Hòa bình lập lại, ngành công nghiệp nói chung và Công nghiệp Hoá chất nói riêngchỉ bao gồm một số ít ỏi các cơ sở rất lạc hậu như Nhà máy xi măng Hải Phòngphải ngừng sản xuất, một vài xí
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 2MỞ ĐẦU
I Kỹ thuật hóa học là gì?
Kỹ thuật hóa học là một ngành có ảnh hưởng lớn tới nhiều lĩnh vực của côngnghệ Hiểu theo nghĩa rộng, người kỹ sư ngành Kỹ thuật hóa học đảm nhiệm việcthiết kế các quy trình với mục đích sản xuất, biến đổi và vận chuyển vật liệu Hoạtđộng này bắt đầu từ việc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, sau đó sử dụng cáccông nghệ đã có để sản xuất trên quy mô lớn
Phần lớn các ngành công nghiệp đều phụ thuộc vào sự tổng hợp, quá trìnhchế biến của các hoá chất và vật liệu, những yêu cầu này được giao phó cho các kỹ
sư hóa học với yêu cầu cao Ngoài các ngành truyền thống như công nghiệp hóachất, năng lượng và hóa dầu, cơ hội trong công nghệ sinh học, dược phẩm, chế tạothiết bị điện tử và kỹ thuật môi trường đang tăng lên Bất cứ quá trình nào tiến hànhliên quan đến hóa chất, chuyển đổi vật chất thì việc đào tạo các kỹ sư hóa học mộtcách chuyên sâu trở nên thiết yếu trong các lĩnh vực này Ví dụ, các kỹ sư hóa họclàm việc trong ngành công nghiệp hóa chất nghiên cứu việc tạo ra các vật liệupolyme mới với các tính chất quan trọng liên quan đến quang học, cơ khí hoặcđiện Điều này đòi hỏi sự lưu ý không chỉ đến tổng hợp polymer mà còn tới sảnlượng và thiết kế các quy trình cần thiết để tạo ra một sản phẩm cuối cùng Trongcông nghệ sinh học, kỹ sư hóa học chịu trách nhiệm trong việc thiết kế các cơ sởsản xuất sử dụng các vi sinh vật và enzyme, tổng hợp các loại thuốc mới Vấn đềtrong kỹ thuật môi trường mà kỹ sư hóa học tham gia bao gồm sự tiến triển của cácquá trình (xúc tác chuyển đổi, các cơ sở xử lý nước thải) để giảm thiểu giải phóngcác sản phẩm có hại cho môi trường
Để thực hiện các hoạt động này, người kỹ sư hóa học phải có một sự hiểubiết đầy đủ về nguyên lý khoa học và kĩ thuật của các quy trình công nghệ căn bản.Điều này được phản ánh trong các chương trình giảng dạy của các khoa kỹ sư hóahọc trong đó bao gồm việc nghiên cứu toán học và ứng dụng, sự cân bằng của nănglượng và vật liệu, nhiệt động lực học, cơ học chất lỏng, biến đổi năng lượng vàkhối lượng, công nghệ tách, động học hóa học và thiết kế lò phản ứng Các khóahọc này được xây dựng dựa trên các ngành khoa học như vật lý, hóa học và sinhhọc
http://cheme.stanford.edu/
Trang 3II Lịch sử phát triển của ngành Kỹ thuật hóa học trên thế giới
Trong khi "kỹ sư hóa học" vẫn là một thuật ngữ rất mơ hồ trong ngành kỹthuật suốt những năm 80 của thế kỉ XIX, không có chương trình đào tạo chính quynào cho một người như vậy "Kỹ sư hóa học" được dùng để chỉ một kỹ sư cơ khí đãđạt được một số kiến thức về quá trình thiết bị hóa học, một quản đốc nhà máy hóachất với một đời kinh nghiệm nhưng được đào tạo rất ít, hoặc một nhà hóa học ứngdụng kiến thức về các phản ứng hóa học vào công nghiệp trên quy mô lớn
Để giải quyết tình trạng này, năm 1880, George Davis đã tổ chức một hộinghị mang tên “Liên hiệp các Kỹ sư hóa học” có sự tham dự của chuyên gia cácngành nhưng không thành công Năm 1887, ông thực hiện 12 bài giảng về quá trìnhhóa học ở trường Kỹ thuật Manchester Năm 1888, Giáo sư Lewis Norton của ViệnCông nghệ Massachusetts mở hội nghị "Khóa X", qua đó thống nhất về trình độtiêu chuẩn của một kỹ sư hóa học Các trường khác như Đại họcPennsylvania và Đại học Tulane, nhanh chóng áp dụng tiêu chuẩn với việc thêmchương trình đào tạo kỹ sư hóa học hệ bốn năm vào năm 1892 và 1894
Từ đó, kỹ thuật hóa học bắt đầu được thay đổi để đáp ứng các nhu cầu của côngnghiệp hóa chất Vào cuối thế kỷ XIX, Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất trở nênkhốc liệt Với mục tiêu là hạ thấp chi phí sản xuất, các nhà máy được tối ưu hóa ví
dụ tái chế và thu hồi các chất chưa phản ứng, tận dụng chất thải trong sản xuất, tănghiệu suất các phản ứng tổng hợp sản phẩm, lắp đặt hệ thống ống dẫn với thiết kếdựa trên kiến thức hóa lý Với các yêu cầu này, người kỹ sư hóa có khả năng thiết
kế và điều hành các hoạt động hóa chất ngày càng phức tạp bắt đầu xuất hiện
Kể từ đó đến nay, kỹ thuật hóa học đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc Cóthể tóm tắt các sự kiện tiêu biểu:
1892: Bang Pennsylvania (Hoa Kỳ) bắt đầu chương trình đào tạo Kỹ thuật hóa
học
1893: Sorel xuất bản cuốn "La rectification de l'alcool" đã được ông phát triển và
áp dụng các lý thuyết toán học William Ostwald đã chứng minh rằng enzim là chất xúc tác.
1901: Bắt đầu khai thác dầu mỏ ở Ba Tư
1908: Học viện Kỹ thuật hóa học Mỹ (AIChE) được thành lập Svante Arrhenius chứng minh rằng hiệu ứng nhà kính do sử dụng than đá và dầu khí gây
ra sự nóng lên toàn cầu Tiến sĩ Leo Baekeland ("Cha đẻ của ngành công nghiệp Nhựa") phát minh ra Bakelite trong phòng thí nghiệm tại Yonkers.
Trang 41910: Nhựa Bakelite bắt đầu được sản xuất đại trà Nó được sử dụng rộng rãi trong vật liệu cách điện, vỏ đồng hồ và đồ trang sức Quy trình Haber lần đầu tiên được sử dụng để tổng hợp Amoniac ở Ludwigshafen, Đức.
1913: Các Công ty chế biến dầu mỏ Ấn Độ bắt đầu sử dụng phương pháp cracking nhiệt.
1920: Xenlulôzơ axetat, acrylics (Lucite & Plexiglas), và polystyrene được sản
xuất trên quy mô công nghiệp
1929: Alexander Fleming tìm ra Penicillin
1935: H Wallace Carothers phát hiện ra Nylon.
1940: Công ty Standard Oil (Ấn độ) phát triển xúc tác Reforming để sản xuất xăng có chỉ số octane cao hơn và tạo toluene cho TNT
1941: Cao su Styrene-Butadiene đầu tiên được sản xuất tại Mỹ
1955: General Electric sản xuất kim cương tổng hợp.
1973: Stanley Cohen và Herbert Boyer thực hiện các thử nghiệm đầu tiên trong kỹ thuật di truyền.
1976: Viện khoa học Quốc gia Hoa Kỳ báo cáo
rằng chlorofluorocarbons (Freons) có thể làm cạn kiệt tầng ôzôn Hoa
Kỳ cấm việc sử dụng chloroform sau đó là Freons.
1986: K Alex Muller và George J Bednorz khám phá một chất siêu dẫn hoạt động ở 30 độ Kelvin Điều này đặt ra một đề tài mới "chất siêu dẫn nhiệt độ cao".
Lịch sử phát triển của ngành Hóa chất Việt Nam
Thời kỳ ban đầu
Công nghiệp hoá chất nước ta đã phôi thai từ trong cuộc trường kỳ kháng chiếnchống Pháp Trải qua trên sáu mươi năm phát triển, Công nghiệp hoá chất đã cóquy mô lớn, bao gồm nhiều phân ngành, thành phần kinh tế, trình độ công nghệ đã
có bước thay đổi cơ bản với một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và công nhân
kỹ thuật đông đảo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã sản xuất được thuốc nổ, ngòi
nổ, than cốc Các xưởng phốt phát nghiền được xây dựng ở nhiều nơi Ngoài rachúng ta còn sản xuất được một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như xà phòng,diêm, bát đĩa, đồ da thuộc
Trang 5Hòa bình lập lại, ngành công nghiệp nói chung và Công nghiệp Hoá chất nói riêngchỉ bao gồm một số ít ỏi các cơ sở rất lạc hậu như Nhà máy xi măng Hải Phòng(phải ngừng sản xuất), một vài xí nghiệp tư nhân và 6 xí nghiệp hoá chất quốcdoanh , đó là các xưởng phốt phát nghiền thủ công.Ngay từ những năm 1950 -1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc ngànhhoá chất được khôi phục lại hoặc thành lập mới và đã bắt đầu hoạt động có hiệuquả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở miền Bắc.
Trong khi các sản phẩm hoá chất tiêu dùng như xà phòng, thuốc đánh răng v.v chủyếu vẫn do công nghiệp địa phương sản xuất thì trước nhu cầu cấp thiết về phânbón cho nông nghiệp, ngay từ những ngày đầu tiên sau hoà bình lập lại, Đảng vàNhà nước ta đã quyết định lấy Công nghiệp hoá chất làm động lực quan trọng đểkhôi phục và phát triển nông nghiệp Trong thời kỳ này Mỏ Apatit Lào Cai đã đượckhôi phục sản xuất và ngay từ năm 1955, những tấn quặng apatit khai thác đầu tiên
đã được cung cấp cho nhu cầu làm phân bón
Trong giai đoạn cải tạo và phát triển công nghiệp (1958 -1960), chúng ta cũnghướng Công nghiệp hóa chất vào phục vụ sản xuất trong nước, đặc biệt phát triểnnông nghiệp Năm 1959 chúng ta đã khởi công xâu dựng Nhà máy Supe phốt phátLâm Thao - con chim đầu đàn của ngành hoá chất thời kỳ đó - Tháng 4 năm 1962,Nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động và xuất xưởng những tấn phân lân supeđầu tiên phục vụ nông nghiệp
Phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp
- Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng
- Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ
- Đáp ứng nhu cầu dân sinh
Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp
Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìntấn ( tăng hơn 90 lần)
Trang 6Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn
Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địaphương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêudùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn) Thậm chí 45 tấn thuốc trừsâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chấtđịa phương
Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nhà máySupe phốt phát Lâm Thao (19/8/1962)
Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)
Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn,nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đấtnước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tựhào
Nhưng kế hoạch sản xuất chỉ được thực hiện không đầy 4 năm trong hoà bình Sau
đó chúng ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.Mặc dù phần lớn các cơ sở công nghiệp ở miền Bắc nước ta đều bị đánh phá, toàn
Trang 7bộ nền kinh tế phải chuyển hướng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhưngcác thành quả thu được cũng rất đáng kể, Công nghiệp hoá chất và vật liệu xâydựng vẫn có tốc độ tăng trưởng cao Riêng Công nghiệp hoá chất tăng gấp 4,62 lần,hơn cả điện lực và cơ khí Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất chiếm 9,5% giátrị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.
Trong kỳ kế hoạch 1961 - 1965, hàng loạt nhà máy lớn của Công nghiệp hóa chấtnhư Supe phốt phát Lâm Thao, Hoá chất Việt Trì, Acquy Hải Phòng, Pin Văn Điển,Phân lân nung chảy Văn Điển v.v đã được xây dựng và nhanh chóng đi vào sảnxuất
Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất đượcphân lân chế biến Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời
kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vàonăm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric,
Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đápứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng banđầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa
kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất Các mặt
Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranhphá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tụcphát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp Cơ cấu ngành cũng có nhiềuthay đổi Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô
Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, VĩnhPhú (Việt Trì - Lâm Thao) và Hải Phòng
Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 - 1975)
Trong thời kỳ này miền Bắc nước ta phải trải qua hai lần bị đánh phá nặng nề Đây
Trang 8cũng là thời kỳ ngành hoá chất có một bước biến chuyển mới : Ngày 19 tháng 8năm 1969, Nhà nước đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực thuộc Chínhphủ, đồng thời đây cũng là thời kỳ (trong vòng 10 năm) mà các cơ sở Công nghiệphoá chất của miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất Mặc dù gặp rất nhiều khókhăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhưng nhìn chung Công nghiệp hoáchất vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trương đối cao Giá trị tổng sản lượngnăm 1975 tăng gấp 1,65 lần so với năm 1965.
Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân Các sản phẩm trọng yếukhác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Côngnghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn Về cơ cấu ngành, đã hình thànhnhiều thành phần kinh tế - kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:
- Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông
- Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
- Công nghiệp cao su;
- Công nghiệp hoá chất cơ bản;
- Công nghiệp pin – acquy;
- Công nghiệp xà phòng…
Trong Công nghiệp hoá chất còn có các phân ngành như : silicat (chủ yếu sản xuấtvật liệu xây dựng, xi măng), vật liệu chịu lửa, các mặt hàng gốm sứ, thuỷ tinh dùngtrong công nghiệp và dân dụng,v.v Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất tạicác doanh nghiệp nhà nước là trụ cột của ngành Có thể nói Công nghiệp hoá chất
là một trong những ngành đã thể hiện rõ rệt tính chủ đạo của công nghiệp quốcdoanh Các doanh nghiệp nhà nước đã bảo đảm được gần 70% giá trị tổng sảnlượng toàn ngành
Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và
xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v cũng hoàntoàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm Tất cả các hoá chất và sản phẩm liênquan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuấttheo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành Trong ngành cóhai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện
Trang 9Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật
và một trường quản lý kinh tế
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN 1976-1985 CỦA NGÀNH
Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1976 - 1980)
Đất nước thống nhất và giải phóng miền Nam, chúng tiếp quản được hàng loạt xínghiệp công nghiệp, trong đó có các xí nghiệp hóa chất, mà phần lớn là loại nhỏ.Công nghiệp hoá chất thuộc loại có tỷ trọng đầu tư cao nhất của ngành công nghiệpmiền Nam và tập trung chủ yếu vào các sản phẩm tiêu dùng Các sản phẩm nhưsăm lốp xe đạp và xe máy, pin - ăcquy, sơn, xà phòng, thuốc đánh răng, chất tẩyrửa và nhất là hàng nhựa là các sản phẩm có sản lượng lớn và khá phong phú vềchủng loại, nhưng lĩnh vực phân bón chỉ có phân trộn và photphorit nghiền với sảnlượng thấp
Trong thời kỳ này, một mặt, sau khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam,chúng ta đã sáp nhập nhiều công ty nhỏ và thành lập nhiều công ty thuộc nhữngphân ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau, có quy mô lớn hơn Tại miền Bắc nhiều nhàmáy hoá chất cũng được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới Đặc biệt, trong thời
kỳ này để thực hiện mục tiêu 1,3 triệu tấn phân hóa học đề ra cho kế hoạch 5 năm,chúng ta đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng trực tiếp làmphân bón Kết quả là từ năm 1976 đến 1980 số xí nghiệp của Tổng cục Hóa chất đãtăng liên tục từ 71 lên 111, tăng gần 1,6 lần
Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực rất phức tạp, việc Mỹ và một số nướcphương tây thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, mà từ năm 1978 sảnlượng toàn ngành công nghiệp giảm sút nhanh.Công nghiệp hóa chất nằm trong bối cảnh chung của đất nước, cộng thêm sự giảmsút về nguyên liệu nhập khẩu, nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy,trong năm 1980 chỉ số phát triển của Công nghiệp hoá chất trung ương đã giảm, chỉ
Công nghiệp hóa chất là một trong số những ngành có tốc độ tăng trưởng cao trong
kỳ kế hoạch này Giá trị tổng sản lượng năm 1985 gấp 1,8 lần năm 1980 Công
Trang 10nghiệp hóa chất cũng là một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trongngành công nghiệp, tới 10,6% vào năm 1985.
Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhàmáy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìntấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm
1980 Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần Các sản phẩm chủ yếu khácnhư các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu củangành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v đều tăng sản lượng và số mặthàng Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bịgiảm Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1986 - 1990)
Trong kỳ kế hoạch này, ngoài việc điều chỉnh mục tiêu theo hướng đẩy mạnh đầu
tư cho ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, Đảng và Nhà nước đã có những quyết sách rất quan trọng: Khuyến khích đầu
tư nước ngoài; khuyến khích các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển, trong đókinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Giao cho các xí nghiệp quốc doanh quyền tựchủ kinh doanh Giai đoạn này, công nghiệp hóa chất thuộc những ngành có tốc độtăng trưởng cao Bình quân trong 3 năm đầu, tốc độ tăng trưởng khoảng 6% mỗinăm
Tuy nhiên, là một ngành phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu nên công nghiệphóa chất chịu tác động của cơ chế hai giá và các chính sách khác từ khi chuyểnsang cơ chế thị trường Khi những thuận lợi bên ngoài không còn nữa, Nhà nướctiếp tục xoá bỏ các tàn dư của cơ chế quản lý cũ (cơ chế hai giá, ba kế hoạch ) vàchuyển hẳn sang cơ chế phù hợp với quy luật kinh tế thị trường thì sản lượng củanhiều ngành công nghiệp, trong đó có ngành công nghiệp hóa chất bị giảm sút.Trong thời kỳ này, nhờ đường lối đổi mới khuyến khích các thành phần kinh tếcùng phát triển nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển khá Trongcông nghiệp hóa chất, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu đầu tư sản xuấtcác mặt hàng tiêu dùng như: xà phòng, thuốc đánh răng, săm lốp xe đạp Ở thờiđiểm này các doanh nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng rất thấp trong cơ cấu giá trị tổng
Trang 11Điều đáng chú ý là khu vực quốc doanh chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổngcục Hóa chất, mặc dù phải chịu nhũng thách thức rất lớn khi chuyển từ cơ chế kếhoạch hóa tập chung sang cơ chế thị trường lại chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh củakhu vực ngoài quốc doanh, nhất là hàng nhập khẩu, nhưng đã nhanh chóng vượtmọi thử thách và giữ vững vai trò chỉ đạo của kinh tế quốc doanh.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 - 1995)
Có thể nói đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện theo cơ chế giao quyền gần như tựchủ hoàn toàn cho các doanh nghiệp Bước vào giai đoạn này đã có những thay đổi
về tổ chức, Bộ Công nghiệp nặng được thành lập lại, trên cơ sở cơ chế quản lý mớiNhà nước đã thành lập hai Tổng công ty quản lý các doanh nghiệp thuộc Tổng cụcHóa chất trước đây
Ngành công nghiệp hóa chất đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt mức gần20% trong suốt thời kỳ kế hoạch Cũng trong kỳ kế hoạch này, công nghiệp địaphương chiếm tỉ trọng xấp xỉ 57% tổng giá trị sản lượng toàn ngành, trong đó cácdoanh nghiệp quốc doanh địa phương khoảng 31% Đặc biệt, trong giai đoạn này,khu vực ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng tới trên 1/4 giá trịtổng sản lượng năm 1995 của toàn ngành
Mặc dù khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, đặc biệt là các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủđạo, chiếm tỷ trọng 74,4%, trong đó hai Tổng công ty Hóa chất chiếm 43%.Khu vực công nghiệp địa phương trong sản xuất với số lượng doanh nghiệp còn rất
ít, nhưng cũng có một vị trí đáng kể trong ngành Giá trị sản xuất công nghiệp năm
1995 của các liên doanh đã chiếm 13,6% giá trị toàn ngành
Ngày 20/12/1995, tại Quyết định số 835/TTg, Thủ tướng Chính phủ đã quyết địnhthành lập Tổng công ty Hóa chất Việt Nam theo mô hình Tổng công ty mạnh, trên
cơ sở hợp nhất Tổng công ty Phân bón và Hóa chất cơ bản với Tổng công ty Hóachất công nghiệp và Hóa chất tiêu dùng Tổng công ty Hóa chất Việt Nam là mộttrong 18 Tổng công ty hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91 Tổng công ty Hóachất Việt Nam ra đời, đã kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động và thànhtích của ngành hóa chất trước đây
Trang 12Tại thời điểm thành lập, Tổng công ty Hóa chất Việt Nam có 41 đơn vị thành viên,
2 đơn vị phụ thuộc và 6 đơn vị sự nghiệp Với các ngành nghề sản xuất kinh doanhchủ yếu như phân bón các loại hóa chất cơ bản, săm lốp ôtô, xe máy, xe đạp và cao
su kỹ thuật, sản phẩm điện hóa, chất tẩy rửa, khai thác mỏ
Tiếp tục quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, theo Phương án đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 24 tháng 4 năm 2006, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 89/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án chuyểnTổng công ty Hóa chất Việt Nam sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công
ty con và Quyết định số 90/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tổng
Tại thời điểm thành lập, Công ty mẹ - Tổng công ty Hóa chất Việt Nam có 23 công
ty con, trong đó có 2 công ty TNHH một thành viên, 11 công ty liên kết; 4 công tyliên doanh và 2 đơn vị sự nghiệp Công ty Mẹ - Tổng công ty Hóa chất Việt Namđược thành lập theo Quyết định số 90/2006/QĐ-TTg ngày 24/4/2006 của Thủtướng Chính phủ; tổ chức và hoạt động theo Quyết định số 279/2006/QĐ-TTg ngày
18 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ tổ chúc
và hoạt động Công ty mẹ - Tổng công ty Hóa chất Việt Nam Tổng công ty có tráchnhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng công ty Hóa chất Việt Namtheo quy định của pháp luật
Giai đoạn này, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những bước phát triển vượtbậc, đã tăng nhanh năng lực sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đóng góp lớn cho việcbảo đảm cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho nền kinh tế; tạo nguồnthu cho ngân sách; cùng với các Tập đoàn và Tổng Công ty nhà nước giữ vai tròchủ đạo trong ngành sản xuất phân bón và một số lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế Quy mô vốn sở hữu của Tổng Công ty từ 2006 đã tăng lên đáng kể Năm 2006,tổng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 đã đạt6.818 tỷ đồng, tăng 56,79; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề
ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng Tính đến thời điểm 30 tháng 11 năm 2009,ngoài Công ty mẹ, Tổng Công ty có 10 Công ty con mà Tổng Công ty giữ 100%vốn điều lệ, 10 Công ty trên 50% vốn điều lệ, 11 Công ty liên kết và 4 Công ty liêndanh với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu, phát triển
Trang 13Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng,phải cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và quốc tế, Tổng Công ty cónhững phát triển vượt bậc và toàn diện trên các mặt sản xuất, kinh doanh, đầu tưxây dựng cơ bản, lao động sáng tạo, ứng dụng thành tựu KHCN, bảo vệ môitrường, công tác xã hội từ thiện Tổng Công ty đã góp phần đảm bảo an ninhlương thực đất nước, mỗi năm cung cấp cho nông dân 1,4 triệu tấn phân chứa lângồm supe photphat và phân lân nung chảy; đáp ứng 100% nhu cầu của cả nước;khoảng 1,4 - 1,6 triệu tấn phân NPK các loại và 150 nghìn tấn phân đạm Ngoàiphân bón, các ngành như cao su (săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy); chất giặt rửa, cácsản phẩm điện hóa (pin, ắcquy), hoá chất cơ bản (xút, axít ) cũng được phát triển.Trong 10 năm 1998-2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của Tổng Công ty là11,13%, chiếm tỷ trọng 10%, giữ vị trí đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.
Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 2180 TTg thànhlập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) và ngày 20 tháng 1 năm 2010,Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội Tập đoàn Hóa chất ViệtNam là doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt độngtheo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, được thành lập theo trên cơ sở xắp xếp, tổchức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam Công ty mẹ - Tập đoàn Hóa chất ViệtNam là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; được thành lập trên cơ sở tổ chức lạiVăn phòng Tổng công ty, các ban chức năng và các đơn vị hạch toán phụ thuộcgồm: Công ty Vật tư và Xuất nhập khẩu Hóa chất; Trung tâm Thông tin KHKTHóa chất; Trung tâm Thương mại và Dịch vụ Hóa chất Tập đoàn Hóa chất ViệtNam có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Tổng công tyHóa chất Việt Nam theo quy định của pháp luật
Trang 14Lễ ra mắt Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
Tại thời điểm thành lập, ngoài Công ty mẹ - Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tậpđoàn có 10 công ty con do tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ, 17 công ty con dotập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ khi cổ phần hóa, 16 công ty con do tập đoànnắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, 1 Viện nghiên cứu, 1 Trường cao đẳng Ngành kinhdoanh chính là đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, sản xuất kinh doanh phân bón,thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất cơ bản, sản phẩm cao su, pin và ắc quy, chất giặtrửa và mỹ phẩm, khí công nghiệp, khai khoáng, sản phẩm hóa dầu, hóa dược…
Sự ra đời của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là một dấu ấn quan trọng, một bướcngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới để phát triển Ngành hóa chất Việt Nam trongthập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 Tập đoàn sẽ tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong việcphát triển các ngành trong lĩnh vực hóa chất, phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, khai thác triệt để thế mạnh các tài nguyên, chủ động đượcnguyên liệu đầu vào, hạn chế nhập khẩu nguyên liệu Đối với từng sản phẩm sẽ cóbước đi, lộ trình cụ thể trong việc chiếm lĩnh thị trường nội địa và mở rộng thịtrường xuất khẩu Chúng ta sẽ nhập khẩu công nghệ hiện đại, trình độ tự động hoácao cho những dự án đầu tư mới ở những lĩnh vực có tính cạnh tranh, nhằm tạo racác sản phẩm có chất lượng cao, giá thành có sức cạnh tranh, bảo đảm môi trườngsinh thái Đồng thời, Tập đoàn sẽ tiếp tục đầu tư các dự án góp phần bảo đảm anninh lương thực quốc gia, đảm bảo nhu cầu phân bón (lân, đạm – urê, NPK) trong
Trang 15nước Phát triển nhanh mạnh hóa chất cơ bản, xúc tiến nhanh cơ sở sản xuất sảnphẩm hóa dầu, hóa dược Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hóa chất trên cơ sởtăng sức cạnh tranh của các sản phẩm.