1 1 BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG ĐỀ BÀI SỐ 05 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TIỀN LỆ PHÁP TRONG HỆ THỐNG NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM KHOA KI[.]
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Trang 3MỤC LỤC
1 Khái niệm tiền lệ pháp
1 Tiền lệ pháp là gì ?
2 Cơ sở hình thành tiền lệ pháp …
3 Tiền lệ pháp trong hệ thống pháp luật các quốc gia …
2 Tiền lệ pháp tại hệ thống pháp luật Việt Nam …
1 Tiền lệ pháp là một loại nguồn của pháp luật …
2 Các con đường hình thành án lệ …
3 Trình tự áp dụng án lệ …
4 Ví dụ án lệ tại Việt nam …
3 Đặc điểm của tiền lệ án trong hệ thống nguồn của pháp luật Việt nam
1 Quy trình lựa chọn và cách thức áp dụng án lệ …
2 Nguyên tắc áp dụng án lệ …
3 Giá trị pháp lý của án lệ …
4 Hạn chế về tiền lệ pháp …
4 Vai trò của tiền lệ pháp trong hệ thống nguồn của pháp luật Việt nam
1 Khái quát vai trò của án lệ …
Trang 41 Mục tiêu án lệ …
2 Bản chất pháp lí và thẩm quyền ban hành án lệ …
3 Tiêu chí và quan hệ tương hỗ của án lệ với những văn bản pháp luật khác
4 Vị thế quyền lực tư pháp và vai trò quan trọng của thực tiễn xét xử …
Trang 5
I Khái niệm về tiền lệ pháp.
1 Khái niệm
Tiền lệ pháp hay phép xét xử theo tiền lệ là một hình thức của pháp luật, theo đó Nhà nước thừa nhận những bản án, quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong các tập san án lệ) làm khuôn mẫu và cơ sở để đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trường hợp có tình tiết hay vấn đề tương tự sau đó Tiền lệ pháp còn là quá trình làm luật của toà án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử
2 Cơ sở hình thành tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, bởi xuất phát điểm của tiền lệ pháp là hình thành từ con đường thông qua quá trình xét xử; phù hợp với chức năng của cơ quan tư pháp và nếu như các cơ quan hành chính cũng ban hành tiền lệ thì không phù hợp với thẩm quyền và chức năng
là cơ quan quản lý – không phải là cơ quan xét xử, tạo nên một sự chồng chéo trong việc hình thành và áp dụng tiền lệ giữa hai cơ quan hành pháp và tư pháp Cho nên, tiền lệ pháp chỉ có thể được hình thành từ hoạt động xét
xử của cơ quan tư pháp, hình thành từ cơ quan tư pháp chứ không phải từ cơ quan lập pháp hay hành pháp Tiền
lệ pháp hình thành từ các cơ quan tư pháp được gọi là án lệ
3 Tiền lệ pháp trong hệ thống pháp luật các quốc gia
Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật đặc thù trong luật pháp của những quốc gia thuộc hệ thống pháp luật
Anh-Mĩ Đặc trưng của tiền lệ pháp thể hiện ở tính khuôn mẫu bắt buộc của nó
Trang 6Việc áp dụng tiền lệ pháp đòi hỏi sự đối chiếu các tình tiết của vụ việc đang xem xét với tình tiết tương tự đã giải quyết để từ đó có thể áp dụng hình phạt hoặc cách giải quyết đã có.
Pháp luật của mỗi quốc gia sẽ quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự thủ tục để tạo ra và áp dụng án lệ Các bản án, quyết định được thừa nhận là án lệ sẽ được viện dẫn làm căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ có tính chất tương tự
Về mặt hiệu lực pháp lý, án lệ cũng có thứ bậc cấp cao, phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ quan tạo ra án lệ Theo đó, cơ quan cấp dưới phải tuân thủ án lệ do cơ quan cấp trên tạo ra
Ở nước ta, tiền lệ pháp đã và đang tồn tại dưới các hình thức như các nghị quyết hướng dẫn xét xử, trao đổi nghiệp vụ tại các buổi tổng kết ngành và dễ thấy nhất là thông qua các quyết định giám đốc thẩm được tập hợp
và phát hành Qua đây, nhiều vướng mắc đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao gỡ vướng và định hướng cho các tòa cấp dưới làm theo
2 TIỀN LỆ PHÁP TẠI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Tiền lệ pháp là một loại nguồn của pháp luật Việt Nam.
Tiền lệ pháp cũng vừa là nguồn, vừa là hình thức của pháp luật Đây là loại nguồn pháp luật khá phức tạp, mặc dù tồn tại phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Với hình thức tiền lệ pháp, pháp luật tồn tại ưong các bản án, quyết định hành chính,
tư pháp Những bản án, quyết định này vốn được các chủ thể có thẩm quyền ban hành để giải quyết những vụ việc cụ thể, đối với những cá nhân, tổ chức cá biệt, xác định danh tính
Trang 7Tuy nhiên, những lập luận, nhận định, phán quyết được chứa đựng trong những văn bản đó rất điển hình, mẫu mực, giải quyết vụ việc một cách khách quan, công bằng, “thấu lí, đạt tình”, chính vì vậy chúng được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận, phát triển thành khuôn mẫu chung để giải quyết các vụ việc khác có tính chất tương tự Những lập luận, nhận định, phán quyết này có thể chưa phải là những quy tắc hoàn hảo để nhà chức trách viện dẫn áp dụng một cách giản đơn mà
có thể chỉ là cơ sở để nhà chức trách bổ sung, phát triển theo những vụ việc cụ thể và xây dựng thành quy tắc để áp dụng giải quyết vụ việc mới.
Trong xã hội hiện đại, nhìn chung các quốc gia trên thế giới thường chỉ thừa nhận tiền lệ pháp do toà án tạo ra, vì vậy ngày nay tiền lệ pháp còn được gọi là án lệ Trên thực tế có hai loại án lệ, một là án lệ tạo ra quy phạm pháp luật, nguyên tắc pháp luật mới, đây là loại án lệ cơ bản, án lệ gắn với chức năng sáng tạo pháp luật của toà án; hai là án lệ hình thành bởi quá trình toà án giải thích các quy định trong pháp luật thành văn Loại án lệ thứ hai là sản phẩm của quá trình toà án
áp dụng và giải thích những quy định do cơ quan lập pháp ban hành Đó là sự giải thích những quy định mang tính nguyên tắc chung, quy định có tính nước đôi, hàm ý rộng, không rõ nghĩa, mập mờ hay có sự xung đột với quy định khác.
Án lệ được hình thành từ hoạt động thực tiễn của các chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể trên cơ sở khách quan, công bằng, tôn trọng lẽ phải nên nó dễ dàng được xã hội chấp nhận Với ưu điểm là linh hoạt, hợp lí, phù hợp với thực tiễn cuộc song , án lệ được coi là một loại nguồn pháp luật chủ yếu của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế là thủ tục áp dụng phức tạp, đòi hỏi người áp dụng phải có hiểu biết pháp luật một cách thực
sự sâu, rộng
2 Án lệ được tạo ra bởi hai con đường
- Thứ nhất, án lệ được hình thành trong quá trình phát triển của thị luật
Trang 8- Thứ hai, án lệ được hình thành trên cơ sở của hoạt động giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án khi
áp dụng pháp luật trong các vụ việc cụ thể Trong hệ thống pháp luật của Pháp và Đức, hầu hết trường hợp, các
án lệ được tạo ra có liên quan đến việc giải thích văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm phán các nước thuộc hệ thống thông luật thực sự có nhiều kinh nghiệm áp dụng và tạo ra án lệ hơn so vớicác đồng nghiệp thuộc các nước trong hệ thống dân luật Tập quán sử dụng án lệ và phương pháp luận của cácthẩm phán trong thông luật đã ảnh hưởng đến tư duy pháp lý của họ khi giải thích các văn bản quy phạm phápluật Khi giải thích văn bản quy phạm pháp luật, các thẩm phán trong thông luật vẫn sử dụng phương pháp luậntheo cách quy nạp thay vì phương pháp diễn dịch như các thẩm phán trong hệ thống dân luật hành văn thựchiện
Thực tiễn này có thể thấy trong các quyết định của Tòa án tối cao liên bang Mỹ liên quan đến các vụ án về giảithích hiến pháp Mỹ Khi đưa ra các quan điểm trong các quyết định của mình, thẩm phán của Tòa án tối cao liênbang Mỹ đã giải thích Hiến Pháp Mỹ với cách viện dẫn đến các án lệ, sử dụng phương pháp lập luận tương tự các
vụ án và sử dụng cách diễn đạt rất dài dòng và chi tiết cho việc giải thích quy định có liên quan của Hiến pháp Mỹtrong một vụ án cụ thể Trái ngược với điều này, thẩm phán của các nước thuộc hệ thống dân luật thành văn sửdụng phương pháp diễn dịch trong giải thích pháp luật
3 Trình tự áp dụng án lệ tại Việt Nam
Căn cứ Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015:
1 Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự
Trang 92 Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng
Như vậy, thứ tự áp dụng là:
1 Quy định pháp luật
2 Tập quán
3 Quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự
4 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
5 Án lệ
6 Lẽ công bằng
4 Ví dụ án lệ tại Việt Nam
Tính đến thời điểm ngày 01/01/2022, đã có 52 án lệ được công bố và áp dụng tại Việt Nam, đơn cử như:
Án lệ số 44/2021: về việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố:
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 10/2021/KDTM-GĐT ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân cấpcao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tư vấn thiết kế” tại Hà Nội, giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần H với bị đơn là Công ty TNHH Thiết kế và Xây dựng P
Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 2 phần “Nhận định của Tòa án”
Khái quát nội dung án lệ: tình huống án lệ Trong vụ án dân sự, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Giải pháp pháp lý Trường hợp này, Tòa án phải xác định yêu cầu phản tố của bị đơn chính là yêu cầu khởi kiện và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện
Trang 10 Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Khoản 4 Điều 60, Điều 159, Điều 176, Điều 178 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004 (tương ứng với khoản 4 Điều 72, Điều 184, Điều 200, Điều 202 Bộ luật Tốtụng dân sự năm 2015); Điểm e, khoản 1, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Từ khóa của án lệ: “Yêu cầu phản tố”; “Xác định thời hiệu khởi kiện”
Án lệ số 45/2021 về xác định các tình tiết định khung hình phạt “ đối với trẻ em và người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” trong tội “dâm ô đối với trẻ em”
Nguồn án lệ: Bản án hình sự phúc thẩm số 395/2021/HS-PT ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án hình sự “Giết người” đối với các bị cáo Nguyễn Bá T, Phạm Hoàng T1, Phạm Quang V, Nguyễn Đinh An K
Vị trí nội dung án lệ: Đoạn 4 và Đoạn 5 phần “Nhận định của Tòa án”
Khái quát nội dung án lệ: tình huống án lệ: : tình huống án lệ Bị cáo cố ý thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại, bị hại bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ là 100% Giải pháp pháp lí Trườnghợp này, Tòa án phải xác định là hậu quả chết người chưa xảy ra, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Điều 15, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổsung năm 2017
Từ khóa của án lệ: “Tước đoạt tính mạng”; “Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 100%”; “Phạm tội chưa đạt”;
“Giết người”
Như vậy, sau nhiều năm mong đợi, cuối cùng Việt Nam đã có những án lệ chính thức đầu tiên được áp dụng từ 01/06/2016 Hy vọng rằng việc áp dụng án lệ tại Việt Nam ngày càng phát triển một cách tích cực và các án lệ Việt Nam sẽ ngày càng hoàn thiện, góp phần xét xử các vụ án một cách nhanh chóng, khách quan và công bằng
Trang 11Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP,
ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ và sau đó được thay thế bởi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, ngày 18/6/2019 để quy định về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ Theo đó, tại Điều 1 của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định về án lệ như sau: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các tòa án nghiên cứu,
áp dụng trong xét xử Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối
xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; Có tính chuẩn mực; Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử Đề xuất bản án, quyết định để phát triển thành án lệ, tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại Nghị quyết này cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, pháttriển thành án lệ
Các tòa án có trách nhiệm tổ chức rà soát, phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mìnhchứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn của Nghị quyết này và gửi cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ Việc lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ quy định cụ thể là: Bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung
đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để các
Trang 12Tòa án, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm tham gia ý kiến, trừ trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết này Ý kiến góp ý được gửi về Tòa
án nhân dân tối cao Thời gian lấy ý kiến góp ý là 30 ngày kể từ ngày đăng tải
Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án
lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết.Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ
Án lệ được xem xét thông qua khi thuộc một trong các trường hợp sau: Được phát triển từ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đã được lấy ý kiến theo hướng dẫn tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết; Được Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất; Được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất; Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành Kết quả biểu quyết phải được ghi vào biên bản phiên họp lựa chọn, thông qua án lệ của Hội đồng Thẩm phán và là căn cứ để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố án lệ.Chánh án Tòa án nhân dân tối cao banhành quyết định công bố án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua Nội dung công
bố cũng được quy định cụ thể tại Nghị quyết Án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Tòa án, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao và được đưa vào Tuyển tập án lệ
để xuất bản Việc áp dụng án lệ trong xét xử được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công
bố Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp
lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án
Trang 13để giải quyết vụ việc thì số, tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý trong án lệ và tình huống pháp lý của
vụ việc đang được giải quyết phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án”; tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích
dẫn toàn bộ hoặc một phần nội dung của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết vụ việc tương tự.Án lệ đương nhiên bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không còn phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định, việc bãi bỏ án lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Án lệ không còn phù hợp do chuyển biến tình hình; Bản án, quyết định có nội dung được lựa chọn phát triển thành án lệ đã bị hủy, sửa toàn bộ hoặc phần liên quan đến án lệ Đồng thời, quy định rõ thủ tục bãi bỏ án lệ bao gồm: Cá nhân, cơ quan, tổ chức, Tòa án kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao xem xét việc bãi bỏ án lệ khi phát hiện án lệ thuộc trường hợp theo hướng dẫn tại Nghị quyết Tòa án đã hủy, sửa bản án, quyết định thuộc trường hợp hướng dẫn tại Nghị quyết này phải gửi báo cáo kèm theo quyết định đã hủy, sửa về Tòa án nhân dân tối cao
để xem xét việc bãi bỏ án lệ trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, báo cáo theo hướng dẫn tại Nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân
và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm