Một số tuyến và chương trình du lịch xuất phát từ Hà Nội

Một phần của tài liệu Tuyến điểm du lịch việt nam (Trang 188 - 198)

TUYẾN, ĐIỂM DU LỊCH CÚA VÙNG DU LỊCH BẮC BỘ

III. MỘT SỐ TUYỂN DU LỊCH ĐANG PHÁT TRIEN TRONG VÙNG

III.4. TUYẾN DU LỊCH HÀ NỘI - HẨIDUƠNG - HẠ LONG - HẢI PHÒNG

III.4.4. Một số tuyến và chương trình du lịch xuất phát từ Hà Nội

> Hà Nội - Hải Dương - Yên Tử.

'r Hà Nội - Hải Dương - Yên Tử - Hạ Long — Bái Tử Long.

> Hà Nội - Trà cổ - Trung Quốc.

'r Hà Nội - Hải Phòng.

> Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long - Bái Tử Long.

> Hà Nội - Lạng Sơn - Móng Cái - Trà cổ - Hạ Long.

Một sô chương trình du lịch

Chương trình du lịch 2 ngày 1 đêm:

Chương trình 1: Hà Nội -H ả i Dương - Yên Tử (phương tiện ô tô) - Ngày 1: Hà Nội — Yên Tử - Côn Sơn.

Sáng: Thăm Yên Tử, ăn trưa tại Yên Tử.

Chiều: Về Côn Sơn, lưu trú tại Côn Sơn.

- Ngày 2: Côn Sơn - Kiếp Bạc - Hà Nội.

Sáng: Thăm Kiếp Bạc - Côn Sơn. Ăn trưa tại Côn Sơn.

Chiều: Từ Côn Sơn qua Tp. Hải Dương mua sắm và về Hà Nội.

Chương trình.2: Hà Nội -H ạ Long - Ngày 1: Hà Nội - Hạ Long.

Sáng: Xuất phát từ Hà Nội đi đến TP Hạ Long.

Trưa: Ăn trưa trên tàu và thăm Vịnh Hạ Long (tuyến động Thiên Cung, đảo Ti Tốp).

Tốỉ: Xem biểu diễn nghệ thuật tại đảo Tuần Châu.

- Ngày 2: Hạ Long — Côn Sơn — Hà Nội.

Sáng: Từ Hạ Long về thăm Kiếp Bạc, ăn trưa tại Kiếp Bạc.

Chiều: Thăm Côn Sơn và về Hà Nội.

Chương trình 3: Hà Nội - Cát Bà - Tp. Hải Phòng - Ngày 1: Hà Nội — Cát Bà

Sáng: Đi Hải Phòng bằng đường bộ, theo đường 5 qua phà Đình Vũ, phà Gót hoặc đi tàu cao tốc Đồ Sơn - Cát Bà.

Chiều: Tắm biển ở bãi Cát Cò, Cát Dứa.

- Ngày 2: Cát Bà — Hà Nội

Sáng: Tắm biển, thăm VQG Cát Bà.

Chieu: v ề Hà Nội

Chương trình 4: Hà Nội - Cát Bà - Hải Phòng (phương tiện ô tô hoặc xe lửa kết hợp vối tàu thuỷ)

- Ngày 1: Hà Nội — Tp. Hải Phòng — Cát Bà.

Sáng: Xuất phát từ Hà Nội, thăm Tp. Hải Phòng (Nhà hát lốn, Bảo tàng thành phô, đền Nghè, đình Hàng Kênh).

Chiều: Từ Hải Phòng đi Cát Bà nhận phòng và tắm biển (lưu trú tại Cát Bà).

- Ngày 2: Cát Bà - Hà Nội

Sáng: Thăm vịnh Lan Hạ, tắm biển.

Chiều: Về Hà Nội.

Chương trình du lịch 3 ngày 2 đêm

Chương trình 1: Kiếp Bạc - Côn Sơn - H ạ Long - Cát Bà (phương tiện ô tô kết hợp với tàu thuỷ)

- Ngày 1: Hà Nội — Côn Sơn — Hạ Long.

Sáng: Thăm Kiếp Bạc - Côn Sơn, ăn trưa tại Côn Sơn.

Chiều: Thăm đền cử a Ông, núi Bài Thơ, tắm biển.

Tôi: Xem biểu diễn nghệ thuật tại đảo Tuần Châu.

- Ngày 2: Hạ Long - Cát Bà.

Rời Hạ Long đi thuyền thăm Vịnh (động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ), ăn trưa trên tàu và đi Cát Bà, thăm Vịnh Lan Hạ. Tối nghỉ tại Cát Bà.

- Ngày 3: Cát Bà - Hà Nội

Sáng: Tắm biểri, thăm VQG Cát Bà

"Chiêu: Về Hà Nội

Chương trình 2: Vịnh Hạ Long -B á i Tử Long - Yên Tử - Ngày 1: Hà Nội - Hạ Long - Bái Tử Long.

Xuất phát từ Hà Nội, đên Hạ Long, xuống tàu thăm Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long (lưu trú tại khu du lịch trên đảo Quan Lạn).

- Ngày 2: Bái Tử Long - Hạ Long.

Sáng: Tắm biển và thăm VQG Bái Tử Long, ăn trưa tại VQG Bái Tử Long.

Chiều: Từ Bái Tử Long về Hạ Long.

- Ngày 3: Hạ Long - Yên Tử - Hà Nội.

Sáng: Rời Hạ Long thăm Yên Tử, ăn trưa tại Yên Tử.

Chiều: Vể Hà Nội.

III.5. TUYẾN DU LỊCH HÀ NỘI - HĩNG YấN - THÁI BèNH - NAM ĐỊNH

III.5.1. Các đ iể m th a m q u a n d u lịc h ở tỉn h H ư ng Y ên

Hưng Yên là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc. Có diện tích 926km2, số dân là 1145,6 nghìn người (năm 2012), mật độ dân số 1237 ngưòi/km2. Tỉnh được phân chia thành 10 đơn vị hành chính, gồm: Tp. Hưng Yên và 9 huyện: Ấn Thi, Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm và Yên Mỹ. Tỉnh lỵ là Tp. Hưng Yên. Tỉnh nằm ở cửa ngõ phía đông của Thủ đô Hà Nội và giáp vói các tỉnh, thành là Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình. Tỉnh có các điểm tham quan du lịch hấp dẫn du khách ở Phô" Hiến và huyện Khoái Châu.

Điểm du lịch Phô Hiến

Theo thống kê của bảo tàng tỉnh Hưng Yên, trong phạm vi chiều dài 5km, chiều rộng lkm được xác định từ Đằng Châu (xã Lam Sơn, Tp. Hưng Yên) đến Lễ Châu (xã hồng Châu, huyện Phù Tiên xưa, nay thuộc Tp. Hưng Yên), Phố Hiến cổ còn lưu giữ khoảng 60 di tích lịch sử văn hoẩ các loại. Trong đó có nhiều di tích có giá trị cao về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật, tín ngưỡng, có khả năng hấp dẫn du khách như đền Trần, đền Thiên Hậu, đền Mẫu, chùa Chuông, chùa Hiến, Văn miếu, Võ miếu, đình Hiến, nhà thờ Họ, nhà thò Thiên chúa giáo... (có tới 11 di tích được xếp hạng cấp quốc gia).

Tự nhiên và kinh tế - xã hội là những yếu tô" để phát triển và nuôi dưõng những giá trị văn hoá. Do vậy, phần lớn các di tích lịch sử văn hoá có giá trị ỏ Phô' Hiến đểu được tạo dựng và trùng tu lớn vào thời kỳ Phô" Hiến thịnh vượng (thế kỷ XVII, đầu thê' kỷ XVIII). Các di tích này lại phân bô' tập trung thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch văn hoá

Bảng thông kê các di tích lịch sử văn hoá ở Tp. Hưng Yên đến năm 2000:

Đền và đình

Đền là một loại hình kiến trúc mỹ thuật phổ biến, chiếm 1/3 số’ di tích ở Tp.

Hưng Yên, tập trung chủ yếu ở khu vực Phố’ Hiến cổ. Do đặc điểm lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất này, dân cư sốhg chủ yếu nhờ vào nghề sông nước, nên thần điện có sự xuất hiện của các nữ thần hàng hải và những người có công với nước được ngưòi dân tôn thò. Đền cũng là loại hình kiến trúc có lịch sử hình thành sớm nhất so vối các di tích lịch sử văn hoá ở đây.

Một số’ ngôi đền tiêu biểu:

Đền Mẫu

Đền nằm trên đường Bãi Sậy, phưòng 22, Tp. Hưng Yên. Đền thò thánh mẫu Hoa Dương (Dương Quý Phi). Có nguồn gốc là quý phi của vua Tỏng (Trung Quốc) để giữ trinh tiết và phò nhà Tống đã lánh nạn sang Việt Nam và gặp nạn nên rất linh hiển.

Hiện nay, đền còn lưu giữ nhiều cố vật quý như 100 que thẻ bằng gỗ, có từ 400 năm trưốc, mỗi quẻ có 4 câu thơ chữ Hán; 2 chiếc lọ độc bình bằng men rạn được sản xuất tại Bát Tràng, có niên đại khoảng 500 năm là tư liệu quý để nghiên cứu vê lịch sử và nghệ thuật gôm sứ của nước ta. Ngoài ra đền còn lưu giữ nhiều đồ tê tự, hương án, kiệu rước, tượng thờ có giá trị.

Trong sân đền còn có cây đa cổ thụ hơn 700 năm tuổi, được các nhà khoa học đánh giá là cây đa nhiều tuổi và đẹp nhâ't nước ta hiện nay.

Đền đã được đón tiếp nhiều vị nguyên thủ quốc gia, nhiều vị chính khách các nước tới thăm, và được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hoá quôc gia năm 1999. Đền đã được Nhà nước, nhân dân, chính quyền địa phương bảo vệ, trùng tu tôn tạo khá nguyên vẹn, khang trang, uy nghiêm.

Đền Trần

Đền thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuân, toạ lạc gần đền Mẫu, tại phường Lê Lợi, Tp. Hưng Yên.

Đền được xây dựng từ thê kỷ thứ XIII, để nhớ ơn Hưng Đạo Vương khi đánh quân Nguyên lần thứ 2, có ghé vào đây. Sau đó đền được trùng tu nhiều lần, những lần gần đây nhất vào năm 1863 và năm 2000.

Đền được bô trí thành 3 bộ phận tam quan, sân và chính điện.

Phần chính điện có kiểu kiên trúc chữ "Tam", gồm 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung.

Trong đền hiện nay còn lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị văn hoá nghệ thuật như bi ký, các sắc phong, bình hương bằng gốm thời Trần, khám thờ, ngai thò, hương án, các bức câu đôi đại tự, tất cả đều đưực điêu khắc tinh xảo, sơn son thiếp vàng lộng lẫy.

Đền Trần được khách thập phương và nhân dân công đức trùng tu, giữ gìn khá nguyên vẹn và thâm nghiêm.

Đền Thiên Hậu ■

Đền được toạ lạc ở phô" Bắc Hoà, phường Lê Lợi, Tp. Hưng Yên. Đền được xây dựng vào cuối thê t ỷ XVI, đầu th ế kỷ XVII. Đền là nơi thồ Thiên Hậu th án h mẫu, vị th án h cứu khổ, cứu nạn luôn giúp người dân đi biển Trung Quốíc, và là vị th ần hộ mệnh của họ.

Đền được xây theo kiểu kiến trúc "nội từ, ngoại tế". Đồ thồ, vật liệu xây dựng, phần lốn đều được mua từ Trung Hoa chở sang. Thần điện thờ và những giá trị kiến trúc mỹ th u ật đều mang đậm nét văn hoá Trung Hoa.

Bô cục của đền gồm tam quan có quy mô uy nghi, cao rộng, phía trong có 2 con nghê bằng đá, linh vật thờ của người Trung Hoa.

Gian tiền sảnh có 4 gian kết cấu theo kiểu chồng rường giả thủ, trang trí hoạ tiết tứ quý, rồng.

Khu đền chính được xây dựng theo kiểu chữ Đinh (T), nơi lưu giữ những đồ tế tự, hương án thờ, tượng thồ, mang giá trị văn hoá nổi tiếng Trung Hoa.

Đền Mây

Đền là nơi thờ tướng quân Phạm Phòng Át, một vị tướng thời Ngô Quyền, chủ soái của một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh. Ngoài ra nơi đây còn thờ mẹ và con trai ngài.

Ngôi đền được khỏi dựng sớm ỏ Phố Hiến từ thòi Hiến Nam Trang, vào đầu th ế kỷ XI. Đền được trùng tu nhiều lần, lần cuối vào năm 1890. Đền được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (T) gồm tiền tế, trung từ và hậu cung.

Tam quan của đền là công trình kiến trúc có giá trị, theo kiểu chồng diêm, các mái uôn cong mềm mại.

Hiện đền còn giữ nhiều cổ vật có niên đại thòi Nguyễn như các bức hoành phi lốn, các ngai thờ tượng Phạm Phòng Át, các bài vị.

Đinh Hiến

Phô" Hiến hiện còn lưu giữ 7 ngôi đình, có nhiều cổ vật như đồ tế tự, hương án, bài vị, sắc phong nhưng đều chỉ có niên đại thời Nguyễn. Trong đó tiêu biểu là đình Hiến.

Đình Hiến toạ lạc ở thôn Mậu Dương, xã Hồng Châu, ven sông Hồng, Tp. Hưng Yên.

Đình được xây dựng bằng vật liệu quý truyền thống, kiến trúc kiểu chữ Đinh (T), vì kèo, cốn chồng đấu sen, mang đậm nét kiến trúc Việt Nam.

Đình thờ quan thái giám họ Du người gốc Trung Hoa, có công khai lập làng Minh Hương. Sau này ồng được phong là Thành hoàng làng của thôn Mậu Dương và Hồng Nam.

Ngôi đình gồm có 5 gian, được nhân dân trùng tu lại khang trang, uy nghi, song nhiều hạng mục công trình khi trùng tu lại đã bị làm mất đi những giá trị kiến trúc nguyên sơ, cổ kính. Như hai hàng cột quân bị thay bằng tưồng xây, cửa

bức bàn bị thay bằng cửa bưng, hậu đình bị phá đi, hai sàn gỗ lim ỏ hai gian đầu thể hiện thứ bậc của mọi người khi ngồi trong đình cũng bị dỡ bỏ.

Dù sao, những giá trị văn hoá, kiến trúc mỹ thuật được lưu giữ ở đình Hiến vẫn thể hiện sự đan xen, hoà hợp giữa những giá trị văn hoá bản địa với những giá trị văn hoá ngoại lai ở mảnh đất này, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân Việt Nam.

Các vị thần được nhân dân thò phụng, được sắc phong không phân biệt người Hoa hay người Việt.

Chùa

Phô" Hiến hiện còn lưu truyền nhiều ngôi chùa cổ kính, có giá trị về tôn giáo, lịch sử, kiến trúc mỹ thuật, gắn liền với tên tuổi, lịch sử phát triển của mảnh đất này, tiêu biểu là chùa Hiến, chùa Chuông.

Chùa Hiến

Chùa Hiến toạ lạc ở gần đình Hiến, có tiền án là đê sông Hồng. Ngôi chùa có quy mô kiến trúc khiêm tôn duyên dáng, hoà quyện với phong cảnh thuỷ mạc hữu tình, được trang trí bỏi những cây nhãn cổ thụ tốt tươi. Chùa được xây dựng muộn nhất cũng vào thời Lê (năm 1625). Chùa Hiến là biểu tượng của Phố' Hiến, nên chùa được trùng tu lớn nhiều lần vào các năm 1892, 1953 và 2001.

Chùa được xây dựng theo kiểu chữ "Quốic" bằng vật liệu quý truyền thống, gồm 4 phần: tiền đưòng 5 gian, 2 dĩ; thiêu hương 3 gian có bốn mái; thượng điện 3 gian và hai dãy nhà ngang.

Hiện chùa còn lưu giữ những giá trị điêu khắc kiến trúc và nhiều cổ vật thời Nguyễn như bệ thờ, bát hương bằng đồng, hai pho tượng Thích ca, một bằng gỗ mít, một bằng đồng, hai lọ lục bình và một chuông, một bia đá. Đặc biệt chùa còn lưu giữ một tấm bia ghi tên tuổi những người công đức xây dựng chùa Hiến. Đây là nguồn tư liệu quý, sớm nhất được bảo tồn về lịch sử hình thành và phát triển của Phô Hiên.

Chùa Hiến còn bảo tồn báu vật đặc sản của Phô' Hiến, đó là cây nhãn tổ tiến vua.

Chùa Hiến là niềm tự hào của Phô' Hiến, tuy có sự giao lưu với các luồng văn hoá khác, nhưng chùa Hiên vân mang đậm những giá trị văn hoá Việt Nam.

Chùa Chuông

Có tên chữ "Kim Chung tự", giá trị nổi tiếng của chùa Chuông luôn gắn liền vối tên Phô' Hiến.

"Chùa Chuông P hố Hiến Vốn tiếng danh lam"

Tên chùa gắn liền với câu chuyện huyền thoại về quả chuông có tiêng kêu vang xa ở trên bè gỗ trôi dạt vào đây năm Đại Hồng thuỷ. Chùa toạ lạc ở phía nam thôn Nhân Đục, xã Hiến Nam, thị xã Hưng Yên. Chùa được xây dựng từ

thế kỷ XV và theo bia cộng'đức chùa được trùng tu lớn vào năm 1708, giữ lại quy mô, kiểu dáng như hiện nay.

Chùa được xây dựng theo kiểu "nội Công, ngoại Quốc". Chùa có hệ thống cổng tam quan kiểu chồng diêm uy nghi, duyên dáng và lộng lẫy, gồm cổng phụ 2 tầng, 8 mái, cổng chính 3 tầng 12 mái. Chính điện được kết cấu theo kiểu cuốn chồng đấu sen, điêu khắc hình rồng cách điệu tinh xảo.

Hiện nay chùa còn lưu giữ một văn bia quý ghi tên những ngưòi công đức trùng tu chùa, một khánh đá, một chuông lớn, 52 pho tượng được tạo tác tinh xảo, 2 nghê đá đều có niên đại thời Lê. Đây là những báu vật, là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu về Phô Hiến cổ, vể những giá trị văn hoá kiến trúc mỹ thuật của người xưa.

Văn miếu Xích Đằng

Phố Hiến là vùng đất nằm trong xứ văn hoá Sơn Nam hạ, một vùng đất học, đất vàn. Nên cùng với một sô' tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương... Phô" Hiến còn lưu giữ Văn miếu hàng tỉnh.

Văn miếu Xích Đằng toạ lạc ở một làng quê thanh bình, không khí trong lành, ruộng vườn cây trái xum xuê (Xích Đằng — Lam Sơn - thị xã Hưng Yên).

Công trình được khởi dựng từ năm 1804, có quy mô lớn. Kiến trúc như ngày nay có từ năm Minh Mạng thứ XIII (1831). v

Văn miếu Xích Đằng được kiến trúc thành các bộ phận đăng đốỉ sau:

Văn miếu môn hai tầng tám mái, vối các đầu đao uốn cong đưòng bệ, uy nghiêm, theo đường thần đạo, bên phải có gác chuông, miếu thờ thổ thần, bên trái có khánh đá.

Hai bên sân có tả vũ, hữu vũ mỗi dãy 5 gian, xưa là nơi các quan chuẩn bị trước khi tê lễ.

Phần chính điện là toà nhà có lối kiến trúc chữ "Tam".

Văn miếu Xích Đằng sau một thời gian dài bị lãng quên, bị xuống cấp. Từ năm 1997 đến nay công trình đã được Nhà nưóc va địa phương đầu tư để trùng tu, tôn tạo giữ lại những giá trị nguyên vẹn như xưa, từ vật liệu đến giá trị kiến trúc mỹ thuật.

Văn miếu Xích Đằng là điểm tham quan mà khi trùng tu xây dựng đã có quy hoạch đê phát huy giá trị nhằm phát triển du lịch nên đã chú trọng đến xây dựng công trình vệ sinh, bãi đỗ xe, làm đường ô tô trải nhựa đến tận công trình.

Hiện nay, ở đây còn lưu giữ 8 tấm bia đá ghi danh tên họ, thân thế, sự nghiệp của 72 vị tiến sĩ quê ở Hưng Yên từ thòi Trần đến thòi Lê.

Văn miếu Xích Đằng là di tích thể hiện rõ truyền thống văn hoá, hiêu học của người dân Phố Hiến, điểm tham quan hấp dẫn với du khách.

Hội quán Đông Đô Quảng Hội

Hội quán được xây dựng ở trung tâm Phô' Hiến hạ cùng với đền Thiên Hậu, đây là nơi hội họp của người Hoa và những thượng khách đến giao thương,

đồng thồi hội quán là nơi thò tam thánh gồm thần Hoa Quang (thầy dạy trăm nghề), thần Nông và thò Thiên hậu Thánh mẫu Lâm Tức Mạc.

Công trình được xây dựng từ thời Lê Thế Tông (1597), trước kia kiến trúc theo kiểu chữ "Nhị", nay chỉ còn lại một toà nhà.

Hội quán do 14 dòng họ người Hoa đến đây định cư xây dựng. Nguyên vật liệu xây dựng như ngói thanh Lưu ly, gỗ, cánh cửa, đồ tế tự đều dược mua từ Trung Quốc chở sang. Vì vậy hội quán Đông Đô Quảng Hội là di tích lịch sử văn hoá mang đậm những giá trị văn hoá Trung Hoa.

Do được xây dựng đã trên 400 năm, vai trò kinh tế của Phô" Hiến đã bị suy thoái, phần lớn người Hoa phiêu tán đi các nơi, sô định cư lại còn ít, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, nên công trình không được quan tâm bảo tồn, tôn tạo, hiện nay bị xuống cấp nghiêm trọng.

Nhà thờ

Nhà thờ họ Ôn

, , 'ykơ cúng tô tiên là thê hiện truyền thông uông nước nhớ nguồn, ăn quả nnơ ké trông cây, đây là tập quán của cả người Việt và người HoaT

,, Trong lịch sử phát triển, Phố Hiến đã có tới 14 dòng họ người Hoa từ 6 C,ua Trung Quôc đên đây định cư, sinh sông. Tuy nhiên hiên nay chỉ có 4 ong họ gôm họ Tiêt, họ On, họ Lý, họ Hoàng để lại gia phả có ghi chép cẩn tbận. Trong đó chỉ còn hai dòng họ (trong đó có họ On) lưu giữ được nhà thờ

aĨ the° lô\ kiến trúc chữ "Nhất", toạ lạc ở phía sau khu nhà ở của gia đình, dung đe trông nom hương khói và đặt bàn thờ tổ tiên có bài vị thờ gia phả, sắc Phong Gia phả của họ On đã lưu truyền được 8 đòi, ước tính tổ tiên cua họ đã ơen Phô Hiến sinh sống khoảng 500 năm.

Nhà thờ Thiên chúa giáo

Bên cạnh người Trung Hoa, nhiều thưnnơ rrío >„ ' 1 _ m- cũn ÍT ưốr, PUA' 7 ' u L 7; rnuơng gia của các nước phương Tâv

c h S L l!" J s í í ĩ bụôn bán lập thưọng điếm c T c „hà t r u ^ n dao Thiên .1 . ‘ ,y.ền ^ đõy kh* **ằ. từ đau t h ớ kỷ S / I I

Vì vậy, các nhà thò Thiên chúa giáo có si á tvi ,,A' 1 - 7 4. 7 - mô lốn đ ĩ được xây dựng ỏ Phô Hiến Nhà t ẫ t r n $^ ếrí T? quz

ô và „hà thàẴgi ằ ?, L \ ; , ĩ kị

xây dựng năm 1905 hờ ở Làng Tiêu ngày nay’ đưỢc

N h ìn bê ngoài, m ặt trước của các nhà 1 -2' , , , . g ,

r ấ n 7 h á 7 „7 , . a a thơ có kiến trúc theo kiểu Gô tích,

, cac tháp nhọn cao, các toà nhà sâu và c a n M t,,r 7 7 7 77 _ 7 ,7 /7

¿ u n g l h r u ực ự n g g ĩ; dưọc n ếi vđi 1 “ b1 7 " nhg/ f “ ‘ n ic f " í r 0 n g là k ộ

Cỏc nhà thồ Phố' H iến th ể hiờn sư kết hrtô P' - ¿ 1 7 ~.~1 1 . c , r _ N a m ìriáV, +V.C 7 7* 777* , .7 • • Ket “ Ợp h ài hoà giữa kiến trúc V iêt

Nam> k iên trúc phương Đông, kiên trúc nhiínno- T s * _u _ _ •> ú 7

quê th an h bình. puương Tây và phong cảnh của vùng

Một phần của tài liệu Tuyến điểm du lịch việt nam (Trang 188 - 198)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(499 trang)