1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hóa vùng miền

75 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa Vùng Miền
Trường học Đại học Khoa học Xã hội and Nhân văn, Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa Vùng Miền
Thể loại Báo cáo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 835,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta không bao giờ có thể hiểu được tường tận những nền văn hóa khác nhau. Không phải thứ gì hợp lý trong nền văn hóa này cũng có nghĩa là nó sẽ hợp lý trong nền văn hóa khác. Ở trường sinh viên được những chức năng quản lý: hoạch định – tổ chức - thực hiện – kiểm tra có vẻ không khó khăn gì. Nhưng liệu trên thực tế có thể áp dụng nó cho tất cả mọi người? Trong khi mọi người xung quanh chúng ta có vô số tính cách khác nhau: có người siêng năng cũng có người lười biếng, nóng tính cũng như vui vẻ... và một phần tính cách này được hình thành thông qua tác động của nền văn hóa họ chịu ảnh hưởng từ khi sinh ra hoặc đang sống. Do đó tìm hiểu nền văn hóa chính là để tìm ra cách làm việc tốt hơn. Mỗi con người, mỗi vùng miền đều có những nhu cầu, động cơ làm việc, sở thích khác nhau. Hiểu được điều đó thì mới có thể làm chủ cuộc chơi. Không có một cách quản lý chung tốt nhất cho tất cả mọi người.

Trang 1

I GIỚI THIỆU VỀ VÀI NÉT VĂN HÓA:

Chúng ta không bao giờ có thể hiểu được tường tận những nền văn hóa khácnhau Không phải thứ gì hợp lý trong nền văn hóa này cũng có nghĩa là nó sẽ hợp

lý trong nền văn hóa khác Ở trường sinh viên được những chức năng quản lý:hoạch định – tổ chức - thực hiện – kiểm tra có vẻ không khó khăn gì Nhưng liệutrên thực tế có thể áp dụng nó cho tất cả mọi người? Trong khi mọi người xungquanh chúng ta có vô số tính cách khác nhau: có người siêng năng cũng có ngườilười biếng, nóng tính cũng như vui vẻ và một phần tính cách này được hìnhthành thông qua tác động của nền văn hóa họ chịu ảnh hưởng từ khi sinh ra hoặcđang sống Do đó tìm hiểu nền văn hóa chính là để tìm ra cách làm việc tốt hơn.Mỗi con người, mỗi vùng miền đều có những nhu cầu, động cơ làm việc, sở thíchkhác nhau Hiểu được điều đó thì mới có thể làm chủ cuộc chơi Không có mộtcách quản lý chung tốt nhất cho tất cả mọi người

1 Văn hóa là gì:

Nghĩa gốc “văn hóa” là một từ Hán Việt bao gồm hai từ “văn trị” và “giáohóa” Nghĩa là cai trị và giáo huấn mọi người một cách nhân từ, tử tế, công bằng.Còn trong ngôn ngữ phương Tây, từ tương ứng với “văn hóa” của tiếng Việt bắtnguồn từ chữ Latinh "Cultus" có nghĩa là gieo trồng

Trên thế giới có vô số cách định nghĩa “văn hóa” nhưng tựu chung lại văn hóa

là sản phẩm của con người Bao gồm những thứ hữu hình như: nhà cửa, ẩm thực,quần áo, lễ hội và những điều vô hình như: giá trị và chuẩn mực Thông thườngchúng ta sẽ dễ dàng nhận ra được bề nổi của văn hóa khi sử dụng các giác quan đểquan sát Nhưng thực chất đó chỉ là bề nổi của một tảng băng trôi Những thứkhông thể hiện ra bên ngoài còn lớn hơn và quan trọng hơn rất nhiều Nhưng đểhiểu được điều này cần phải có thời gian dài tìm hiểu, quan sát và trải nghiệm.Văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người – conngười, con người – tự nhiên, con người - xã hội Sau đó chính văn hóa lại tham gia

Trang 2

vào việc tạo nên con người Một vấn đề là đúng trong nền văn hóa này chưa chắc

đã đúng trong nền văn hóa khác

Vd: Với người Việt Nam thịt heo hay thịt bò đều là thịt Nhưng người Ấn Độ

theo đạo Hindu lại xem bò là thần và tuyệt đối không ăn thịt bò Còn người HồiGiáo thì lại không ăn thịt heo vì cho đó là thứ dơ bẩn

Một số danh ngôn về văn hóa nổi tiếng:

Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếukhi người ta đã học tất cả - Edouard Herriot

Tôi không muốn ngôi nhà của mình bị vây kín giữa những bức tường vànhững khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt, tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự dothổi vào ngôi nhà đó Nhưng tôi sẽ không bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn giónào - Mahatma Gandhi

Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống vàđòi hỏi sinh tồn - Hồ Chí Minh

2 Hình thành Sự phân hóa vùng miền của đất nước hình chữ S:

Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:

Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa của người

Kinh, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh của ngườiKinh chiếm đa số

Quan niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt

Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có vănhóa dân tộc/quốc gia

Quan niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia,

đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộcngười

Trong đó quan điểm thứ 3 được đánh giá là chính xác nhất Vì không hề cómột nền văn hóa nào đứng độc lập một mình Luôn có sự giao thoa giữa các nềnvăn hóa với nhau, trong đó nổi bật nhất vẫn là nền văn hóa của người Kinh hiệnđang chiếm đa số (86%)

Trang 3

Đặc trưng:

Thứ nhất: Văn hóa Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời và chịu ảnh hưởng

của nền văn minh lúa nước, trong đó quan trọng nhất là nền văn hóa Đông Sơn với

sự ra đời của hai nhà nước đầu tiên của người Việt: Văn Lang và Âu Lạc Tronggiai đoạn này nền văn hóa thuần nhất chưa có sự tác động của các nền văn hóa bênngoài Sau đó, nền văn hóa Việt Nam đã có sự tiếp xúc, giao lưu với nền văn hóaTrung Hoa trong suốt hàng ngàn năm bị đô hộ và vùng lên đấu tranh giành độclập Tiếp đó là sự xâm nhập của văn hóa phương Tây trong thế kỷ XIX khi thựcdân Pháp xâm lược nước ta Tuy nhiên nền văn hóa nước ta đã đứng vững hòanhập chứ không hòa tan, tiếp thu những cái hay và loại bỏ những cái xấu để hìnhthành nên nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam

Thứ hai: Văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng bao gồm trong đó nền tiểu

văn hóa của 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng trongphong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục nhưng đồng thời cũng có sự giaothoa, hợp nhất

Thứ ba: Sự khác biệt về địa lý, khí hậu, phân bố các dân tộc và dân cư đã tạo

ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam: từ nền văn hóalàng xã hình thành từ nền văn minh lúa nước đặc trưng của người Kinh ở đồngbằng sông Hồng, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc

và Đông bắc Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời mở mang bờ cõi ở BắcTrung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ

Từ những vùng đất “mới” ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên

II NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA MIỀN BẮC:

1 Miền Bắc cái nôi của tổ quốc:

1.1 Không gian văn hóa:

Trang 4

mẽ Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng tây bắc - Đông Nam, được thể hiệnthông qua hướng chảy của các dòng sông lớn.

Có đường bờ biển dài, có cửa ngõ lớn và quan trọng thông thương với các khuvực lân cận và thế giới qua cảng biển Hải Phòng

Vùng lãnh thổ này miền Bắc được chia thành 3 vùng lãnh thổ nhỏ:

Tây Bắc Bộ:

Bao gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La.Vùng này chủ yếu nằm ở hữu ngạn sông Hồng Riêng Lào Cai, Yên Bái đôi khivẫn được xếp vào tiểu vùng Đông Bắc

Toàn vùng có khí hậu cận nhiệt đới ẩm quanh năm với 4 mùa rõrệt xuân, hạ, thu, đông Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc

và gió mùa Đông Nam

Thời tiết mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùanổi lên Mùa đông từ tháng 10 tới tháng 4 trời lạnh, khô, có mưa phùn Thườnghứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết

c Dân số:

Trang 5

Khu vực đồng bằng Sông Hồng có mật độ dân cư dày đặc nhất (khoảng 1225người/km2) Trong khi đó ở khu vực Trung du miền núi với diện tích rộng lớn, tàinguyên thiên nhiên phong phú lại thiếu nguồn nhân lực khai thác và có mật độ dân

số thấp hơn rất nhiều so với khu vực đồng bằng (khu vực Tây Bắc có mật độ dân

Là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi

Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, dân cư đông đúc, mặt bằng dân trícao

Có truyền thống lâu đời về thâm canh lúa nước

Có nhiều trung tâm công nghiệp và hệ thống đô thị phát triển

Vẫn còn thiếu nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp đang phát triển

và luôn phải nhập từ các vùng khác

Khu vực Đông Bắc và Tây Bắc:

Là khu vực giàu tài nguyên để phát triển nông nghiệp, trồng cây công nghiệp,cây đặc sản và chăn nuôi gia súc

Có thế mạnh đặc biệt trong gieo trồng các cây công nghiệp có nguồn gốc cậnnhiệt và ôn đới Trung du và miền núi phía bắc cũng là khu vực trồng cây chè lớnnhất Các loại chè nổi tiếng được trồng nhiều ở Sơn La, Hà Giang, Yên Bái

và Thái Nguyên

Tốc độ phát triển kinh tế của toàn vùng là khá toàn diện Tuy nhiên, riêng vớikhu vực Trung du và miền núi phía bắc, nhất là vùng tây bắc vẫn còn nghèo so vớicác vùng khác trong cả nước

1.2 Chủ thể văn hóa:

Trang 6

Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt với nhiều lễ hội đặc trưng vì thếcũng là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau : Văn hóaĐông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Từ trung tâm này, văn hóa Việtlan truyền vào Trung Bộ rồi Nam Bộ Với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi,nguồn tài nguyên phong phú, khí hậu hình thành 4 mùa rõ rệt: mùa xuân, mùa hạ,mùa thu, mùa đông, vừa "xa rừng", vừa "nhạt biển" Chính vì vậy văn hóa châuthổ vùng Bắc Bộ có những nét đặc trưng của văn hóa Việt, nhưng lại có những nétriêng biệt của vùng này.

Tính cách:

Tính tình sâu sắc, tinh tế, thâm thúy ,rất lễ phép,chăm chỉ trong công việc vàđặc biệt có trên có dưới đó là do ảnh hưởng của chế độ vua chúa trước đây Mặtkhác bảo thủ, hoài cổ và có lối nói "vòng vo tam quốc"

Có truyền thống ăn học, tầng lớp trí thức đông đảo, luôn đề cao hệ thống trường

sở và chế độ thi cử để kén chọn người hiền tài đã có cách đay gần ngàn năm

Cũng chính do ảnh hưởng của lề lối phong kiến nên họ tương đối khó,đòi hỏi

lễ nghi, trọng nam khinh nữ,con trai thì gia tưởng và khó tính

Khí hậu khắc nghiệt cùng với cuộc sống khó khăn cũng làm cho người miềnBắc tính tình nóng nảy

Trang phục giản dị,gọn gàng,màu sắc nhã nhặn

Người phụ nữ thường đảm đang, chung thủy, có sự hiểu biết và vẫn còn khépnép do ảnh hưởng của thời xưa

Họ sống phức tạp suy nghĩ đắn đo,lời ăn tiếng nói cầu kì,hoa mĩ nên nhiều khitrở thành lối sống giả

Quan hệ xã hội:

Người dân Việt Nam đều có chung cơ cấu Gia đình - Làng - Nước Tuy nhiên,

ở Bắc Bộ, yếu tố này sâu đậm hơn, nhất là dấu ấn quê hương, đất đai, mồ mả tổtiên, đình làng, cây đa, bến nước nơi con người gắn bó với cộng đồng nơi cư trú,các gia đình ở sát cạnh nhau, làng có hàng tre bao bọc, có cổng làng, có lễ hội, cónơi vui chơi cộng đồng vừa "một giọt máu đào hơn ao nước lã" vừa "bán anh em

Trang 7

xa mua láng giềng gần" khiến con người gắn bó chặt chẽ với nhau, khó lòng dứt

bỏ ra đi

Tìm hiểu đối phương một cách chi tiết, cẩn thận khi thiết lập một mối quan hệ

và khó thiết lập lại mối quan hệ khi hai bên xảy ra mâu thuẫn

Giao tiếp với mọi người

Độc đoán, độc tài, đối với họ "xếp là số 1"

Chú ý tới từng cử chỉ nhỏ của từng nhân viên, nếu bị xếp ghét rồi thì khó ghiđiểm lại

Phong cách ăn uống:

Từ lâu việc ăn đã thành nghi thức: Ăn cưới, ăn khao, tiếp khách, ăn cỗ tínhchất giao tiếp thể hiện rõ trong ăn uống (ăn trông nồi, ngồi trông hướng, lời chàocao hơn mâm cỗ, sống vì mồ mả chứ không vì cả bát cơm, )

Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt Bắc Bộ có chú ý tăngthành phần thịt và mỡ, nhất là mùa đông lạnh, để giữ nhiệt năng cho cơ thể

Các gia vị có tính chất cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam

Bộ nhưng lại không có mặt trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều lắm, cácmón kho thường cho nhiều gừng củ Các món mặn thường dùng gia vị bột ngọtkhá nhiều, nêm mặn chủ yếu là muối, món nước quen thuộc là nước trà (chè),uống bia ướp lạnh không dùng đá

Người Bắc Bộ thích ăn trong khung cảnh cùng gia đình

Phong cách mặc:

Trước đây, cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thíchứng với thiên nhiên Bắc Bộ đó là màu nâu Đàn ông với y phục đi làm là chiếcquần lá tọa, áo cánh màu nâu sống Đàn bà cũng chiếc váy thâm, chiếc áo nâu, khi

đi làm Ngày hội hè, lễ tết thì trang phục này có khác hơn: đàn bà với áo dài mớ ba

mớ bảy (áo cánh),vấn khăn, trùm khăn mỏ quạ, đàn ông với chiếc quần trắng, áodài the, chít khăn đen

Ngày nay y phục của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều, nhưngvẫn giữ được nét ăn mặc kín đáo, màu sắc nhẹ nhàng và giản dị

Trang 8

Phong cách ở:

Nhà cửa của người Việt ở Bắc Bộ thường kiên cố, quy củ theo khuôn viên,thường "5 gian", 2 gian đầu hồi là buồng ngủ của vợ chồng và để đồ, còn 3 giangiữa là nơi thờ cúng, sinh hoạt chung

Tâm lý của họ là lo củng cố nhà cửa "thứ nhất làm nhà " và "an cư mới lậpnghiệp"

Thường chọn nhà quay về hướng Nam được coi như là một sự đúc kết có tínhquy luật, vừa để tránh ngọn gió mùa đông bắc, vừa để đón nhận ánh sáng tía nắng

2 Nét văn hóa của người Hà Nội:

2.1 Những nét nổi bật:

Thanh lịch

Nói đến vẻ đẹp của người Hà Nội chúng ta có thể nói gọn trong hai chữ

“Thanh” và “Lịch” Có nhiều câu thơ đã được viết ra để tôn vinh vẻ đẹp, cái lịchlãm, tế nhị, tự tin trong từng câu nói của người HN như:

“ Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

Hay

“Người thanh tiếng nói cũng thanh

Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu.”

Trang 9

Óc thực tế, sáng tạo và nhạy cảm với cái mới

Do hoàn cảnh đô thị hội tụ người bốn phương nên khách quan đòi hỏi người

Hà Nội có đầu óc thực tế, thể hiện ở các mặt: Xem xét tính toán trong làm ăn để cólợi nhiều "Khéo tay hay làm, đất lề Kẻ Chợ" là câu ngạn ngữ quen thuộc ca ngợitài hoa, sáng tạo của những người thợ thủ công kinh thành Người Hà Nội xưa vànay có khả năng thích nghi rất nhanh, rất nhạy cảm, khá năng động và không ngạitiếp nhận những cái mới và tìm tòi, cải tiến, sáng tạo thành cái của mình Điều nàythể hiện trong các công trình kiến trúc, văn hóa, trong việc du nhập các luồng tưtưởng tôn giáo, không chỉ tiếp xúc giao lưu với các nền văn hóa phương Bắc mà

cả với nền văn hóa phương Tây

Nghị lực, trung thực, thẳng thắn và giàu nghĩa khí

Người dân ở các vùng của đất nước đưa nghề thủ công về Hà Nội, tạo thànhnghề 36 phố phường sầm uất Nghị lực của người Hà Nội còn được thể hiện ở con

đê ngăn lũ sông Hồng đắp suốt chiều dài lịch sử ngàn năm xây dựng đô thành.Trọng học thức, chuộng cái đẹp

Chính vì Hà Nội là nơi hội tụ và đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc, nên vùngđất và con người Thăng Long cũng là nơi có tinh thần ham học và quý trọng tríthức Với học thức khá cao cùng với môi trường sống nơi đây nên con người HàNội cũng cảm nhận nét đẹp thiên nhiên, con người một cách tinh tế hơn

2.2 Những nét văn hóa:

a Văn hóa giao tiếp:

Cái thanh, cái đẹp của tiếng nói Hà Nội là ở chỗ chuẩn xác, phát âm đúng,mẫu mực cho cả nước Cái thanh lịch của người Hà Nội còn thể hiện trong giaotiếp xã hội, ứng xử, giao tiếp, xử lý các mối quan hệ một cách mềm mại, uyểnchuyển mà hiệu quả cao Người Hà Nội với vốn từ giàu có, lại biết sử dụng đúngnơi đúng chỗ, hợp cảnh, hợp tình, tạo nên một phong cách riêng không pha trộnvừa hào hoa, nhã nhặn, vừa lịch lãm nhún nhường

Trong quan hệ với bạn bè, khách khứa, người Hà Nội bao giờ cũng có mộtthái độ hiếu khách truyền thống, nồng nhiệt mà không thô bạo, niềm nở mà khôngsuồng sã Khi khách đến nhà, người chủ dù bận việc cũng phải đứng dậy mời

Trang 10

chào Nếu đang mặc quần áo ngắn, quần cộc, áo cánh thì phải “xin lỗi” khách, màmặc quần áo dài nghiêm chỉnh rồi mới tiếp khách.

Trong cách pha trà đãi khách của người Hà Nội cũng thể hiện trình độ và sựtinh tế riêng Chè để đãi khách bao giờ cũng là chè ngon, có nhà cẩn thận còn đemướp sen, nhài hay hoa ngâu để tăng thêm hương vị

b Văn hóa mặc:

Nét thanh lịch của người Hà Nội được thể hiện ở trang phục Trong trang phụccủa cả nam và nữ, của người già và trẻ em… luôn giữ được vẻ trang nhã, hài hòa,giản dị và mỗi người ăn vận đúng với vị thế xã hội và nghề nghiệp của mình.Trang phục áo dài của thanh nữ Hà Nội vẫn là nét đẹp tiêu biểu của người phụ

nữ Việt Nam

c Văn hóa ăn uống:

Trong ăn uống của người Hà Nội thể hiện nét thanh lịch ở trình độ thẩm mỹcao, sự tinh tế trong công việc chế biến thức ăn, chính chất sành điệu trong ănuống ấy mà người Hà Nội đã sáng tạo nhiều món ăn nổi tiếng trở thành đặc sản Hàthành như: Phở, bún thang, bún ốc, chả cá, bánh cuốn Thanh trì, chè kho, cốmvòng, bánh tôm Hồ Tây… Chỉ cần quan sát mâm cơm ngày tết hay mâm cơmkhách của người Hà Nội là thấy ngay được tính lịch sự và chu đáo trong đó Trongmột mâm bao giờ cũng có rất nhiều món, mỗi món một chút, mỗi món cho mộtkhẩu vị riêng Đặc biệt, cách bài trí các món ăn đều được trình bày rất đẹp và hấpdẫn

Khi ăn uống, người Hà Nội bao giờ cũng giữ nề nếp “ăn trông nồi, ngồi trônghướng” và luôn luôn thận trọng, ý tứ khi trong mâm có người già cao tuổi haykhách khứa Khi đi ăn tiệm thì cũng rất sành điệu để tìm nơi, tìm vị, chọn thời,chọn cơ, mà đã hợp với nơi nào thì thuỷ chung với nơi đó

Từ ngàn xưa, người Thăng Long - Hà Nội đã có nếp sống “có lịch có lề” Vàinăm trở lại đây, câu chuyện văn hóa của người Hà Nội đang có sự xuống cấp trầmtrọng được nhắc đến nhiều

Năm 1986 là thời kỳ “mở cửa”, đất nước chuyển từ bao cấp sang nền kinh tếthị trường thì tất cả bung ra và văn hóa của người Hà Nội đã bị ảnh hưởng Nhưng

từ năm 2000 trở về đây bắt đầu có sự suy thoái mạnh mẽ, trầm trọng Lúc này

Trang 11

trong con người đã mất đi suy nghĩ, tư duy về “thuyết nhân quả”, “luật luân hồi”.Nhiều người, họ không còn biết sợ, họ bất chấp tất cả trong cuộc “đấu tranh sinhtồn” Cộng thêm nguyên nhân nữa là là do một lượng người ngoại tỉnh vào Hà Nộiquá nhiều , chính vì phải bon chen sinh tồn ở thủ đô nên người ngoại tỉnh nảy sinhnhiều tính xấu Từng có lối sống rất “chân – thiện – mỹ” tức chân thành, cởi mở,thiện cảm với mọi người và biết cảm thụ âu sắc về cái đẹp, nhưng vì từng nhìnthấy những hành vi không đẹp của người ngoại tỉnh, người gốc Hà Nội dần dần đềphòng, thờ ơ với những người xung quanh và có thành kiến với người ngoại tỉnh.Chính điều này cũng góp phần tạo nên một văn hóa kinh doanh ở đây.

d Văn hóa kinh doanh:

Ở Hà Nội, bạn sẽ không tin vào tai mình khi vào cửa hàng mà được ai đó nóilời cảm ơn Bởi người Hà Nội luôn sẵn sàng tâm thế bị “mắng mỏ” khi ra đường.Cũng bởi ở miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng, thói quen văn hóa - lịch sử

đã để lại một quan điểm cho rằng làm nghề phục vụ là hạ cấp

Ở Hà Nội, thậm chí có những người đi ô tô, áo quần sành điệu có khi ví lại mỏngdính Người Hà Nội thích ăn mặc có gu riêng, chứng tỏ bản thân hơn người khác.Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đình Đầu lý giải các câu chuyện trên rằng bởi HàNội là một đô thị mang tính hướng nội, nép mình nhờ sự bảo vệ của sông Hồng

Do Hà Nội bảo thủ nên không dễ dàng chấp nhận cái mới, rất gắn bó vớinhững sản phẩm đã được thị trường khẳng định Ở đây môi trường là yếu tố quyếtđịnh, anh có thể tài giỏi, nhưng cái anh có thể là thay đổi bản thân thích ứng vớimôi trường, chứ anh không thể nào thay đổi được môi trường Việc đi du học cũnggiống như vậy, hãy thay đổi bản thân phát triển đến mức tốt nhất có thể ở trongmôi trường cũ rồi hãy nghĩ tới chuyện thay đổi môi trường (ra nước ngoài họctập)

Sự thích ứng nhanh và tính căn cơ của người miền Bắc Vì môi trường mở vàthoáng cũng đồng nghĩa với áp lực cạnh tranh lớn Ra Bắc thì "dịch vụ" là át chủbài Ở Bắc rất quen thuộc cảnh "kem đứng, cháo quát, phở xếp hàng", có thể nóidoanh nghiệp nơi đây có 1 văn hoá dịch vụ phụng sự khách hàng còn yếu kém.Những trường hợp thành công của doanh nhân Nam ra Bắc có thể kể tới Phở 24của Lý Quý Trung, siêu thị Nguyễn Kim - Best Carings

Kiểu phục vụ coi khách hàng như kẻ đi xin, thậm chí mắng chửi, hành hungkhách nếu không vừa lòng của nhiều tiểu thương ở Hà Nội khiến người ta tự hỏi,

Trang 12

liệu đó có phải một “đặc sản” của Hà Nội ? Mua hàng, được “khuyến mại” cáilườm, câu chửi, sờ mà không mua, coi chừng bị đốt vía, ăn đòn.

3 Nét văn hóa của vùng Tây Bắc:

Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn,hiện tại là địa bàn gồm các tỉnh:Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Điện Biên,Hòa Bình, gần hai chục dân tộc sinh sống ở đây Chỉ kể những dân tộc tương đốiđông dân ta đã có dân tộc Thái gồm Thái Đen, Thái Trắng, Thái Đỏ H'Mông vớicác Người H’Mông Trắng, Xanh, Đen, Hoa, Dao (với các người Quấn chẹt, NgaHoàng, Dao đỏ), Mường, Khơmú, Laha, Xinhmun, Tày….Ngoài ra, còn có một bộphận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ởđây, và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc Mỗi dântộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng

về văn hóa,đặc trưng bởi không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng vớiđiệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết Ai

đã từng qua Tây Bắc không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những

bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho nơi đây

Là một bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với trống đồng vàcông cụ bằng đồng mà chủ nhân của nền văn hóa này là người Laha

3.2 Những nét văn hóa:

a Con người:

Sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận, có một tấm lòng vị tha, tình nghĩa sâuđậm,giúp đỡ nhau vô tư.Trong gia đình, trong bản không bao giờ thấy người ta totiếng với nhau Đặc biệt không bao giờ trẻ con bị mắng mỏ nặng lời, chứ khôngnói đến việc bị đánh đòn Trẻ con hiểu nhiệm vụ của chúng và rất tự giác thựchiện Khi khó khăn, đói kém người ta đến họ hàng xin lương thực Người được hỏi

Trang 13

xin sẵn sàng chia sẻ số lương thực còn lại, dù biết rằng sau đó chính họ cũng sẽlâm vào cảnh thiếu đói và cũng phải lên rừng đào củ mài, củ bới thay cơm.

Điều đó lí giải được vì sao sự tồn tại suốt mấy chục năm của các "quán tựgiác" trên khắp nẻo đường Tây Bắc Đồng bào treo chuối, mía, trứng, để giá tiềnvào từng loại, khách qua đường tự lấy ăn rồi bỏ tiền vào cái túi vải treo cạnh đó.Khách có tiền lớn thì có thể đổ tiền trong túi ra, tự lấy tiền thừa rồi bỏ tiền củamình và số tiền sẵn có của quán hàng trở lại vào túi Chủ quán không có mặt,nhưng chẳng ai dám cả gan ăn cắp - kể cả những lái xe người Kinh đi qua đường

Sở thích: trang trí trang phục, chăn màn, đồ dùng với các sắc độ của gam màunóng ; rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam,tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời tươi.Còn họa tiết, bố cục, phối màu củatrang trí thì rất nhiều và phong phú, đến nỗi chỉ một chiếc khăn thêuThái, một bộ

nữ phục H'mông, Lô Lô, Dao đỏ, một mặt chăn Mường, một điểm màn Khángcũng đủ tầm cỡ để phải làm riêng một chuyên khảo

Sự thông minh, khéo tay của người phụ nữ trog việc thêu thùa và thuần thụcbên khung cửi (qua những bộ trang phục, trang sức, cấc đồ gia dụng như chăn,màn, túi xách…) Phụ nữ đã học thêu ngay từ nhỏ, những thời gian rãnh rỗithường ngồi thêu

Bản làng có một thái độ rất kính trọng với rừng Chẳng phải vì rừng có mathiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa để tồn tại Luật Thái có hàng chụcđiều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định vềbảo vệ rừng đầu nguồn

b Nghệ thuật:

Do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân và một số luật lệcòn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy bảnhoặc trên lá cây Đồng bào có nhiều tác phẩm văn học bằng chữ Thái Mỗi dân tộctrong vùng đều có một kho vốn sáng tác ngôn từ giàu có và đủ thể loại từ tục ngữ,thành ngữ, đồng dao, giao duyên, cho đến lời khấn, lời bùa chú, các áng văn trong

lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rể trong đám cưới,các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười… Có cả truyện thơ dài hàng ngàncâu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (H'mông), Vườn hoa núiCối (Mường),truyện thơ lịch sử kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc nhưbản sử ca Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha

Trang 14

Người Thái tuy đã có một vài nghệ nhân giỏi sáng tác thơ ca nổi tiếng và mặcdầu dân tộc này có chữ viết cổ, nhưng tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếubằng phương thức truyền miệng…

Có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một sở thíchkhông thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre,bằng đồng hay bằng bạc Nếu sưu tầm và gộp chung lại thì có đến vài chục loaihình thuộc hệ nhạc cụ này Nhiều loại đã được cả nước biết đến như Pí pặp, khèn

bè Thái, sáo và khèn H'mông

Thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát, chứ không phải để đọc Những truyệnthơ, những áng sử thi được trình diễn bằng cả những liên khúc âm nhạc mà nhiềubài trích ra từ đó đã được cả nước biết đến như bài "inh lả ơi" chẳng hạn

"Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa TâyBắc Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham giađông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng Người H'mông nổitiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giới Người Khơmú vàXinhmun lại độc quyền điệu múa lắc mông, lượn eo…

Một số lễ hội tiêu biểu nơi đây như:

Lễ hội hoa ban: Đây là lễ hội của dân tộc Thái Tổ chức vào tháng Hai âm

lịch, khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc Đây là ngày hội của tình yêu đôi lứa,ngày hội của hạnh phúc gia đình, hội cầu mùa, no ám nơi bản mường cũng là dịpthi tái vui chơi, hát giao duyên

Lễ hội cầu an bản Mường: Đây là lễ hội của dân tộc Thái và dân tộc

Mường.Đây là một sinnh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng, diễn ra vào cuốitháng Giêng đầu tháng Hai âm lịch Lễ hội gắn với tục giết trâu và tạ thần linh thểhiên qua hình tượng thủy thần, thuồng luồng

Lễ hội Lồng Tồng: Là lễ hội của người Tày Được tổ chức hằng năm vào tháng

Giêng, tháng Hai âm lịch Mang ý nghĩa cầu phúc, cầu mùa màng bội thu, cuộcsống bình yên, no ấm Trong lễ hội thường diễn ra các trò chơi dân gian như: némcòn, hát lượn, bịt mắt bắt dê

c Tục cưới hỏi của người Thái:

Qua nhiêu bước trong đó có 2 bước cơ bản:

Trang 15

Cưới lên (đong khửn): Đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá,

khả năng lao động của chàng rể Người Thái Đen có tục búi tóc ngược lên đỉnhđầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này

Cưới xuồng ( đong lông): Sau thời gian ở rễ, được 2 bên đồng ý, chú rể mới

đưa gia đình trở về nhà trai

Khi chàng trai người Thái đen đến tuổi lấy vợ (trước đây là 13-14 tuổi), naymười tám, đôi mươi sẽ tự đi tìm người con gái mà mình ưng ý hoặc do bố mẹ

"nhắm cho" Tiếp đến, nhà trai nhờ một ông Mối (tiếng Thái gọi là Phòlam) đếnnhà cô gái để làm mối Nếu được gia đình cô gái ưng ý, chàng trai sẽ bắt đầu cuộcđời ở rể, có thể chỉ 3 tháng hoặc kéo dài cho đến khi chàng rể được nhà cô gáichấp nhận

Chọn ngày lành, tháng tốt, nhà trai chuẩn bị cho con trai một số sính lễ để đến

ở rể Lễ vật gồm: một chiếc áo, một con gà mổ sẵn, một gói cơm, một chai rượu vàmột cái "Tôống bai" là cái đựng vía (khoắn) được làm bằng một sợ dây mây mộtđầu được cuộn xoắn lại (theo như lời người Thái đen cho biết thì vật này để chovía chú rể trú ngụ ở đó) Ông Mối sẽ là người trực tiếp đưa chàng trai đến nhà côgái Sau khi kiểm xong lễ vật, nhà gái để mọi thứ lên bàn thờ để báo cho tổ tiênbiết nhà đã có chàng rể Trong thời gian ở rể chàng trai được đối xử như một thànhviên mới của gia đình

Để đôi uyên ương được ngủ chung với nhau thì hai gia đình phải tiến hànhlàm lễ "tăng cẩu" (búi tóc), chính thức công nhận họ là vợ chồng Búi tóc củangười phụ nữ Thái đen từ thời điểm này được coi như là một dấu hiệu thông tincho mọi người biết họ đã có chồng Để làm lễ này, nhà trai lại phải mang tới nhàgái một số lễ vật Theo tục lệ, lễ "Tăng cẩu" được thực hiện ở gian gần bếp, người

ta chuẩn bị một chậu nước lá thơm Đại diện phía nhà trai gội đầu, chải tóc và búitóc cho cô dâu Tóc được búi lên, cuộn lại bằng một dây xà tích bằng bạc và càimột chiếc trâm bạc giữ cho tóc không bị xổ ra Trong lúc búi tóc cho cô gái, đạidiện hai nhà cùng uống rượu và hát đối đáp "khắp toóc" Nội dung của các bàikhắp nói lên hoàn cảnh của mỗi nhà và những lời dặn dò đôi trai gái

d Kiến trúc nhà ở:

Ở theo Bản, Làng Một bản khoảng 50 nóc nhà sàn,Bản Thái thường nằm ởven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng, ở đấy thế nào cũng có ít nhất một dòng suối

Trang 16

to nhỏ tùy nơi Bản nào ở chân núi đá thì hay dùng mạch nước ngầm làm nước ăn,gọi là "Mỏ nước”.

Chủ yếu là ở trong nhà sàn Đây là loại nhà được người Thái kiến thiết bằngnhững chất liệu từ thiên nhiên, gần gũi với nơi họ sinh sống, có cái mái đầu hồikhum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí người Thái gọi

là "Sừng cuộn" vì đầu phía trên của nó thường được thao tác thành một vòng trònxoáy trôn ốc Trong ngôi nhà sàn của người Thái, ngoài các buồng thông thường,

ở hai phía đầu hồi còn có hai phần được sử dụng với từng mục đích khác nhau,một đầu là khan dùng để làm công việc bếp núc,phía cầu thang chính lên nhà Đây

là phần dùng để tiếp khách và nếu gia đình nào có chàng rể đang trong giai đoạnthử thách thì sẽ ngủ ở đây Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp đểtiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm

e Trang phục:

Trong trang phục truyền thống,nam giới mặc quần áo thổ cẩm màu chàm xanhhoặc chàm đen,mặc quần cắt để thắt lưng, áo cánh xẻ ngực,có túi ở hai bên vấuvạt, nhưng vài chục năm gần đây nam giới đã chuyển sang mặc âu phục là chủyếu

Phụ nữ Thái hiện nay vẫn gắn bó với trang phục truyền thống: áo cỏn màutrắng, xanh hoặc đen bó sát thân với hàng khuy bạc trắng, váy dài đen quấn suônghoặc được thêu viền hoa văn ở gấu, thắt eo bằng vải lụa màu xanh lá cây Cùngvới váy, áo phụ nữ Thái Đen đội khăn Piêu với các hoa văn bằng nhiều loại chỉmàu rất sặc sỡ và đẹp Đồ trang sức của phụ nữ chủ yếu là vòng bạc, xuyến bạcđeo ở cổ và tay; hoa tai bằng bạc hoặc vàng

f Ẩm thực:

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ,đậm và nồng Món ăn truyền thống của người Thái là Xôi Người Thái nổi tiếngvới "Cơm lam" (xôi nhồi ống nứa)

Thức ăn của người Thái rất tự nhiên nhưng lại rất phong phú và giàu vitamin,đạm Sông, suối, khe, rạch trở thành nguồn cung cấp tôm, cua, cá, ốc, ếch, đầychất dinh dưỡng Thảm thực vật, đồi núi là nguồn cung cấp rau sạch, măng, nấm,rêu, nhiều vitamin

Trang 17

Những món độc đáo nơi đây như nặm pịa, món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướpmuối, làm mắm từ thịt cá tươi Đặc biệt là các món chế biến từ cách nướng, lùi,

đồ, sấy Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi hay uống rượu cần,hút thuốc lào Họ rất thích uống rượu Đối với họ uống rượi là phong tục cho nên

họ tự chế biến lấy để tiêu thụ Rượu của người Thái có ba loại chính: Lảu xiêu (cấthay trắng), Lảu xả (Rượu cần), Lảu vang (rượu nếp cái)

Chẳm chéo là món chấm không thể thiếu được trong các bữa ăn bình thườngcũng như khi đãi khách của đồng bào Thái Nguyên liệu chính là: ớt, muối, makkhén (còn gọi là hạt tiêu rừng có mùi thơm và vị cay nồng), tỏi, rau thơm láhành…có thể thêm gân gà luộc chín,ruột cá,… Cách chế biến rất đơn giản: Ớt khôhoặc tươi đem nướng lên cho thơm và ròn để lấy vị cay, tỏi và khén, 4 thứ giãchung là có thể cho ta một bát chéo cơ bản

g Hoạt động sản xuất:

Canh tác lúa nước là hoạt động sản xuất chính của người Thái, lúa gạo lànguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Tuy nhiên người Thái cũng làmnương để trồng lúa, ngô, lạc, vừng… và nhiều thứ cây trồng khác Trong từng giađình còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông, nuôi tằm để dệt vải, một

số nơi còn làm đồ gốm… Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm vớinhững nét hoa văn độc đáo sắc màu rực rỡ, bền đẹp

Họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, bắc máng lấy nước làm ruộngnên trong dân gian thường truyền câu ca “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước”.Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu hợp líđược đúc kết như một câu thành ngữ: “mương, phai, lái, lị” (khơi mương, đắpđập,đẫn nước, đặt mắng) trên các cánh đồng thung lũng.Người Kinh vùng núi PhúThọ (cũ) học theo cách làm này và gọi chệch đi là "lần nước" Do chủ động tướitiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng lúa Gặt lúa xong làtháo nước bắt cá Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốtlúa Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng

Họ làm ruộng cấy một vụ nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ Họ còn làm nương đểtrồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt là bông, cây thuốcnhuộm, dâu tằm để dệt vải

Trang 18

Phương tiện vận chuyển: Người Thái vận chuyển bằng gánh là phổ biến, ngoài

ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay ở dọc cáccon sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én

 Văn hóa các tộc người vùng Tây Bắc khá phong phú và đa dạng, giàu bảnsắc, gắn liền với quá trình tụ cư lâu đời của cư dân từ nhiều nguồn và nhiều thờiđiểm khác nhau Chính vì vậy trong chiến lược phát triển vùng cũng như tiểuvùng, điều có ý nghĩa sống còn là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyềnthống và hiện đại, truyền thống và đổi mới tại khu vực này

4 Văn hóa vùng Đông Bắc:

Các dân tộc chính cư trú ở đây gồm: Kinh, Tày, Dao,Thái, Mông, Nùng…

Một số danh lam thắng cảnh nổi bật:

Chùa Bồ Đà (Bắc Giang), Đền Suối Mơ (Bắc Giang), Thành cổ Xương Giang( Bắc Giang), ATK-Chợ Đồn (Bắc Kạn), Hồ Ba Bể ( Bắc Kạn), núi Phan Si Phăng(Lào Cai) văn hoá vật chất:

Nét riêng của người Tày – Nùng:

a Văn hóa nhà ở:

Người Tày - Nùng có hai loại nhà chính : nhà sàn và nhà đất

− Nhà sàn là dạng nhà phổ biến, có hai loại nhà sàn, sàn hai mái và sànbốn mái Nêú là nhà sàn bốn mái, hai mái đầu hồi bao giờ cũng thấp hơnhai mái chính Cửa có thể mở ở mặt trước hoặc đầu hồi, cầu thang lênxuống bằng tre, gỗ, nhưng số bực bao giờ cũng lẻ, không dùng bậc chẵn

− Nhà đất là loại nhà xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng cũng có rấtnhiều thay đổi so với ngôi nhà sàn về quy mô, kết cấu, bố cục bên trong Ởmột số vùng còn có loại nhà nửa sàn nửa đất, đây là một loại nhà đặc biệt,vừa mang tính chất nhà đất vừa mang tính chất nhà sàn

b Văn hóa trang phục:

Trang phục của người Tày - Nùng có tính thống nhất, được phân biệt theo giớitính, địa vị, lứa tuổi, theo nhóm địa phương Y phục của nam giới người Tày theomột kiểu, gồm có áo cánh 4 thân, áo dài 5 thân, khăn đội đầu và giày vải Chiếc áo

4 thân được cắt may theo kiểu xẻ cao, có hàng cúc vải ở trước ngực, cùng hai túi

Trang 19

Hàng cúc của áo này bao giờ cũng là 7 cái Quần của nam giới được may theo kiểuđũng chéo, cả quần lẫn áo của nam giới Tày được may bằng vải chàm Về đồ trangsức, họ ít dùng đồ trang sức Vì vậy, trang phục của người đàn ông Tày khá giản

dị, không có sự trang trí bằng hoa văn

c Văn hóa đời sống:

Giữa nam giới Tày và nam giới Nùng chỉ khác nhau đôi chút về kích thướctrong trang phục Trong khi đó, trang phục của nữ giới lại đa dạng và phong phú.Người phụ nữ Nùng chỉ mặc một màu chàm, khác với người phụ nữ Tày mặcchiếc áo lót trong màu trắng Y phục nữ Tày - Nùng gồm có áo cánh, áo dài 5thân, quấn, thắt lưng, khăn đội đấu, hài vải Đồ trang sức cũng đơn giản, ngàytrước chị em thường đeo vòng cổ, vòng tay, vòng chân và xà tích bằng bạc Chiếckhăn của phụ nữ Tày là khăn vuông, khi lễ tết, họ buộc thêm chỉ đỏ, xanh quanhvành khăn rồi thắt nút ra phía sau Phụ nữ người Nùng có khác đôi chút là họthường bịt răng vàng, ưa thích đồ trang sức bằng bạc như vòng chân, vòng tay,vòng cổ, khuyên tai, hoa tai

d Văn hóa ăn uống:

Về mặt ăn uống, tùy theo từng tộc người mà cách thức chế biến thức ăn vàkhẩu vị của cư dân có hương vị riêng Việc chế biến món ăn của cư dân Tày -Nùng, một mặt có những sáng tạo, một mặt tiếp thu kĩ thuật chế biến của các tộclân cận như Hoa, Việt v.v Họ chế biến ngô một cách tinh tế, ngô được giã, hayxay nhỏ để nấu với cơm, làm các loại bánh Thức ăn chính là gạo tẻ, nhưng việcchế biến các món ăn từ gạo nếp lại càng được chú trọng Trong ngày tết, cốm làmón đặc biệt hấp dẫn Các loại xôi màu hấp dẫn thường có mặt trong ngày lễ tếtcủa cư dân Tày - Nùng Thịt lợn, thịt vịt quay thường được làm cầu kì như thịt lợnquay Lạng Sơn, vịt quay Thất Khê Bữa ăn của cư dân Việt Bắc, mang tính bìnhđẳng, nhân ái Tất cả các thành viên trong nhà ăn chung một mâm, khách đến nhàrất được ưu ái, nể trọng

Đời sống văn hóa tinh thần:

a Tín ngưỡng:

Về tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian của cư dân Tày - Nùng hướngniềm tin của con người tới thần bản mệnh, trời - đất, tổ tiên Các thần linh của họrất đa dạng, có khác là nhiều thần như thần núi, thần sông, thần đất Ngoài ra lại có

Trang 20

các vua, có Giàng Then, ý thức cộng đồng được củng cố thông qua việc thờ thầnbản mệnh của mường hay của bản ý thức về gia đình, dòng họ được, củng cốthông qua việc thờ phụng tổ tiên Mỗi gia đình có một bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trítrạng trọng nhất trong nhà Ngoài ra, trong nhà họ còn thờ vua bếp Diện mạo tôngiáo cũng có những nét khác biệt Các tôn giáo như Khổng giáo, Phật giáo, Đạogiáo đều có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân , chùa thờ Phật ít hơndưới đồng bằng, nhưng cũng có những chùa đáng lưu ý, như chùa Hang, chùa úc

Kỳ ở Bắc Thái, chùa Diên Khánh, chùa Vinh Quang, chùa Nhị Thanh, chùa TamThanh ở Lạng Sơn Tam giáo được cư dân Tày tiếp thu gần giống với người Việt,nhưng ở mức độ thấp, trong sự kết hợp với các tín ngưỡng vật linh vốn có từ lâuđời trong dân gian Lễ hội của cư dân Tày - Nùng rất phong phú

b Lễ hội:

Ngày hội của toàn cộng đồng là hội Lồng tồng (hội xuống đồng), diễn ra gồmhai phần : Lễ và hội Nghi lễ chính là rước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ởngoài đồng Một bữa ăn được tổ chức ngay tại đây Phần hội căn bản là các tròchơi như đánh quay, đánh yến, tung còn, ảo thuật Như vậy, về bản chất, hội lồngtồng là một sinh hoạt văn hóa Nói đến sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng, khôngthể không nói đến sinh hoạt hội chợ ở đây là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng lạicũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình Người ta đã từng nói đếnmột loại sinh hoạt văn hóa hội chợ ở vùng này, và có thể coi như một sinh hoạtvãn hóa đặc thù của vùng Tộc người chủ thể : Tày-Nùng với lịch sử và văn hóacủa họ tạo ra nét đặc thù này Tuy nhiên, những đặc thù này không phá vỡ tínhthống nhất của văn hóa Đông Bắc Bộ và văn hoá cả nước

III NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA MIỀN TRUNG:

Trang 21

1 Miền Trung vẽ đẹp kiên cường:

1.1 Không gian văn hóa:

a Phạm vi:

Miền Trung Việt Nam (Trung Bộ) có phía Bắc giáp khuvực đồng bằng sông hồng và Trung du miền núi vùng BắcBộ; phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa– Vũng Tàu vùng Nam Bộ; phía Đông giáp Biển Đông, phíaTây giáp 2 nước Lào và Campuchia Dải đất miền Trungđược bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây vàsườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang theo hướngĐông - Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50 km) và nằm trênđịa bàn tỉnh Quảng Bình

từ sông Mã và sông Chu bồi đắp, chiếm gần một nửa diện tích và là đồng bằngrộng nhất của Trung Bộ

Tây Nguyên:

Có diện tích khoảng 54.473,7km2, nằm về vị trí phía Tây và Tây Nam Trung

Bộ (phía Tây dãy Trường Sơn) Tây Nguyên có phía Tây giáp 2 nước Lào và

Trang 22

Campuchia, phía Đông giáp khu vực kinh tế Nam Trung Bộ và phía Nam giáp khuvực Đông Nam Bộ Địa hình Tây Nguyên đa dạng, phức tạp, chủ yếu là caonguyên với núi cao ở độ cao từ 250 - 2500m.

Nam Trung Bộ:

Thuộc khu vực cận giáp biển Địa hình ở đây bao gồm đồng bằng ven biển vànúi thấp, có chiều ngang theo hường Đông - Tây (trung bình 40 – 50 km), hạn hẹphơn so với Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Có hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờbiển sâu với nhiều đoạn khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp Các miền đồng bằng códiện tích không lớn do các dãy núi phía Tây trải dọc theo hướng Nam tiến dần rasát biển và có hướng thu hẹp dần diện tích lại Đồng bằng chủ yếu do sông và biểnbồi đắp, khi hình thành nên thường bám sát theo các chân núi

Xét chung, địa hình Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núi xuốngđồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát ven biển rồi rađến các đảo ven bờ

c Khí hậu:

Miền trung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thời tiết hanh lạnh

và có những đợt khô nóng Một đặc điểm quan trọng của miền khí hậu này là mùamưa và mùa khô không cùng lúc với mùa mưa và khô của hai miến khí hậu cònlại Mùa hè, trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí hậu này lạiđang ở thời kỳ khô nhất

1.2 Lịch sử và văn hóa:

Bắc Trung Bộ là mảnh đất đầy biến động trong suốt chiều dài lịch sử, có lẽ

không một vùng đất nào trên đất nước lại có nhiều nét tương phản sâu sắc và đạtnhiều cực trị như vùng này, cả về tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội và lịch sử

Sông Gianh (Quảng Bình) là giới tuyến trong suốt thời kì Trịnh – Nguyễnphân tranh (non một thế kỉ) Sông Bến Hải (Quảng Trị), suốt 20 năm là ranh giớiphân chia hai miền nam – Bắc Tiếng súng đầu tiên ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) mở đầucho thời kì thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta Cuộc đọ sức đầu tiên giữaquân giải phóng và bọn xâm lược Mỹ diễn ra ở Núi Thành đã khẳng định chân lý

vĩ đại: chúng ta có thể thắng được giặc Mỹ Ngay từ thế kỉ XVIII, Hội An đã làmột thương cảng sấm uất trong mối quan hệ giao bang quốc tế

Trang 23

Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc

thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh Do đất rộng, người thưa,các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn côngcủa vương quốc Champa nhằm cướp bóc nô lệ Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựngvùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại củavương quốc Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vựcTây Nguyên Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ củangười Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ Trong một số tài liệu vào thế

kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Ðá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi,Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Ðá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và BồVan (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu sốsinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng

về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúaNguyễn Thời Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyêngia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hànhquân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789) Sang đến triềuNguyễn, quy chế dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, chủ yếu ngườiViệt vẫn chú ý khai thắc miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miềnĐông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng TâyNguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ) Sau khi người Pháp nắm được quyềnkiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phụcvùng đất Tây Nguyên Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayrenasang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục đượccác bộ lạc thiểu số Ông ta thành lập vương quốc Sédan có quốc kỳ, có giấy bạc,

có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất Nhận thấyđược vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayrena về châu

Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay Mayrena.Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn Sau

đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán Năm 1891, bác sĩ AlexandreYersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Liang Biang Ông đã đềnghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây Nhân dịpnày, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này Tuy nhiên,

về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình ĐạiNam Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triềuNguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ.Năm 1898, vương quốc Sédan bị giải tán Một tòa đại lý hành chính được lập ởKontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng

Trang 24

Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trựctiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây Năm 1900, Toàn quyền Doumer đích thânthị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát Vùng đất caonguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyềnthực dân Pháp Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum,cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo Nhữngthực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồ điền đồng thời cũng ngăncấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được.

Duyên hải Nam Trung Bộ: Từ sau cuộc hôn nhân lịch sử giữa quốc vương Chế

Mân của Champa với công chúa Huyền Trân của Đại Việt vào năm 1306, thì vùngđất Ô, Lý của Champa trước đây đã thuộc về lãnh thổ Đại Việt Từ sự kiện này,vùng đất Thuận Hóa (nay là địa bàn các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) và mộtphần Quảng Nam (nay là địa bàn Đà Nẵng và các huyện phía bắc của Quảng Nam)được hình thành và cư dân Việt bắt đầu di trú đến vùng đất này Trải qua các triềuđại: Trần, Hồ, Lê, chúa Nguyễn, người Việt tiếp tục đi về phía nam, vượt bao đèocao hiểm trở, qua bao sông rộng, đến mở mang, khai phá nên những vùng đất mới

mà sau này chính là địa bàn của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,Phú Yên, Khánh Hòa…Dưới thời các chúa Nguyễn cai trị ở Đàng Trong (1558 -1775), nhiều đô thị thương cảng được hình thành và phát triển rực rỡ như Hội An(Quảng Nam), Thanh Hà (Huế), Nước Mặn (Bình Định)

Nơi đây không được thiên nhiên ưu đãi, với đất đai khô cằn, nền nông nghiệplại chủ yếu nên con người nơi đây luôn lam lũ bươn chãi kiếm sống Có lẽ vì thế

Trang 25

mà họ đã quen dần với cái khổ, cái cực Ý thức được điều đó mà con người miềntrung khá là ý thức cho tương lai của con cháu đời sau.

Trong văn hóa đời sống, người miền trung nói chung khá tiết kiệm trong chitiêu so với những miền khác Một ví dụ điển hình là các món ăn của người miềnTrung khá mặn Đây có thể là một đặc trưng cơ bản của con người nơi đây Tuynhiên, ở các dịp lễ thì người miền trung lại là nơi tổ chức kỹ nhất và ăn mừng lâunhất trong 3 miền Vì nơi đây, họ đã lam lũ cả một năm, khó khăn cả một năm nênkhi có dịp lễ này họ nghĩ ngơi và thoải mái chi tiêu với mọi người

2 Những nét văn hóa đặt trưng:

Một số đặc điểm trong tính cách của người miền Trung ảnh hưởng đến vănhóa giao tiếp trong kinh doanh riêng biệt của họ

2.1 Ngôn ngữ:

Sự khác biệt về ngôn ngữ, giọng nói so với chuẩn Tiếng Việt: Giọng nói củangười miền Trung phần lớn đều khác biệt hẳn so với chuẩn Tiếng Việt Phân hẳn 3vùng rõ rệt Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên 3 vùng 3giọng khác nhau Không nhắc đến vùng dân tộc thiểu số, chỉ nói đến dân tộc Kinh,ngôn ngữ chuẩn của Tiếng Việt thì trừ Thanh Hóa (vì Thanh Hóa hầu như ảnhhưởng văn hóa của miền Bắc nhiều hơn), các tỉnh còn lại của Bắc Trung Bộ cógiọng nói nặng, khó nghe và cách dùng từ ngữ cũng khác

Ảnh hưởng: Quá trình giao tiếp không được xuyên suốt, dễ bị nhiễu, gây ảnh

hưởng đến đối tác Hạn chế trong cách xử lý tình huống, khó giao tiếp

Như sự bất đồng ngôn ngữ giữa 1 nhân viên bán hàng siêu thị người Sài Gònphát âm chuẩn tiếng Việt với 1 vị khách hàng người Quảng Trị / Quảng Bình:

“buốc đánh răng = bàn chải đánh răng”

Bất đồng ngôn ngữ giữa sếp và nhân viên Sếp nói, nhân viên không ngheđược… làm cho sếp khó chịu khi nhân viên không nghe rõ và làm sai lệnh, ngượclại nhân viên lại thấy áp lực khi cố gắng làm hài lòng sếp của mình

2.2 Tính cách:

a.Tính cần kiệm:

Trang 26

Người miền Trung nói chung đều có tính cần cù, chịu khó và tiết kiệm hơn sovới những vùng khác Do ảnh hưởng của khí hậu, mưa lũ kéo dài, cuộc sống khókhăn khiến họ cố gắng làm việc, chịu thương chịu khó chắt chiêu từng đồng dànhdụm (Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có lượng mưa nhiều nhất ở Việt Nam) Ngoài

ra cũng do ảnh hưởng về thói quen sống của gia đình, từ nhỏ, họ đã biết tiết kiệm

Và đức tính này được truyền từ đời này sang đời khác Tính cần kiệm này ảnhhưởng đến khả năng làm việc của họ

b Đối với khách hàng:

Họ sẽ chi tiêu thấp hơn mức thu nhập của mình, cho dù thu nhập cao hay thấp,

họ đều có tính cách dành dụm, chứ không tiêu xài xa hoa, lãng phí Với một mặthàng được họ để mắt đến thì giả cả nó phải hợp lý, không quá đắt, công năng phải

rõ ràng, họ cảm thấy phù hợp với túi tiền họ bỏ ra thì mới quyết định mua

c Đối với nhân viên:

Họ thuộc tuýp người cần cù, chịu khó, làm vì vật chất, bởi lẽ bản năng họ đã

có ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, muốn được xóa khỏi cái khổ cực màtrước đây họ phải chịu, nên họ cần cố gắng làm, và muốn đạt được những gì họmuốn Mức lương và sự thăng tiến đối với họ cũng rất quan trọng (thuyết 2 nhân

tố Herberg)

d Đối với nhà quản trị:

Khi đã phấn đấu lên đến cấp độ của 1 nhà quản trị rồi, họ sẽ không lơ là côngviệc, vì họ sẽ không quên được những công sức mà họ đã bỏ ra để phấn đấu cóđược ngày hôm nay, và cũng 1 phần do ảnh hưởng của bản chất cần cù, vượt khó

mà ra Nhà quản trị này sẽ rất kỹ lưỡng trong việc lập ra kế hoạch và quyết địnhthực hiện Chi phí phải thấp nhất và lợi nhuận phải tối ưu Họ không rườm rà, xahoa, không bày vẻ, họ cần thiết thực và chân thành

e Phong cách mặc:

Phong cách ăn mặc kín đáo, nói năng từ tốn, nhẹ nhàng nhưng rất dứt khoát,phụ nữ hay để tóc dài, không ưa chuộng thể loại “sexy”, “phong cách”, “cá tính”,khó thay đổi được bản chất vốn có của họ  (1) nghiên cứu thị trường về fashion.(2) tính cách của khách hàng, khó thay đổi sản phẩm (3) tính ổn định trong côngviệc của nhân viên

Trang 27

f Đặc trưng về ẩm thực:

họ thích ăn cay  (1) nghiên cứu sản phẩm mới, hoặc làm về lĩnh vực ẩmthực ở thị trường miền Trung, phải cay hơn so với vùng khác (2) Hiểu ý kháchhàng, đối tác về ẩm thực miền Trung, vấn đề trong giao tiếp với khách hàng; Hiểu

ý sếp, tăng thêm sự thân thiện giữa nhân viên và sếp

3 Những nét văn hóa cổ điển và hiện đại riêng biệt:

3.1 Những nét văn hóa hiện đại đặc trưng:

Ngoài các lễ hội truyền thống, có nguồn gốc từ lâu đời, hiện nay, có nhiều lễhội văn hóa đương đại, lễ hội du lịch được tổ chức ở nhiều địa phương trong vùngnhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân và thu hút du khách,phục vụ phát triển du lịch ở các địa phương trong vùng Tiêu biểu là các lễ hội, sựkiện văn hóa sau:

3.1.1 Lễ hội:

a Nhã nhạc cung đình Huế:

Trang 28

Là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễhội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triềuđại nhà Nguyễn của Việt Nam Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO côngnhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003 Theo đánh giácủa UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạttới tầm vóc quốc gia" "Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đếnthời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnhnhất" Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phivật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận.

Nhã nhạc (Âm nhạc cung đình) là loại hình âm nhạc chính thống, được xem làquốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế, lễ của triều đình Các triều đại quân chủViệt Nam hết sức coi trọng, phát triển Nhã nhạc, và loại hình âm nhạc này trởthành một biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại.Các quy định về quy mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nội dung bài bản củaNhã nhạc đều rất chặt chẽ, phản ánh tính quy củ qua các định chế thẩm mỹ rất cao,

có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết lý của chế độ quân chủ đươngthời

Trang 29

Theo sách sử thì Nhã nhạc ra đời vàotriều Lý (1010-1225) và hoạt động một cáchquy củ vào thời Lê (1427-1788), là loại hìnhnhạc mang tính chính thống, với quy mô tổchức chặt chẽ Các tổ chức âm nhạc đượcthành lập, đặt dưới sự cai quản của các nhạc quan Triều Lê đã định ra các loạinhạc như sau: Giao nhạc, Miếu nhạc, Nhũ tự nhạc, Cứu nhật nguyệt lai trùng nhạc,Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, đại yến nhạc, Cung trung nhạc Song, vào giaiđoạn cuối của triều Lê, âm nhạc cung đình dần dần đi vào thời kỳ suy thoái vànhạt phai dần.

Đến thời Nguyễn (1802-1945), vào nữa đầu thế kỷ XIX, điều kiện xã hội đãcho phép, âm nhạc cung đình phát triển trở lại Triều đình Nguyễn quy định 7 thểloại âm nhạc, gần giống với các thể loại của triều Lê, bao gồm: Giao nhạc, Miếunhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung nhạc.Dưới thời Nguyễn, Nhã nhạc được dùng trong các lễ tế đại triều 2 lần/tháng,thường triều 4 lần/tháng: Nam Giao, Tịch Điền, sinh nhật vua và hoàng hậu Tếbất thường: Đăng quang, lễ tang của vua và hoàng hậu, đón tiếp sứ thần Tùy theotừng cuộc tế lễ mà có các thể loại khác nhau, như đai triều nhạc dùng trong lễNguyên đán, Ban sóc Đại yến cửu tấu nhạc dùng trong mừng thọ, chúc thọ, tiếpđãi sứ thần Cung trung nhạc biểu diễn trong trong các cung hoàng thái hậu vàthái hoàng thái hậu Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ vua, chúa Ngũ tự nhạcdùng trong tế Xã tắc, Tiên nông

Nhã nhạc lúc này có hệ thống bài bản rất phong phú, với hàng trăm nhạcchương (lời ca bằng chữ Hán) Các nhạc chương đều do Bộ Lễ biên soạn phù hợpvới từng cuộc lễ của triều đình Tế Giao có 10 nhạc chương mang chữ Thành(thành công); Tế Xã tắc có 7 nhạc chương mang chữ Phong (được mùa); Tế Miếu

có 9 nhạc chương mang chữ Hòa (hòa hợp), Tế Lịch Đại Đế vương có 6 nhạcchương mang chữ Văn (trí tuệ); Lễ Đại triều dùng 5 bài mang chữ Bình (hòabình); Lễ Vạn thọ dùng 7 bài mang chữ Thọ (trường tồn); lễ Đại yến dùng 5 bàimang chữ Phúc (phúc lành) Từ cơ sở kế thừa các triều đại trước, triều Nguyễn đãcho bổ sung thêm nhiều loại thể nhạc như Huyền nhạc, Ty trúc tế nhạc, Ty chung,

Ty khánh, Ty cổ

Vào cuối thế kỷ XIX, khi đất nước lâm vào nạn ngoại xâm, vai trò của triềuđình mờ dần, thì âm nhạc cung đình cùng các lễ nghi cũng giảm và mờ dần Vàocuối thời Nguyễn, chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc (gồm trống, kèn, mõ,

Trang 30

bồng, xập xõa) và tiểu nhạc (trống bản, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn tam, địch, tam âm,phách tiền) Ngoài ra, triều đình cho du nhập dàn Quân nhạc của phương Tây, làmcho vai trò của Nhã nhạc càng mờ nhạt thêm.

b Cồng chiêng Tây Nguyên:

Khi nhắc đến nền văn hóa Tây Nguyên thì không thể không nói đến văn hóaCồng chiêng được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giớinăm 2005

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum,Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặcsắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm,Êđê, Giarai Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên,

là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trongcuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ Cồng chiêng là loại nhạckhí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen Cồng là loại có núm,chiêng không núm Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loạicực đại từ 90cm đến 120cm Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theodàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc

Trang 31

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng Các dàncồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang

âm của riêng mình Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởithang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bêncạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác Thành thử trên thực

tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa Điều đó lý giảitại sao âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu

Về nguồn gốc, theo một số nhà nghiên cứu, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn

đá Trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá,chiêng đá tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng Từ thuở sơ khai,cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tínngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên Tất cả các lễ hội trong năm, từ

lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễđóng cửa kho, lễ đâm trâu hay trong một buổi nghe khan đều phải có tiếngcồng chiêng như là thứ để nối kết những con người trong cùng một cộng đồng.Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩnchứa một vị thần Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao Cồngchiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có Vào nhữngngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những

vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên mộtkhông gian lãng mạn và huyền ảo Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sửthi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùngtráng

Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới Đó

là trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu,

Cơ Ho Song, có những tộc người thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, như Mạ,M’Nông Riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơicồng chiêng Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thờigian và không gian Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âmcho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì củamột dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyếnđến đa tuyến Trong đó bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển

âm nhạc từ thời kỳ sơ khai ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan

hệ tương đồng và dị biệt, xác định cá tính vùng miền của nghệ thuật Và, với sựphong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí

Trang 32

đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền ViệtNam.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của ngườichơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác Từ việcchỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những ngườidân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêuluyện tuyệt vời Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tàisản vô giá Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệthuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồnthiêng sông núi qua bao thế hệ Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa vềmặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếngnói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh" Ngày25/11/2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã đượcUNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu củanhân loại Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản vănhóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới

c Festival Huế (Thừa Thiên Huế):

Đây là một trong những lễ hội văn hóa lớn nhất vùng và cả nước FestivalHuế được tổ chức 2 năm một lần, vào mùa hè của các năm chẵn, nhằm mục đíchtôn vinh các di dản và các giá trị văn hóa Huế Festival Huế có nhiều chương trình

lễ hội cộng đồng được tái dựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoàithành phố như: Đêm Hoàng cung, Lễ tế Nam Giao, Lễ tế Xã Tắc, Lễ Truyền lô vàvinh quy bái tổ, Lễ lên ngôi của hoàng đế Quang Trung, Hội thi Tiến sĩ võ Ngoài

ra, trong festival Huế còn có các lễ hội và sinh hoạt văn hóa đương đại như: lễ hội

áo dài, lễ hội biển, thi thả diều, trò chơi thả thơ, diễn thơ, chợ quê ngày hội, tròchơi cờ người, đua trải đã góp phần làm sống lại các giá trị văn hóa, lịch sử củamảnh đất cố đô

d Festival nghề truyền thống Huế (Thừa Thiên Huế):

Được tổ chức 2 năm một lần vào các năm lẻ; bắt đầu từ năm 2005 với cácnghề: thêu, nón lá; năm 2007 với nghề chạm khắc, đúc đồng, kim hoàn; năm 2009với các nghề gốm sứ, pháp lam, sơn mài; năm 2011 với chủ đề “Bếp Việt trongvườn Huế”, tôn vinh hai nghề ẩm thực và cây kiểng… Cùng với festival Huế,thành công của các festival nghề truyền thống Huế đã góp phần thúc đẩy sự tăngtrưởng về kinh tế, khẳng định vị thế Huế là thành phố festival

Trang 33

e Lễ hội Quán Thế Âm (Đà Nẵng):

Tổ chức hàng năm vào ngày 19 tháng 2 âm lịch tại khu danh thắng Ngũ HànhSơn Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với phần lễ mang đậm màu sắc, lễ nghi Phật giáo

và phần hội vô cùng sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa – thể thao mang đậm bảnsắc dân tộc như: hội hóa trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, họa, điêu khắc, múa tứlinh, thả đèn trên sông, hát tuồng các hoạt động văn hóa như triển lãm thư pháp

và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu

ăn chay thu hút hàng nghìn tăng ni, Phật tử và nhân dân, du khách cùng thamgia

f Cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng:

Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2008, cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế hàngnăm ở Đà Nẵng đã nhanh chóng trở thành một “thương hiệu” du lịch đắt giá củathành phố Đà Nẵng nói riêng và vùng duyên hải miền Trung nói chung; bởi mỗi

kỳ thi thu hút tới hàng trăm nghìn du khách trong và ngoài nước với doanh thu lênđến hàng trăm tỷ đồng

g Lễ Khao lề lính thế Hoàng Sa (Quảng Ngãi):

Đây là lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàngtrăm năm nay nhằm ghi nhận và tưởng nhớ công ơn những “hùng binh” Hoàng

Sa thời xưa, là những người theo lệnh các nhà nước phong kiến, đã đi ra các vùngbiển đảo xa xôi như Hoàng Sa, Bắc Hải (Trường Sa) để tìm kiếm sản vật và cắmmốc biên giới hải phận, xác lập chủ quyền quốc gia, mà không trở về Lễ hội được

tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18, 19,

20 tháng 4 âm lịch hàng năm với nhiều hoạt động phong phú, trong đó đặc biệtnhất là nghi thức thả thuyền giấy ra biển, ngụ ý con dân đất Việt sẽ mãi duy trìviệc ra biển như cha ông thuở trước Vào những ngày diễn ra lễ hội, người địaphương còn tổ chức đắp sửa và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa(dân nơi đây gọi là Mộ gió) Lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tácnghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam, du lịch mà còn thể hiệnđạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hảicủa đất nước

h Lễ hội Đống Đa - Tây Sơn (Bình Định): Tổ chức vào ngày mồng 5 tháng

Giêng âm lịch hằng năm để kỷ niệm trận thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của hoàng đếQuang Trung Nguyễn Huệ Đây là lễ hội lớn nhất nước để tưởng nhớ các thủ lĩnh

Trang 34

của phong trào Tây Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung và kỷniệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, đánh thắng quân xâm lược Mãn Thanh.Ngoài nghi lễ truyền thống, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân giannhư: biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trống trận Tây Sơn, đua thuyền, trò chơi dângian, hát tuồng diễn lại trận đánh lịch sử với những y phục, voi trận như ngàyxưa vua Quang Trung ra trận.

i Festival biển Nha Trang, Khánh Hòa:

Được tổ chức 2 năm một lần vào các năm lẻ, festival biển Nha Trang được cáchãng lữ hành lớn đánh giá là tâm điểm của các tour du lịch mùa hè ở trong vùng.Với gần 60 hoạt động lễ hội truyền thống và hiện đại gắn liền với chương trình hộithảo, hội nghị, hội thi sáng tác văn học nghệ thuật, ẩm thực, biểu diễn ca – múanhạc thời trang… giúp mọi người khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của vùng biển NhaTrang yên lành, thơ mộng Trong thời gian tổ chức festival biển còn có nhiều hoạtđộng thu hút cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường biển Nha Trang

3.1.2 Văn hóa ẩm thực:

Bánh gai Tứ Trụ (Thanh Hóa): Nhắc đến bánh gai thì có rất nhiều làng quê

trong cả nước sản xuất thứ bánh đặc sản này Nhưng ai đã một lần có dịp thưởngthức bánh gai Tứ Trụ của làng Mía, xã Thọ Diên, Huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa thìkhông thể quên được hương vị thơm ngon, đặc biệt của món ăn đậm chất dân dã

Và bánh gai Tứ Trụ từ lâu đã nổi tiếng như một thương hiệu, trở thành món quàkhông thể thiếu với những ai đã từng một lần đến với xứ Thanh

Cam Xã Đoài (Nghệ An): cam không to nhưng đều quả mọng nước, ít hạt

ngọt đậm Bổ cam phải dùng dao mỏng thật sắc và bổ nhanh mới không dập tépđấy nước múi cam vàng óng Họ nhà cam cũng lắm loại nào cam sành, cam chanh,cam giấy, cam đường, cam Bổ Hạ nhưng cam Xã Đoài là quí nhất Sau Cam XãĐoài mới đến Cam Bổ Hạ cũng nhiều nước hương vị thơm ngon Có thể nói: Cam

Xã Đoài chiếm lĩnh thị phần miền Trung còn Cam Bổ Hạ làm vua xứ Bắc, cả haiđều ngon thơm, cả hai đều lừng danh nổi tiếng

Kẹo cu đơ (Hà Tĩnh) : được Làm từ ba loại nguyên liệu: Mật mía - đậu phộng

(lạc) - bánh đa (bánh tráng) Mật nấu sôi sục cho lạc sống vào quấy đều, đúng độ

là múc ra đổ lên bánh đa nướng sẵn rồi ép lên trên chiếc bánh đa nữa là thành

"tấm” kẹo Cu Đơ to dùng cứ như thế cầm cắn ăn cùng với nước chè xanh

Trang 35

Bún Hến Mai Xá (Quảng Trị): là một đặc sản của làng Mai Xá (Gio Mai, Gio

Linh, Quảng Trị) Đây là một món ăn ngon và nổi tiếng ở Quảng Trị Được chếbiến từ những con "Chắt Chắt", chắt chắt thuộc họ hến nhưng có kích thước nhỏhơn con to nhất chỉ bằng hạt bắp

Bánh bèo chén (Thừa Thiên – Huế) :một món ăn đặc sản của Huế không thể

thiếu trong cuộc sống thường ngày Hàng ngày, như đã thành lệ, khoảng từ 3 đến 5giờ chiều, ta vẫn thường bắt gặp ở đâu đó trên các ngõ ngách đường phố Huếnhững người phụ nữ thong thả với đôi quanh gánh nhẹ hoặc chiếc thúng nhỏngang hông Đó là các mẹ, các chị đang đem bánh bèo, bánh lọc vào tận từng nhà

để các “thượng đế” dùng bữa lỡ Người Huế rất thích (và đã thành thói quen) dùngloại bánh đầy hương vị quê hương này vào các bữa ăn phụ Không tốn nhiều tiềnlắm là đã có một đĩa bánh lót dạ với mùi vị thơm ngon, khoái khẩu

Cơm ống: Người Tây Nguyên thức ăn chính vẫn là lúa gạo Do điều kiện địa

lý, khí hậu và công việc trong việc hoạt động nương rẫy nên người Tây Nguyên đãnghĩ ra cách nấu cơm trong ống nứa, bương,vầu Cơm ống thường dùng gạo nếp,phổ biến là dùng gạo nương, một loại gạo tẻ, hạt to, cứng nhưng dẻo Dùng nhữngống (nứa, vầu, bương ) tươi không non hay già quá giữ lại mấu ở một đầu ống và

để hở một đầu Gạo phải vo sạch, ngâm cho hạt gạo nở ra và mềm rồi mới cho vàoống, đổ thêm một ít nước được lấy từ suối nước cho vào gạo rất ít hoặc có thể làkhông có vì lúc này gạo đã mềm và nở ra, nó sẽ chín nhờ hơi nước từ ống giangnon Cuối cùng là dùng lá chuối làm nút, bịt kín đầu còn lại Đốt lửa đặt nhữngống có chứa gạo lên đống lửa xoay ống tròng để cơm chín đều khi thấy ống nứacháy đều hết lớp màu xanh bênh ngoài hay có mùi thơm lúc đó cơm đã chính.Cơm được ăn kèm với thịt nướng trong ống gian

Canh thụt: Nguyên liệu cho món canh thụt là: Gạo, lá rau rừng hoặc lá sắn, lá

ớt nhưng nếu đầy đủ và để đủ vị phải có lá bép, đọt mây, cà đắng Canh có thểđược nấu với thịt rừng tươi hoặc khô, cá suối hoặc thậm chí là ếch nhái đặc biệt làtất cả thường không được làm ruột Các gia vị kèm theo là mắm, ớt, muối Đổnhững nguyên liệu đó vào ống giang và dựng ống nghiêng trên đống lửa để nấu,dùng một chiếc que tre có chiều dài hơn ống để thụt cho nguyên liệu nhuyễn vàtrộn đều với nhau trước và cả trong khi nấu nên vì vậy người ta mới gọi là canhthụt Tất cả các mùi vị đều là tự nhiên và mang đậm đặc trưng núi rừng

Rượu cần: Gọi là rượu cần vì đây là loại rượu duy nhất không uống bằng ly,

chén mà uống bằng một ống dài gọi là cần Cần uống rượu thường dài chừng 1m,được làm bằng ống trúc hoặc làm từ một loại cây T D’rao bằng cách xuyên thủng

Trang 36

lõi theo suốt chiều dọc để hút rượu Nếu là nhà giàu có thuộc dòng quyền quý từxưa thì còn có những cần dài chừng 3 – 4m, được trang trí thêm những lục lạc làmbằng đuôi nhím để tạo ra âm thanh vui tai khi chuyển cần mời rượu, thân của cầnđược cham khắc nhiều hình thù khác nhau Ngoài ra còn có cách gọi rượu ghè,rượu ché (chóe) vì chúng được đựng trong ghè, ché (chóe) làm bằng sành sứ Theoquan niệm của người dân bản địa Tây Nguyên, rượu cần là nước uống của thầnlinh, nên ngoài giá trị vật chất đơn thuần rượu cần còn mang giá trị tinh thần tâmlinh của con người.

Tùy theo phong tục từng nơi, nhưng thường thì nếu là lễ cúng tế thiêng liêngthì người ta uống rượu một cần Rượu phải hòa với tiết của vật hiến sinh, mọingười ngồi quanh ché rượu Trước khi uống người chủ ghè phải cúng xin thầnlinh, đọc lời khấn Người đang uống không được buông cần khi chưa có ngườikhác cầm thay thế, ai đó mà thả cần rượu ra khỏi tay là thất lễ với chủ nhà với thầnlinh Khi trao cần rượu cho người khác phải dùng đầu ngón tay bịt lỗ đầu cần Ché rượu nhiều cần thể hiện sự hòa hợp cái riêng tư của mỗi con người trong cáichung của cộng đồng, như dân làng mỗi người ở riêng mỗi nhà nhưng cùng uốngchung nước một con suối, thì cùng uống rượu chung một ché nhưng mỗi ngườivẫn một cần riêng

Trong tiệc uống rượu cần, nếu có khách từ xa đến thì vấn đề “uống” cũng là cảmột nghi thức phức tạp Người khách sẽ là trung tâm của bữa rượu, được ngồi bêncạnh già làng Chủ nhà thường uống một hớp trước để tỏ lòng chân thành và tỏcho khách biết rượu không có bỏ thuốc độc Còn phía khách, khi được trao cần,khách nên đỡ lấy bằng hai tay, tay trái đặt lên đầu cần, tay phải cầm phần thân cầnsát miệng chóe, nhẹ nhàng vuốt dọc lên rồi uống (nếu vô ý cầm bằng tay trái là có

ý khinh thường gia chủ) Trước khi uống, bao giờ cũng hút một ngụm rồi nhổ bỏ,

vì theo tục xưa, để tránh tình trạng bị đầu độc Sự đề phòng đã trở thành tục lệ gàynay tục lệ này đã bỏ dần Khiuống, chủ nhà thường nhìn thẳng vào mặt khách để

tỏ ý tôn trọng nhưng cũng có thể để xem khách có uống thật tình hay không Người Tây Nguyên uống rượu rất công bằng, cách rót nước vào ché như vậy gọi làđong “kan” Khi rót hết nước trong ca, nghĩa là khách đã uống hết phần rượu

Cà phê của người dân tộc thiểu số: Ở Tây Nguyên người ta có cách uống cà

phê rất độc đáo và mang bản sắc dân tộc vùng núi Để lấy nước pha cà phê, ngườiphụ nữ trong gia đình các đồng bào dân tộc thiểu số thường phải dậy từ 3 – 4hsáng đeo gùi ra suối lấy nước Người đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây uống cà

Trang 37

phê trước khi làm bất cứ việc gì khác Uống cà phê buổi sáng đã trở thành thóiquen của hơn 195.000 người Êđê sống ở Đắk Lắk.

3.2 Những nét văn hóa cổ điển đặc trưng:

a Phong tục tập quán:

Ở bất kỳ tỉnh, thành nào của vùng duyên hải miền Trung, chúng ta cũng bắtgặp những ngôi miếu thờ nữ thần gọi chung là miếu thờ Bà Bà ở đây gồm cảThiên Hậu, Tống Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành, Bà Thủy Long, BàLường… đặc biệt là Thiên Y A Na.Thánh mẫu Thiên Y A Na là vị nữ thần mangtrong mình sự hỗn dung văn hóa Chăm - Việt Điểm cực nam của duyên hải miềnTrung là tỉnh Khánh Hòa thờ Bà trong tháp Pô Nagar ở thành phố Nha Trang, cònphía cực bắc, nơi thờ Bà một cách trang trọng nhất là điện Hòn Chén ở Huế Bà làsản phẩm của sự gặp gỡ giữa Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm (Pô Inư Nagar) vàthánh Mẫu của người Việt Nói cách khác, Thiên Y A Na chính là sự Việt hóa Bà

Mẹ Xứ Sở của người Chăm, mà địa bàn của quá trình Việt hóa này là vùng duyênhải miền Trung

Tại vùng duyên hải miền Trung, các tỉnh, thành tuy cùng thờ phụng Thiên Y

A Na - Bà Chúa Ngọc nhưng ở mỗi địa phương việc thờ phụng có những sắc tháiriêng Nếu như ở điện Hòn Chén, Thiên Y A Na đã bị nhập vào hệ thống TamPhủ, Tứ Phủ, gần như thay thế vị trí trung tâm của thần điện, thì ngược lại, ở Tháp

Bà Nha Trang, vốn là nơi thờ Bà Mẹ Chăm Pô Inư Nagar được thay tên thànhThiên Y A Na và khoác chiếc áo tín ngưỡng của người Việt

Ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), người dân thờ Bà trong một ngôi đền sát cửa biểnnhư một vị thần phù hộ cho người đi biển Còn người Việt, người Cor và ngườiHoa ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) thì thờ Bà trong ngôi đền Trường Bà như vị thầnphù hộ việc buôn bán và hòa hiếu giữa các dân tộc Ở Đà Nẵng, người ta cũng thờ

Bà, nhưng mỗi nơi cũng có những khác nhau Tại miếu Nam Thọ (quận Sơn Trà),Thiên Ya Na được phối thờ với Phật Bà theo hệ thống kinh kệ của đạo Mẫu ở điệnHòn Chén Trong khi đó, một ngôi miếu ở Khuê Trung (quận Hải Châu) thì lạiphối thờ Thiên Ya Na với Ngũ Hành không theo hệ thống của điện Hòn Chén; tại

An Hải (Sơn Trà), Bà được thờ và gọi là Bà Chúa Ghe; tại Ngũ Hành Sơn có miếuthờ Bà gọi Bà Chúa Ngọc Còn ở Hội An (Quảng Nam), Bà được gọi là bà ChúaLồi…

Ngày đăng: 08/05/2014, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w