Nội dung nghiên cứu và hướng dẫn du khách về di tích khảo cổ gồm: Vị trí địa lý, tên gọi, những điều kiện tự nhiên và văn hoá để hình thành di tích, thời gian nghiên cứu, khai quật, hiện
Trang 1Thư viện - ĐH Quy Nhơn
VVG010 1 7 0 0 0 2
Trang 2BÙI THỈ HẢI YẾN
Trang 3LỜI NÓI Đổu
Vần hoá là một thực th ể sống động, có sự vện động cả trong không gian và thời
gian Nhìn theo chiều thời gian, văn hoá Việt Nam là một diễn trình lịch sử cố những quy luạt phát triển của nó Nhìn trong không gian, văn hoá Việt Nam có
sự vạn động qua các vùng - xứ - miền khác nhau.
Trải dài từ Bắc vào Nam VỚI dáng hình lưỡi gươm mở nước, việt Nam bao gồm
nhiều vùng sinh thái khác nhau 5 4 tộc người cùng chung sống hoà hợp, đoàn kết
và thân ái, diều dó khẳng dịnh Việt Nam là quốc gla đa tộc người Điều kiện tự
nhiễn, xã hội, lịch sử của các vùng có những nét tương dồng, cố những nét dị biệt
Do vạy, chu trình vận dộng của văn hoá nước ta dược cảm nhận dưới hai chiều cảm
quan và nhãn quan luôn chịu sự tá c đọng của những diều kiện kể trên.
Tác giả cuốn sách là một nhà khoa học nữ, tạn tâm , tạn lực, say mê nghề nghiệp Thạc s ĩ Bùi Thị Hải Yên dã dành nhiều công sức hoàn thành dề tài nghiên
cứu bước đầu phân dịnh tuyến diêm du lịch Việt Nam Ước vọng của tá c giả là phan
nào cung câp dược khối kiến thức cơ bản và tương đối toàn diện về những tuyến
điếm du lịch tiêu biêu, nhằm đáp ứng nhu cẩu đào tạo cử nhân Du lịch học và những người làm công tá c hướng dẫn du lịch Cuôn sách là một công trình khoa học dầy dặn vế sô lượng, phong phú vê nội dung cũng như da dạng trong các mô hình tuyến
diểm dã dược tá c giả chọn lọc.
D ạ t dược sự rành rẽ và mạch lạc trong cấu trúc, văn phong giản dị nhưng tạo dược sức thuyết phục, "Tuyến dlềm du lịch Việt Nam" dem đến cho người dọc những
xúc cảm tố t lành cũng như những tri thức có th ể theo họ suốt hành trình khám
phá vẻ đẹp d â t nước và con người Việt Nam Trong tinh thẩn giáo dục tình yều ĩ ể
quốc, cuốn sách này của tấ c giả Bùi Thị Hải Yến th ạ t sự hữu ích.
Dời người như mây bay, gió thoảng, dài chẳng th o át nểi một lần chớp mắt, sâu chẳng vượt qua một cái nhíụ mày sông, Di và Khám Phá nghĩa là dượr, trải nghiệm nhiều hơn, thú vị hơn, sâu sắ c hơn, vượt lền trên khoảng thời gian hữu hạn mà tạo
hoá chi phối, trước khi chúng ta "hết hạn hành trình"!
3
Trang 4có lẽ chỉ riêng'vậy thối cũng đủ để mỗi người trong chúng ta không phải
nuôi tiếc!
Xin trân trọng giói thiệu với quý bạn đọc "Tuyến điểm du lịch Việt Nam” và xin
chia sẻ niềm vui cùng tá c giả vói công trình khoa học này.
Hà Nội, ngày 2 5 tháng 3 năm 2 0 0 5
Trang 5ChươNq 1
KHÁI QUÁT VÊ ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN.
TÀI NGUYỀN DU ỤCH VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG CỦA VIỆT NAM
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, Đ lỂ ư KIỆN Tự NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VIỆT NAM
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỂU KIỆN T ự NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
T ự NHIÊN
1.1.1 Vị trí đ ịa lý
Nước Việt Nam nằm ở rìa phía tây của bán đảo Đông Dương, gần trung ^ tâm khu vực Đông Nam Á, bao gồm phần đất liền, phần biển và vùng trồi:
♦ Phần đất liền nằm trong khung của hệ toạ độ địa lý từ điểm cực Bắc ở
Vĩ độ 23°23 B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đến điểm cực Nam ở Vĩ độ 8°34B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ỏ Kinh độ 102°09Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và
điểm cực Đông nằm ỏ Kinh độ 109°24Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh,
Chiều dài từ Bắc đến Nam trên phần đất liền khoảng hơn 1.650km; chiều dài theo chiều Đông - Tây nơi rộng nhất trên 500km, nơi hẹp nhất khoảng 50km (ỏ Quảng Bình)
Đường bò biển nước ta dài 3.620km chạy từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến
Hà Tiên (Kiên Giang) Với đặc điểm này tạo điều kiện cho 28 tỉnh thành có thể khai thác tiềm năng của biển Đông để phát triển kinh tế
Nước ta có hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bò và có hai quần đảo ồ ngoài khơi xa trên biển Đông là quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hoà) và quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phô"Đà Nằng)
5
Trang 6♦ Vùng biểrí
Trên vùng biển, hệ toạ độ địa lý của nước ta kéo dài tới khoảng Vĩ độ
—6°30 B và từ Kinh độ 101°Đ đến 117°20Đ tại biển Đông
Vùng biển Việt Nam tiếp giáp với vùng biển của các nưóc Trung Quốc, Campuchia, Philippines, Malaysia, Brunây, Indonesia, Singapore, Thái Lan.Vùng biển nưâc ta bao gồm: vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa
- Vùng nội thuỷ là vùng tiếp giáp vối đất liền, ỏ phía trong đường cơ sở Ngày 12-11-1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố- quy định đường cơ sỏ ven biển để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Vùng nội thuy cũng được xem như
bộ phận lãnh thổ trên đất liền
- Vùng lãnh hải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia trên biển Lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1.852m), chính là đường ranh giới quốc gia trên biển
- Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền của nưốc ven biển Vùng tiếp giáp lãnh hải của nưốc
ta rộng 12 hải lý Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quổc phòng, kiểm soát thuế quan các quy định về y
tế, môi trường, nhập cư
- Vùng đặc quyền về kinh tế lằ vùng tiếp liền với lãnh hải và hợp vối lãnh hải thành một vùng rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; Nhà nưốc ta có chủ quyền về kinh tế nhưng các nưốc khác được đạt ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do hoạt động hàng hải, hàng không theo công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
- Thềm lục địa là phần ngầm dưối biển, lòng đất dưới đáy biển thuộc phần lục địa kéo dài mỏ rộng ngoài lãnh hải cho đến bò ngoài của rìa lục địa
có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam
Như vậy, theo quan điểm trên về chủ quyền quốc gia thì vùng biển Việt Nam là diện tích khoảng trên 1 triệu km2 ỏ biển Đông
♦ Vung trời
Vùng trời Việt Nam là khoảng không gian bao trùm lên trên lãnh thổ nước ta; trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới ngoài lãnh hải và không gian các đảo1
Nguồn: Sách giáo khoa địa lý lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam 2009, tr.13-15; Niên giám thông kê, năm 2006: www.gov.vn
Trang 7Ngoài ra, Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đối gió mùa, được thiên nhiên ưu đãi, không bị khô nóng như khí hậu của các nưốc cùng vĩ độ
Vị trí địa lý nưốc ta gần như ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, khoảng cách
từ Hà Nội đến thủ đô Ran-gun của Myanmar là 1.220km, đến Băng Cốc, Viên Chăn, Pnôm Pênh, Singgapore còn gần hơn khoảng cách này nên thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển du lịch với các nước trong khu vực
Khu vực Đông Nam Á là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, có
sự hợp tác vê nhiều mặt giữa các quốc gia trong khu vực, thuận lợi cho nưốc
ta trong phát triển kinh kế, văn hoá và du lịch
Bên cạnh những thuận lợi về mặt vị trí địa lý nưóc ta cũng còn có một số
Khi xem xét vị trí của các điểm du lịch cần phải nghiên cứu, đánh giá về
vị trí tiếp giáp, toạ độ địa lý, vị trí so với các trung tâm kinh tê văn hoá, du lịch và lợi thế Từ đó luận giải các điều kiện phát triển du lịch của các điểm
- Giai đoạn Tiền Cambri: trải qua hai đại địa chất Đại Thái cổ
(Archeozoic), kết thúc cách ngày nay 2,5 tỉ năm và đại Nguyên cổ kết thúc cách ngày nay 542 triệu năm Nhũng dâu vết địa chất của vỏ trái đất trong giai đoạn này phần lổn chìm ngập dưới các lốp đất đá, còn ít được nghiên cứu Đây là giai đoạn hình thành nền móng ban đầu của lãnh thồ Việt Nam
Các vận động trong giai đoạn này ở nước ta diễn ra tập trung ở khu vực Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ Các đá biến chất cổ phát hiện ở Kon Turn và Hoàng Liên Sơn có tuổi cách ngày nay 2,5 tỉ năm Các sinh vật sông trong giai đoạn này còn ở dạng nguyên sinh: tảo và động vật thân mềm
- Giai đoạn CỔ kiến tạo: Bắt đầu từ kỷ Cambri, cách ngày nay 542 triệu
năm, trải qua hai đại địa chất cổ sinh và Trung sinh, chấm dứt ở kỷ Kreta,
Trang 8cách đây 65 triệu năm Đây là giai đoạn có tính chất quyết định lịch sử phát triển tự nhiên của nước ta Trong giai đoạn này, lãnh thổ nưốc ta có nhiều khu vực chìm ngập dưới nước biển trong các pha trầm tích và được nâng lên trong các pha uốn nếp của các chu kỳ tạo núi: Calêđôni và Hecxini, thuộc đại
Cổ sinh; Inđôxini và Kimêri, thuộc đại Trung sinh
Đất đá của giai đoạn này có cả các loại trầm tích biển như đá vôi tuổi Đêvôn và Cacbon — Pecmi có nhiều ỏ miền Bắc Tại một sô" vùng trũng sụt lún trên đất liền được bồi lấp bỏi các trầm tích lục địa vào đại Trung sinh đã hình thành các mỏ than ở Quảng Ninh, Quảng Nam, các đá cát kết màu đỏ sẫm ở vùng Đông Bắc
Các hoạt động uốn nếp và nâng lên: Calêđôni và Hecxini, thuộc đại cổ sinh diễn ra ở khối thượng nguồn sông Chảy, khối Việt Bắc, địa khốĩ Kon Tum; Inđôxini và Kimêri, thuộc đại Trung sinh diễn ra ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; các dãy núi hướng vòng cung ở Đông Bắc và các khối núi cao ỏ Nam Trung Bộ
Cùng vối các hoạt động uốn nếp, sụt lún là các đứt gãy, động đất vổi các loại đá măcma xâm nhập và măcma phun trào như: granit, riolit, andêzit và các khoáng sản: đồng, sắt, thiếc, vàng, bạc, đá quý
Về cơ bản đại bộ phận lãnh thổ Việt Nam hiện nay đã được định hình từ khi kết thúc giai đoạn cổ kiến tạo
- Giai đoạn Tân kiến tạo: giai đoạn này bắt đầu từ cách đây 65 triệu năm
và đang tiếp diễn đến ngày nay Sau khi kết'thúc các vận động địa chất cổ kiến tạo, lãnh thổ nước ta trải qua một thòi kỳ tương đốỉ ổn định và tiếp tục được hoàn thiện dưới chế độ lục địa, chủ yếu chịu sự tác động của các quá trình ngoại lực Tiếp đến, lãnh thổ nước ta chịu tác động mạnh của vận động tạo núi Anpơ - Himalaya Từ kỷ Nêôgen, cách đầy khoảng 23 triệu năm, cho đến ngày nay và các uốh nếp đứt gãy, phun trào măcma nâng cao và hạ thấp của địa hình bồi lấp các trũng lục địa Trong giai đoạn này, đặc biệt vào kỷ Đệ tứ), khí hậu của trái đất lạnh với những thòi kỳ băng hà, tạo ra tình trạng biển tiến, biển thoái trên lãnh thổ nước ta, mà dấu vết là để lại các thềm biển, cồn cát, các ngấn nước trên vách đá ở các vùng biển và các đảo ven bò
Ảnh hưởng của vận động Tân kiến tạo ở nước ta làm cho một số vùng núi (Hoàng Liên Sơn) được nâng lên, địa hình trẻ lại, các quá trình xâm thực, bồi
tụ được đẩy mạnh, tạo nên các đồng bằng châu thổ rộng lớn (Bắc Bộ, Nam Bộ)
và các khoáng sản có nguồn gôc ngoại sinh như: dầu mỏ, khí tự nhiên, than nâu, bôxit,
Đây là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện các điều kiên tư nhiên làm cho nước
ta có diện mạo và đặc điểm tự nhiên như ngày nay
♦ Địa hình trên lục địa
Nước ta có địa hình đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích đất liền, chủ yêu là đồi núi thấp, núi có độ cao trên 2.000m chỉ chiếm có 1% diện tích
Trang 9Các dãy núi có hưống chính là hưống tây bắc - đông nam và hướng vòng cung, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam ở vùng Tây Bắc tập trung một số đỉnh núi cao như Phan Xi Păng cao 3.143m, Tây Côn Lĩnh cao 2.431m, Kiều Liêu Ti cao 2.403m, Pu Ta Ka cao 2.274m
Cấu tạo địa chất của địa hình núi nước ta gồm đá vôi, đá bazan, đá hoa cương, đá gơ nai, đá sa phiến thạch Trong đó, địa hình đá vôi chiếm khoảng õO.OOOkm2 phân bô' ở nhiều nơi Với ảnh hưỏng của các quá trình địa chất, địa mạo, địa hình đá vôi đã tạo ra nhiều phong cảnh đẹp Theo điều tra chưa đầy
đủ cho thấy ở nước ta có khoảng 400 hang động đá vôi, không những có phong
cảnh đẹp, hấp dẫn du khách mà còn có giá trị về mặt địa chất, lưu giữ các giá trị văn hoá, tài nguyên du lịch có giá trị Đặc biệt Vịnh Hạ Long với một quần thể các đảo đá vôi đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng vối hệ thống núi và hang động đá vôi; Cao nguyên đá Đồng Văn đã được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu
Tên của các đỉnh núi, dãy núi thường mang đặc điểm địa hình và hình dạng của chúng hoặc tên của các nhân vật trong huyền thoại như núi Hoàng Liên Sơn do có nhiều cây thuốc Hoàng Liên, núi Ngự Bình (Bằng Sơn) do có đỉnh tương đối bằng phang, núi Hoành do núi đâm ngang ra biển, núi Tản Viên mang tên của thánh Tản Viên
Sư kết hợp giữa khí hậu, sinh vật, thuỷ văn và địa hình đã tạo cho các vùng núi có phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tham quan
Địa hình đồng bằng khá bằng phẳng, bao gồm: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông cửu Long và các đồng bằng ở Duyên hải miền Trung Các đồng bằng là yếu tô' tự nhiên quan trọng cho việc hình thành, nuôi dưỡng phát triển các nền văn hoá, văn minh ở nước ta, thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch sông nưốc, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá
Đồng bằng sông Hồng có diện tích 1,5 triệu ha, có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đòi và là yếu tô' hình thành nuôi dưỡng nền văn minh sông Hồng, nền văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt
Đồng bằng sông cửu Long với diện tích 4 triệu ha, có lịch sử khai thác lãnh thổ trẻ, không đăp đê, vân đang phát triển, hằng năm tiến ra biển khoảng lOOm, có nhiều vùng ngập nước Ở đây có hệ thông kênh, rạch dày đặc thuận lợi cho việc phát triên du lịch sinh thái (miệt vườn, sông nước)
Đồng bằng Duyên hải miền Trung có diện tích 1,5 triệu km2 phân bô' ở ven biển từ Thanh Hoá đên hết Bình Thuận, là yếu tô tạo nên nền văn minh Đại Việt, văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa và các đồng bằng giữa núi
♦ Biển và bờ biển
Việt Nam có đường biển lên tối 3.260km, tính trung bình cứ lOOkm2 diện tích thì có lkm bờ biển, trong khi trên thế giới trung bình 600km2 thì mới có
Trang 10lkm bò biển Địa hình bò biển nước ta có nhiều cửa sông, vũng vịnh, thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng Đây là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển nhiều thương cảng - thành phô' biển như Hải Phòng, Vũng Tàu, Đà Nằng Thềm lục địa nổng và rộng, biển ấm Nhiệt độ trung bình của nước biển từ 25 - 28°c, vùng biển phía bắc vào mùa đông nhiệt độ nước biển hạ thấp hơn do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Độ mặn trung bình của nước Biển Đông là 34%0, về mùa mưa độ mặn là 32%0 và mùa khô là 35%0 Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưõng, tắm biển, lặn biển
Trong vùng biển của nước ta có hai dòng hải lưu nóng và lạnh, một hải lưu hướng đông bắc — tây nam phát triển về mùa đông, một hải lưu hưống tây nam - đông bắc phát triển vào mùa hạ Ngoài ra, trong vịnh Bắc Bộ còn hai hải lưu nhỏ, thường thay đổi theo hướng gió mùa Những điều kiện này đã tạo cho biển nước ta giàu hải sản, là yếu tô' quan trọng cho việc hình thành và phát triển văn hoá từ xa xưa như Hạ Long, Sa Huỳnh
Biển nưốc ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tê' cao; 650 loài rong biển, 300 loài thân mềm, 300 loài cua, 90 loài tôm, 350 loài san hô Biển nước ta có trữ lượng cá khoảng 3,6 triệu tấn, tầng trên mặt
có trữ lượng 1,9 triệu tấn, tầng đáy 1,7 triệu tấn Ngoài ra còn có 40.000 ha san hô ven bò, 250.000 ha rừng ngập mặn ven biển có sự đa dạng sinh học cao Trong đó có ba khu sinh quyển thê' giới là: Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ (Nam Định), rừng Sác cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh) và VQG Cát Bà (Hải Phòng) Đồng thời nước ta còn có 290.000 ha triều lầy, 100.000ha đầm phá.Biển nưốc ta còn có gần 4.000 hòn đảo trong đó có một sô' quần đảo xa bờ như Trường Sa, Hoàng Sa và nhiều đảo lớn có giá trị về du lịch như Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà
b) Tài nguyên khí hậu
Nước ta có khí hậu nhiệt đối gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm từ
23 - 27°c, lượng mưa trung bình năm từ 500 - 2.000mm, độ ẩm trung bình trên 80%, bức nhiệt xạ là 130 kcl/cm2 Khí hậu có sự phân hoá theo mùa, rõ nhất là sự phân hoá lượng mưa, có tối 90% lượng mưa tập trung từ tháng IV đến tháng X Miền Bắc và miền Nam thường mưa nhiêu vào tháng VI - IX Miền Trung mưa nhiều vào tháng IX - XII Do đó thường gây ra lũ lụt, lở đất gây khó khăn cho hoạt động du lịch
Khí hậu nước ta có sự phân hoá theo vĩ độ:
Từ đèo Hải Vân trỏ ra Bắc là khí hậu á nhiệt có một mùa đông lạnh mưa
ít và một mùa hạ nóng mưa nhiều Giữa mùa đông và mùa hạ là hai mùa chuyển tiếp thu, xuân
Từ đèo Hải Vân đến mũi Cà Mau nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình từ
Trang 11Khí hậu còn có sự phân hoá theo độ cao Cứ lên cao 1.000 mét nhiệt độ hạ
từ 5 - 6°c, cùng với những tài nguyên khác, nhiệt độ hạ thấp đã tạo nên cho đất nước ta nhiều điểm phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ như Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Bà Nà hấp dẫn nhiều du khách
Nhìn chung khí hậu nưốc ta phù hợp với sức khoẻ của con người, thuận lợi cho tổ chức, triển khai nhiều hoạt động du lịch, tạo nhiều tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn
Tuy nhiên, khí hậu nước ta cũng có nhiều thiên tai và những hiện tượng thòi tiết đặc biệt, trung bình mỗi năm có khoảng 10 cơn bão từ biển đổ bộ vào đất liền đi kèm vối gió to và mưa lớn Ngoài ra còn có gió phơn tây nam ỗ miền Trung, gió bụi ỏ Tây Nguyên, gió mùa Đông Bắc Những hiện tượng này thường gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, phá huỷ các tài nguyên du lịch đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn hữu thể
Khi nghiên cứu về khí hậu để tổ chức các hoạt động du lịch nói chung và hoạt động hướng dẫn nói riêng cần nghiên cứu: các đặc điểm chung củá khí / hậu, các chỉ sô khí hậu, các hiện tượng thời tiết đặc biệt, thiên tai Từ đó, tính toán được những thời gian thuận lợi, không thuận lợi của khí hậu để triển khai các hoạt động du lịch có hiệu quả, cũng như luận giải các vấn đề về tự nhiên, văn hoá xã hội
c) Tài nguyên nước
Nưóc ta có tài nguyên nước phong phú gồm nước ngầm và nước trên mặt:
♦ Nước trên mặt: với hệ thống sông, suối, ao, hồ dày đặc, lượng nước dồi dào.
+ Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc vói 2.345 con sông có chiều dài trên lOkm, mật độ trung bình từ 1,5 - 2km sông/lkm2 diện tích, cứ đi dọc bờ biển khoảng 20km lại gặp một cửa sông Tổng lượng dòng chảy của tấ t cả các con sông chảy qua lãnh thô Việt Nam là 853km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trên nước ta chỉ có 317km J Tỉ trọng nước bên ngoài chảy vào nước ta tương đổì lớn, tới 60% so vối tổng lượng nước sông toàn quốíc, riêng đốì vói sông Cửu Long là 90%
Xét về mặt hoá tính, nưốc sông ngòi Việt Nam có chất lượng tốt, độ khoáng tháp (khoảng 170mg/l) Đối với sông lớn, độ pH trung bình từ 7,2 - 8
và hàm lượng chất hữu cơ thấp
Sông ngòi nước ta có chê độ nước theo mùa v ề mùa mưa, lượng dòng chảy chiếm tối 70 - 80% tổng lượng nước cả năm Vì vậy, thường gây lũ lụt và tác động tiêu cực đên hoạt động du lịch, nhất là loại hình du lịch sông nước
Theo hướng của địa hình, sông ngòi thường chảy theo hưởng tây bắc —đông nam đổ ra biển, trừ sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Đông Bắc đô
ra sông Bằng Giang rồi chảy sang Trung Quốc; sông Sê-san, Sêrêpốk đổ vào
hệ thông sông Mê Kông trên lãnh thổ Cam-pu-chia
Trang 12Sông ngòi nưóc ta có nhiều thác ghềnh có thể kể đến thác Đầu Đẳng trên sông Năng, thác Bản Dốc'trên sông Quy Sơn, thác Bạc (Tam Đảo - Vĩnh Phúc), thác Prenn (Đà Lạt) là những điểm du lịch hấp dẫn.
Sông ngòi nước ta có giá trị thuỷ điện lớn với trữ lượng khoảng 30 triệu kW Tiềm năng này tập trung chủ yếu ở hệ thống sông Hồng (37%) và hệ thông sông Đồng Nai (19%) Trong điều kiện hiện nay, nước ta có khả năng khai thác 82 tỷ kWh
♦ Các hệ thống sông lớn ở nước ta
- Hệ thống sông miền Bắc gồm: hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình là
hợp lưu của các con sông: sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Chảy, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Thương, sông Đuống, sông Luộc, sông Kinh Thầy; hệ thống sông Bằng gồm: sông Quy Sơn, sông Kỳ Cùng
+ Hệ thống sông Hồng gồm: sông Hồng, sông Lô và sông Đà Sông Hồng
bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; ỏ độ cao trên 2.000m so với mực nưốc biển Sông Hồng có chiều dài 1.126km, đoạn chảy qua Việt Nam dài 510km; 57% diện tích lưu vực của sông Hồng chảy trên lãnh thổ Trung Quốc; độ dốc bình quân 30% Sông Hồng có nhiều tên gọi khác như: sông Cái, sông Thao (đoạn chảy qua Lâm Thao, Phú Thọ), sông Nhị Hà (đoạn chảy qua Hà Nội)
Sông Đà: bắt nguồn từ Trung Quốc, có' độ dài 1.013km, đoạn chảy qua
Việt Nam (Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Hà Nội) dài 527km Từ Lai Châu trở xuống, sông Đà nhận thêm nước của các sông Nậm Na, Nậm Hu, Nậm Mức
Do lưu vực của sông Đà chảy qua các vùng núi cao của Trung Quốc và Tây Bắc của Việt Nam nên có độ dốc trung bình lớn (26,8%), lưu lượng nưốc lốn nhất 18.000m3/giây Sông Đà chiếm tới 30% giá trị thuỷ điện của hệ thông sông Hồng
Sông Lô: bắt nguồn từ vùng núi Tây Nam Trung Quốc, rồi chảy vào địa
phận vùng Đông Bắc nước ta, có độ dài 469km Đoạn chảy ở Việt Nam dài
276 km, tốc độ dòng chảy lớn nhất đạt 8.040m3/giây Sông Lô có hai hợp lưu
lớn là: sông Chảy có chiều dài 319km, sông Gâm có chiều dài 280km Nhánh sông lớn của Sông Gâm là sông Năng (chảy ở địa phận tỉnh Bắc Kạn) có chiều dài 108km
+ Hệ thống sông Thái Binh: do 3 con sông chính hợp thành (sông cầu dài
288km; sông Thương dài 164km; sông Lục Nam dài 175km) Các con sông này chảy qua địa phận của các tỉnh: Lạng Sơn, Băc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Ninh) Diện tích lưu vực (F) của sông Thái Bình đến Phả Lại (tỉnh Hải Dương) là 15.520km2 Đến Phả Lại, hệ thống sông Thái Bình được nối sông Hồng bỏi sông Đuống, sau đó được chia ra nhiều phụ lưu gồm: sông Kinh Thầy (đoạn chảy ra biển giáp với Quảng Ninh và Hải Phòng có tên là sông Bạch Đằng), sông Kinh Môn, sông Bình Đoạn cuôi của sông Thái Bình chia ra
Trang 13hai nhánh sông Chanh và sông Luộc (sông Luộc cũng là sông nốì giữa sông Thái Bình và sông Hồng).
Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thường có mùa lũ trùng với thời gian mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 10
Ngoài các dòng sông trên, ở vùng Đông Bắc nưốc ta còn có các sông nhỏ ở Quảng Ninh (có F: 4.720km2), sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn (có F: ô.OOSkm2), sông Bằng ở Cao Bằng (có F: ề.õGõkm2) (Sông Kỳ Cùng thuộc hệ thống sông Bằng đổ vào sông Tây Giang ở Trung Quốc)
- Hệ thống sông miền Trung: thưòng bắt nguồn và chảy từ vùng núi
Trưồng Sơn ỏ phía Tây, hoặc vùng núi Tây Bắc của nước ta, chảy qua địa phận các tỉnh ven biển miền Trung, đều ngắn và dốc, hay có lũ đột ngột
Những con sông ỏ miền Trung là những điều kiện quan trọng để tạo nên vùng đồng bằng duyên hải và các nền văn hoá ở đây như: Bàu Tró (Tp Đồng Hới, Quảng Bình), Núi Đọ, Đa Bút, Hoa Lộc, Đông Sơn (Thanh Hoá) Sa Huỳnh, Chăm Pa (phân bố từ Quảng Bình đến hết Bình Thuận), vùng văn hoá xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Huế, xứ Quảng
Sông Mã: còn có tên gọi là Lôi Giang, Mã Tất Giang Sông có độ dài
512km (đoạn chảy trên đất Lào 102km), F: 28.400km2 Sông Mã bắt nguồn từ vùng rừng núi Pu Hua Lông (Mường Lát, Điện Biên), sau đó chảy sang Lào nhận thêm nưốc của một con sông của Lào rồi chảy về Thanh Hoá Tại huyện Thọ Xương (Thanh Hoá) sông Mã hợp lưu vói sông Chu rồi đổ ra biển Đông
Độ cao trung bình của lưu vực sông 760km, đỉnh núi cao nhất hơn 2.000m so với mực nước biển
Từ năm 1255, nhân dân ta đã bắt đầu xây dựng hệ thống đê sông Mã để hạn chê lũ lụt ở vùng này có nhiều tên gọi
Sông Cả: có nhiều tên gọi như sông Lam, sông Bến Thuỷ Sông bắt nguồn
từ vùng rừng núi của Lào rồi chảy sang Việt Nam qua địa phận các tỉnh Hà Tình, Nghệ An Sông có chiều dài 530km (đoạn chảy qua Lào dài 170km) và F: 27.224km2 Thượng nguồn sông c ả có hai nhánh sông lớn hợp nhau tại cửa Rào: Nhánh phải là Nậm Mộ, nhánh trái là Nậm Xơn Từ cửa Rào khi chảy qua Con Cuông (Nghệ An), sông c ả nhận thêm nước của sông Hiếu (có chiều dài 228km) Sông Hiếu bắt nguồn từ dãy núi Pú Hoạt cao 2.452m Cách cửa sông 30km, sông c ả nhận thêm nước của sông Ngàn Sâu (dài 135km, sông này bắt nguồn từ vùng núi Trường Sơn nơi có đỉnh Rào cỏ cao 2.235m)
Sông Gianh: có chiều dài 158km và F: 4.676km2 Thượng nguồn của sông
vùng rừng núi đá vôi của Lào và của tỉnh Quảng Bình, chảy qua nhiều hang động đẹp của vườn quốc gia Phong Nha — Kẻ Bàng Sông Gianh là hợp lưu của các sông: sông Son (sông Troóc), sông Rào Nan, sông Kiến Giang, đoạn chảy qua thành phô' Đồng Hới ra biển có tên là Nhật Lệ Đây là dòng sông lịch sử: diễn ra cuộc chiến tranh giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn từ năm 1627 — 1672
Trang 14Sau đó sông Gianh trỏ thành ranh giới phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài cho đến năm 1789 Sông Gianh được vua Minh Mạng cho khắc vào Chương Đỉnh (trong cửu Đỉnh) đặt trong kinh thành Huế.
ẩong Bến Hải: (sôrig Rào Thành) bắt nguồn từ vùng núi Trưòng Sơn,
chảy dọc theo vĩ tuyến 17 (ranh giới giữa huyện Vĩnh Linh và Gio Linh tỉnh Quảng Trị), rồi đổ ra biển Đông ở cửa Tùng Chiều dài gần lOOkm, chảy từ thượng nguồn được 80km, sông Bến Hải nhận thêm nước của sông Sa Lung; khi chảy qua địa phận làng Minh Lương sông có tên là Minh Lương Đến thòi vua Minh Mạng, tên làng và sông được đổi thành Hiền Lương nên cầu bắc qua đây có tên là Hiền Lương Sông Bến Hải là dòng sông nhớ thương, dòng sông lịch sử; ranh giới phân chia hai miền Bắc — Nam gần 20 năm sau hiệp định Giơnevơ (từ ngày 20-7-1954 đến năm 1972, khi tỉnh Quảng Trị được giải phóng)
Ngoài những dòng sông trên, ở khu vực miền Trung còn nhiều dòng sông khác như: sông Thạch Hãn, sông Hiếu (Quảng Trị); sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu (Thừa Thiên Huê); sông Hàn (Đà Nẵng); sông Thu Bồn, sông Trà Khúc (Quảng Nam, Quảng Ngãi); sông Côn (Bình Định), sông Đà Rằng, sông
Ba, sông Hĩnh (Phú Yên)
- Những sông lớn ở Tây Nguyên và Nam Bộ
+ Hệ thống sông Đồng Nai: bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc thuộc cao
nguyên Langbian ở độ cao 1.770m, sông Đồng Nai là hợp lưu và chia nước cho nhiêu sông thuộc địa phận của tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Đông Nam Bộ Dòng chính của sông Đồng Nai từ thượng nguồn đến khi hợp nguồn với sông Sài Gòn dài 520km Sau khi hợp hai nhánh Đa Dung và Đa Nhim, sông Đồng Nai bao lấy sông La Ngà, sau đó hợp lưu với sông Bé
Sông Sài Gòn: bắt nguồn từ cao nguyên Hoa Quan khi chảy đến mũi
Đèn Đỏ (huyện Nhà Bè) thì nhập vối sông Đồng Nai làm thành sông Nhà
Bè Tại đây, nó tách thành 2 nhánh Lòng Tàu và Soài Rạp Sông Đồng Nai
ra biển Đông qua cửa cần Giờ, nơi đây có khu bảo tồn thiên nhiên thế giới Cần Giờ với sự đa dạng sinh học cao Hàng năm, sông Đồng Nai đổ ra biển 30,6 triệu m:i nước Mùa lũ trên sông diễn ra từ tháng 7 đến tháng 10, có năm xảy ra vào tháng 11
Sông Đồng Nai có trữ lượng thuỷ năng ước đạt 31 tỷ km/h, sông Bé có nguồn thuỷ năng ước tính 9 tỷ km/h
Hiện nay, đã có nhiều nhà máy thuỷ điện được xây dựng như: Trị An vối công suâ't 400 MW, Hàm Thuận với công suất 300 MW, Đa Mi (trên sông La Ngà) với công suất 175 MW, Đa Nhim (trên sông Đa Nhim) với công suất 160
MW, Đồng Nai 3, 4 (trên sông Đồng Nai) với công suất 536 MW
+ Sông Mê Kông: bắt nguồn từ núi Tanghla Shan trong dãy Himalaya
thuộc cao nguyên Tây Tạng, cao 5.000m Sông Mê Kông chảy qua 6 quốc gia:
Trang 15Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam với chiều dài 4.800km, đứng-thứ 7 thê giới Sông chảy vào Việt Nam từ An Giang chia thành
2 nhánh chính (Tiền Giang và Hậu Giang), sau đó chia thành 9 nhánh sông để
đổ ra biển Đông, nên có tên là cửu Long Sông Mê Kông có F: 795.000km2 (ở địa phận Việt Nam có F khoảng 50.000km2)
Hàng năm, sông Mê Kông đưa ra biển 550 tỷ m3nước, sông Mê Kông đã bồi đắp nên các vùng đồng bằng màu mỡ của Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam
Ngoài hệ thốhg sông cửu Long, vùng đồng bằng này còn có hệ thống kênh rạch đào dày đặc thuận lợi cho phát triển giao thông, tưối tiêu, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản và phát triển du lịch sông nưốc
Sông Tây Nguyên, ngoài sông Đồng Nai, vùng Tây Nguyên còn có các sông lớn như sông Sê San sông Sêrêpôk bắt nguồn từ vùng rừng núi Tây Nguyên chảy qua các tỉnh Kon Turn, Đắk Lắk, Đắk Nông rồi đổ vào sông Mê Kông ở Campuchia Nhiều nhà máy thuỷ điện đã được xây dựng tròn hai sông này như: Yaly, Sê San 3, 4 trên sông Sê San; Sre Pok 3, 4, Buôn Knôp, DrâyHLinh (trên sông Sre Pok)
"Núi có tích và sông có nguồn", các con sông của nước ta thường có tên gọi phản ánh đặc điểm của chê độ dòng chảy hoặc đặc điểm của nước, cấu tạo của dòng chảy: như sông Mã vì có tốc độ dòng chảy lớn; sông Hồng vi nước có hàm lượng phù sa cao, có màu đỏ; sông Lam vì nước trong xanh; sông Mê Kông đổ
ra biển bằng 9 cửa nên có tên gọi là sông cửu Long
Khi nghiên cứu về sông phục vụ cho mục đích du lịch cần nghiên cứu tên, nơi xuất phát của sông, độ dài của sông, đặc điểm lưũ vực sông, cấu tạo của dòng chảy, tốc độ dòng chảy, thành phần của nước, đặc điểm nưóc và ý nghĩa
về kinh tế môi trường, giao thông
Nước ta có nhiều hồ lốn tạo phong cảnh đẹp, có giá trị điều hoà khí hậu, cung cấp nưổc, thuỷ sản, có ý nghĩa lớn vối phát triển du lịch nghỉ dưỡng và
du lịch sinh thái
Hồ của nước ta có hai nguồn gốc hình thành:
■ Hồ tự nhiên: Được hình thành do các quá trình kiến tạo và địa mạo, tên gọi của các hồ thường găn vói các truyền thuyết đê giải thích lịch sử hình thành hồ Hồ tự nhiên được phân ra làm các loại:
Hồ được hình thành do quá trình sụt lún ở các vùng đồng bằng không đều,
song do quá trình đắp đê, việc bồi đắp phù sa không được tiếp tục như các hồ nhỏ ở Hà Nội gồm: hô Thủ Lệ, hồ Giảng Võ, hồ Định Công, Linh Đàm, hồ Đông Đa, hồ Ngọc Khánh
Hồ được hình thành do quá trình đối dòng của các sông như Hồ Tây, hồ Hoàn Kiêm, đầm Vạc, đầm Dạ Trạch
Hồ được hình thành do quá trình đứt gẫy của địa hình kết hợp với quá trình địa mạo như hồ Ba Bê (Bắc Kạn), Ba Hồ ở Khánh Hoà
Trang 16Hồ được hình thành từ miệng núi lửa đã tắt như hồ Lắk (Đắk Lắk) hồ Đơn Dương (Lâm Đồng) .
■ Hồ nhân tạo: Được tạo thành do việc đắp đập ngăn các sông SU Ố I để làm thuỷ-điện và thuỷ lợi -nên trong lòng hồ thường có nhiều đỉnh đồi, núi tạo thành các đảo nhỏ Hiện nay, cả nưốc ta có hơn 750 hồ nhân tạo
Khi nghiên cứu về hồ trong hoạt động hưống dẫn du lịch cần nghiên cứu tên, vị trí của hồ, nguồn gôc hình thành hồ, diện tích mặt nước, độ sâu, địa hình đáy hồ, chế độ nước, thành phần nưốc, cảnh quan xung quanh hồ, các sự tích về hồ và ý nghĩa đốỉ với môi trường và các hoạt động kinh tế, du lịch, đòi sống
du lịch
Nưốc ta cũng đã phát hiện được 350 nguồn suôi khoáng, trong đó có 169 nguồn có nhiệt độ trên 30°c Tuỳ theo các nguyên tố vi lượng, nưốc khoáng của nước ta gồm một sô" loại:
■ Nhóm nước cacbonic: Có hàm lượng C02 > 500mg/l như nước khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận)
■ Nhóm nước silic: Có tới 60 nguồn ở miền Trung và Nam Bộ
■ Nhóm nước khoáng brôm-bo-iốt ở đồng bằng Bắc Bộ như nưóc khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh)
■ Nhóm nước suníua hydrô (H2S - HS) >lmg/l
♦ Nhóm phóng xạ: Có ở Phù Lao (Vĩnh Phúc), Tiên Lãng (Hải Phòng)
■ Nhóm sắt, flo, liti
■ Nhóm có thành phần ion và tổng hàm lượng muối cao
■ Nhóm nước khoáng nóng có nhiệt độ trên 35°c như suốỉ Canh Gà (Ninh Bình), Yên Châu (Sơn La), Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Khi nghiên cứu về nước ngầm cần phải nghiên cứu về vị trí của nguồn nưốc, độ sâu, trữ lượng nưóc, thành phần của nước, nhiệt độ nước và phân loại nước, tác dụng của nưốc trong hoạt động du lịch, đòi sống
d) Tài nguyên sinh vật
♦ Hệ thực vật
Tính đến năm 2006, Việt Nam có 12.695.135ha rừng chiêm 38,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó có 10.410.484ha rừng tự nhiên
Trang 17Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng sinh học cao, hệ thực vật có khoảng 14.000 loài thực vật bậc cao có mạch, đã xác định tên được khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển Trong đó có 1.200 loài đặc hữu, hơn 2.300 loài thực vật đã được sử dụng làm lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu, vật liệu trong xây dựng Tỷ
lệ số’ loài thực vật dùng làm dược liệu ở nưốc ta lên tối 28% Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao: khoảng 40% sô" loài đặc hữu
Hệ thực vật nước ta có nhiều loài quý hiếm như gỗ đỏ (afzeliaxylocarpa),
gụ mật (sindorasiamensis), Hoàng Liên chân gà (coptischinensis), ba kích (morindaofficanalis), hoàng đàn (cupressusterrbulosa), cẩm lai (daloergia- bariaensis), pơ mu (fokiamiahodboginsi)
♦ Hệ động vật
Tính đến nay đã xác định được ở nưốc ta có 275 loài thú, 1.009 loài và phân loài chim, 349 loài bò sát và lưõng cư, 527 loài cá nưốc ngọt, khoảng 2.038 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị cao 12.000 loài côn trùng 1.600 loài động vật giáp xác, 350 loài động vật da gai, 700 loài giun nhiêu tơ, 2.500 loài động vật thân mềm, 350 loài san hô được biết tên và khoảng 1.500 loài san hô chưa biết tên
Hệ động vật Việt Nam có mức độ đặc hữu rất cao, 80 loài thú và phân loài thú, hơn 100 loài và phụ loài chim, 7 loài linh trưởng (ỏ Việt Nam có 15/21 loài linh trưởng ỏ khu vực, 10/49 loài chim đặc hữu của khu vực) Trong thập
kỷ 90 còn phát hiện được 5 loài thú lớn, mới cho khoa học như sao la (psendoryxnghetinhensis) năm 1992, mang lớn (megamuntiacusvuquangensis) năm 1993, mang Trường Sơn (caninmuntiacustruongsonnensis) năm 1996, mang Pù Hoạt (mutiacuspuhoatensis) năm 1997, bò sừng xoắn (Pseudonovibos spiralis) năm 1996; loài gà lam đuôi trắng còn gọi là gà Lừng (Lophura Ha Tinh nesis) gây sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và khách du lịch
Hệ động vật Việt Nam còn có một số loài quý hiếm như voi, tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, hổ, báo, culy, vượn đen, voọc vá, voọc mũi hếch, voọc đầu trắng, sếu cổ trụi, cò quắm cánh xanh, ngan cánh trắng, nhiều loại trĩ, nhiều loài chim khác và các loài bò sát, rắn, rùa, động vật lưỡng cư
■ HST rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh, trên núi đá vôi (HST karst)
■ HST xa van nội chí tuyên gió mùa (HST rừng xa van)
■ HST rừng khô hạn
+ HST núi cao gồm các HST núi đá vôi và HST
Trang 18+ HST ngập nước gồm các HST: rừng ngập mặn ven biển, đầm lầy nội địa, sông hồ, san hô, vùng-cát-ven biển, đáy biển, biển đảo, nông nghiệp (HST nhân văn).
Cac HST đặc hữu thường được tập trung bảo vệ ỏ các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên, dựa trên những sự phân bố địa lý, cấu trúc quần thể động vật, thực vật, sự khác nhau về tổ hợp loài, giới hạn
+ ĐVSH Bắc Trung Bộ (Bắc Trường Sơn)
+ ĐVSH Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
+ ĐVSH Đông Nam Bộ
Trong vài thập kỷ gần đây tài nguyên rừng của Việt Nam bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều HST quan trọng đã bị suy thoái và huỷ hoại Độ che phủ rừng của nước ta năm 1943 là 43%, năm 1996 chỉ còn 26,6% Mỗi năm nước ta trồng được 100.000 - 150.000 ha rừng, nhưng diện tích rừng bị phá huỷ hằng năm lên tới 150.000 — 200.000 ha v'
Chính phủ Việt Nam có kế hoạch đến năm 2010 sẽ trồng mới 5 triệu
ha rừng
Tính đến năm 2010 Việt Nam đã có 132 khu bảo tồn trong đó có: 29 khu bảo tồn loài, 32 VQG, 52 khu bảo tồn thiên nhiên, 46 khu dự trữ thiên nhiên,
49 khu bảo tồn sinh cảnh, 8 khu dự trữ sinh quyển th ế giói
8 Khu dự trữ sinh quyển thê giới gồm: Rừng Sác, cần Giờ, Cát Tiên, Cát
Bà, rừng phía tây Nghệ An, khu ngập nước, liên tỉnh đồng bằng sông Hồng,
Cù Lao Chàm, Đất Mũi Cà Mau, u Minh Thượng Nước ta còn có 5 vườn Di sản ASEAN gồm các vườn quốc gia: Hoàng Liên (Lào Cai), Ba Bể (Bắc Kạn), Chư Mom Ray (Kon Tum) và Kon Ka Kinh (Gia Lai), u Minh Thượng (Kiên Giang), đã được công nhận Di sản ASEAN ngày 12-8-2013)
Các VQG là nơi tập trung nhiều HST chủ yếu, có sự đa dạng sinh học cao, nơi tập trung nhiều loài thực động vật đặc hữu, quý hiếm, có phong cảnh đẹp Một trong 3 nhiệm vụ của các VQG là phát triển du lịch sinh thái Vì vậy các VQG hiện nay đã được đầu tư, tổ chức, phát triển thành các điểm tham quan
du lịch
♦ Các điểm tham quan tài nguyên sinh vật
Ở nưốc ta có nhiều điểm tham quan sinh vật thu hút đông đảo du khách
như các VQG, khu dự trữ sinh quyển thê giới, vườn bách thảo, bách thú,
Trang 19các bảo tàng sinh vật biển ỏ Hải Phòng và Nha Trang, các sân chim — vườn chim — miệt vườn ỏ đồng bằng sông cửu Long, các cơ sở thuần dưỡng voi ỏ Buôn Đôn (Đắc Lắc), đảo Rều nuôi khỉ, các cơ sồ nuôi thuỷ sản ở Quảng Ninh; các cơ sở nuôi rắn, trăn, cá sấu ở đồng bằng Sông cửu Long; các vùng biển san
hô ở Nha Trang
♦ Đánh giá chung
Việt Nam có điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú,
đa dạng, đặc sắc Các tài nguyên du lịch tự nhiên có mức độ tập trung cao, có
sự kết hợp, nhiều loại tài nguyên, tạo phong cảnh đẹp, có sức hấp dẫn du khách, có thể xây dựng, tổ chức phát triển thành các điểm du lịch, thuận tiện cho việc phát triển loại hình du lịch sinh thái
Do việc tố chức quản lý chưa đồng bộ, chưa xây dựng và thực hiện được các chiến lược bảo vệ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên chặt chẽ, hợp lý Vì vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên của nưóc ta ở nhiều nơi đã và đang bị suy giảm, cạn kiệt
Do đó, trong hoạt động hướng dẫn du lịch, bên cạnh việc khai thác, cần quan tâm, đóng góp tích cực cho việc bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch tự nhiên.1.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN
1.2.1 T ài n g u y ê n du lịc h n h â n v ă n v ậ t th ể
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể của nước ta phong phú, đa dạng, đặc sắc, mang các giá trị lịch sử văn hoá, gắn liền vói lịch sử hình thành và phát triển của đất nước Bên cạnh những đặc điểm chung, các di tích lịch sử văn hoá có sự thay đổi theo không gian và thòi gian
Từ năm 1962 đên năm 2010, Nhà nước đã xếp hạng được 3.035 di tích gồm: 1.423 Di tích lịch sử, 1.417 Di tích kiến trúc nghệ thuật, 72 Di tích khảo
cổ, 123 thắng cảnh Trong đó có 109 di tích được xếp hạng đặc biệt
Đến năm 2013, nước ta đã có: 2 Di sản thiên nhiên, 5 Di sản văn hoá; 8 Di sản phi vật thể và truyền miệng; 3 Di sản tư liệu được UNESCO công nhận là
Di sản văn hoá của thê giới
2 Di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận gồm: Vịnh Hạ Long (lần 1 ngày 17-12-1994, lần 2 ngày 2-12-2000); Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tháng 7-2003)
5 Di sản văn hoá được UNESCO công nhận là: Quần thể di tích Cô đô Huế (thángl2-1993); Phô' cô’ Hội An (ngày 4-12-1999); Thánh địa Mỹ Sơn (ngày 4-12-1999); Hoàng thành Thăng Long (ngày 31-7-2010); Thành nhà Hồ (ngày 27-6-2011)
8 Di sản phi vật thể và truyền miệng được UNESCO công nhận gồm:
2 Di sản phi vật thể và truyền miệng kiệt tác của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế (ngày 7-11-2003); Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên (ngày 15-11-2005)
Trang 204 Di sản phi vật thể.và truyền miệng đại diện của nhân loại: Dân ca quan
họ (ngày 30-9-2009); Hội Gióng (ngày 9-10-2010); Tín ngưõng thò cúng Hùng Vương (ngày 6-12-2012), Dờn ca tài tử (ngày 5-12-2013)
Ể"Di sản phi vật thể và truyền miệng của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp: Hát Xoan (ngày 24-11-2011); Ca trù (ngày 1-10-2009)
3 Di sản tư liệu thuộc "Chương trình ký ức thế giới" được UNESCO công nhận là: Mộc bản triều Nguyễn (ngày 31-7-2009); Bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám (ngày 9-3-2010); Mộc bản Kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (ngày
16 5-2012)
♦ Các di tích khảo cổ
Do có các điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên tự nhiên thuận lợi nên những ngưòi cổ đại đã sinh sống và cư trú ỏ nưốc ta khá sốm từ hơn 30 vạn năm về trước Họ là tổ tiên của chúng ta ngày nay Họ là chủ nhân sáng tạo
ra các nền văn hoá và văn minh ở nưốc ta Từ nền văn hoá Núi Đọ - Sơn Vi đến nền văn minh sông Hồng, văn hoá Đại Việt Những giá trị văn hoá lịch sử của các nền văn hoá, văn minh của các nước cũng như ỏ nước ta được lưu giữ, bảo tồn trong các lớp đất đá, hoặc dưới đáy biển, trên các con đường thương mại Tại những vị trí này, khi được các nhà khảo cổ nghiên cứu, sưu tầm, khai quật thấy các dấu tích kiến trúc, mộ cổ, cổ vật, dấu tích tự nhiên thuộc những thời kỳ lịch sử nhất định được các cơ quan văn hoá công nhận gọi là Di tích khảo cổ hoặc di chỉ khảo cổ
Tính đến ngày 30-12-2010, trên phạm vi cả nưốc đã có 72 di tích khảo cổ được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thê giới
Các di tích khảo cổ nổi tiếng ở nưốc ta đã được bảo tồn và có thể khai thác phát triển thành các điểm tham quan du lịch như: Núi Đọ (Thanh Hoá); Sơn
Vi (Lâm Thao, Phú Thọ); Đa Bút, Hoa Lộc, Đông Sơn, hang Con Moong (Thanh Hoá); hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn); di chỉ Đồng Mang, Xích Thô, Soi Nhụ, Thoi Giếng, các hang Đầu Gõ và Mê Cung (Bái Tử Long,
Hạ Long, Quảng Ninh); Cái Bèo (Cát Bà, Hải Phòng); Kinh Kê (Lâm Thao, Phú Thọ) thuộc văn hoá Phùng Nguyên; Minh Tân (Yên Lạc, Vĩnh Phúc) thuộc văn hoá Đồng Đậu; Tứ Xã (Phong Châu, Phú Thọ) thuộc văn hoá Gò Mun; hang Đồng Nội và hang Đồng Thớt (Lạc Thuỷ, Hoà Bình), khu mộ cổ Đống Thếch (Kim Bôi, Hoà Bình) thuộc nền văn hoá Hoà Bình - Băc Sơn; hang động Người Xưa (vườn quốíc gia Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình) thuộc nền văn hoá Hoà Bình — Bắc Sơn; Hang Muối (Tràng An, Ninh Bình); Bàu Tró (Tp Đồng Hới, Quảng Bình) Những di chỉ thuộc nền văn hoá Sa Huỳnh: Long Thạnh, Thạnh Đức, Phú Khương (Sa Huỳnh, Quảng Ngãi); Cương Hà, Cổ Giang (Quảng Trị); Xóm cồn, Hòn Tre (Khánh Hoà); Dâu Dây, Hàng Gòn (Đồng Nai) Những di chỉ thuộc văn hoá Chăm Pa: Thánh đại Mỹ
Trang 21Sơn, Kinh đô Trà kiệu (Quảng Nam); Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), thành cổ Hoa Lư (Ninh Bình)
Những địa phương có nhiều di tích khảo cổ được xếp hạng cấp quốc gia nhất: Hoà Bình (11 di tích), Lạng Sơn (9 di tích)
Nội dung nghiên cứu và hướng dẫn du khách về di tích khảo cổ gồm: Vị trí địa lý, tên gọi, những điều kiện tự nhiên và văn hoá để hình thành di tích, thời gian nghiên cứu, khai quật, hiện trạng diện tích khai quật và phát lộ các nền văn hoá, tầng văn hoá cùng vối các dấu tích kiến trúc nghệ thuật, các cổ vật, mộ cổ, vật liệu xây dựng, dấu tích tự nhiên tìm thấy của khu di tích, hiện trạng bảo tồn, quản lý, giá trị khoa học và xếp hạng
♦ Các di tích lịch sử
Đất nưốc ta trải qua mấy ngàn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm và giặc thiên nhiên Với truyền thống uống nưốc nhớ nguồn, ơn nhớ tổ tiên, do vậy nước ta có nhiều di tích lịch sử được nhiều th ế hệ người Việt Nam giữ gìn
Tính đến ngày 30-12-2010, trên cả nưốc có 1.423 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có nhiều di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá loại đặc biệt Đây là nguồn tài nguyên quý giá góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá lịch sử, truyền thống yêu nưốc, biết ơn tổ tiên cho các thế hệ hiện tại và tương lai Đồng thời các di tích lịch sử cũng là nguồn lực để quy hoạch phát triển thành các điểm tham quan du lịch về nguồn Các di tích lịch sử ở nước ta gồm:
Các di tích ghi dấu những sự kiện quan trọng tiêu biểu, có ý nghĩa quyết định phương hướng phát triển của đất nưóc, của các địa phương: Khu di tích Đền Hùng, tín ngưõng thờ cúng Hùng Vương ở Phong Châu, Phú Thọ; Bến Bình Than (Nam Sách, Hải Dương), khu rừng Trần Hưng Đạo - nơi thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân 22-12-1944 (Hoa Thám, Yên Bình, Cao Bằng); ở Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh có: nhà cụ Đàm Thi họp bàn chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, nhà cụ Hương Bổng họp Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng ra Chỉ thị nổi tiếng "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"; Khu di tích Tân Trào (Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cay đa Tân Trào); Nhà Con Rồng; Nhà D67; T78; cột cò Hà Nội; Cửa Bắc; khu di tích Hoàng thành Thăng Long; khu di tích sông Bến Hải - cầu Hiền Lương; bảo tàng Quang Trung và di tích Tây Sơn (thị trấn • Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định)
Các di tích ghi dấu chiên công chống quân xâm lược: sông Bạch Đằng; gò Đông Đa; Điện Biên Phủ; Đông Khê, Thất Khê - Cao Bằng; Ải Chi Lăng; cầu Hàm Rồng; Thành cổ Quáng Trị, Khe Sanh — Hướng Hoá (Quảng Trị); địa đạo
Củ Chi; đĩa đạo Vĩnh Mốc; ngã ba Đồng Lộc
Các di tích ghi dấu những kỷ niệm: Côn Sơn - Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương), đền thò và các di tích gắn liền với gia đình Nguyễn Trãi ở Nhị Khê,
Trang 22Thường Tín, Hà Nội;.khu di tích Nguyễn Du ỏ Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; khu đền thò Chu Văn An ở Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương; từ đường Phan Bội Châu ở thành phố Huế; nhà lưu niệm Nguyễn Văn Cừ - Ngô Gia Tự (Từ Sơn, Bắc Ninh); những khu di tích gắn với cuộc đòi và sự nghiệp Chủ tịch
Hồ Chí Minh ở Pắc Bó (Cao Bằng); Kim Liên, Nam Đàn (Nghệ An); Dương Nỗ (Tp Huê); bến cảng Nhà Rồng (Tp Hồ Chí Minh); đền thờ bến Dược, các nghĩa trang liệt sỹ: Trưồng Sơn, đường 9, Tp Hồ Chí Minh, Tp Sơn La
Di tích ghi dấu tội ác của thực dân, đê quốc như các nhà tù: Côn Đảo, Phú Quốc, Lao Bảo, Hoả Lò, Sơn La, Phú Lợi, làng Sơn Mỹ Khu tưởng niệm tội ác của đế quốc Mỹ ở Khâm Thiên
Nội dung nghiên cứu và hưống dẫn tại các điểm tham quan di tích lịch sử gồm: vị trí địa lý, tên gọi, diện tích, cảnh quan, các công trình kiến trúc, các dấu tích lịch sử, quá trình xây dựng trùng tu bảo vệ quản lý di tích; những diễn biến, chiến công, ý nghĩa của các sự kiện lịch sử; tiểu sử cuộc đời, những đóng góp hy sinh của các nhân vật lịch sử hoặc những minh chứng vê tội ác của thực dân, đê quốc; các giá trị thơ ca, truyện kể về các di tích và các danh nhân lịch sử Nội dung, phương pháp hướng dẫn về các di tích lịch sử mang tính giáo dục truyền thông yêu nước và lòng biết ơn đối vối những thê hệ đi trước và tinh thần trách nhiệm xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quôc, yêu chuông hoà bình, đoàn kết hữu nghị cho du khách
Tính đến năm 2010, cả nước có 132 bảo tàng, trong đó có 92 bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch quản lý, 26 bảo tàng thuộc hệ thống bảo tàng quân đội và 13 bảo tàng thuộc các bộ ngành khác Ngoài các di tích được xếp hạng quốíc gia, nước ta còn có 6.646 di tích có ý nghĩa địa phương
Hà Nội, Huế, Tp Hồ Chí Minh là những thành phô" có sô" lượng các di tích lịch sử văn hoá nhiều và chất lượng cao, thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các trung tâm du lịch, các điểm, tuyến du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thế ở nưốc ta gồm di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích khảo cổ, các công trình đương đại Trong đó, các dĩ tích kiến trúc nghệ thuật như chùa, đình, đền, nhà thò, nhà cổ, lăng tẩm, cung điện chiếm sô" lượng lớn, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật văn hoá có giá trị, là những điểm tham quan, nghiên cứu hấp dẫn du khách
Các di tích kiến trúc nghệ thuật ở nước ta có một sô đặc điểm chung như sau:
- Chịu ảnh hưởng nhiều của phong cách kiến trúc mỹ thuật phương Đông,
từ thê kỷ XIX có ảnh hưởng nhiều của phong cách kiên trúc phương Tây
- Được quy hoạch xây dựng tuân theo nguyên tắc phong thuỷ của phương Đông và quan niệm âm dương trong Kinh dịch
- Vê mặt vị trí, đạt được các đặc điểm có long chầu, hổ phục, có tiền án, hậu trẩm và minh đường, thường lấy thiên nhiên tô điểm cho kiên trúc, nơi nào thiêu các yêu tô tự nhiên thì tạo ra phong cảnh như đào hồ, trồng cây để
Trang 23trang trí cho công trình và có kiến trúc hài hoà vối thiên nhiên, thường được
xây dựng ở những nơi có phong cảnh đẹp.
- Tên gọi của các công trình hoặc các bộ phận cấu trúc của công trình, hệ thống hoành phi câu đối, đại tự đều có ý nghĩa triết học, là những câu văn hay, xúc tích, những từ mang ý nghĩa triết học
- Các công trình được bố trí xây dựng theo lối đăng đối, có trậ t tự, các công trình chính thường nằm trên trục dũng đạo, các công trình khác được bô' trí đăng đối, có trậ t tự tiền, hậu, tả, hữu
- Phần lốn các di tích được xây dựng bằng vật liệu truyền thống quý, kết hợp hài hoà các giá trị văn hoá, kiến trúc nghệ thuật giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ và văn hoá phương Tây
Đặc điểm và các giá trị kiến trúc nghệ thuật phụ thuộc vào các chức năng của các di tích nên mỗi loại di tích lịch sử có kiểu dáng kiến trúc mỹ thuật riêng.Trong các di tích lịch sử văn hoá, thường là nơi thò các nhân vật gắn liền với điển tích, công lao của các nhân vật và là nơi diễn ra các lỗ hội
Mỗi di tích lịch sử văn hoá thường thể hiện những đặc điểm chung về kiến trúc mỹ thuật của từng thời đại, mang tính phân vùng và phù hợp với điều kiện địa lý tại chỗ
Chùa
Trong kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, chùa có vị trí quan trọng, chiếm sô' lượng lốn Có nhiều ngôi chùa trở thành các điểm tham quan nghiên cứu hấp dẫn với du khách
♦ Những giá trị nổi bật của chùa Việt N am
Chùa là nơi thờ Phật, bắt nguồn từ chữ thù pa (tiếng Pali) hay stupa (tiếng Sansrit) (tháp), Ấn Độ
Lịch sử ra đời và phát triển của chùa gắn liền với sự du nhập và phát triển của đạo Phật ở nước ta và lịch sử phát triển của đất nước
Chùa gắn liền vối đòi sông văn hoá tinh thần của người Việt Nam, được phát triển theo thời gian và phân hoá theo không gian, làng nào cũng có chùa (đất vua chùa làng) Chùa ở Việt Nam gồm có chùa làng và chùa nước Chùa nước thường là những ngôi chùa có lịch sử hình thành và phát triển sớm, có vị trí về phong thuỷ và phong cảnh đẹp, có quy mô lốn, có giá trị về văn hoá lịch
sử, tôn giáo và thường là nơi tu hành của những vị cao tăng Vì vậy, những' ngôi chùa nước thường là những điểm tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch và thu hút nhiều tăng ni, phật tử đến chiêm bái
Các giá trị kiên trúc, lôi kiên trúc của chùa thay đổi theo không gian và thời gian
Ở miền Bắc: Thời kỳ đầu, chùa có kiến trúc dạng tháp như tháp Hoà Phong, chùa Nhất Trụ, chùa Một Cột, sau đó có kiến trúc chữ Nhất (—), kiến
Trang 24trúc chữ Đinh (T), bái đưòng nối vối thượng điện (đôi khi gọi bái đường là chùa hộ vì có tượng họ pháp).
Kiểu kiến trúc chữ "Công" (X) gồm: tam quan, bái đưòng, đại bái, nhà hộ, thiêu4iương, thượng điện
Kiểu kiến trúc "nội công, ngoại quốc" gồm: tam quan, đại bái, thiêu hương, thượng điện, dải vũ, nhà thờ tổ, nhà tăng, nhà khách
Kiểu kiến trúc chữ "Tam" (H.) gồm: 3 nếp nhà, hoặc kiểu chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng
Chùa miền Trung thường có lôi kiến trúc chữ "Khẩu" ( p ), chữ "Nhị" (X).Chùa miền Nam thường có đường góc ngắn, giống kiểu bánh ít (chùa Giác Lâm, Giác Viên, Vĩnh Tràng), có kiến trúc chữ "Tam" hoặc "nội công, ngoại quốc", thường có tháp thờ Phật ở phía trước và tháp xá lị cộng đồng ỏ phía sau
- Chùa các dân tộc:
Chùa của dân tộc Mường thường làm bằng tre, nứa
Chùa của người Khơ-me có nóc nhọn, xung quanh có cột, góc uôn cong giống chùa Cam-pu-chia, Thái Lan
Hệ thống tháp: tháp phía trước có tháp tàng kinh, tháp chuông hoặc tháp thờ Phật Sau chùa thường có tháp để xá lị hoặc tro các nhà sư
Điện Phật phát triển theo thời gian, quan niệm tôn giáo Điện Phật lúc đầu chỉ có tượng Thích Ca, sau đó ở miềp Bắc chịu ảnh hưởng của phái Bắc Tông, thò tượng các vị Bồ tát, nhiều Phật tổ đăng truyền đạo Phật (28 vị)
và các thiên thần của đạo Phật Việt Nam
Ngoài thò Phật, do sự hoà đồng các tín ngưỡng, văn hoá bản địa nên chùa còn thò mẫu, người có công với nước, người có công đúc tượng xây dựng chùa
- Cách bài trí tượng trên Thượng điện:
Trên cùng là tượng Tam thế: tượng thò các vị Phật của tất cả thế gian ở 3 khoảng thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai Tiếp đó là tượng Tam tôn: giữa là Thích Ca, một bên là Bồ tát Quan Thế âm, một bên là Bồ tát Đại Thê trí (tịnh độ A di đà) Hoặc là các tượng hai bên được thay bằng tượng Ananđa
Bồ tát và Ca diếp Bồ tát Tiếp theo là tượng Thích Ca sơ sinh: hai bên có tượng Phạm Vương và Đê Thích, ngoài ra hai bên chùa còn có tượng Văn Thù
Sư Lợi, Phô Hiền Bồ tát và tượng Đức Ông
ở ngoài bái đường thường có tượng Hộ pháp Ngoài ra các chùa ở phía bắc
còn có tượng thập vị Diêm Vương, Bát Bộ Kim Cương, ở nhiều chùa còn có các
hệ thông tượng thò mẫu, hoặc người có công xây chùa, có công với nước
Tượng Quan Thê âm Bồ tát gồm nhiều dạng như Tượng Chuẩn để — Thiên thu thiên nhãn — Quan Âm Toạ Liên, Quan Âm Nam Hải, Quan Am Tông Tử (Đồng Tử), hình Thị Kính ẵm đứa bé
Tượng Thích Ca thường có các kiểu tượng: Tuyết Sơn, Thích Ca ngồi trên đài sen, Thích Ca niết bàn và toà Cửu Long
Trang 25Hệ thống chùa tứ pháp ỏ phía Bắc có tượng thò các vị thần Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
Điện Phật ỏ miền Nam theo phái Nam Tông, thường chỉ thờ tượng phật Thích Ca Phía trước thò phật Thích Ca, sau thồ các vị tổ của chùa (có nhiều chùa có tháp để xá lị cộng đồng)
+ Nơi biểu diễn kịch, nghệ thuật, tiến hành lễ hội
Đình có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống cộng đồng, đã có những câu ca dao, tục ngữ gắn liền với đình:
"Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng đều toét chứ mình em đâu".
"Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu".
"Do ta kéo gỗ làm đình Con gái vô tình để cả rốn ra"
Việc xây dựng đình có ý nghĩa quan trọng với đời sống dân làng như xây chùa
Đình có từ lâu, lúc đầu như các quán, miếu qua đường, tối thê kỷ XVI đình phát triển nhiều Thê kỷ XVII là sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc đình Những đình nổi tiếng được xây dựng trong thời kỳ này là đình
Lỗ Hạnh (xây dựng năm 1576), đình Tây Đằng thê kỷ XVI, đình Diềm (1632), đình Bảng (1736).“
Kiến trúc của đình thường có kiểu chữ "Nhất" (—), chữ "Công" (X), chữ Đinh (T), dài không quá 30m, rộng không quá 16m (7 gian, 2 chái, hoặc 5 gian 2 chái)
Sàn đình cách mặt đất 0,6 — 0,8m, thường có thứ bậc (Tiền tê, Phương đình), để quy định thứ bậc ngồi trong đình
Kiến trúc của đình thể hiện giá trị nghệ thuật điêu khắc cao hơn hẳn so với các loại hình kiến trúc khác, là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, đời sông hăng ngày cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam
Điêu khắc trang trí cho biêt người thợ làm đình là những nghệ nhân không những thạo làm đình mà còn khéo léo chạm trổ tô điểm cho đình Có những đình như Tây Đăng, Chu Quyên hầu như không có phần gỗ nào là không được chạm khắc, vừa để che những phần kết cấu gỗ thừa, giảm phần thô, vừa được coi như ý đồ của nghệ nhân
Trang 26Một ngôi đình thường do 2 nhóm thợ làm, tạo 2 phần kiến trúc đối xứng
và đa dạng với các đề tài điêu khắc: hình rồng đùa giỡn, nàng tiên nước, thổi sáo, ngựa bay, voi lồng, chèo thuyền uống rượu
T Đình Tây Đằng; đình Chu Quyến có nhiều bức tượng xinh xắn, ngộ
nghĩnh trên các giá đỡ được gắn vào các cột và đầu dư
+ Đình Lỗ Hạnh có hình cá chép hoá rồng, đầu rồng đuôi cá, hươu trong mây, nàng tiên trên lưng hươu
+ Đình Thổ Hà có những điêu khắc hình thú kỳ dị, trần trụi Có bức cửa võng chạm lộng, chạm bong tinh xảo, trau chuốt
+ Đình Thổ Tang và Ngọc Canh ỏ Vĩnh Phúc có các bức phù điêu chuỗi dài với các hoạt cảnh gồm 2 đến 3 tầng, có hình ảnh các nhân vật đi cày, đi săn,
đá cầu, đấu võ, hội làng, ít hoa lá, chủ yếu là hình tượng ngưòi
+ Đình Bảng, đình Hồi Quan, Đình Diềm: Nghệ thuật chạm bong nhiều lớp Ớ các bức chạm phù điêu, nghệ thuật chạm nuột nà, khéo léo, các nét chạm súc tích, các ô hình học trang trí lộng lẫy Có nhiều bức cửa võng được chạm thủng tinh xảo, khéo léo đạt trình độ nghệ thuật cao
+ Đình Hoành Sơn, Trung cần (Nghệ An) có các bức chạm phù điêu, chèo thuyên, quan văn vinh quy, thi văn, đánh cờ, cất vó, úp cá, gánh mạ, cấy lúa + Đình Phù Lão (Bắc Giang) xây dựng năm 1688, các bức chạm khắc thường có hình đầu rồng, râu rồng, có hình phụ nữ ngồi vén váy một mình hoặc ngồi vối bạn trai (khát vọng yêu đương)
Từ Quảng Bình trỏ vào, đình không còn nhiều trang trí trên gỗ nữa, kết cấu gỗ to lớn, đồ sộ, trang trí đắp nổi vôi vữa, gắn các mảnh sành, sứ ở mặt ngoài Kiến trúc các mái trang trí tứ linh, rồng chầu mặt nguyệt trên nóc, ở hai đầu hồi trang trí hình dơi xéo cánh, hình tượng cầu phúc
Đình ở miền Nam cũng có lốì trang trí đắp nổi mặt ngoài gần giông đình ở miên Trung song trang trí có phần khác Bôn đầu cột ở chính điện được trang trí hình rồng, cũng có khi chạm ròi bên ngoài ốp vào (đình Long Sơn, Tân Sơn, Cháu Đốc)
Đình làng Thiên Mỹ (thị trấn Trà Ồn - Vĩnh Long) vối bốn cây cột làm bằng gỗ cẩm xe, các hình tứ linh quay vào nhau cân đối, dưới là rùa, rồng, phượng.Ngoài Long trụ, đình miền Nam thường có các Bao lam, trưốc các điện thò có: hình tứ linh, cá chép hoá rồng, hổ, bát tiên, mây, hạc sơn son thiêp vàng rực rỡ, đôi khi có các bức bình phong điêu khắc công phu)
♦ Thần và tín ngưỡng ở đình
Đình thờ Thành Hoàng làng, có nguồn gốc từ Trung Quốc
Tín ngưỡng Thành Hoàng làng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc Năm 823, Lý Nguyên xây La Thành đã phong Tô Lịch làm Thành Hoàng, Lý Công Uân năm 1010 phong Tô Lịch làm Quôc Đô Thăng Long là Thành Hoàng Đại Vương Thời Trần lại phong là Thần Bạch Mã (thò ở sô 76 hàng Buồm)
Trang 27Thành Hoàng gổm:
■ Thiên thần: Thánh Tản Viên (ỏ chùa Tây Đằng)
■ Nhân thần: Có thể là các nhân vật lịch sử: Ngô Quyền, Phùng Hưng, Nguyễn Công Trứ, các tướng của Hai Bà Trưng, có thể là các nhà sư thồi Lý như Không Lộ, Minh Không, Từ Đạo Hạnh
Miền Trung và miền Nam: Thiên Thần Cao Sơn, Cao Các, Thiên Yala, thần cây, thần núi, cá voi, cá ông (nhiều khi gắn với tín ngưỡng phồn thực)
■ Tiền thần: Những người có công lập làng
■ Tiền sư: Ông tổ họ của làng, tổ nghề
■ Hậu th ần (hậu bia): Làng cúng giỗ khi chết là những người hương công, tiền, ruộng cho làng để xây đình, giảm thuế, nộp tiền kiện, tiền th u ế cho làng Thời hậu Lê có nhiều hậu thần là phụ nữ được thờ
Đền
Đền là những công trình kiến trúc nghệ thuật, thồ các vị nhân thần, thiên
thần, những danh nhân, anh hùng dân tộc Đền có lịch sư phát triển gắn liền ^ với lịch sử dựng nước và giữ nước Vì vậy, đây là một loại di tích lịch sử văn hoá có lịch sử phát triển lâu đòi nhất ở nước ta, thường được xây dựng ỏ những nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nơi sinh hoặc mất của các thần điện
Đền có các mảng điêu khắc, các nhang án, đồ tế tự, tượng, hoành phi thường được sơn son thiếp vàng có giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật, các cong trình kiến trúc thường găn liền với các truyền thuyết, các lễ hội đế’ tôn vinh các thần điện hoặc danh nhân, các anh hùng dân tộc Ví dụ: Đền Hùng, đền Tản Viên, đền cổ Loa, đền Phủ Giầy
Nhà Thờ
Kiến trúc nhà thò gắn liền với đạo Thiên chúa, được du nhập vào nước ta khoảng cuối thê kỷ XVI, các nhà thờ ngày nay phần lớn được xây dựng vào cuối th ế kỷ XIX, có kiến trúc Gô tích
Nhà thò thưòng mang phong cách kiến trúc phương Tây, có sự ảnh hưởng của phong cách kiên trúc bản địa (chạm khắc trên gỗ, trên đá hình tứ linh tứ quý, bát quái )
Nhà thò thương có kêt câu theo chiêu sâu, mái vòm, có các tháp vươn cao
để phù hợp với chức năng và quan hệ tôn giáo Vật liệu xây dựng nhà thờ thường là xi măng cốt sắt Quy mô kiến trúc của nhà thò thường to lổn, uy ■nghi và ít thanh thoát hơn so với kiến trúc truyền thống Đồng thời kiến trúc của nhà thờ cũng giam đi sự kêt hợp hài hoà với phong cánh, ít sử dụng phong cảnh đề trang trí cho kiến trúc
Hiện Việt Nam có 5.390 nhà thò (nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), nhà thò Đức Bà (Tp Hồ Chí Minh), Nhà thờ lớn (Hà Nội), nhả thơ Phú Nhai (Nam
Định), Nhà thờ Trung Tâm ở phố Hiến (Hưng Yên), nhà thồ Phủ Cam - Chúa
Giáng Thê (Tp Huế), nhà thờ Con Gà (còn gọi là nhà thờ chính toà Thánh
Trang 28Nicôla Bari) và nhà thò Domaine de Marie (còn gọi là nhà thồ Vinh Sơn) ở Đà Lạt, Nhà thờ Mằng Lăng (Phú Yên) là những nhà thò lớn, những điểm tham quan hấp dẫn của du khách.
Bên cạnh các nhà thò Thiên chúa giáo, ở nước ta còn có nhiều nhà thờ họ
là những di tích kiến trúc nghệ thuật gắn với truyền thống kính hiếu, ơn nhố
tổ tiên, cha mẹ của người Việt Trong đó có nhiều nhà thò họ có giá trị về kiến trúc, mỹ thuật, văn hoá hấp dẫn du khách tham quan nghiên cứu, như: nhà thồ họ Nguyễn Thạc do ông Nguyễn Thạc Lương, ngưồi công đức, hưng cống và trông coi việc xây dựng Đỉnh Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) vào thế kỷ XVIII; nhà thờ họ Tiết, họ Ôn (Tp Hưng Yên); nhà thờ họ Nguyễn và Nguyễn Trãi cùng hơn 30 nhà thò họ ở Nhị Khê (Thưòng Tín, Hà Nội), nhà thờ họ Trần ở 21 phố Lê Lợi (Hội An, Quảng Nam); nhà thờ họ Nguyễn ở xã cẩm Hà (Hội An) Ở phố cổ Hội An còn bảo lưu 18 nhà thồ họ, các nhà thồ họ tộc ỏ làng chiếu Ngọc Hội (Vĩnh Hội); làng Lư Cấm (Ngọc Hiệp, Tp Nha Trang)
Các di tích thành ỉuỹ, kinh đô cổ
Kiến trúc thành luỹ: trong các thời kỳ lịch sử ỏ nưóc ta có nhiều thành luỹ
cô đã được xây dựng làm nơi đóng trụ sở hành chính của chính quyền phong kiến địa phương và có chức năng phòng thủ Hiện nay, còn nhiều toà thành vẫn còn bảo tồn được các dấu tích kiến trúc, các công trình kiến trúc có ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật đãvVà có thể khai thác phục vụ tham quan nghiên cứu của du khách như: Toà thành Luy Lâu được xây dựng thế kỷ thứ III sau công nguyên ỏ Thuận Thành, Bắc Ninh; thành nhà Mạc được xây dựng năm 1552, bên bờ sông Lô, trung tâm thành phô Tuyên Quang; cổ Đoàn thành ở Lạng Sơn; Khu di tích và toà thành Lam Kinh (Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hoá) được xây dựng năm 1428; thành Diên Khánh được vua Gia Long cho xây dựng năm 1793; thành Quảng Trị; thành Bắc Ninh; thành Tây Sơn; thành Nam Định; thành Quảng Bình; thành cổ Hà Nội được vua Gia Long và Minh Mạng cho xây dựng từ năm 1806 - 1822 Phần lớn các toà thành đều có
vị trí địa lý có giá trị về phong thuỷ, có ý nghĩa chiến lược và gần hình vuông, bao quanh gồm thành đất thành nước, trở ra 4 cửa ở 4 hướng, trên có có các tháp canh và pháo đài, bên trong có tổng hành dinh ở vị trí trung tâm, các cóng trình khác bô trí đăng đối Ngoài ra, kiểu thức phong cách kiên trúc xây dựng các toà thành có nhiều đặc điểm tương đồng vối các di tích kiên trúc nghệ thuật nói chung của Việt Nam
Kinh đô cổ: Trong quá trình phát triển lịch sử của đất nưốc, các triều đại
và các vị vua các thời kỳ phong kiến đã cho xây dựng kinh đô ở nhiều nơi, như: Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long, Tây Đô, Lam Kinh, Trà Kiệu, Đồng Dương, Trà Bàn, Huê Trong đó, kinh đô Huê là kinh đô của nhà Nguyên, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, còn bảo tồn được hơn 100 công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, văn hoá Phần lớn các kinh
đô cô ơ nước ta, bỏi nhiều nguyên nhân đã bị huỷ hoại gần hêt, chi còn lại
Trang 29các dấu tích kiến trúc, những đoạn tường thành, một sô' công trình kiến trúc, các di tích khảo cổ Tuy vậy, đến nay đã có ba kinh đô cổ của nưốc ta, gồm:
cố đô Huế, Tây Đô, di tích Hoàng thành Thăng Long đã được quy hoạch, bảo tồn và được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá th ế giới Các kinh đô cổ còn lại đều được bảo tồn và công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt
T ất cả các kinh đô cổ của nưổc ta đều trỏ th àn h điểm tham quan hap dẳn
có dạng hình vuông, ít có ý nghĩa về chiến lược)
Việc kiến trúc xây dựng đều tuân theo các nguyên tắc phong thuỷ trong kinh dịch và quan niệm âm dương ngũ hành Các công trình kiến trúc chính đều nằm trên đường thần đạo, dành cho vua; trung tâm là điện thiết triều các công trình kiên trúc khác năm đăng đốĩ hai bên Đặc điểm kiến trúc mang tính tôn quyền Sô' lượng các công trình, hoặc các bộ phận kiến trúc đều là các con sô' đẹp như sô' 5, 9, 50, 100 Các công trình đều được xây dựng kỳ công, cẩn thận, tinh xảo, đảm bảo cả về mỹ thuật, kiến trúc cũng như kỹ th u ật công trình
Các vật liệu tự nhiên quý của đất nưốc được chê' tác cẩn thận
Kiến trúc nhà truyền thông
Ở nưốc ta, hiện nay còn bảo tồn được hàng nghìn ngôi nhà cổ Những ngôi nhà truyền thông ở nước ta có thể phân chia làm ba loại chính là nhà phô' nhà vườn (ở các vùng nông thôn đồng bằng) và nhà của các tộc người thiểu sô'
Bô' cục nhà ở phô cổ Hội An: nhà — sân — nhà phụ; phô' cổ Hà Nội: nhà (cửa hàng) — sân trời — xưỏng sản xuất — nhà ở — nhà phụ
Trang 30Nhà truyền thông lô các phô" cổ đều được xây dựng cách hiện nay hơn 100 năm nên bị xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt ở phô" cổ Hà Nội và phô" cổ Đồng Văn.
Nhà truyền thông ở các vùng nông thôn và ven đô ở các vùng đồng bằng thường được xây dựng theo kiểu nhà vườn Kiến trúc những ngôi nhà theo lốỉ
3 gian hoặc 5 gian hai trái (nhà chính), hai bên có hai nhà phụ quay vào sân, phía trước là cổng, sân, bao quanh có vườn cây, ao cá Nhiều ngôi nhà phía trước có hàng hiên chắn mưa nắng, hoặc có xây bình phong hoặc đặt hòn non
bộ Bộ khung của ngôi nhà bằng kèo, cột, xà, bẩy nôi với nhau bởi các mộng, tường bưng bằng gỗ hoặc hoặc xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, ngói thẻ hoặc ngói bệt Các di tích nhà, tuỳ theo vùng mà bộ khung gồm: ba hàng cột
cô ở các tỉnh duyên hải miền Trung Nam Bộ; bôn hàng cột dọc ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ; 7 hàng cột dọc ở Thừa Thiên Huê"
Ở nhiều thôn, bản miền núi và cao nguyên nước ta có hàng nghìn ngôi nhà truyền trông có kiến trúc độc đáo theo kiểu nhà sàn, hoặc nhà trệt của đồng bào các tộc người thiểu sô" vẫn còn được bảo tồn hấp dẫn du khách, đã và
có thể được tu bổ, trang bị thêm thiết bị đồ dùng để đón du khách lưu trú, ăn uống tại nhà thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng
Miếu thờ
Đến nay, nước ta còn bảo tồn được nhiều miếu thò: gồm các văn miếu hàng nước như văn miếu Quôc Tử Giám Hà Nội, văn miếu Huê và các văn miếu hàng tỉnh như văn miếu Hưng Yên, văn miếu Mao Điền (Hải Dương), văn miếu Bắc Ninh, văn miếu Đồng Nai Tất cả các văn miếu này đều là các điếm tham quan hấp dẫn du khách Đặc biệt là văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội có lịch sử khởi dựng và trùng tu tôn tạo lâu đời nhất, từ năm 1070, có quy mô lớn với nhiều hạng mục công trình, các cố vật quý và 82 tấm bia tiến
sĩ còn được bảo tồn khá nguyên vẹn Do vậy, văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội được công nhận là Di tích cấp quốc gia đặc biệt ngày 28-4-1962; là Trung tâm hoạt động văn hoá, khoa học ngày 9-5-1988; ngày 9-3-2010 bia tiến sĩ văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thê giới vê tư liệu Đây là điểm tham quan không thể thiếu của du khách khi đến Hà Nội
Các văn miếu là miếu thờ các thánh văn Khổng Tử và 4 vị đồ đệ: Nhan
Tử, Mạnh Tử, Tăng Tử và Tư Tử cùng với 72 vị tiền hiền của Nho giáo Khuôn viên của các văn miếu đều có hình gần vuông, tuân theo nguyên tắc phong thuỷ, phía trước có hồ, hoặc sông Bô cục kiến trúc gồm: văn miêu môn xây theo kiểu lầu các trổ 3 lối đi, mào uốn cong, trước sau các bậc thềm có điêu khắc rồng; tiếp đến là vườn cây, có xây dựng ba lôi đi (văn miêu Hà Nội có thêm hồ nưốc và có 3 lượt cổng giếng Thiên Quang, nhà bia trước khi vào sân điện đại thánh, sân điện và thờ Khổng Tử cùng các vị tiền hiền, nhà bia) Bia điêu khắc dựng tại các văn miếu đều ghi tên tuổi, quê quán, thời gian khoá
Trang 31thi vinh danh các vị tiến sĩ, thám hoa, bảng nhãn đỗ trong các kỳ thi nho học trong các thời kỳ phong kiến Các văn miếu của nưốc ta hiện nay đều được trùng tu, hoặc xây dựng vào thòi kỳ nhà Nguyễn nên còn bảo tồn được nhiều giá trị kiến trúc mỹ thuật của thòi kỳ này.
Ngoài các văn miếu, tại các địa phương ỏ nưốc ta còn bảo tồn được nhiều miếu thò các vị thiên thần, danh nhân và anh hùng của đất nưỗc Tính đến ngày 30-10-2010, cả nước có 59 miếu thờ được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia
Hội quán
Các hội quán là nơi thò các vị thần sinh hoạt cộng đồng của Trung Hoa tại
các địa phương ở Việt Nam.
Đến nay, các địa phương ở nước ta còn bảo tồn được nhiều hội quán, hiện
đã trỏ thành các đỉểm tham quan hấp dẫn du khách như các hội quán: Phú Kiến, Nam Hải, Ngũ Bang, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam ở phô' cổ Hội An; Đông Đô - Quảng Hội ở Phô' Hiến (Hưng Yên); Chùa Bà Mã Châu Hồng / Thư Anh Quán, Quảng Triệu hội quán ở thành phô' Cà Mau; Quang Triệu hội quán ở thành phô' c ầ n Thơ; Chùa Bà ở Sa Đéc, Đồng T háp
Các hội quán trên đểu được xây dựng vào đầu thê' kỷ XVII đến cuôì
th ế kỷ XIX, thời kỳ người Hoa tại 5 tỉnh Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông Gia ứ n g và Phúc Kiên di cư sang Việt Nam sinh sông và làm ăn buôn bán.Các hội quán đều mang phong cách kiến trúc mỹ th u ật Trung Hoa và còn bảo lưu được nhiều cổ vật thờ có giá trị văn hoá lịch sử có nguồn gô'c từ Trung Hoa Các hội quán thưòng có bô' cục kiến trúc gồm cổng vào theo kiểu lầu các sân tế, nhà bái điện - điện thò, hai bên sân tế có nhà dải vũ là nơi tiếp khách sinh hoạt cộng đông và nơi ở của những người trông coi hội quán Quy mô kiến trúc các công trình thường uy nghi to lớn, vật liệu xây dựng phần lớn được mang từ Trung Hoa sang Tính đến ngày 30-12-2010, cả nưóc có 24 họi quan được xếp hạng cấp quốc gia
Do vậy, các vị vua quan các triều đại phong kiến nước ta đều sớm quan tâm,
lo việc xây lăng tấm cho mình Các vị vua triều Nguyễn còn lo việc xây lăng tẩm cho mình khi còn đang tại vị "tức vị, trị lăng"
Đến nay, ở nước ta nhiều khu lăng tẩm đã được bảo tồn, tôn tạo, có giá trị
về cảnh quan, lịch sử, kiến trúc mỹ thuật là những điểm tham quan hấp dẫn
Trang 32du khách như: Đền thò và lăng vua Hùng ỏ Phú Thọ; lăng và đền thò Ngô Quyền ỏ Đưòng Lâm, SơỊi Tây, Hà Nội; lăng và đền thờ vua Đinh, vua Lê ỏ Hoa Lư, Ninh Bình; lăng và điện thờ các vua Lê ỏ Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hoá; lăng và đền thò của các vị vua triều Lý ỏ Đình Bảng, Bắc Ninh; lăng và đền thờ của vua Trần ở Tam Cốc, Bích Động, Ninh Bình và ỏ Quỳnh Lâm, Quảng Ninh; 7 khu lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn (các lăng tẩm
này được bảo tồn khá nguyên vẹn nằm trong quần thể di tích cố đô Huế được
UNESCO công nhận là di sản văn hoá thê giới); lăng Trần Thủ Độ ỏ Đông Hưng, Thái Bình
Ngoài các khu lăng tẩm được xây dựng trong các thồi kỳ phong kiến, từ năm 1970 đến nay có nhiều di tích lăng mộ được xây dựng để tỏ lòng biết ơn tưỏng nhớ công lao của các anh hùng dân tộc, các danh nhân đã hy sinh vì nền độc lập của đất nước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ như: lăng cụ phó bảng Nguyễn Sinh sắc, phụ thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng từ năm 1975 và mở rộng nâng cấp năm 1996; khu mộ
cố tổng bí thư Trần Phú ỏ Đức Thọ, Hà Tĩnh; lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
được xây dựng tháng 5-1973 và khánh thành tháng 8-1975 ỏ quảng trường
Ba Đình, Hà Nội
Kiến trúc đền tháp và toà thánh
Ngoài các tháp thò Phật, tháp mộ, tháp chuông, tháp trống, tháp để tàng kinh là những bộ phận kiến trúc trong các ngôi chùa, đền miếu, nưốc ta còn
bảo tồn được nhiều đền tháp Chăm cổ có giá trị văn hoá, lịch sử.
Tính đến ngày 30-10-2010, trên phạm vi cả nưốc có 25 công trình kiến trúc đền tháp Chăm và tháp được công nhận là di tích lịch sử cấp quôc gia Trong đó phần nhiều là các đền tháp Chăm thò các vị thần Ân Độ giáo được xây dựng từ thê kỷ VII đến thế kỷ XIII, phân bô' từ Quảng Nam đến Bình Thuận gắn vối lịch sử phát triển của vương quốc Chăm Pa cổ Các tháp này đều được xây dựng có vị trí có giá trị về phong thuỷ và phong cảnh đẹp theo quan niệm của Ấn Độ giáo Đó là những nơi có nước chảy bao quanh từ phía sau ra phía trước, trên hoặc phía trước có những ngọn núi thiêng có hình các con vật linh như chim thần của Ân Độ giáo
Các đền tháp đều quay hướng đông, với hình giông như một đài sen nở, gắn ba phần đáy tháp, thân tháp và đỉnh tháp Đỉnh tháp là nơi ngự trị của các vị thần, thân tháp tượng trưng cho tâm linh và đáy tháp là thê giới trần tục Các đền tháp Chăm được xây dựng theo kiểu dật cấp, trọng lực ỏ trung tâm tháp bằng các vật liệu gạch đá và những kết dính đặc biệt Trong tháp thờ Linga tượng trưng của thần Siva, vị thần tối cao của Ân Độ giáo Mỗi tháp
chỉ trổ một cửa chính hình vòm phía trước có hai cột và một số cửa sổ giả để
trang trí Các tháp được trang trí điêu khắc ở phía ngoài tháp và các hình tượng trưng các vị thần vũ nữ múa Aspxara, các con vật th ần
Các di tích kiến trúc đền tháp Chăm có giá trị cao về vật liệu xây dựng,
kỹ th u ật và mỹ thuật kiến trúc, nghệ th u ật điêu khắc về văn hoá lịch sử nói
Trang 33chung Các nhà điệu khắc kiến trúc th ế giối đã nhận định rằng điêu khắc Chăm Pa là bậc thầy về nghệ th u ật điêu khắc trên th ế giới Do vậy, nhiều khu đền tháp Chăm cổ ở nưóc ta đã trở thành những điểm tham quan nghiên cứu hấp dẫn du khách như: khu đền tháp ỏ thánh địa Mỹ Sơn, các khu tháp: Bằng An, Khương Mỹ, Chiên Đàn ỏ Quảng Nam; tháp Bánh ít ở Bình Định; khu tháp Panagan ở Nha Trang, Khánh Hoà; tháp Pô Sha Inư ỏ Phan Thiết; tháp Hoà Lai, tháp Po Klong Garai, tháp Pôrômê (Ninh Thuận); tháp Nhạn (Phú Yên)
Hiện nay, nước ta còn nhiều toà thánh là nơi thờ các vị thần điện và nơi sinh hoạt tâm linh của tôn giáo Cao Đài ở các tỉnh miền Trung, Đông Nam Bộ
và Tây Nam Bộ có giá trị về kiến trúc mỹ thuật, văn hoá và lịch sử Kiểu thức xây dựng của các toà thánh Cao Đài mang nhiều phong cách kiến trúc phương Tây: Bố cục gồm 2 tháp gô-tích vươn cao ỏ phía trước và toà chính điện kiến trúc cao lớn kéo dài theo chiều dọc giống như những nhà thồ Thiên chúa giáo Phía trong và ngoài toà chính điện trang trí đắp nổi hình ảnh rồng phượng, sù
tử, hoa lá, quả cầu một mắt phủ sơn xanh, đỏ, vàng lộng lẫy Vật liệu xây dựng gạch, ngói tây, gỗ, đá, xi măng, cốt thép Trong đó, toà thánh Tây Ninh
là di tích kiến trúc nghệ thuật có quy mô to lớn, uy nghi, hoành tráng, được trang trí lộng lẫy và toạ lạc trong khuôn viên có cảnh quan đẹp, trước mắt trỏ thành điểm tham quan hấp dẫn du khách
Các thắng cảnh
Trên th ế giới cũng như ỏ Việt Nam, các di tích kiến trúc nghệ th u ật thường được xây dựng ở những nơi có phong cảnh tự nhiên hùng vĩ, thơ mộng và tươi đẹp nên thường được gọi là danh lam thắng cảnh "Lam" có nghĩa là chùa, nhưng thực tế "danh lam thắng cảnh" thưòng để chỉ những nơi có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp: núi non, sông hồ, biển đảo, vịnh biển, rừng cây với sự toạ lạc của các công trình kiến trúc nghệ thuật: chùa, đình, đền, tháp như:
Danh thắng Tây Hồ, nơi được mệnh danh là "Bắc Kỳ đệ nhất danh thắng" Xung quanh Hồ Tây có tới 60 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia Trong đó nôi tiêng như: chùa Trấn Quốic, đền Quán Thánh, chùa Kim Liên, phủ Tây Hồ, chùa Tảo Sành, chùa Ngũ Xá
Danh thắng Côn Sơn, nơi có khu bảo tồn thiên nhiên Côn Sơn, với những rừng cây tự nhiên, rừng thông trồng trên 100 năm tuổi, hồ Côn Sơn, đền thò Chu Văn An, đền thò Nguyễn Trãi, đền Kiếp Bạc, đền Mâu Sinh
Danh thắng Yên Tử, nơi có khu bảo tồn thiên nhiên Yên Tử với núi, rừng cây thác nước, sông, suối, 11 ngôi chùa am, hơn 100 ngôi tháp cổ, là trung tâm Phật giáo của phái thiền Trúc Lâm
Danh thắng Hương Sơn có khu bảo tồn thiên nhiên Hương Sơn với nhiều núi hang động đá vôi, rừng cây, sông S U Ố I, cảnh đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh Đây là nơi dệt nên huyền thoại về Bà Chúa Ba, Quan thê âm Bồ Tát và
Trang 34tạo cảm hứng sáng tạo cho hàng trăm bài thơ hay của nhiều tác giả Tại đây, hàng chục ngôi chùa am được xây dựng và bài trí trong các hang động.
Ngoài các danh thắng trên còn có các danh thắng Tây Thiên (Tam Đảo Vĩnh Phúc); núi Sam" (Châu Đốc, An Giang); Ngũ Hành Sơn (Đà Nằng); núi
Bà Đen, chùa Bà Đen (Tây Ninh); Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá, Bạch Dinh, Dinh Cô (Vũng Tàu) Những danh thắng này còn diễn ra các lễ hội
có quy mô lớn, hấp dẫn nhiều du khách tham dự
Cùng với các khu danh thắng, nước ta còn có nhiều danh thắng được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia Những điểm hấp dẫn du khách như: vịnh Hạ Long; vịnh Nha Trang; động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn); Tam Côc — Bích Động, Tràng An (Ninh Bình); hồ Ba Bể, động Nàng Tiên (Bắc Kạn); thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen, khu di tích và danh thắng ở Pắc Bó (Cao Bằng); bãi biển sầm Sơn; Thạch động; Mũi Nai, hòn Phụ
Tử, Ba Hòn (Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Quéo), núi Bình Sơn (Kiên Giang); hồ Xuân Hương, thác Parenn, thác Đatanla, thác Liên Khương (Lâm Đồng); hòn Chồng (Định Quán, Đồng Nai); ghềnh Đá Đĩa (Phú Yên) Tính đến ngày 30-12-2010, cả nước có 123 danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia.Nội dung nghiên cứu hướng dẫn về các thắng cảnh gồm: Vị trí địa lý, tên gọi, diện tích, các giá trị nổi bật vê địa chất, địa hình, sông, hồ, vịnh, biển, tài nguyên sinh vật, sự bô trí quy hoạch hài hoà giữa các giá trị thơ ca truyện kể, các tôn giáo tín ngưỡng được tôn thờ cùng các công trình kiến trúc
Các công trình đương đại và hệ thống các bảo tàng
Đến nay, nước ta đã xây dựng được nhiều công trình đương đại và hệ thống các bảo tàng là những điểm tham quan nghiên cứu hấp dẫn du khách.Tính đến năm 2010, cả nước có 132 bảo tàng, trong đó có 92 bảo tàng thuộc Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch quản lý, 26 bảo tàng thuộc hệ thống bảo tàng quân đội và 13 bảo tàng thuộc các bộ ngành khác Nhiều bảo tàng của nưốe ta có các công trình kiến trúc mỹ thuật đẹp, sưu tầm, bảo tồn và trưng bày nhiều hiện vật có ý nghĩa cho giáo dục, nghiên cứu, tham quan về các giá trị văn hoá, lịch sử và tự nhiên của đất nước và các địa phương Đây là những điểm tham quan hấp dẫn du khách, tiêu biểu như các bảo tàng: Quân đội, Mỹ thuật, Dân tộc học, bảo tàng Phụ Nữ, bảo tàng Cách Mạng (Hà Nội); Các Dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên); Lịch sử (Điện Biên); bảo tàng cổ vật Cung đình Huế; bảo tàng Chăm (Đà Nẵng); bảo tàng Hội An; bảo tàng Sinh vật biển (Nha Trang); bảo tàng Hải Phòng; bảo tàng Lịch sử Việt Nam, bảo tàng Chứng tích chiến tranh (Tp Hồ Chí Minh)
Nội dung nghiên cứu và hướng dẫn cho du khách ỏ các bảo tàng gồm: vị trí địa lý, tên gọi, thời gian xây dựng và khánh thành, diện tích khuôn viên,
mô hình xây dựng, các bộ phận kiến trúc và giá trị kiến trúc của bảo tàng, nội dung sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và trưng bày, sơ đồ bô trí các bộ phận trưng bày, các phòng trưng bày hiện vật theo chủ đề của bảo tàng
Trang 35Các công trình kiến trúc đựơng đại hiện là các điểm tham quan nghiên cứu của du khách như: nhà hát lớn Hà Nội; nhà hát thành phô" Hải Phòng; Bưu điện thành phô' Hà Nội; bưu điện Thành phô" Hồ Chí Minh; cầu Long Biên; cầu Thăng Long; cầu quay trên sông Hàn, cầu Mỹ Thuận; trung tâm hội nghị Quốc Gia Mỹ Đình, trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình
Trong các lễ hội ở Việt Nam, phần lễ thường giữ vai trò quan trọng và là
nội dung chính của lê hội Song cũng có một sô' lễ hội thì phần hội lại sôi nổi hơn, giữ vai trò quan trọng hơn phần lễ như lễ hội Lim ở Bắc Ninh, lễ hội chọi trậu ở Đồ Sơn, lễ hội hát lượn của người Tày Thòi gian diễn ra lễ hội thường vào mùa xuân là chủ yêu
Nước ta hiện nay còn lưu giữ, tổ chức nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn du khách như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Hương, lễ hội đền Kiếp Bạc, lễ hội Quan
Âm (ỏ Ngũ Hành Sơn), lễ hội Ka Tê (của người Chàm)
Gần đây để tạo điều kiện thu hút du khách, quảng bá về du lịch, nhiều Festival du lịch cũng đã được tổ chức ở các di sản tự nhiên, văn hoá và các trung tâm du lịch
Nội dung nghiên cứu hướng dẫn về các lễ hội gồm: tên lễ hội, lịch sử hình thành, phát triển, bảo tồn lễ hội, thòi gian diễn ra lễ hội, địa ban diễn ra lễ hội, các giá trị văn hoá của phần lễ (chuẩn bị, ban tổ chức, ban tê lễ, trang phục, đạo cụ, lê vật, các bước, cách thức tê" lễ), phần hội, các trò chơi, tích trò biểu diễn văn hoá nghệ thuật, các giá trị về giáo dục, nâng cao đời sông tinh thần, đoàn kêt cộng đông, khôi phục, bảo tồn văn hoá truyền thông, tố chức quản lý lễ hội, xếp hạng
Văn hoá nghệ thuật
Ở nước ta có nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật đã được phát triển lâu đời và có giá trị về nhiều mặt, là tài nguyên hấp dẫn để phát triển du lịch như quan họ Bắc Ninh đã có lịch sử khoảng gần 1.000 năm và được phát triển mạnh khoảng 300 năm trỏ lại đây Hiện nay có tới 49 làng quan họ với 200 làn điệu, 500 bài hát cô ở Băc Ninh và Bắc Giang Quan họ Bắc Ninh, nghệ thuật hát Ca Trù, nghệ thuật hát Xoan ỏ Phú Thọ đã được UNESCO cong nhận là Di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng đại diện của nhân loại
Trang 36Nhã nhạc Cung đình đã được phát triển hàng ngàn năm, đặc biệt trong thời kỳ nhà Nguyễn Tháng 11 năm 2003 Nhã nhạc cung đình Huê đã được UNESCO công nhận 'là đi' sản văn hoá thê giới.
_ v ề nghệ thuật hát Chèo: Được phát triển ỏ vùng đồng bằng Bắc Bộ, có
nhiều nghệ nhân nổi tiếng, đặc biệt là tổ nghề huyền nữ Phạm Thị Trân ở Hồng Châu (Hưng Yên), bà đã được phong chức Ưu Bà, dân gian đã lưu truyền:
"Múa tay như muốn hái bàn đào Hát giục mây bay, giục gió ào Tiếng hát kinh hồn quân bạc ác Lời than làm nhỏ lệ đồng bào"
Ngoài ra ở nước ta còn nhiều loại hình nghệ thuật khác như hát Bội, hát bài Chòi ở Quảng Nam, ca Tài tử, cải lương ở Nam Bộ, nhiều loại hình dân ca như dân ca Huế, hát Xoan Ghẹo ồ Phú Thọ, hát Sli, hát Lượn của các dân tộc Tày, Nùng
Đặc biệt ở nước ta còn có loại hình múa rối nước đã từng được huy chương Vàng trong cuộc thi múa rốì quốc tế năm 2000
Bên cạnh các loại hình âm nhạc, các dân tộc Việt Nam còn duy trì và phát triển nhiều vũ khúc đặc biệt của các dân tộc Thái, Lự, Khơ-me, Chăm Nước
ta cũng có nhiều loại nhạc cụ nổi tiếng khác nhau gồm cả bộ dây, bộ gõ và bộ hơi.Đặc biệt, cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNECSO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng của thế giới
Nội dung nghiên cứu hướng dẫn về các loại hình văn hoá nghệ thuật gồm: tên gọi, lịch sử hình thành phát triển và trấn hưng khôi phục, địa bàn phân bô' cách thức tổ chức quản lý, các điều kiện phát triển, sô' lượng người hoặc đội, nhóm tham gia; các giá trị về ca hát: sô' lượng bài, bản, đặc điểm ý nghĩa ca
từ, âm vực, cách thức luyện tập, diễn xướng, không gian diễn xướng); các giá trị vê nhạc: các loại nhạc cụ, nguyên liệu, nghệ thuật tạo ra các nhạc cụ, sô lượng các bản nhạc, giá trị ý nghĩa của các bản nhạc, loại nhạc, cách thức, đặc điểm luyện tập, biểu diễn, thời gian, không gian biểu diễn, đôi tượng khán giả; các giá trị văn hoá gắn vói các loại hình văn hoá nghệ thuật
Nghệ thuật ẩm thực
Người dân Việt Nam không những cần cù, chăm chỉ, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp mà còn khéo léo, tinh tế, chê' biến các sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản thành các món ăn, đồ uô'ng ngon Mỗi vùng quê Việt Nam có các đặc sản nông nghiệp riêng Vì vậy, Việt Nam là quốc gia có nhiều món ăn đồ uô'ng ngon như phở Hà Nội, côm, bánh côm Hà Nội, bánh cuôn Thanh Trì, chả cá Lã Vọng bánh phu thê, nem chua Từ Sơn, rượu làng Vân (Bắc Giang), Trương Xá (Hưng Yên), bánh gai Ninh Giang, bánh đậu Hải Dương, tương Bần (Hưng Yên), bún bò Huế, cơm hến Huế, caó lầu Hội An, mỳ Quảng, hủ tiếu Nam Bộ, phở chua Lạng Sơn, vịt quay Thất Khê, lợn quay Lạng Sơn, các món bánh, chè, các món ăn cung đình ỏ Huế, rượu Mẫu Sơn -
Trang 37Lạng Sơn, rượu Sán Nùng, Thắng Cố' (Sa Pa, Lào Cai), rượu cần, cơm lam, cá nướng của người Thái; bún cá, chả cá, yến sào (Nha Trang), bánh tráng (Trảng Bàng, Tây Ninh)
Nghệ th u ật ẩm thực của nước ta được thể hiện từ khâu chọn nguyên liệu, chế biến nguyên liệu, bày đặt món ăn, cách ăn, cách uôhg tạo sự hấp dẫn với
du khách
Khi nghiên cứu, hướng dẫn về nghệ thuật ẩm thực của các món ăn đồ uống đặc sản gồm: tên gọi, lịch sử phát triển và bảo tồn, địa bàn phân bố", các điều kiện nghệ thuật sản xuất, các nông phẩm, nguyên liệu; cách lựa chọn và chế biến nguyên liệu, cách nấu nướng, cách bày đặt và cách ăn uông; thòi gian, môi trường, không gian ăn uông; đối tượng thưởng thức; các giá trị về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, ý nghĩa cho sức khoẻ
Văn hoá các tộc người
Việt Nam có 54 tộc người, với sô' dân là 85.846.997 người (ngày 1-4-2009).Các nhà dân tộc học đã nghiên cứu các tộc người ỏ nước ta theo 8 nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường, Tày - Thái, H’Mông - Dao, Ka Đai, Tạng - Miến, Môn - Khơ-me, nhóm Nam Đảo và Hán
♦ Nhóm Việt -M ường gồm có 4 tộc người là Việt, Mường, Thổ, Chứt.
• Người Việt (Kinh)
Người Việt (Kinh) chiếm hơn 85,7% dân sô'cả nưốc với 73.594.000 người
Theo các tài liệu khảo cổ học, sử học, dân tộc học, văn hoá dân gian thì vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ ngay từ thòi kỳ đồ đá đã có con người
cư trú Người Lạc Việt, tổ tiên của người Au Việt, tổ tiên của nhóm cư dân Tày - Thái đã được hợp nhất, đứng đầu là Thục Phán An Dương Vương lập ra nhà nước Âu Lạc
Nền văn minh của người Việt cổ đã được biết đến vối các di chỉ văn hoá Sơn Vi, Đông Sơn, Phùng Nguyên Trong quá trình dựng nước, giữ nước, chinh phục thiên nhiên người Việt đã tạo nên nền văn minh sông Hồng, là một trong 26 nền văn minh trên thê' giới
Người Việt cư trú tập trung chủ yếu ở các đồng bằng, ngoài ra còn cư trú ở
các vùng núi, ven biển, sóm biêt khai thác các nguồn lợi của rừng, sông, biển
Trang 38Người Việt có trình độ thâm canh lúa nước cao và có nhiều nghề thủ công, làng nghề phát triển Hiện nay người Việt có mặt ở 64 tĩnh thành trong cả nước, giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước.
• Người Mường
Có hơn 1.268.936 người, chiếm 1,48% sô" dân cả nước, cư trú ở vùng đồi núi thấp, tập trung đông ỏ các tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá Ngày nay, ngưòi Mường có mặt ỏ cả Tây Nguyên, Đồng Nai Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Mường và người Kinh đều là con cháu của người Lạc Việt (người Việt cổ).Người Mường chủ yếu là làm ruộng, chăn nuôi, trồng cây ăn quả Người Mường cũng phát triển nhiều nghề thủ công như dệt vải bông, rèn, đan mây tre, chế tạo nhạc cụ Người Mường ỏ nhà sàn, giỏi săn bắt chim thú, bắt cá, có nền văn hoá phát triển Người Mường có nhạc cụ nổi tiếng là bộ chiêng
• Người Chứt
Có chưa đến 6.022 người, sống ở vùng Tầy Bắc tỉnh Quảng Bình và phía nam tỉnh Hà Tĩnh, gồm các nhóm Sách, Rục, Arem, Mã Liềng, Mày Trước đây họ sống du canh, du cư, phương thức sản xuất chủ yếu là làm nương rẫy,
ở nhà sàn rất sơ sài, nghề thủ công kém phát triển, đòi sống còn thấp Nhóm người Rục sống ở Bô" Trạch (Quảng Bình) mới được tìm thấy năm 1960, hiện nay chỉ có khoảng 100 người
• Người Thổ
Có khoảng 74.458 người, cư trú chủ yếu ở vùng Nghệ An, Thanh Hoá, sống du canh, du cư, làm nương rẫy, giỏi đánh bắt cá, có nghề trồng gai, đan lưới, không biết dệt vải, thường mua vải của người Thái, đời sống còn thấp
• Nhóm Tày - Thái: Gồm có 8 tộc người là Tày, Thái, Lào, Lự, Giáy, Bô" Y,
Sán Chay, Nùng
• Người Thái
Gồm 2 nhóm là Thái Trắng và Thái Đen, dân sô" có 1.550.423 người, chiếm 1,8% sô" dân cả nước Người Thái vào Việt Nam khoảng từ thê kỷ IX Hiện nay người Thái sông rải rác từ hữu ngạn sông Hồng tới miền núi Nghệ An, tập trung nhiều ở Sơn La, Điện Biên, Hoà Bình, Yên Bái ở Tây Nguyên cũng có hơn 25.000 người Thái
Người Thái thường cư trú ở các thung lũng gần nguồn nước Người Thái ở nhà sàn, có nhiều loại khác nhau: nhà mái khum hình mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái, mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mái hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giông nhà người Mường Nhà của ngưòi Thái thưòng có 2 cầu thang, cầu
thang chính ở tiền sảnh dành cho khách và đàn ông trong nhà, cầu thang ỏ
phía bếp thì dành cho phụ nữ
Trang 39Người Thái có tập quán trồng lúa nưốc từ lâu đời, có nhiều kinh nghiệm đào mương, đắp phai, lam cọn va máng dẫn nước vào ruộng Người Thái giỏi dêt vải đan mây tre, làm đồ trang sức Người Thái có chữ viêt từ sớm, có văn
tiêu khển có h at thơ, hát giao duyên, có nhiều tác phẩm, lịch sử, văn học Hôn nhân của người Thái vẫn giữ tục lệ thách cươi, ơ re, con gai lay chong phải có của hồi môn
Có 1 626 392 người, là một dân tộc có m ặt lâu đời trên đất nước ta, người Tày song tập trũng nhiều ỏ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Kan Ha Giang, Yên Bái ngoài ra còn ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
Người Tày thường ở nhà sàn, tập trung thành các bản ỏ chân núi hay các vùng đất bằng ven sông suôi hoặc trên các cánh đong Ngươi Tay có kinh nghiệm trong lúa rnrôc, làm thuỷ lợi, ngoài ra còn trồng ngô đậu, các cây công nghiệp: chè, hồi, quế
Người Tày thường làm nhiêu loai banh (banh gio, banh gai, banh lan, bánh chưng, bánh dày vào dịp lễ, tết )
Người Tày có nghệ th u ật hát lượn, sli (hát giao duyên) hát then trong lễ hôi Lau then có nhạc cụ là đàn tính Người Tày ở nhà sàn, xung quanh ghép bang van go hoặc liep nứa, chia thành nhiều phòng, bếp đun ở trong nhà
Người Nùng
Có 968 800 người, chiếm 1,1% số dân cả nước Phần lớn ngưòi Nùng mói
di cư vào nước ta khoang trên 200 năm, người Nùng tập trung đông ở Lạng Sơn, Cao Bang giỏi làm ruộng nước, chăn nuôi gia súc, trồng cây ăn quả, dệt vải thổ cam- phụ nữ thưòng mạc váy ngắn Phần lớn ngưòi Nùng ỏ nhà sàn, một số ở nhà trệt, lợp ngói âm dương
Người Nùng có nhiều món ăn ngon nổi tiếng như lợn quay Lạng Sơn, vịt quay That Khê Người Nùng thường hát sli trong các ngày hội và hát để kết duyên nam, nữ
Ngoài ra nhóm ngôn ngữ Tày - Thái còn có các dân tộc Sán Chay (147.000 ngươi) Giáy (49.000 người), Lào (12.000 người), Lự (5.000 ngưòi), Bố Y (1.8000 ngưồi)
♦ Nhóm H'Mông -D ao
Gồm 3 tộc người: H'Mông, Dao, Pà Thẻn Họ sống chủ yếu trên vùng núi cao Ha Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Lao Cai, Yên Bái, Cao Bằng Các dan tôc này vẫn giữ được nhiều giá trị văn hoá đặc săc, độc đáo Cả ba dân tộc đeu co phương thức canh tác du canh du cư, lương thực chính là ngô, lúa nương
Người H ’mông
Có trên 1.068.189 người, chiếm 1,1% số dân cả nước, gồm 4 nhánh: H'mông hoa, H'Mông đen, H'Mông xanh, H'mông trắng
Trang 40Người H'Mông ỏ nhà trệt, thành các bản, từ vài nóc nhà đến vài chục nóc nhà Họ vào Việt Nam chủ yếu cách đây từ 100 - 150 năm Người H'Mông có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng vối các cây: y dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu, ngô Người H'mông nổi tiếng về trồng lanh, dệt vải, nghệ thuật in sáp ong, thêu, làm các nghề thủ công như đan mây tre, rèn, làm súng kíp, đồ trang sức bằng bạc Người H'Mông thường ăn ngô (mèn mén), cơm nếp nương, uống rượu ngô, ăn thắng cô"
Con trai H'Mông giỏi thổi khèn, múa Người H'Mông hiền lành, chất phác, cần cù lao động, kính hiếu cha mẹ, vợ chồng chung thuỷ, yêu thương nhau
• Người Dao
Có 751.067 người, gồm nhiều nhóm địa phương Dao Đỏ, Dao quần chẹt, Dao Lò Gang, Dao Tiền, Dao quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Ten
Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, vào Việt Nam từ thế kỷ XII đến
th ế kỷ XX Người Dao có kinh nghiệm trồng rừng, cây ăn quả, cây đặc sản như quế, rau màu và chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, ngựa, dê
Người Dao phát triển nghề trồng bông, dệt vải, nghề rèn, sản xuất đồ trang sức bằng bạc, sản xuất giấy bản Ngưòi Dao ở nhà trệt lưng chừng núi, vừa theo tín ngưõng nguyên thuỷ, vừa chịu ảnh hưỏng sâu sắc của đạo Khổng
và đạo Lão
Đàn ông đến tuổi trưởng thành phải làm lễ cấp sắc
Người Dao có lễ Têt nhảy được tổ chức vào trước tết Âm lịch, để ôn lại các điệu nhảy, thờ cúng người đã mất, củng cô" sự đoàn kết họ tộc
Áo váy của phụ nữ Pu Péo sử dụng nghệ thuật đắp vải màu, phụ nữ thường mặc áo hai lớp, trên áo và gấu váy thường đắp vải màu, tóc vấn trưóc trán, được gài bằng lược gỗ, phủ khăn vuông
Người Pu Péo vẫn giữ phong tục uô"ng rượu cần, đánh trông đồng trong lễ chay đưa hồn người chết về quê cũ, đêm 29 Tết gói, nấu bánh chưng đen tiễn năm cũ, đêm 30 Tết nấu bánh trưng trắng đón năm mới
Hát đám cưới xin dâu giữa nhà trai và nhà gái khoảng 3 — 4 giờ là sinh hoạt văn nghệ độc đáo của dân tộc này