1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Môn Bảo Tàng Học về cạp váy mường

14 819 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

←  Bảo tàng gồm ba khu trưng bày chính: - Khu trưng bày trong tòa Trống Đồng: không gian trưng bày thường xuyên giới thiệu 54 dân tộc ở Việt Nam trải rộng trên 2 tầng của toàn n

Trang 1

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: BẢO TÀNG HỌC

GIẢNG VIÊN:

SINH VIÊN: LÊ KIM HOA LỚP: LÝ LUẬN & LỊCH SỬ K14

Trang 2

Hà Nội, 6 tháng 5 năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

Địa điểm – Kiến trúc

Hệ thống trưng bày

Chức năng - nội dung

Những điểm mới

II HIỆN VẬT TÌM HIỂU

Giới thiệu hiện vật Cạp Váy Mường - Hòa Bình

Hoa tiết – Hoa Văn Trang Trí Cạp Váy Mường – Hòa Bình

Trang 4

I Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một viện bảo tàng về lĩnh vực dân tộc học của Việt Nam, trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Ngày 14 tháng 12 năm 1987, công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật với diện tích xây dựng 2.500m² (1987), 9.500m² (1988) và toàn bộ 3,27 ha (1990) Ngày 24 tháng 10 năm 1995, Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chính thức được thành lập Bảo tàng khánh thành vào ngày 12 tháng 11 năm 1997

Địa điểm - Kiến trúc

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam toạ lạc trên một khu đất rộng nằm trên đường Nguyễn Văn Huyên, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, cách trung tâm thủ đô chừng 8km

Bảo tàng bao gồm một nhà triển lãm lớn là một toà nhà 2 tầng có dáng mô phỏng hình trống đồng - biểu tượng của nền văn minh Việt Nam Bên ngoài là một khuôn viên khá rộng và đẹp được dùng làm không gian trưng bày ngoài trời, giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc trưng nhất của các dân tộc ở Việt Nam

Công trình Viện Bảo tàng Dân tộc học do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh, người Tày thiết kế Nội thất được thiết kế bởi nữ kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp)

Bảo tàng gồm ba khu trưng bày chính:

- Khu trưng bày trong tòa Trống Đồng: không gian trưng bày thường xuyên giới thiệu 54 dân tộc ở Việt Nam trải rộng trên 2 tầng của toàn nhà; 2 không gian giành cho các trưng bày nhất thời, luôn luôn được đổi mới tuỳ theo chủ đề trưng bày Trong toà nhà 2 tầng (nhà "Trống đồng"), phần lớn diện tích bố trí trưng bày thường xuyên, bên cạnh đó có không gian để tổ chức các trưng

Trang 5

bày chuyên đề Bố cục phổ biến của mỗi phần nội dung đều có trưng bày ngay bên lối đi, có các

tủ kính trưng bày chính và có tái tạo Hiện tại, trưng bày thường xuyên trong toà nhà này được chia làm 9 phần lớn Trước tiên người xem có thể tiếp cận ngay với một panô có nhan đề: "Việt Nam - Những chặng đường lịch sử văn hoá", qua đó có được thông tin về các thời kỳ lịch sử của đất nước, sự hội nhập của các dân tộc và các nền văn hoá - văn minh vào Việt Nam

Một tấm bản đồ lớn in màu chỉ ra sự phân bố các dân tộc ở Việt Nam theo các nhóm ngôn ngữ, đồng thời có 3 mặt cắt ở các vị trí Bắc, Trung, Nam để thấy được đặc điểm cư trú theo độ cao.Bên cạnh đó, có 5 panô giới thiệu chân dung người của 54 dân tộc được sắp xếp theo 5 ngữ hệ: Nam Á, Nam Đảo, Hmông - Dao, Thái - Ka Đai, Hán - Tạng

- Khu trưng bày ngoài trời: Vườn kiến trúc là một vườn cây xanh với dòng suối nhân tạo chảy về hồ thủy đình là nơi để trình diễn rối nước dân gian và trong đó có 10 công trình dân gian với các loại hình kiến trúc khác nhau Không gian trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam rộng khoảng 2 ha, giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc trưng của một số dân tộc ở Việt Nam: Nhà dài người Ê Đê, nhà sàn người Tày, nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao, nhà lợp bằng gỗ pơ-mu của người Hmông, nhà mồ người Gia Rai, nhà mồ người Cơ Tu, nhà rông người Ba Na, khuôn viên cư trú của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, khuôn viên

cư trú của người Việt Phía trước nhà người Việt có thủy đình là nơi trình diễn múa rối nước của các phường rối đến từ những làng quê ở Nam Định, Hải Dương, Hà Nội Ngoài ra, cũng trong khu trưng bày này, còn có cối giã gạo người Dao dùng sức nước, lò rèn của người Nùng, lò đúc gang của người Hmông, ghe ngo của người Khơ Me và một số kiểu thuyền đưa về từ những vùng miền khác nhau Không chỉ trưng bày như sự bổ sung, tiếp nối với phần trưng bày trong toà nhà

"Trống đồng" về văn hoá và cuộc sống của các tộc người ở Việt Nam, khu ngoài trời của Bảo tàng còn như một công viên với suối nước cùng rất nhiều thảm cỏ, cây xanh, có những loại cây đưa về từ các địa phương và nhiều loại cây thuốc Nam

- Khu trưng bày Đông Nam Á - Bảo Tàng Đông Nam Á: Khởi công xây dựng vào năm

2008 Nhằm mục đích kết nối Việt Nam với khu vực, tạo bối cảnh để công chúng khi tham quan

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có cơ hội nhận biết tính đồng nhất trong đa dạng văn hóa giữa văn hóa của các dân tộc Việt Nam với văn hóa các dân tộc Đông Nam Á; nhận biết được giữa các sắc màu văn hóa hết sức đa dạng, toàn bộ khu vực Đông Nam Á vẫn còn đó các nền tầng văn hóa

để tạo bản sắc chung cho mục đích xây dựng một cộng đồng Đông Nam Á như một thực thể khu vực mà một bảo tàng đầu tiên về Đông Nam Á đã hiện hữu trong khuôn viên của bảo tàng Dân

Trang 6

tộc học Việt Nam Bảo tàng Đông Nam Á là điểm đến hấp dẫn để người dân và du khách tìm hiểu

về đời sống văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á qua 5 chủ đề chính bao gồm Đồ vải, Đời sống hàng ngày, Đời sống xã hội, Nghệ thuật biểu diễn và Tôn giáo Các hiện vật trưng bày tại bảo tàng đã được các đoàn nghiên cứu trong nước sưu tầm từ hàng chục chuyến đi đến các nước Đông Nam Á Ngoài 11 quốc gia Đông Nam Á (bao gồm Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Việt Nam, Singpapore, Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines và Đông Timor), theo quan niệm

về dân tộc học, Đông Nam Á còn bao gồm cả miền Nam Trung Quốc và miền Đông Bắc Ấn Độ,

vì vậy, hoạt động trưng bày sẽ bao gồm cả hai khu vực có sự giao thoa và gần gũi về văn hóa này

- Hoạt động của Bảo tàng Đông Nam Á sẽ được duy trì thường xuyên, lâu dài Hiện tại, việc trưng bày ở đây mới mang tính giới thiệu, mở đầu cho một quá trình hoạt động dài hơi, nhằm giới thiệu tới du khách một điểm đến văn hóa mới tại thủ đô Hà Nội

Trong tương lai lâu dài, ban lãnh đạo của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ dần phát triển quy

mô trưng bày và đa dạng hóa các chương trình hoạt động để giới thiệu một cách chuyên sâu hơn

về đời sống văn hóa của các cư dân Đông Nam Á

- Bảo tàng Đông Nam Á có 4 tầng

Tầng 1 là không gian trưng bày thường xuyên về văn hóa Đông Nam Á Tầng 1 của tòa nhà Cánh Diều được dành để trưng bày cố định về Đông Nam Á: đa dạng và thống nhất Ngoài không gian chung, lộ trình của trưng bày lần lượt theo 5 chủ đề: Đồ vải, Đời sống hàng ngày, Đời sống xã hội, Nghệ thuật trình diễn và Tôn giáo-tín ngưỡng đã giới thiệu một cách khái quát về bức khảm văn hóa hết sức đa dạng của các dân tộc Đông Nam Á Với các sưu tập hiện vật đẹp, quý hiếm, được bày đặt theo một lộ trình mang tính khoa học cao, đồ họa hấp dẫn Việc các nhà

tổ chức trưng bày chọn lựa các công nghệ và thuật hỗ trợ cho việc thực hiện trưng bày một cách khôn ngoan, đã tạo cho công chúng khi đến đây không chỉ được thưởng ngoạn về vẽ đẹp về tính văn hóa giàu có từ các bộ sưu tập mà còn cảm thụ được tính cập nhật, tính hiện đại trong cách làm bảo tàng của thời kỳ hội nhập

Tầng 2 dành để trưng bày những bộ sưu tập lớn mà bảo tàng đã được các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước hiến tặng Tầng 3 để tổ chức những triển lãm chuyên đề nhất thời, tiếp đón những cuộc trưng bày giới thiệu của các bảo tàng khác trong khu vực Tầng 4 dành cho

du khách khám phá văn hóa Đông Nam Á bằng tư liệu nghe - nhìn Tuy nhiên, hiện tại mới có tầng 1 được đưa vào sử dụng Những không gian còn lại sẽ dần được hoàn thiện trong tương lai

Ngoài các trưng bày cố định, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thường xuyên tổ chức các trưng bày chuyên đề và phối hợp với các cộng đồng thường xuyên tổ chức các cuộc trình diễn về nghề

Trang 7

thủ công và về các loại hình văn hóa dân gian khác nhau Theo đó các cộng đồng địa phương ở các dân tộc các vùng miền khác nhau ở Việt Nam, ở Đông Nam Á và các khu vực khác trên thế giới đã mang theo các dạng thức văn hóa về bảo tàng trình diễn Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam các chủ nhân văn hóa được tạo cơ hội và các điều kiện để giới thiệu bản sắc văn hóa của họ chính bằng “giọng nói” của các chủ thể văn hóa Cách thức hoạt động bảo tàng này đã đóng góp rất tích cực cho công cuộc bảo tồn văn hóa mà nhân loại đang theo đuổi

- Ngoài ra là khu vực cơ quan: cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản hiện vật

Chức năng – Nội Dung

Bảo tàng lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật văn hoá của cả 54 dân tộc Việt Nam gồm 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CD-Rom (tính đến năm 2000) Các hiện vật này được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: dân tộc, công dụng, y phục, trang sức, nông cụ, ngư

cụ, vũ khí, đồ gia dụng, nhạc cụ, tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay và nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác

Khu trưng bày thường xuyên trong toà Trống Đồng giới thiệu tất cả 54 dân tộc ở Việt Nam Ở đây có nhiều hiện vật thông dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Đặc biệt phong phú là đồ vải của các dân tộc, như khố, váy, khăn được trang trí bằng các kỹ thuật truyền thống khác nhau; đồ đan, nhất là các loại gùi, giỏ, mâm; những nhạc cụ bằng tre, vỏ bầu khô; các hiện vật nghi lễ Cùng với hiện vật, trong các phòng trưng bày còn có ảnh và phim tư liệu, phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể, phi vật thể, những nét tiêu biểu trong đời sống và sự sáng tạo của các tộc người

Để phục vụ đầy đủ khách tham quan, tất cả các thông tin trong trưng bày, các bài viết cũng như các chú thích, đều được thực hiện bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp Bảo tàng còn soạn thảo nhiều tờ gập giới thiệu những nội dung chính, bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật , phát miễn phí cho du khách

Trong khu ngoài trời, có 10 công trình kiến trúc dân gian như: nhà rông của người Bana, nhà sàn dài của người Êđê, nhà sàn của người Tày,nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ tập thể của người Giarai và nhà mồ cá nhân của người Cơtu

Trang 8

Trong khu vườn đầy cây xanh này còn có ghe Ngo của người Khơme và cối giã gạo bằng sức nước của người Dao Trước nhà Việt, vào các thứ Bảy và Chủ nhật có biểu diễn rối nước của các phường rối dân gian đến từ các làng khác nhau

Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, bạn không chỉ được ngắm tranh, ảnh, xem phim tư liệu mà còn được tận mắt chứng kiến những hiện vật sống động và những nét đặc sắc nhất trong văn hóa các dân tộc Việt, Mường, Tày, Thái, Nùng, Dao, H’mông…

Bảo tàng có đủ 54 bộ sưu tập về từng dân tộc như: Người Thái, người Hmông, người Gia Rai , phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về

vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Ngoài ra còn có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo - tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác… Mỗi hiện vật đều có chú thích ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó

Những nét văn hóa truyền thống từ ăn, ở, đi lại, sinh hoạt của các dân tộc đều được giới thiệu thông qua những chi tiết tiêu biểu nhất, giúp người xem nhận ra nét đặc trưng của mỗi dân tộc Đến với bảo tàng, khách tham quan chắc chắn sẽ vô cùng thích thú và ngạc nhiên với những cảnh như đám ma của người Mường, cảnh lên đồng của người Thái, hay một bức ảnh ghi lại một khoảnh khắc rất bình dị của một người chở hàng trăm chiếc rổ, rá, lờ, đó…

Trong không gian nhà triển lãm của bảo tàng hiện nay có một khu vực trưng bày với chủ

đề Xã hội Việt Nam dưới thời kỳ bao cấp, được thực hiện rất công phu, với những hiện vật và nhân chứng cụ thể, khiến cho người xem không khỏi xúc động về một giai đoạn đã đã qua của dân tộc

Bước ra khỏi nhà triển lãm, du khách sẽ đến với Bảo tàng Dân tộc học ngoài trời với những khu nhà của các dân tộc khác nhau Để giới thiệu đến người xem một cách chân thực nhất truyền thống văn hóa của các dân tộc, các khu nhà trưng bày trong bảo tàng đều do chính bàn tay những người thợ địa phương dựng nên Bạn sẽ không tìm thấy sự khác biệt nào giữa nhà Rông ở bảo tàng với nhà Rông ở Tây Nguyên Trong mỗi khu nhà, cách bài trí, các vật dụng,… cũng được sắp xếp đúng theo tập quán của mỗi dân tộc

Để giúp đỡ khách tham quan, trong mỗi khu nhà đều có nhân viên hướng dẫn hoặc các tình

Trang 9

nguyện viên rất thân thiện và cởi mở Du khách có thể ghi lại những ấn tượng của mình vào những cuốn sổ ghi cảm tưởng đặt tại mỗi nhà, hoặc ghi feed back ở gần khu vực cửa ra vào

Với cảnh quan đẹp, không gian thoáng mát, lại có nhiều góc rất ấn tượng, hiện nay bảo tàng Dân tộc học còn là địa điểm lý tưởng cho các đôi uyên ương đến chụp ảnh cưới ngoài trời Bên cạnh

đó, bảo tàng cũng thường xuyên tổ chức biểu diễn múa rối nước, góp phần vào việc bảo lưu vốn văn hóa dân tộc

Với những hoạt động đã đang và sẽ được thực hiện trong tương lai, có thể nói Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đang có những đóng góp không nhỏ vào công cuộc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam

Những điểm mới

Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam là một trung tâm trưng bày và lưu giữ quí giá về văn hoá của đủ 54 dân tộc Tính đến năm 2000 đã tích luỹ được 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CDRom Đồng thời, đây là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành Người ta đến đây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn để tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và đặc sắc của từng tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền thống chung của các dân tộc Vì vậy, từ nhân dân khắp các miền trong nước đến khách nước ngoài, từ học sinh, sinh viên đến nhà khoa học đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây

Hiện vật của Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam không phải chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của họ Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí khác nhau Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác

Trang 10

Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn

Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng dành cho tất cả mọi người Quan niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày Bảo tàng có lối đi riêng thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, Bảo tàng Dân Tộc Học Việt Nam đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt Các tấm pa nô cũng được treo ở tầm cao có tính toán phù hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi Phần trưng bày của Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài viết, có băng hình, có các tư liệu tham khảo mà người xem tuỳ trình độ và nhu cầu khác nhau có thể khai thác nhiều hay ít

Bảo tàng lấy hiện vật làm trung tâm vì hiện vật phản ánh những sinh hoạt đời thường của nhân dân các dân tộc Vậy nên một quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời thường Trong Bảo tàng không có tranh minh hoạ Nếu cần minh chứng cho những sinh hoạt nào

đó thì Bảo tàng chỉ dùng ảnh hay băng hình phản ánh cuộc sống thực của các dân tộc

Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày một số lượng hiện vật hạn chế: gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh Quan điểm chủ đạo là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào trong các tủ trưng bày, bởi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận được một cách tập trung

Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có

tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng âm thanh, một

số mô hình và 33 pa nô trong trưng bày Mặc dù diện tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một

số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó

Ngày đăng: 10/05/2014, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w