1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn đường lối đề tài quan hệ kinh tế thương mại việt nam hoa kỳ từ 2001 đến nay

35 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 271,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ KỂ TỪ SAU HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ BTA - 7/2000Việc ký kết Hiệp định BTA năm 2000 đã mở ra một bư

Trang 1

CHƯƠNG I: NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ KỂ TỪ SAU HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ (BTA - 7/2000)

Việc ký kết Hiệp định BTA năm 2000 đã mở ra một bước ngoặt trongquan hệ kinh tế giữa hai Hoa Kỳ và Việt Nam Với nền tảng pháp lý vững chắc,những quy định chặt chẽ, khoa học và những ưu đãi hai bên dành cho nhau đã tạođộng lực thúc đẩy quan hệ kinh tế phát triển lên một bước cao hơn Để có cáchnhìn toàn diện và hệ thống sự phát triển của quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Namgiai đoạn sau BTA (2000 – 2018), chúng ta có thể khảo sát những thành tựu cótính chất tiền đề của quan hệ kinh tế giai đoạn trước BTA

1 Khái quát quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoạn trước khi ký Hiệp định Thương mại song phương

Với sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh kéo dài hàngchục năm trên lãnh thổ Việt Nam đã chấm dứt Sau cuộc chiến, hai quốc gia đềuphải đối diện với những vấn đề hậu chiến trầm trọng trên tất cả các lĩnh vực, đặcbiệt là trên lĩnh vực kinh tế Tuy vậy, một chủ thể Hoa Kỳ không còn dính líu vàocuộc chiến phi nghĩa và một chủ thể Việt Nam độc lập cả về phương diện chínhtrị và kinh tế là cơ sở vững chắc giúp hai bên đấu tranh vượt các rào cản để thiếtlập quan hệ kinh tế Bởi vì, quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia, lãnh thổtrước hết phải dựa trên các nền kinh tế của các quốc gia độc lập và cơ sở để xemxét là sự độc lập về kinh tế Từ năm 1995 đến năm 2001, quan hệ ngoại giao giữaHoa Kỳ và Việt Nam đã được thiết lập, vì vậy quan hệ thương mại và đầu tưcũng có những chuyển biến nhất định Tuy quan hệ chính trị ngoại giao đã đượcbình thường hóa nhưng trên bình diện kinh tế, quan hệ song phương vẫn chưađược “bình thường hóa” do Hoa Kỳ vẫn chưa công nhận địa vị pháp lý của chủthể kinh tế Việt Nam nên vẫn áp dụng các chính sách kinh tế thương mại bất bìnhđẳng đối với Việt Nam, quan hệ kinh tế song phương vẫn chưa có cơ sở pháp lývững chắc Tuy nhiên, những thành tựu về quan hệ thương mại và đầu tư giaiđoạn 1995 – 2001 đã tạo tiền đề cho tiến trình quan hệ kinh tế song phương giaiđoạn 2001 – 2018

Trang 2

1.1 Quan hệ thương mại

Trước năm 1995, mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam chưa bình thường hóaquan hệ ngoại giao, Hoa Kỳ vẫn thực thi chính sách cấm vận kinh tế chống ViệtNam, song thông qua con đường gián tiếp và không chính thức, Việt Nam vẫn cóquan hệ kinh tế và buôn bán với nhiều tổ chức phi chính phủ Mỹ Một số công ty

Mỹ, qua trung gian cũng đã đưa được hàng hóa vào Việt Nam, cụ thể theo số liệucủa Bộ thương mại Hoa Kỳ, năm 1987 Hoa Kỳ đã xuất sang Việt Nam 23 triệuUSD hàng hoá, năm 1988 là 15 triệu USD và năm 1989 là 11 triệu USD Còntheo số liệu thống kê của Việt Nam, trong cả thời kỳ 1986 - 1989, nhập khẩu từViệt Nam của Hoa Kỳ gần như bằng không, nhưng bước sang thập niên 90, tìnhhình đã có những chuyển biến nhất định, tiêu biểu là năm 1990, Việt Nam đãxuất sang Hoa Kỳ một lượng hàng trị giá khoảng 5.000 USD, tăng lên 9.000USD vào 1991, 11.000 USD vào năm 1992 và đạt 58.000 USD vào năm 1993

Về nhập khẩu, trong 3 năm 1991 – 1993, giá trị hàng hoá Hoa Kỳ xuất sang ViệtNam đã đạt gần 7 triệu USD so với 5 triệu USD của cả thời kỳ 1986 - 1989.Những con số trên tuy còn vô cùng khiêm tốn nhưng là những bước đi đầu tiêncủa quan hệ kinh tế song phương

Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Tổng thống B Clinton chính thức tuyên bố bãi

bỏ cấm vận đối với Việt Nam Tiếp đó, Bộ Thương mại Hoa Kỳ chuyển ViệtNam từ nhóm Z (gồm Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam) lên nhóm Y - ít hạnchế thương mại hơn (gồm Mông Cổ, Lào, Campuchia, Việt Nam cùng một sốnước thuộc Đông Âu và Liên Xô trước đây) Bộ Vận tải và Bộ Thương mại Hoa

Kỳ đã bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Hoa Kỳ vận chuyển hàng sang ViệtNam, đồng thời cho phép tàu mang cờ Việt Nam được cập các cảng Hoa Kỳ

Hoạt động thương mại giữa hai nước trở nên sôi động, tổng kim ngạchbuôn bán giữa hai nước từ vài chục triệu USD, đến hết năm 1996 đã lên tới hơn 1

tỷ USD Con số này vượt qua giá trị trao đổi thương mại của Việt Nam với cácbạn hàng truyền thống tại Đông Âu và Liên Xô trước đây Đây là điều chưa từng

có trong quan hệ kinh tế giữa hai nước khi mà các cản trở vẫn chưa được giải toả.Bởi lẽ, do Hoa Kỳ chưa áp dụng MFN cho Việt Nam nên Việt Nam chưa đượchưởng các ưu đãi thuế quan, hàng hoá của Việt Nam rất khó cạnh tranh với hàng

Trang 3

hoá các nước có MFN trên thị trường Hoa Kỳ Trong khi đó, hàng hoá của Hoa

Kỳ vào Việt Nam được hưởng quy chế bình đẳng, ngang bằng như các nước khác

về thuế quan

Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam

Ngay những năm đầu khi Hoa Kỳ bỏ chính sách cấm vận đối với ViệtNam, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam tăng mạnh về số lượng, phong phú,

đa dạng về chủng loại, đó là những mặt hàng có hàm lượng chất xám, trình độcông nghệ cao Các mặt hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam chủ yếu làmáy móc và thiết bị, phân bón, xây dựng, ô tô, thiết bị viễn thông

Ngoài ra Hoa Kỳ còn xuất sang Việt Nam một số mặt hàng nông sản nhưngũ cốc, bột mì, các sản phẩm từ sữa và một số nguyên liệu phục vụ cho ngànhgiấy và dệt may Điều này phản ánh đúng định hướng nhập khẩu của Việt Nam,cũng như thế mạnh trong hoạt động xuất khẩu của Hoa Kỳ Một số sản phẩm trítuệ của Hoa Kỳ như phim, sách báo, băng nghe và nhìn đã có mặt tại Việt Namngay khi hai nước ký hiệp định về bản quyền các sản phẩm trí tuệ nhưng cònchiếm môt tỷ lệ rất nhỏ trong quan hệ thương mại giữa hai nước

Nhập khẩu của Hoa Kỳ từ Việt Nam

Với lợi thế so sánh của Việt Nam cùng tính đa dạng về thị hiếu và nhu cầu

đã giúp Hoa Kỳ tìm được những mặt hàng cần nhiều lao động phổ thông, giá trịthấp, chất lượng vừa phải từ Việt Nam Ngoại trừ nhiên liệu khoáng sản và dầuthô, các mặt hàng Hoa Kỳ nhập từ Việt Nam chủ yếu là nông, thuỷ sản và hải sảnchế biến, hàng dệt may, giày dép, đồ da và bia Đây là những mặt hàng Việt Nam

có nhiều tiềm năng về lợi thế so sánh, do tận dụng được nguồn nhân công lươngthấp, có kỹ thuật, tiềm năng thuỷ - hải sản phong phú và hơn hết nó phù hợp với

cơ cấu phát triển mặt hàng ở Việt Nam trong giai đoạn này

Sau một vài bước thăm dò thử nghiệm trong năm 1995, sang năm 1996mặt hàng nhiên liệu khoáng sản và dầu mỏ của Việt Nam cũng được nhập vào thịtrường Hoa Kỳ Tuy nhiên, nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn thuộc về càphê, chè, gia vị, trong đó cà phê chiếm một số lượng áp đảo Đồng thời, năm

1996 cũng là năm hàng giày dép Việt Nam được Hoa Kỳ khẳng định và nhập vàothị trường của mình Các năm 1997, 1998, 1999 tuy có sự biến động đôi chút về

Trang 4

số lượng các mặt hàng nhập khẩu chính của Hoa Kỳ từ Việt Nam, nhưng nhìnchung những mặt hàng đã được khẳng định về giá cả và sức cạnh tranh như càphê, giày dép, quần áo, thuỷ hải sản, dầu mỏ tiếp tục được nhập vào thị trườngHoa Kỳ Tỷ trọng các mặt hàng nông phẩm vẫn chiếm ưu thế so với nhóm hàngphi nông nghiệp với tỷ lệ 60% - 40 %

Tóm lại, trao đổi thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những bướctiến quan trong từ sau khi bình thường hóa quan hệ, tuy nhiên ưu thế vẫn thuộc

về phía Hoa Kỳ Nguyên nhân của tình trạng này là vì hàng xuất khẩu của Hoa

Kỳ sang Việt Nam đã có được sự ưu đãi và đối xử công bằng trong cạnh tranh vềgiá cả so với hàng hoá các quốc gia khác Trong khi hàng Việt Nam nhập vàoHoa Kỳ vẫn phải chịu mức thuế suất cao, nghĩa là bị đối xử bất bình đẳng (vấn

đề này liên quan đến luật pháp kinh tế - thương mại của Hoa Kỳ) Phải đến khi cóHiệp định BTA khi nước này dành cho Việt Nam NTR, thì cán cân thương mạigiữa hai nước mới có triển vọng không nghiêng thêm về phía Hoa Kỳ

1.2 Quan hệ đầu tư

Từ khi Việt Nam có Luật đầu tư nước ngoài, Hoa Kỳ là một trong nhữngnước vào đầu tư ở Việt Nam chậm nhất Nguyên nhân quan trọng là Hoa Kỳ vẫncòn thực thi chính sách cấm vận chống Việt Nam Tuy nhiên, dù chưa chính thứcđầu tư, nhiều công ty xuyên quốc gia (TNC) của Hoa Kỳ đã đến Việt Namnghiên cứu thăm dò thị trường tìm kiếm cơ hội kinh doanh…

Khi Luật đầu tư nước ngoài của ViệtNam có hiệu lực vào năm 1988,nhiều TNC hàng đầu của Hoa Kỳ như Ford Motor, Chrysler, IBM, General,Electric, Mobil, Boring đã cử đại diện tới Việt Nam để nghiên cứu, thăm dò thịtrường, kết nối và tìm kiếm cơ hội làm ăn chuẩn bị bán hàng hoá và hợp tác đầu

tư, tạo dựng các mối quan hệ và thiết lập cơ sở Đây là những hoạt động quantrọng đón đầu thời cơ khi Chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, trong năm đó(1988) người ta nhận thấy có một dự án đầu tiên của Hoa Kỳ thực hiện đầu tư ởViệt Nam Đó là dự án đầu tư của công ty Thái Bình Dương Glass Enamed J.V

Từ năm 1988 đến trước khi Hoa Kỳ bỏ Lệnh cấm vận, thời gian 5 năm số dự áncủa Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam chỉ có 7 dự án với tổng số vốn đăng ký là 3,8

Trang 5

triệu USD Con số ít ỏi này phần nào phản ánh mối quan hệ băng giá của haiquốc gia đang có xu hướng được cải thiện

Năm 1991, khi Chính phủ Hoa Kỳ nới lỏng chính sách cấm vận, các công

ty Hoa Kỳ đã được phép tổ chức các phái đoàn sang làm việc tại Việt Nam Cuốinăm 1993, cơ quan kiểm soát tài sản nước ngoài của Hoa Kỳ đã thông qua cơ chếkiểm soát cấp phép cho từng trường hợp và đã cấp giấy phép cho 160 công tyHoa Kỳ được vào hoạt động tại Việt Nam Đến cuối năm 1994, đã có 60 vănphòng đại diện của các công ty Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam

Tính đến tháng 4 năm 1996, Hoa Kỳ đã có tổng cộng 60 % dự án đượccấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam Đến năm 2000, đã có 400 công ty có mặt tạithị trường Việt Nam, trong đó hầu hết các tập đoàn lớn nhất của Hoa Kỳ như:Microsoft, IBM, Hewlett - Parkard, APC, Oracle trong lĩnh vực tin học; Boeingtrong ngành công nghiệp hàng không, Chrysler, Ford trong ngành sản xuất xe hơi,P&G trong công nghiệp hoá chất, Coca Cola và Pespi Cola trong ngành sản xuấtnước giải khát; American Home trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng; CONOCOtrong lĩnh vực dầu khí; Caterpilllar trong ngành phát triển cơ sở hạ tầng

Về địa bàn đầu tư : Nhìn chung, vốn đầu tư của Hoa Kỳ chỉ tập trung chủ

yếu ở một số địa bàn thuận lợi nhất Đây là tình hình chung của thực tế đầu tưnước ngoài tại Việt Nam Riêng thành phố Hồ Chí Minh chiếm 29,7 % tổng sốvốn FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam Chỉ hai địa bàn thu hút nhiều vốn đầu tưnhất là thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã chiếm già nửa tổng vốn đầu tưcủa Hoa Kỳ vào Việt Nam Còn nếu tính thêm cả Hà Nội (nơi thu hút FDI củaHoa Kỳ lớn thứ 3) thì ba địa phương này chiếm 2/3 tổng số vốn đầu tư của Hoa

Kỳ vào Việt Nam

Về đầu tư theo lĩnh vực kinh tế: Vốn đầu tư của Hoa Kỳ tập trung chủ

yếu vào các ngành công nghiệp Tỷ trọng vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào ngành côngnghiệp cao hơn nhiều so với chỉ số tương ứng của tổng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam Tuy với tỷ trọng nhỏ nhưng nông, lâm nghiệp cũng lànhững lĩnh vực được các nhà đầu tư Hoa Kỳ chú ý hơn so với các nhà đầu tưkhác Trong khi đó đầu tư của Hoa Kỳ vào các ngành giao thông vận tải, bưuđiện và dầu khí còn dừng lại ở mức khá khiêm tốn

Trang 6

Về hình thức đầu tư: Vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam

phân phối khá đồng đều cho cho hai hình thức liên doanh và xí nghiệp 100% vốnnước ngoài, trong khi hình thức hợp đồng kinh doanh chỉ chiếm tỷ trọng khôngđáng kể, đây là nét rất đặc trưng của các nhà đầu tư Hoa Kỳ Nếu trong tổng FDInước ngoài vào Việt Nam, có sự mất cân đối giữa tỷ trọng của liên doanh (chiếm70%) và hình thức 100% vốn nước ngoài (chỉ chiếm 20%), thì trong cơ cấu vốnđầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam, hai chỉ số này đã xích lại gần nhau

Thực tế trong giai đoạn trước năm 2001, khi tham gia liên doanh, phíaViệt Nam tỏ ra yếu cả về vốn đóng góp lẫn năng lực quản lý của cán bộ Trongkhi đó các doanh nghiệp nước ngoài muốn độc lập hơn khi họ ngày càng hiểubiết hơn về pháp luật, chính sách, cách thức hoạt động kinh doanh ở môi trườngViệt Nam Do vậy, hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài đang thu hút sựchú ý đặc biệt của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó đặc biệt làcác nhà đầu tư Mỹ

2 Nội dung Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (tháng 7/2000):

Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hợp chủng quốcHoa Kì về quan hệ thương mại (gọi tắt là Hiệp định thương mại Việt – Mỹ) làkết quả của quá trình đàm phán kiên trì sau 5 năm trải qua tới 11 vòng đàmphán, được kí kết vào ngày 13/07/2000 và được Quốc hội nước ta phê chuẩnvào ngày 28/01/2001 Ngày 10/12/2001, Bộ trưởng Thương mại Việt Nam VũKhoan và Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Donald Evans đã trao đổi công hàmphê chuẩn Hiệp định chính thức đi vào hoạt động ngày 10/12/2001 Những vấn

đề về khung thời gian trong Hiệp định bắt đầu từ tháng 1/2002

Đây là một văn kiện phức tạp và khá đồng bộ, góp phần thiết lập và pháttriển quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng cùng có lợi, trên cơ sở tôn trọngđộc lập chủ quyền giữa 2 nước Hiệp định thương mại Việt – Mỹ dài khoảng

140 trang, gồm 7 chương với 72 điều và 9 phụ lục, đề cập tới 4 nội dung chủyếu bao gồm: thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ

và phát triển các quan hệ đầu tư Như vậy, bản Hiệp định tuy được gọi là Hiệpđịnh về quan hệ thương mại nhưng không chỉ đề cập đến lĩnh vực thương mạihàng hóa Khái niệm “thương mại” được đề cập theo ý nghĩa rộng, hiện đại,

Trang 7

theo tiêu chuẩn của tổ chức Thương mại Thế giới WTO và có tính đến đặcđiểm kinh tế của mỗi nước để quy định sự khác nhau về khung thời gian thựcthi mỗi điều khoản.

Nội dung cơ bản của Hiệp định là Việt Nam và Hoa Kì cam kết từngbước để hàng hóa được tiếp cân thị trường của nhau, đặt ra lịch trình cụ thể vềcắt giảm các hàng rào thương mại về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư; đồng thời bảo

hộ và thực thi có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi lãnh thổ của mỗibên tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại, dịch vụ Hiệp định được xâydựng trên hai nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc “Tối huệ quốc” và “Đối xửquốc gia” Đây là 2 nguyên tắc quan trọng vì chúng được đề cập đến ở hầu hếtcác chương của Hiệp định, ngoài ra các phụ lục còn được dùng để liệt kê cáctrường hợp loại trừ, chưa hoặc vĩnh viễn không áp dụng 2 khái niệm trên

• Quy chế Tối huệ quốc (Quan hệ thương mại bình thường) mang ý nghĩa

2 bên cam kết đối xử với hàng hóa, dịch vụ, đầu tư của nước kia không kémphần thuận lợi so với hàng hóa, dịch vụ, đầu tư của nước thứ 3 (không kể đếncác nước nằm trong liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu dịch tự do mà 2bên tham gia) Việt Nam và Mỹ cam kết thực hiện đối xử thuế quan tối huệquốc đối với tất cả các hàng hóa NK của nhau

• Quy chế Đối xử quốc gia: mỗi Bên dành cho hàng hoá có xuất xứ tạilãnh thổ của Bên kia những cơ hội cạnh tranh có ý nghĩa và đối xử không kémthuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá nội địa tương tự Mỗi Bên dànhcho công dân và công ty Bên kia quyền kinh doanh

Hiệp định này được đánh giá là khác biệt so với những Hiệp địnhthương mại song phương khác mà Việt Nam đã kí kết với các nước trước đây,thể hiện ở một số nội dung sau:

Tiêu thức so sánh Hiệp định thương mại Các hiệp định thương

Trang 8

Việt – Mỹ mại song phương khác

1 Cơ sở so sánh Dựa vào các tiêu chuẩn của

Mang tính chất tổng hợpcao, không có các cam kếtthực hiện cụ thể

3. Nội dung của

Hiệp định

Không chỉ đề cập đến thương mạihàng hóa, mà còn đề cập đến cáclĩnh vực khác: thương mại dịch

vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…

Chỉ đề cập đến khái niệmthương mại truyền thống:thương mại hàng hóa songphương giữa các bên

4 Lộ trình thực

hiện Hiệp định

Có cam kết và lộ trình thựchiện cụ thể, rõ ràng tùy thuộcvào đặc điểm về tình hình kinh

tế của mỗi nước

Không nêu rõ lộ trình thực hiện

5. Cơ quan giám

2 Sự phát triển của quan hệ thương mại hai nước sau khi hiệp định có hiệu lực

2.1 Quan hệ thương mại:

Ngày 13/7/2000, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ được ký kết 3h sángngày 11/12/2001 là thời khắc lịch sử, khi lễ trao đổi thư phê chuẩn Hiệp địnhThương mại song phương (BTA) giữa đại diện Bộ Thương mại Việt Nam và Mỹdiễn ra tại Washington, đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ Việt - Mỹ sau 5năm bình thường hóa quan hệ

Hiệp định Thương mại song phương năm 2001 đã mở ra cơ hội to lớn chocác nhà doanh nghiệp hai nước Nếu như kim ngạch thương mại hai chiều năm

2001 chỉ đạt gần 1,4 tỷ USD thì năm 2003 là 5,85 tỷ, năm 2004 là 6.4 tỷ USD,trong đó xuất khẩu của Việt Nam là nhằm tạo nền móng vững chắc cho quan hệkinh tế lâu dài và cùng có lợi giữa hai nước

Trang 9

Hai bên cũng đã ký kết nhiều hiệp định, thỏa thuận về kinh tế như Hiệpđịnh Dệt may, Hàng không, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện đang tíchcực trao đổi tiến tới ký kết một số hiệp định, thỏa thuận khác như Hiệp địnhkhung về hợp tác kinh tế, kỹ thuật, Hiệp định hợp tác vận tải biển, Bản ghi nhớhợp tác nông nghiệp Du lịch của Hoa Kỳ vào Việt Nam hàng năm tăng nhanh,

sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch giữahai nước Đến tháng 11/2004 đạt 247.221 lượt khách, tăng 27,7% so với cùng kỳnăm 2003 và Hoa Kỳ đã trở thành nước thứ 2 (sau Trung Quốc) về số lượngkhách du lịch vào Việt Nam Đường bay thẳng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vừađược nối lại sau 30 năm gián đoạn

Đến nay, gần 18 năm trôi qua, BTA thực sự tạo nên môi trường thuận lợi

để mối quan hệ giao thương giữa hai quốc gia cách nhau nửa vòng trái đấtchuyển biến về chất, với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ

Nếu như trước khi BTA có hiệu lực, kim ngạch thương mại hai chiều Việt

- Mỹ năm 2001 chỉ dừng lại ở 1,51 tỷ USD, thì chỉ một năm sau, con số tăng gầngấp đôi, đạt 2,89 tỷ USD Số liệu của Phòng Thương mại Mỹ cho thấy, tổng kimngạch trao đổi hàng hóa song phương với Việt Nam năm 2017 đạt hơn 54,3 tỷUSD, gấp 52 lần so với năm 2001 Đây cũng là năm Việt Nam vươn lên trởthành nước xuất khẩu số một vào thị trường Mỹ trong 10 nước ASEAN

Trong suốt 18 năm BTA có hiệu lực, Việt Nam luôn là nước xuất siêusang Mỹ Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ năm

2002 là 2,45 tỷ USD; năm 2005 là 5,93 tỷ USD; năm 2010 là 14,24 tỷ USD Đếnnăm 2017, giá trị hàng hóa của Việt Nam vào thị trường này lên 38,466 tỷ USD,tăng 24% so với một năm trước, đưa Việt Nam vào top 15 quốc gia xuất khẩu lớnnhất vào nền kinh tế số một thế giới

Khi chưa có BTA, 78% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2001

là sơ chế, với mặt hàng chủ lực là tôm và các sản phẩm dầu khí Năm 2003, hainăm sau BTA, các mặt hàng chế tác đã chiếm 72% tổng kim ngạch xuất khẩu.Đến nay, tỷ trọng hàng chế tác sang Mỹ của Việt Nam đã chiếm khoảng 75%tổng kim ngạch xuất khẩu

Bảng số 1: Thương mại hàng hóa Việt Nam Hoa Kì năm 2001 ( triệu $)

Trang 10

Tháng Nhập khẩu Xuất Khẩu Cân Bằng

Bảng số 2: Thương mại hàng hóa Việt Nam Hoa Kì năm 2002 ( triệu $)

Trang 11

Bảng số 3: Thương mại hàng hóa Việt Nam Hoa Kì năm 2007 ( triệu $)

Trang 12

Trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ, dệt may và thủy hảisản là những sản phẩm nổi bật Tháng 1/2007, Mỹ chính thức xóa bỏ hạn ngạchnhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam, đưa nhóm này lên vị trí "quán quân" vềgiá trị giao thương của hai quốc gia Theo số liệu của Hiệp hội Dệt may ViệtNam (Vitas), tính đến tháng 4/2015, Việt Nam chiếm khoảng 10,16% tổng thịphần hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ Đây là thị trường xuất khẩu chủ lực củaViệt Nam, với 55% thị phần toàn ngành.

Khác biệt lớn nhất trong quan hệ thương mại Việt - Mỹ sau BTA chính là

vụ kiện chống bán phá giá cá tra, basa và tôm, do các doanh nghiệp Mỹ đề xuấtkéo dài trong suốt 15 năm qua Thực tế, trước khi hiệp định thương mại songphương có hiệu lực, cá tra và basa phile đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ chịuthuế 4,4 cent/kg Nhờ BTA, sản phẩm này theo nguyên tắc không còn phải chịuthuế nhập khẩu nữa Điều này đã khiến kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cá chủlực của Việt Nam sang Mỹ tăng mạnh, từ mức 38 triệu USD năm 2001 lên 62,8triệu USD năm 2002, tạo áp lực tới nền sản xuất trong nước của Mỹ

Trang 13

Trải qua nhiều lần điều tra, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa củaViệt Nam từng phải chịu mức thuế chống bán phá giá từ 37,94% tới 63,88%trong những năm đầu áp dụng, sau đó tăng giảm tùy vào việc Mỹ chọn quốc gialàm tiêu chuẩn tính giá thành.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhằm đưa mức thuế về 0% nhưng ít nhất trong

5 năm tới, sản phẩm cá da trơn của Việt Nam vẫn bị Mỹ áp thuế chống bán phágiá Trong khi đó, với tôm, kể từ năm 2015, các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam sẽ được áp dụng mức thuế chỉ còn 1% so với 6,7% trước đó

Tuy nhiên, thương mại song phương dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh.Hoa Kỳ là điểm đến lớn nhất cho hàng hóa Việt Nam như quần áo, điện tử, giàydép và hải sản Về phần mình, Việt Nam nhập khẩu máy móc, phương tiện và sảnphẩm nông nghiệp từ Hoa Kỳ Thương mại hưng thịnh, thâm hụt thương mại củaHoa Kỳ ngày càng tăng với Việt Nam là một chất kích thích tiềm năng Sự mấtcân bằng thương mại đạt mức cao mới trong năm 2017, ước tính khoảng 38 tỷUSD (so với thâm hụt 375 triệu USD của Hoa Kỳ với Trung Quốc) cũng lànguyên nhân khiến các mối quan tâm và rào cản khác đối với thương mại cũngvẫn còn, bao gồm vi phạm bản quyền và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không đầy

đủ, quy định an toàn thực phẩm, hạn chế phát triển thương mại điện tử cho cácthực thể nước ngoài và tham nhũng

2.2 Quan hệ đầu tư:

Cũng như quan hệ thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam, trong lĩnh vực đầu tư,BTA đã có tác động rất tích cực, tạo bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quan

hệ đầu tư Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Việt Nam sau sự kiện Việt Nam gianhập WTO có nhiều chuyển biến, tuy nhiên, riêng với đầu tư Hoa Kỳ, tác độngcủa sự kiện này không lớn, không có sự chuyển biến về chất và lượng của đầu tư

Tình hình ĐTNN ở Việt Nam bắt đầu chuyển biến từ khi có Luật đầu tưnước ngoài năm 1988 Giai đoạn 1988 – 1990, do luật mới có hiệu lực nên kếtquả thu hút vốn ĐTNN còn ít, nên ĐTNN chưa tác động đến nền kinh tế - xã hộicủa đất nước.Trong thời kỳ 1991 – 1995, vốn ĐTNN đã tăng lên và có tác độngtích cực đến nền kinh tế - xã hội của đất nước Khi Hoa Kỳ và Việt Nam bìnhthường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, ĐTNN đã bắt đầu có sự bùng nổ Năm

Trang 14

1995, Việt Nam thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm

1991 Năm 1996, Việt Nam thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% sovới năm trước Trong 3 năm 1997-1999, có 961 dự án cấp phép với tổng vốnđăng ký hơn 13 tỷ USD Tuy nhiên, dòng vốn ĐTNN có xu hướng chậm lại

Từ năm 2000 đến năm 2003, dưới hiệu ứng của Hiệp định BTA, dòng vốnĐTNN có xu hướng phục hồi ĐTNN bắt đầu tăng nhanh từ năm 2004 và đếnnăm 2007 đạt mức kỷ lục: 20,3 tỷ USD

Bước sang năm 2009, ĐTNN tại Việt Nam có 839 dự án mới được cấpgiấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đăng ký đạt 21,482,1 triệu USD.Riêng vốn ĐTNN của Hoa Kỳ đạt 9,8 tỷ USD Tính đến cuối năm 2009, Hoa Kỳđứng thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư hiệu lực tại ViệtNam với 479 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 12,408 tỷ USD, vốn điều lệ 2,254

tỷ USD

Năm 2010, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm, trong số 25 quốc gia và vùnglãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất với tổngvốn đăng ký là 979,8 triệu USD, chiếm 45% tổng vốn ĐTNN

Năm 2011, tính hết 6 tháng đầu năm, Hoa Kỳ đứng đầu danh sách cácquốc gia và vùng lãnh thổ ĐTNN vào Việt Nam với 579 dự án đầu tư còn hiệulực và tổng số vốn đầu tư đăng ký là 13,251 tỷ USD

Năm 2012, ĐTNN ở Việt Nam có 1100 dự án được cấp GCNĐT với tổngvốn đăng ký đạt 7,85 tỷ USD Đến ngày 15 tháng 12 năm 2012 có 435 dự ánđăng ký tăng vốn đầu tư, với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,15 tỷ USD

Tính đến cuối năm 2016, Mỹ đã đầu tư 815 dự án tại Việt Nam với tổngvốn đăng ký 10,07 tỷ USD, xếp thứ 8/112 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tưtrực tiếp tại Việt Nam Việt Nam cũng đã có 147 dự án đầu tư sang Mỹ, với tổngvốn đăng ký 571,38 triệu USD Mỹ hiện đứng thứ 9 trong số 68 quốc gia tiếpnhận đầu tư trực tiếp của Việt Nam

Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư do Bộ KH&ĐT phối hợp với Hội đồng Kinhdoanh ASEAN - Mỹ tổ chức mới đây, đại diện gần 150 doanh nghiệp Mỹ đãđánh giá, môi trường đầu tư tại Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích

Trang 15

cực, góp phần nâng cao sự tin tưởng của các nhà đầu tư, tổ chức quốc tế vào khảnăng phát triển kinh tế của Việt Nam.

Theo nhận định của Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham),Việt Nam vẫn là sự lựa chọn số 1 của các doanh nghiệp Mỹ trong số các nướcĐông Nam Á Nhiều doanh nghiệp Mỹ cho biết, họ đã có sự chuẩn bị và đưa ranhững chiến lược kinh doanh mới tại Việt Nam

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH & ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KÌ TỪ 2001 ĐẾN NAY

1 Chủ trương của Đảng về quan hệ Kinh tế - Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chưa đựng rấtnhiều thách thức Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế

và lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hìnhchính trị - xã hội cơ bản ổn định Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc

tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam pháthuy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực Tuy nhiên, chúng ta cũngđang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từngchỉ rõ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu xa hơn về

Trang 16

kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủnghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù địchgây ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.

Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷtiến hành công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Namdân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nướcViệt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở,

đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế vớiphương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."

Ngày 13/7/2000, hai nước Việt - Mỹ đã chính thức ký Hiệp định thươngmại song phương (BTA) BTA được ký là sự kiện rất đáng chú ý và rất quantrọng trong quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Mỹ, bởi đây là khung pháp lý cầnthiết và rõ ràng, tạo cơ sở nền tảng để xúc tiến quan hệ hợp tác kinh tế - thươngmại Việt - Mỹ đi vào chiều sâu và đảm bảo hài hoà lợi ích của hai bên

Trong chuyến thăm chính thức tới Mỹ tháng 6/2007 của Chủ tịch nướcTrần Đức Lương, Việt Nam và Mỹ đã ký Hiệp định khung về thương mại và đầu

tư (TIFA) Hiệp định này là sự mở rộng của BTA, được đánh giá là một cột mốchợp tác song phương mới, tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Mỹ ở Việt Nam

và cho việc tăng cường thương mại Việt - Mỹ Còn trong chuyến thăm Mỹ tháng6/2008 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng ViệtNam và Tổng thống Mỹ đã nhất trí rằng “quan hệ kinh tế là quan trọng đối vớiquan hệ song phương Việt - Mỹ”; “Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ khởi động đàm phánHiệp định Đầu tư song phương” (BIT), thể hiện sự cam kết của hai bên về đối xửcông bằng, không phân biệt và minh bạch đối với đầu tư nước ngoài”

Theo ông Jonathan Moreno, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Hoa kỳ tạiViệt Nam tại TPHCM, chương trình “Gặp gỡ Hoa Kỳ” sẽ có hơn 50 cuộc gặpsong phương giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ và lãnh đạo các địa phương của ViệtNam bàn về các cơ hội hợp tác, đầu tư cụ thể

Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký 11 hiệp định thương mại tự do hóa với cácnước và khu vực tạo nên một thị trường rộng lớn Chính vì vậy khi đầu tư vào

Trang 17

Việt Nam, các doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng sẽ được hưởng lợi từ nhiều khu vực tự

do hóa thương mại

2 Một số đặc điểm và tính chất của quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam giai đoạn 2001 – nay:

2.1 Một số đặc điểm:

Thứ nhất, Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam (2001 – nay) tuy có nguồn

gốc từ rất sớm, nhưng do sự chi phối của những điều kiện lịch sử và sự khác biệt

về thể chế chính trị giữa hai quốc gia, nên sự xác lập và phát triển còn rất mới

mẻ Tuy có xuất phát điểm chậm và thấp, nhưng mối quan hệ này đang có tốc độ

phát triển nhanh chóng Nhìn vào lịch sử quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Thái Lan(quốc gia trong khu vực với Việt Nam), chúng ta có thể thấy rõ đặc điểm nổi bậttrên của quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam

Có thể nói, quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Thái Lan đã được thiết lập từ rấtsớm, trong khi đó Việt Nam kể từ khi bỏ lỡ cơ hội năm 1832, phải mất 168 nămsau (2000) mới ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ Nếu lấy mốc năm

1833, khi phái đoàn Hoa Kỳ đến châu Á để tìm cách ký kết với các nước trongvùng Hiệp định thương mại, trong khi Việt Nam bỏ lỡ cơ hội thì Thái Lan đã kýkết hiệp định này với Hoa Kỳ, nghĩa là Việt Nam chậm hơn Thái Lan 168 năm

Về “tuổi đời” quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam non trẻ hơn quan hệ kinh tếHoa Kỳ - Thái Lan gấp nhiều lần, chỉ với 18 năm tiến hành BTA so với gần 200năm của Thái Lan nhưng tổng kim ngạch thương mại hai chiều Hoa Kỳ - ViệtNam đạt hơn 50 tỷ USD vào năm 2017

Thứ hai, Tiến trình quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2001 đến

nay diễn ra giữa hai nền kinh tế có sự chênh lệch rất lớn về quy mô và trình độ phát triển Đây là quan hệ giữa một nền kinh tế thị trường khổng lồ, phát triển

nhất thế giới với một nền kinh tế có tiềm lực không lớn, lại đang trong quá trìnhchuyển đổi Đặc điểm này vừa tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để Việt Nam tậndụng phát triển, vừa đặt ra không ít thách thức, tuy nhiên, trong quan hệ kinh tếHoa Kỳ - Việt Nam, mặt cơ hội lớn hơn thách thức, mặt hợp tác lớn hơn đấutranh Do vậy, trong quan hệ kinh tế, phía Việt Nam cần chủ động, tỉnh táo, khônkhéo, nhất là trong việc xử lý những vướng mắc nhạy cảm Quan hệ đúng mực

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w