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, những cải cách này thậm chí càng trở nên quan trọng hơn Gia nhập WTO mở ra những

cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng đi kèm với sự cạnh tranh và đe doạ nhiều hơn

- Thị trường mở dẫn đến cạnh tranh tăng lên

- Sản xuất các sản phẩm có tiêu chuẩn cao và canh tranh về giá và chất lượng và những sản phẩm này có thể được bán cả ở thị trường trong nước và quốc

tế

- Quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ khó thích ứng

- Thiếu kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về quản lý

- Thiếu hợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Các chính sách kinh tế vĩ mô không thuận lợi

- Thiếu khả năng cạnh tranh

- Đối mặt với những rào cản thương mại phi thuế quan

- Vấn đề ngôn ngữ

- Phát triển kết cấu hạ tầng trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện nghĩa vụ với WTO

- Tiêu chuẩn hoá, tuân htủ các quy định về nhãn mác và xuất xứ

- Khuôn khổ luật pháp minh bạch để bảo vệ và trợ giúp hợp lý

- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ kiến thức truyền thống

- Giảm thuế gây ra cạnh tranh nhiều hơn, vừa là đe doạ với một số doanh nghiệp, vừa là cơ hội với các doanh nghiệp khác

- Hiểu biết về thực tiễn kinh doanh quốc tế

- Khó khăn trong tiếp cân vốn từ khu vực tài chính chính thức – theo Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, chỉ có 32,4% doanh nghiệp vừa và nhỏ đủ điều kiện để vay từ các ngân hàng chính thức – do vậy họ phải có được tài chính từ các nguồn khác để cạnh tranh

- Thách thức lớn và rõ ràng nhất là phát triển cơ chế và phương tiện để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ trở thành các doanh nghiệp mạnh, có khả năng cạnh tranh Trong việc thúc đẩy tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều quan trọng là đảm bảo rằng họ thực sự tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thể bán được và chỉ dừng lại ở việc lập dự án 97% doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây không phải là một tỷ lệ khác thường, nhưng tại Việt Nam, khác biệt giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường là quy mô nhỏ, với các doanh nghiệp lớn hơn là đáng kể

Trang 5

- Bởi nhanh chóng tự do hoá thị trường trong nước, bao gồm cả những lĩnh vực nhạy cảm và còn non trẻ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với

sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài

- Phạm vi giảm thuế rộng ảnh hưởng đáng kể đến nguồn thu thuế hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Chính phủ

- Dòng vốn đổ vào có thể mang theo những rủi ro và làm trầm trọng thêm những yếu kém nội tại về cơ cấu và kinh tế vĩ mô, đặc biệt là những với dòng vốn chảy vào do đầu cơ có thể dễ dàng chảy ra nếu có những thay đổi về tình hình kinh doanh hay kỳ vọng của các nhà đầu tư

- Đối với các dịch vụ phân phối, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép tham gia trong lĩnh vực bán lẻ đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp và sản xuất trong nước Do đó, đa số các hình thức phân phối hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua các cơ sở thương mại cá thể nhỏ của Việt Nam

sẽ khó cạnh tranh được với các trung tâm phân phối, bán hàng hoá với giá cả hấp dẫn và kinh doanh thương mại hiệu quả hơn nhờ vào kinh tế quy mô

- Hàng tỷ đôla FDI đã được đăng ký vào Việt Nam trong 5 năm qua nhưng rất nhiều trong số đó vẫn chưa được giải ngân

- Khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đất nước trở nên dễ bị tổn thương hơn trước các biến động kinh tế quốc tế Thương mại với các nước phát triển tăng, trong khi tiếp tục cải thiện thị trường và kinh doanh thương mại, với thị trường mở hơn và giảm bớt các hạn ngạch do việc thực hiện cam kết gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ cần phải bảo vệ chính họ trước những tác động tiêu cực

- Khi Việt Nam tham gia nhiều hơn vào quá trình toàn cầu hoá sau khi trở thành thành viên WTO, nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưonửg nhiều hơn từ các biến cố của kinh tế thế giới Theo truyền thống, đồng Việt Nam được gắn chặt với đôla

Mỹ, nhưng sự giảm giá gần đây của đôla đang khiến chính phủ phải mở rộng sự kiềm toả để tạo điều kiện cho sự giao dịch giữa đồng và đôla Các nhà nhập khẩu ViệtNam đang nhận thấy những áp lực khiến thu nhập thấp hơn do đôla giảm giá Nỗi lo sợ về lạm phát cũng đe doạ sự phát triển vững chắc của khu vực doanh nghiệp

Trang 6

6

2 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI THẾ GIỚI

2.1 VIỆT NAM VỚI TỔ CHỨC ASEAN

- ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam

- Việt Nam gia nhập ASEAN vào 28/07/1995

Quan hệ thương mại Việt Nam và tổ chức ASEAN:

- ASEAN hiện là một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, thường xuyên chiếm khoảng 25% kim ngạch trao đổi giữa Việt Nam với thế giới Năm 2000, ASEAN chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu và 28% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Việt Nam chủ yếu nhập các sản phẩm xăng dầu từ Singapore Năm 2001, Việt Nam đã nhập 1,18 tỷ USD các sản phẩm xăng dầu từ Singapore

- Từ 1/1/2003, 6 nước thành viên cũ của ASEAN là Singapore, Indonesia, Thái Lan, Brunei, Malaysia, Philippines sẽ hạ thuế nhập khẩu xuống 0-5%, riêng Singapore thuế suất 0% Riêng Việt Nam còn có 3 năm nữa trước khi tham gia hoàn toàn vào AFTA nên một số mặt hàng như dầu thực vật, bánh kẹo, rau quả, cà phê hòa tan, bia, rượu, xi măng, lốp xe, giấy, gốm sứ vệ sinh, còn được bảo hộ ở mức tối đa có thể được Do đó, cán cân thương mại Việt Nam- ASEAN trong tương lai gần chưa có biến động nhiều

- Khi các biện pháp bảo hộ không còn, hàng hóa ASEAN có nhiều khả năng xâm nhập thị trường Việt Nam Tất nhiên, hàng hóa của Việt Nam cũng có những cơ hội tương đương Vấn đề là bên nào có thể tận dụng tốt cơ hội đem lại, lấy cơ hội để hạn chế thách thức Cơ hội lớn nhất trước mắt là 6 nước thành viên

cũ hạ thuế suất xuống 0-5% từ 1/1/2003 Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu vào các nước này trong 3 năm tới Cơ hội thứ hai là các nước phát triển cao của ASEAN như Singapore, Malaysia đều thiếu lao động phổ thông Malaysia mỗi năm phải nhập khẩu 2 triệu lao động, Singapore phải nhập gần 1 triệu lao động là cơ hội tốt cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu lao động Thứ ba, Việt Nam là nước có nền chính trị ổn định và an toàn nhất trong khu vực, chi phí lương nhân công của Việt Nam cạnh tranh, thị trường lớn có hơn 80 triệu dân và còn nhiều lĩnh vực chưa phát triển sẽ là những thế mạnh thu hút các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư đến từ các nước ASEAN

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, tiết kiệm hạ giá thành, tăng tiếp thị Mỗi sản phẩm mới ra đời hoặc định sản xuất phải nghĩ rằng sẽ bán cả trong nước

và xuất khẩu, coi là sản phẩm của ASEAN

Trang 7

2.1.1 SINGAPO

Singapore là một trong những thị trường quen thuộc nhất của Việt Nam từ nhiều thập kỷ qua Điều này cũng dễ hiểu vì cả hai quốc gia cùng nằm trong vùng Đông Nam Á; mặt khác, do sự hiện diện đông đảo của đồng bào gốc Hoa sinh sống trên cả hai đất nước, tập quán thương mại có nhiều nét tương đồng với nhau Sau ngày giải phóng, vào đầu thập niên 1980, quan hệ giao thương giữa Việt Nam

và Singapore được nối lại qua những thương vụ giản đơn, chủ yếu là trao đổi hàng hoá Đến nay, sau gần 20 năm củng cố và không ngừng cải thiện quan hệ thương mại giữa hai nước, Singapore đã trở thành một trong những khách hàng chủ lực của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam

Trong các nước ASEAN, Singapore luôn là thị trường buôn bán số 1 của Việt Nam Từ nhiều năm nay, Singapore duy trì chính sách thương mại, mậu dịch

tự do thông thoáng, 96% hàng hoá xuất nhập khẩu ra vào thị trường Singapore không phải chịu thuế Vì vậy, nhiều năm qua Singapore được coi như thị trường truyền thống trung gian cho hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới vì đây là cảng biển vận chuyển và chuyển tải hàng hoá hết sức thuận lợi của khu vực ASEAN

Dưới đây là những số liệu diễn tả cụ thể mối quan hệ thương mại Việt Nam - Singapore trong thời kỳ 2004-2007 (đơn vị tính 1.000 USD)

xuất

Việt Nam nhập

Trang 8

3 Máy móc thiết bị phụ tùng 719.788

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Trong 5 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Singapore đạt 948.501.383 USD Riêng tháng 5/2008, Việt Nam

đã xuất khẩu hàng hoá sang Singapore đạt trị giá 240.666.277 USD Dầu thô; máy

vi tính, sp điện tử và linh kiện; cà phê; dây điện và cáp điện; hàng hải sản; hàng dệt may là những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Singapore trong 5 tháng đầu năm

Trang 9

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, kim ngạch những mặt hàng trên chưa lớn lắm, nhưng hướng lâu dài sẽ trở thành nhóm mặt hàng tiềm năng

có thể làm tăng kim ngạch, khối lượng xuất khẩu với mức trung bình khoảng 1 tỷ USD/năm

Mặc dù chỉ chiếm 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang châu Á, nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tới Singapore năm 2007 tăng rất mạnh so với năm 2006 với mức tăng 37,5%, đạt 2,2 tỷ USD Doanh nghiệp cần khai thác triệt để nhu cầu đa dạng và vai trò trung chuyển hàng hoá sang các nước khác của Singapore, tập trung xuất khẩu các mặt hàng: thuỷ sản, nông sản, rau quả, dệt may, giày da, đồ gỗ, dây cáp điện, linh kiện điện tử là các mặt hàng mà Singapore có nhu cầu cao

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Những mặt hàng chính Việt Nam xuất sang Thái Lan gồm: linh kiện vi tính, dầu thô, hải sản, than đá và nhiều mặt hàng khác như hàng điện tử, lạc nhân, sản phẩm nhựa, máy móc và thiết bị điện, mỹ phẩm, sản phẩm sắt thép, da thuộc Việt Nam nhập của Thái Lan: xăng, xe máy, hàng tiêu dùng, hàng điện tử, dụng cụ thể thao, các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp: dệt may, sắt thép, chế biến gỗ

Năm Việt Nam

xuất

Việt Nam nhập

Trang 10

10

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Thái Lan năm

2007 (đơn vị tính 1.000 USD)

I Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

1 Máy vi tính và linh kiện 370.003

2 Linh kiện và phụ tùng xe máy 335.298

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Do tính tương đồng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của hai nước cho nên các mặt hàng của Việt Nam nói chung và nông sản nói riêng khó thâm nhập vào thị trường này Dự báo đến năm 2010, Việt Nam cũng chỉ đạt mức 1,85 tỷ USD về xuất khẩu sang Thái Tuy nhiên, Việt Nam-Thái Lan đang tiếp tục duy trì cơ chế hợp tác xuất khẩu gạo để tránh việc cạnh tranh gây thiệt hại của hai nước trên thị trường thế giới Hai bên cũng tích cực thực hiện thỏa thuận thúc đẩy hợp tác khai thác tuyến đường hành lang Đông-Tây và hợp tác trong các khuôn khổ khu vực ASEAN, ACMECS, GMS

Việt Nam đã đề nghị Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan, như dành ưu đãi thuế quan - đặc biệt với một

số mặt hàng nông sản đang bị áp dụng hạn ngạch thuế quan - nhằm giảm cán cân thương mại, do Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan lớn

Trang 11

2.1.3 INDONEXIA

Inđônêxia có cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu tương tự với Việt Nam, trong

đó sản phẩm thế mạnh của Việt Nam xuất sang Inđônêxia là gạo và dầu thô; sản phẩm thế mạnh của Inđônêxia xuất sang Việt Nam gồm một số mặt hàng phục vụ sản xuất công nghiệp như hóa chất, bột giấy, nguyên phụ liệu dệt may,da

Quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam - Inđônêxia giai đoạn 2004-2007 (đơn vị tính 1.000 USD )

xuất

Việt Nam nhập

2007 Các mặt hàng có trị giá xuất khẩu giảm gồm: Sản phẩm gốm sứ, lạc nhân, cà phê, gạo, dầu thô, chè, đường Trong đó, hai mặt hàng dầu thô và gạo (chiếm tỷ trọng trên dưới 70 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Inđônêxia năm 2007) có kim ngạch giảm mạnh

Theo Cơ quan Hậu cần quốc gia Inđônêxia, trong năm 2007, Inđônêxia đã phải nhập khẩu khoảng 7,3 triệu tấn gạo Tuy nhiên, trong năm 2008 Inđônêxia đã có thể đáp ứng được nhu cầu gạo cho thị trường trong nước và có thể xuất khẩu gạo trong năm 2009 khi mà sản lượng gạo tăng 5% Do vậy, tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam vào Inđônêxia trong năm 2009 và các năm tiếp theo dự kiến sẽ giảm

Trang 12

12

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Inđônêxia năm

2007, đơn vị tính: triệu USD (Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

3 Máy vi tính và linh kiện 101.831

Trang 13

2.2 TRUNG QUỐC

Hiện nay Trung Quốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2007, tổng kim ngạch thương mại hai chiều là 15,85 tỷ USD, tăng 52,18% so với cùng kỳ năm 2006; ta xuất 3,35 tỷ USD, tăng 10,78%, nhập khẩu 12,5 tỷ USD, tăng 69,15% (nhập siêu 9,15 tỷ USD) Tính đến hết tháng 4/2008, kim ngạch song phương đạt 5,15 tỷ USD, tăng 72% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng nhập siêu tiếp tục tăng, đạt 3,3 tỷ USD, tăng 112%

Tháng 11/2006, hai bên đã ký Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh

tế thương mại Để triển khai thực hiện Hiệp định này, hiện nay hai bên đang tích cực hoàn tất Dự thảo "Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt

- Trung" giai đoạn 2009 - 2013, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm, nâng cao hơn nữa quy mô và mức độ hợp tác kinh tế thương mại, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể, trong đó có các biện pháp hướng tới giải quyết vấn

đề nhập siêu

Trang 14

14

Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2007

Ngày đăng: 14/05/2014, 06:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w