MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ I/ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ
Trang 1Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ
I/ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ
1/ Khái niệm tổ chức bộ máy quản lý thuế
Để hiểu bộ máy quản lý thuế, chúng ta nghiên cứu một số khái niệm liênquan:
1.1/ Chức năng quản lý: là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu
của chủ thể quản lý nảy sinh do sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt độngquản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý Chức năng quản lý xácđịnh khối lượng và trình tự các công việc cơ bản của quá trình quản lý Mỗichức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là quá trình liên tục của các bước công việctất yếu phải thực hiện
1.2/ Chức năng quản lý thuế: là những công việc cơ bản vốn có, tất yếu
phải thực hiện và trình tự thực hiện các công việc đó để quản lý và thu thuế vàongân sách Các công việc này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ngườiquản lý thuế ở bất cứ chế độ quản lý thuế nào (Ví dụ: nhiệm vụ tuyên truyềnchính sách thuế, kê khai thuế, tính thuế, thu thuế, kiểm tra, thanh tra việc thựchiện nghĩa vụ thuế là những nhiệm vụ cố hữu của quản lý thuế) Mỗi chứcnăng, nhiệm vụ này được giao cho bộ phận nào thực hiện sẽ thể hiện vai trò, tácdụng của bộ phận đó đối với công tác quản lý thuế
1.3/ Hệ thống thuế: bao gồm 2 bộ phận chính
- Hệ thống chính sách thuế: Gồm các sắc thuế được ban hành dưới hình
thức Luật, Pháp lệnh Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh tế,song chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trìnhphát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
- Hệ thống quản lý thuế: gồm các phương pháp, hình thức quản lý thu
thuế, các công cụ quản lý (các qui định, qui trình, biện pháp nghiệp vụ, phươngtiện quản lý), cơ cấu tổ chức bộ máy (các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan thuếcác cấp trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng quản lý thuế và mối quan hệgiữa chúng), đội ngũ cán bộ, công chức thuế Trong đó, cơ cấu tổ chức bộ máy
và đội ngũ cán bộ thuế (gọi chung là bộ máy quản lý thuế) là một bộ phận quantrọng trong hệ thống quản lý thuế
Trang 21.4/ Tổ chức bộ máy quản lý thuế: là một khâu quan trọng trong công tác
quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồnnhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phùhợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản
lý thuế nhằm thực thi chính sách, pháp luật thuế một cách nghiêm minh, bảođảm thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN
Trong phạm vi chuyên đề này chỉ đề cập đến tổ chức Bộ máy và chủ yếu
là việc xác định cơ cấu tổ chức Cơ quan Thuế các cấp thực hiện nhiệm vụ thuthuế nội địa
2/ Vai trò của tổ chức bộ máy quản lý thuế
- Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành toàn bộ hệthống thuế Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chứcnăng quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế
và hiệu quả quản lý sẽ cao Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phùhợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy
Vai trò của bộ máy quản lý thuế thể hiện:
+ Bảo đảm hệ thống pháp luật thuế được thực thi đầy đủ, nghiêm túc
+ Bảo đảm mục tiêu thu NSNN
+ Nâng cao hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm thuận lợi cho người nộp thuế,giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ pháp luật thuế củangười nộp thuế
- Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trongmọi lĩnh vực quản lý Trong bộ máy quản lý thuế, đội ngũ cán bộ, công chứcthuế là bộ phận quan trọng, góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính sách
- Các qui trình, biện pháp quản lý thuế
- Các định chế khác liên quan
Trang 3thuế phù hợp, khoa học, minh bạch và quyết định việc đề xuất, áp dụng cácphương pháp, qui trình và các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế hợp lý, khoa họcbảo đảm tính tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, việc xây dựng,phân bổ nguồn nhân lực phù hợp với nhiệm vụ quản lý thuế, bảo đảm thực hiệnđầy đủ các chức năng quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng của
tổ chức Bộ máy và quyết định hiệu quả của Bộ máy quản lý thuế
II CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ THIẾT KẾ BỘ MÁY QUẢN
LÝ THUẾ
Cơ sở khoa học để thiết kế bộ máy quản lý thuế là những căn cứ về lýluận và thực tiễn đã được đúc kết có ảnh hưởng, tác động đến việc xác định cơcấu tổ chức bộ máy cơ quan Thuế các cấp Ở bất cứ quốc gia nào và trong bất cứgiai đoạn phát triển nào, khi thiết kế mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế cũngđều phải dựa vào các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
1/ Chính sách thuế và qui trình nghiệp vụ quản lý thuế
- Tổ chức bộ máy quản lý thuế là xác định một bộ máy quản lý nhằm mụctiêu thực thi tốt pháp luật và các chính sách thuế hiện hành, đồng thời có xemxét đến xu hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế cũng như hệthống quản lý thuế trong tương lai Khi chính sách thuế thay đổi, nhiệm vụ quản
lý thuế ngày càng tăng, dẫn đến sự thay đổi qui trình và nghiệp vụ quản lý cũngnhư thay đổi nhiệm vụ quản lý của bộ phận, mỗi đơn vị trong cơ cấu tổ chức Sựthay đổi đến một mức độ nhất định, đòi hỏi bộ máy quản lý của cơ quan thuếcũng phải được thay đổi, kiện toàn cho phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của côngtác quản lý trong điều kiện mới, đồng thời đáp ứng yêu cầu phải thay đổi chínhsách thuế và quản lý thuế trong tương lai
- Qui trình quản lý thuế là căn cứ quan trọng để tổ chức bộ máy quản lýthuế Các bộ phận trong cơ cấu bộ máy quản lý thuế (số lượng các bộ phận, cơcấu, năng lực từng bộ phận phải được xác định phù hợp với phương pháp quản
lý thuế, bảo đảm thực hiện đầy đủ qui trình nghiệp vụ, từng khâu quản lý thuếthuế và bảo đảm hiệu quả kinh tế cao
Trước đây, khi số lượng người nộp thuế chưa nhiều, loại hình sản xuấtcòn đơn giản, trình độ sản xuất và quản lý kinh doanh còn thấp, công tác quản lýthuế được thực hiện theo qui trình chuyên quản, tổ chức bộ máy của Cục Thuếđược tổ chức thành các phòng chuyên quản đối với từng loại đối tượng nộp thuếtheo ngành nghề là hoàn toàn phù hợp Song, cùng với xu hướng phát triển củanền kinh tế, NNT cũng ngày càng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng,trình độ sản xuất và kinh doanh cũng ngày càng nâng cao, trình độ quản lý ngàycàng hiện đại, đòi hỏi công tác quản lý thuế cũng ngày càng phải hoàn thiệnhơn Sự tăng lên của NNT đến mức độ nhất định, cơ chế quản lý thuế cũ theophương pháp chuyên quản, thủ công đã nảy sinh những bất cập trong quản lý,đòi hỏi cơ quan thuế phải nghiên cứu, đổi mới qui trình, biện pháp quản lý, ápdụng các phương pháp quản lý thuế tiên tiến, thay quản lý chuyên quản bằng cơ
Trang 4chế quản lý thuế tách 3 bộ phận độc lập và cơ chế này được hoàn thiện dần bằngviệc tăng cường một số các chức năng quản lý thuế độc lập (như xử lý dữ liệuthuế, nộp thuế qua kho bạc ) Theo đó, bộ máy quản lý thuế cũng được hoànthiện và kiện toàn dần trong suốt quá trình phát triển của hệ thống Thuế thốngnhất hơn 10 năm qua
2/ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thuế các cấp
Mục tiêu của việc tổ chức bộ máy quản lý thuế là nhằm xác định và phânchia các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý thuế một cách hợp lý, trên
cơ sở đó hình thành các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp để thựchiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, bảo đảm phápluật thuế được thực thi một cách nghiêm minh, cơ quan Thuế hoàn thành nhiệm
vụ động viên ngân sách nhà nước Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế các cấp:Trung ương, Tỉnh, Huyện phải được xác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và yêu cầu công tác quản lý thuế ở từng cấp, bảo đảm sự chỉ đạothông suốt, thống nhất trong cả nước
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thuế các cấp được Nhànước qui định tại các văn bản pháp qui Theo qui định tại các văn bản pháp quihiện hành1 thì cơ quan Thuế các cấp đều có chung chức năng cơ bản là quản lýthu thuế và thu khác vào ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, ở mỗi cấp khác nhau,nhiệm vụ cụ thể của cơ quan Thuế được qui định khác nhau
+ Cơ quan Tổng cục Thuế có chức năng quản lý Nhà nước đối với cáckhoản thu nội địa, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN.Đồng thời, cũng có nhiệm vụ chỉ đạo toàn diện việc thực hiện công tác quản lýthu thuế và thu khác thống nhất trong cả nước; đề xuất các qui trình, biện phápnghiệp vụ quản lý thuế phù hợp và chỉ đạo thực hiện trong toàn ngành Ngoài ra,còn có nhiệm vụ tham gia với Bộ Tài chính trong công tác xây dựng chính sáchthuế Hiện nay, Tổng cục Thuế không có chức năng trực tiếp thu thuế
+ Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục Thuế quận,huyện, thị xã có nhiệm vụ cơ bản là quản lý và trực tiếp thu các khoản thuế, phí
và thu khác vào NSNN
Vì vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế ở cấp Trung ương và cấp địaphương về cơ bản là thống nhất, nhưng có những điểm khác nhau, phù hợp vàphục vụ trực tiếp cho việc thực hiện nhiệm vụ của từng cấp
Ví dụ: Tổng cục Thuế thực hiện chức năng giúp Bộ Tài chính nghiên cứuxây dựng chính sách thuế, chức năng hợp tác quốc tế về thuế vì vậy tại cơ quanTổng cục Thuế phải thành lập Ban chính sách, Ban Hợp tác quốc tế Nhưng tạiCục Thuế, Chi cục Thuế lại không tổ chức các phòng này vì Cục Thuế, Chi cụcThuế không có chức năng trực tiếp xây dựng chính sách thuế và hợp tác quốc tế
1 Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ qui định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài Chính.
Trang 5- Khi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thuế thay đổi để đáp ứng yêu cầucủa công tác quản lý thuế thì đến một mức độ nhất định tổ chức bộ máy cũngphải thay đổi nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thuế
+ Trước năm 1994, cơ quan Thuế không có chức năng hợp tác quốc tế vềthuế mà chỉ là chức năng quan hệ quốc tế đơn thuần nên công việc liên quan đếnquan hệ quốc tế chỉ do một bộ phận thuộc phòng Thuế xuất nhập khẩu tại Tổngcục Thuế thực hiện Năm 1994, cơ quan Thuế được Chính phủ giao chức nănghợp tác quốc tế về thuế và quản lý thuế quốc tế, lúc đó tại Tổng cục Thuế phảithành lập phòng Hợp tác quốc tế
+ Vào đầu những năm 90, khi công nghệ tin học chưa phát triển tại ViệtNam, việc quản lý thuế chủ yếu thực hiện theo phương pháp thủ công thì nhiệm
vụ nghiên cứu ứng dụng công nghệ tin học vào quản lý thuế chỉ do một tổ thuộcphòng Kế hoạch của Tổng cục thực hiện Khi chức năng phát triển tin học và ápdụng công nghệ tin học vào quản lý thuế càng phát triển và là yêu cầu không thểthiếu thì tại Tổng cục Thuế đã thành lập Trung tâm Tin học, tại Cục Thuế thànhlập phòng Tin học, Chi cục Thuế thành lập Tổ Tin học)
- Ở bất cứ nước nào hệ thống pháp luật về thuế là một bộ phận trong hệthống pháp luật Nhà nước Cơ quan Thuế là cơ quan quản lý Nhà nước, thay mặtNhà nước quản lý và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực thuế Vì vậy, Nhànước giao cho ngành Thuế thẩm quyền nhất định và độc lập trong việc tổ chức
và điều hành toàn diện các hoạt động quản lý thu thuế, quyết định các biện phápquản lý thuế phù hợp với thực tế, phục vụ tốt nhất yêu cầu của người nộp thuế,bảo đảm quản lý thu thuế đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, ở ViệtNam từ trước năm 2007, một số chức năng quản lý thuế chưa được Nhà nướcgiao cho cơ quan Thuế hoặc có giao nhưng chưa đủ các cơ sở pháp lý để cơquan Thuế tổ chức các bộ phận độc lập thực hiện các chức năng quản lý thuếcủa mình Như: chức năng cưỡng chế thu nợ thuế, chức năng điều tra các vụ viphạm về thuế lớn Từ năm 2007, Luật Quản lý thuế được ban hành theo đó, cơquan Thuế có chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ và cưỡng chế hành chính về thuế
và chức năng điều tra hành chính các vụ vi phạm về thuế Vì vậy, tại cơ quanThuế các cấp phải tổ chức các bộ phận độc lập để thực hiện tốt các chức năngđược giao
3/ Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước
Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước qui định việc phân chia địa giớihành chính quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, xã ), tổ chức bộ máy nhà nước và
cơ chế quản lý nhà nước trên từng địa phận hành chính đã phân chia
Một số nước trên thế giới có cơ chế quản lý hành chính nhà nước tại địaphương độc lập với quản lý chuyên môn của từng ngành kinh tế Như vậy, quản
lý thuế cũng hoàn toàn độc lập với hoạt động của chính quyền địa phương và tổchức bộ máy quản lý thuế không nhất thiết phải theo địa giới hành chính, mà cóthể tổ chức theo vùng (Cục Thuế vùng quản lý thuế đối với các NNT đóng trênmột số tỉnh), hoặc trong một tỉnh, thành phố có thể tổ chức nhiều Cục Thuế để
Trang 6quản lý đối với từng loại ĐTNT khác nhau nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quảcủa bộ máy, bảo đảm phục vụ ĐTNT và quản lý thu thuế nhanh, kịp thời
Ngược lại, một số nước thực hiện cơ chế quản lý nhà nước theo địa giớihành chính, công tác quản lý của các ngành kinh tế phải phụ thuộc và phục vụhoạt động của bộ máy nhà nước tại địa phương thì công tác thuế cũng phải gắnvới chính quyền địa phương Lúc đó, bộ máy quản lý thuế phải tổ chức theotừng cấp phù hợp với các cấp hành chính nhà nước Thông thường, mỗi tỉnh sẽ
tổ chức một Cục Thuế, mỗi huyện sẽ tổ chức một Chi cục Thuế Đặc trưngnhất theo cơ chế quản lý này là Trung Quốc
Hiện nay, cơ chế quản lý hành chính Nhà nước Việt Nam theo cơ chếquản lý theo địa giới hành chính gồm các cấp: Trung ương; Tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương; huyện; xã Cơ quan Thuế là cơ quan Nhà nước thực hiện việcquản lý nhà nước về thuế, do đó công tác quản lý thuế cũng phải tuân theonguyên tắc quản lý hành chính nhà nước Vì vậy, cơ cấu tổ chức quản lý thuếđược tổ chức theo 3 cấp: Cấp Trung ương (có Tổng cục Thuế); Cấp Tỉnh, Thànhphố trực thuộc Trung ương (có Cục Thuế tỉnh, Thành phố); Cấp quận, huyện (cóChi cục Thuế quận, huyện) Riêng cấp xã, không tổ chức cơ quan Thuế độc lập
mà chỉ tổ chức bộ phận quản lý thuế tại xã, phường (hoặc liên xã, liên phường)thuộc Chi cục Thuế quận, huyện Công tác thuế cũng gắn chặt và phục vụ hoạtđộng của chính quyền địa phương
4/ Đặc điểm người nộp thuế
Doanh nghiệp và cá nhân nộp thuế là đối tượng quản lý thuế của cơ quanThuế Đặc điểm của người nộp thuế gồm: ngành nghề kinh doanh, qui mô, hìnhthức sở hữu, trình độ quản lý, trình độ công nghệ đều chi phối việc xác địnhcác phương pháp, biện pháp, qui trình quản lý thuế Khi đặc điểm của Đối tượngnộp thuế thay đổi, qui mô ngày càng phát triển, mở rộng, trình độ quản lý, trình
độ công nghệ ngày càng hiện đại thì đòi hỏi phương pháp, biện pháp, qui trìnhquản lý thuế của cơ quan Thuế cũng phải thay đổi, từ đó chi phối việc xác định
cơ cấu tổ chức quản lý thuế (như đã phân tích ở mục 2.1) Chính vì vậy, khi thiết
kế mới hay cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, cơ quan thuế phải căn cứ vào các đặcđiểm của đối tượng nộp thuế để bố trí các bộ phận quản lý và nhân lực phù hợp
lý thuế thường gọn nhẹ hơn Tuy nhiên, đối với vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa
Trang 7hình thường khó khăn, hệ thống thông tin bị hạn chế và trình độ dân trí thườngthấp hơn so với các vùng đồng bằng, thành thị, vì vậy việc áp dụng công nghệhiện đại vào quản lý thường bị hạn chế Do đó, ở mức độ nào đó vẫn phải ápdụng phương pháp quản lý thủ công, vì vậy nguồn nhân lực phân bổ cho côngtác quản lý thường chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các vùng khác (tỷ trọng biênchế so với kết quả thu ngân sách)
6/ Ưu điểm, nhược điểm của cơ cấu tổ chức quản lý thuế hiện hành
Việc kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy quản lý phải nhằm mục tiêukhắc phục những tồn tại, phát huy những ưu điểm của bộ máy quản lý cũ, phục
vụ tốt hơn cho công tác quản lý thuế, bảo đảm hiệu quả quản lý cao hơn Vì vậy,khi kiện toàn, hay cải tiến bộ máy quản lý, các nhà quản lý bao giờ cũng phảiphân tích ưu, nhược điểm của bộ máy quản lý thuế hiện hành, từ đó rút ra nhữngvấn đề còn bất cập cần hoàn thiện
Để xây dựng được cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế phù hợp, hiệu lực
và hiệu quả, trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý của
cơ quan thuế các cấp, cần phân tích và kết hợp tất cả các yếu tố nêu trên
III/ MỘT SỐ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ THUẾ TRÊN THẾ GIỚI
Mô hình tổ chức quản lý thuế là bộ máy quản lý thuế được khái quát theomột nguyên tắc cơ bản nhất, bao trùm và chi phối việc xác định số lượng các bộphận, chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức.Các nhà nghiên cứu chính sách và quản lý thuế (chuyên gia của Quĩ Tiền tệQuốc tế) đã tổng kết các mô hình và đánh giá ưu nhược điểm các mô hình tổchức quản lý thuế đã được các nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, trong thực
tế một số các mô hình đều được áp dụng rời rạc trong từng cấp quản lý thuế phùhợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, nhưng hầu hết các mô hình được vậndụng kết hợp với nhau để phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của từng
mô hình riêng rẽ
1/ Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế
1.1/ Khái niệm
Là mô hình lấy việc quản lý theo sắc thuế là nguyên tắc bao trùm Theo
đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (gọi chung là phòng) quản lý một hoặcmột số loại thuế cụ thể (VD: phòng thuế Thu nhập cá nhân; phòng Thuế thuế thunhập doanh nghiệp, phòng thuế Giá trị gia tăng, phòng thuế Tiêu thụ đặcbiệt…)
1.2/ Đặc trưng cơ bản
Mỗi phòng thực hiện tất cả các chức năng để quản lý loại thuế mà phòng
đó được phân công quản lý thu đối với tất cả các đối tượng nộp thuế
1.3/ Ưu, nhược điểm
Trang 8- Tạo điều kiện để chuyên sâu quản lý từng sắc thuế, hiểu rõ phương phápquản lý sắc thuế một cách hiệu quả nhất, cho phép từng phòng tự phát triển cácchương trình chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu quản lý của từng sắc thuế.
- Phản ứng kịp thời với những thay đổi của luật thuế hay những biện phápquản lý đối với từng sắc thuế Khi một chính sách thuế nào đó có sự bổ sung,sửa đổi hoặc thay đổi qui trình quản lý thì chỉ phải thay đổi trong một phòngquản lý sắc thuế đó hoặc khi có sắc thuế mới phát sinh thì chỉ cần thành lậpthêm một phòng mới để quản lý sắc thuế đó, các phòng khác không thay đổi
- Mô hình này thuận lợi và phù hợp với các nước có nền kinh tế đangchuyển đổi, có môi trường tài chính không ổn định và có các qui định khác nhau
về thủ tục quản lý đối với từng loại thuế
*/ Nhược điểm
- Chi phí quản lý cao, hiệu suất quản lý thấp vì chức năng quản lý bịchồng chéo giữa các bộ phận Mỗi bộ phận đều phải thực hiện đầy đủ các chứcnăng quản lý trong khi có những chức năng có thể chỉ do một bộ phận quản lýhoặc mỗi bộ phận phải có một hệ thống chương trình phầm mềm riêng phục vụquản lý…
- Gây khó khăn trong việc tuân thủ luật thuế của NNT vì để hiểu và thựchiện đầy đủ nghĩa vụ thuế (nghĩa vụ nộp nhiều loại thuế khác nhau), họ phải cầnđến sự hỗ trợ của nhiều bộ phận trong cùng một cơ quan thuế Dẫn đến chi phítuân thủ pháp luật của NNT và của cơ quan thuế cao
- Dễ xảy ra sự thông đồng giữa NNT và cán bộ quản lý thuế do mỗiphòng hoạt động độc lập với các phòng khác, làm cho sự kiểm tra, kiểm soátgiữa các phòng hoặc không có hoặc kém hiệu quả
- Bộ máy quản lý cồng kềnh
Mô hình này được áp dụng ở Việt Nam đối với tất cả các sắc thuế vào đầunhững năm 90 và chủ yếu thực hiện ở cấp cơ quan Tổng cục Thuế Đây là giaiđoạn thực hiện cải cách thuế bước I, chuyển đổi từ việc áp dụng nhiều chế độthu và thuế khác nhau đối với các thành phần kinh tế sang việc áp dụng một hệthống thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế Vì vậy, thời gian này,chính sách thuế thường xuyên thay đổi, bổ sung và hoàn thiện Nhiều sắc thuếmới được nghiên cứu áp dụng Việc áp dụng mô hình tổ chức bộ máy quản lýtheo sắc thuế là phù hợp
Cùng với quá trình cải cách thuế, chính sách thuế bắt đầu ổn định dần,việc quản lý đối với từng sắc thuế bắt đầu đi vào nền nếp, mô hình tổ chức bộmáy quản lý theo sắc thuế bắt đầu kém phát huy hiệu quả và dần được chuyểnđổi sang mô hình quản lý thuế mới phù hợp hơn, hiệu quả hơn
Tuy nhiên, một số sắc thuế mang tính chất đặc thù vẫn áp dụng việc quản
lý theo sắc thuế, như: Thuế Thu nhập cá nhân, thuế Tài sản
Việc quản lý thuế Thu nhập cá nhân vừa mang tính chất quản lý theo sắcthuế vừa mang tính chất quản lý theo đối tượng Bởi lẽ: đối tượng điều chỉnh
Trang 9của thuế Thu nhập cá nhân là những cá nhân có thu nhập – là những đối tượngnhỏ.
Hiện nay, theo Quyết định của Chính phủ, từ 01/7/2007 việc quản lý theosắc thuế ở Việt Nam được thực hiện đối với thuế Thu nhập cá nhân Theo đó, tạiTổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế thành lập Ban, Phòng, Đội quản lýthuế Thu nhập cá nhân
Trong quá trình áp dụng, mô hình quản lý theo sắc thuế vẫn đan xen vớiquản lý thuế theo chức năng, bởi lẽ, trong bộ phận quản lý theo sắc thuế lại hìnhthành các bộ phận thực hiện từng chức năng riêng biệt để quản lý đối với sắcthuế đó (như: hỗ trợ người nộp thuế, kê khai thuế, kiểm tra, thanh tra thuế ).Mặt khác, mỗi chức năng quản lý còn phải điều chỉnh theo từng nhóm giao dịch(như: thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển dịch tài sản, thu nhập từkinh doanh bất động sản, vốn
2/ Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm NNT
Trang 10- Là cơ sở giao nhiệm vụ rõ ràng và giám sát thực hiện, đánh giá mức độhoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách đối với một hoặc một số nhóm người nộpthuế Ví dụ: khi xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành dự toán thu NSNN ởmột loại doanh nghiệp hoặc một ngành nghề nào đó thì có thể qui ngay tráchnhiệm thuộc bộ phận nào.
- Bộ máy quản lý cồng kềnh, chi phí quản lý cao do mỗi bộ phòng đềuphải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý đối với nhóm người nộp thuế dophòng quản lý
- Dễ dẫn đến quản lý chuyên quản khép kín, móc ngoặc, tham nhũng, tiêucực nếu không có sự giám sát chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên
Mô hình này áp dụng ở Việt nam trong giai đoạn cải cách thuế bước I và
II và thực hiện chủ yếu ở cấp Cục Thuế, Chi cục Thuế Thể hiện ở việc phâncấp: Cục Thuế quản lý đối tượng nộp thuế lớn, vừa; Chi cục Thuế quản lý đốitưọng nộp thuế nhỏ Thời kỳ đầu Cục Thuế quản lý NNT chia theo ngành nghềkinh doanh, dần chuyển sang phân công quản lý NNT theo hình thức sở hữu(Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh) Tuy nhiên, việc
áp dụng mô hình này ở Việt Nam chưa triệt để do: chưa áp dụng cơ chế cơ sởkinh doanh tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế vào NSNN; chưa có tiêu chí rõràng cho việc phân loại qui mô doanh nghiệp; chưa ứng dụng công nghệ thôngtin trong quản lý Vì vậy hiệu quả quản lý chưa cao, đặc biệt trong điều kiện sốlượng doanh nghiệp ngày càng tăng với tốc độ nhanh
Trong thực tế, mô hình này vẫn đan xen với quản lý thuế theo chức năng
và theo sắc thuế Thể hiện: trong mỗi bộ phận quản lý theo nhóm đối tượng lạiđược tổ chức thành các bộ phận quản lý theo từng chức năng đối với nhóm đốitượng đó và vẫn tồn tại bộ phận quản lý theo các sắc thuế đặc thù
Quản lý thuế theo nhóm đối tượng, đặc biệt là quản lý nhóm đối tượngnộp thuế có qui mô lớn và theo nhóm ngành kinh tế mũi nhọn (Điện lực, Hàngkhông, Bảo hiểm, Ngân hàng ) đang là xu hướng được áp dụng ở các nước cónền kinh tế phát triển
3/ Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng
3.1/ Khái niệm
Là mô hình lấy chức năng quản lý thuế làm nguyên tắc bao trùm Theo
đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng
Trang 11nhất định trong qui trình quản lý thuế như: Phòng tuyên truyền và hỗ trợ đốitượng nộp thuế , Phòng xử lý tờ khai và dữ liệu về thuế, Phòng cưỡng chế vàquản lý thu nợ, phòng Thanh tra thuế )
3.2/ Đặc trưng cơ bản
Mỗi phòng thực hiện một hoặc một số chức năng quản lý thuế có quan hệmật thiết với nhau để quản lý đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo chứcnăng được phân công thực hiện
3.3/ Ưu, nhược điểm
*/ Ưu điểm
- Thích ứng với mọi sự thay đổi về chính sách thuế và người nộp thuế
- Hiệu quả quản lý cao do công tác quản lý được chuyên môn hoá, chuyênsâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng Đặc biệt nếu kết hợp với quản lý thuếtheo qui mô đối tượng nộp thuế thì hiệu quả sẽ càng cao hơn
- Tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng cường tính tự giác và giảm chiphí tuân thủ luật thuế của người nộp thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quanThuế
- Giảm thiểu hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quản lý thuế do sựkiểm tra, giám sát giữa các bộ phận cùng thực hiện qui trình quản lý thuế
*/ Nhược điểm
Chưa hoàn toàn thích ứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế
và trình độ tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của người dân nói chung và củangười nộp thuế nói riêng còn thấp và trong cơ chế giao chỉ tiêu pháp lệnh thungân sách Bởi, đặc tính phân đoạn trong công tác quản lý dễ dẫn tới việc mỗi
bộ phận chức năng chỉ tập trung vào một khía cạnh hẹp của người nộp thuế vàtách biệt với công việc của các bộ phận khác, thiếu bộ phận để tập hợp, điềuphối hoạt động của các bộ phận chức năng quản lý với nhau Do đó, nếu ngườiđứng đầu cơ quan thuế không quản lý chặt chẽ, cán bộ thuế trách nhiệm khôngcao, để xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành dự toán Nhà nước giao thìkhó qui trách nhiệm cho tổ chức và cá nhân nào vì cả 4 khâu quản lý thuế đềuliên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách
Từ năm 1990 đến nay, tổ chức bộ máy Thuế đã hình thành một số bộphận quản lý theo chức năng, số bộ phận này được thiết kế trong bộ máy ngàycàng nhiều, song về cơ bản tổ chức bộ máy chưa được tổ chức theo chức năng.Năm 1993 thực hiện quy trình quản lý thuế theo 3 bộ phận độc lập thực hiện 3chức năng quản lý thuế: Tính thuế và ra thông báo thuế, đôn đốc thu nộp thuế,thanh tra thuế Trong đó, mới chỉ có chức năng thanh tra thuế được tổ chức hoànchỉnh thành tổ chức độc lập Năm 2004 mới thành lập bộ phận thực hiện chứcnăng tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ đối tượng nộp thuế độc lập tại cơquan Thuế các cấp Các chức năng khác: xử lý tờ khai thuế, quản lý nợ thuế vàcưỡng chế thu nợ thuế còn rải rác do các phòng quản lý thu theo đối tượng thực
Trang 12hiện hoặc còn ghép giữa các chức năng với nhau (Xử lý tờ khai ghép với tinhọc).
Mô hình này được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển Trong quátrình áp dụng, mô hình quản lý thuế theo chức năng được áp dụng đan xen vớinguyên tắc quản lý theo nhóm đối tượng nộp thuế và theo sắc thuế
4/ Mô hình kết hợp giữa các nguyên tắc quản lý thuế
Để phát huy ưu điểm và khắc phục những tồn tại của các mô hình quản lýthuế trên, nhiều nước trên thế giới áp dụng mô hình quản lý thuế kết hợp cácnguyên tắc quản lý: theo chức năng, theo nhóm đối tượng và theo sắc thuế, trong
đó xác định một nguyên tắc bao trùm Thông thường có một số hình thức kếthợp sau (trong đó nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc bao trùm):
- Sắc thuế - Chức năng - Qui mô đối tượng
- Chức năng - Qui mô đối tượng - Sắc thuế
- Đối tượng (qui mô, ngành nghề) - Chức năng - Sắc thuế
Trong 3 hình thức kết hợp trên, hình thức thứ 2 và thứ 3 được áp dụngrộng rãi và có ưu điểm hơn
*/ Mô hình kết hợp Chức năng - Qui mô đối tượng - Sắc thuế:
Mô hình này thường được áp dụng ở các nước phát triển và đang pháttriển và trong điều kiện thực hiện cơ chế cơ sở kinh doanh tự kế khai, tự tínhthuế và tự nộp thuế vào NSNN
Theo mô hình này, trong cơ quan Thuế thành lập các bộ phận quản lý theotừng chức năng quản lý thuế (bộ phận hỗ trợ người nộp thuế; bộ phận kê khai và
kế toán thuế; bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế; bộ phận kiểm tra,thanh tra thuế) Trong mỗi bộ phận quản lý theo chức năng nêu trên lại hìnhthành các bộ phận quản lý đối với từng loại nhóm đối tượng nộp thuế (lớn, vừa,nhỏ hoặc theo từng ngành kinh tế: hàng không, điện lực, ngân hàng ) Ví dụ:
Bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp lớn; bộ phận thanh tra các tập đoàn, các tổng công
ty
Tuy nhiên, cũng có những chức năng được thành lập để quản lý đối vớitất cả các NNT Như: bộ phận kê khai, kế toán thuế sẽ quản lý việc kê khai củatất cả các đối tượng nộp thuế và theo dõi kết quả thu thuế trong toàn ngành
Bên cạnh các bộ phận quản lý thuế theo chức năng, một số sắc thuế (chủyếu là thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản) lại được thành lập bộ phận quản lýriêng, độc lập để quản lý các sắc thuế này Trong bộ phận quản lý theo sắc thuế,cũng thành lập các bộ phận quản lý theo từng chức năng Ví dụ: trong bộ phậnquản lý thuế thu nhập cá nhân, hình thành các bộ phận: hỗ trợ người nộp thuế,
kê khai thuế thu nhập cá nhân, thanh tra thuế thu nhập cá nhân
*/ Mô hình kết hợp Đối tượng (qui mô, ngành nghề) - Chức năng - Sắc thuế:
Trang 13Hiện nay một số nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng mô hình quản
lý theo nhóm đối tượng chia theo qui mô (lớn, vừa, nhỏ) hoặc theo nhóm ngànhkinh tế quan trọng (Điện lực, Hàng không, Bảo hiểm, Ngân hàng, Bưu chínhviễn thông ) Trong mỗi bộ phận quản lý theo đối tượng lại thành lập các bộphận quản lý theo chức năng để quản lý và thu thuế đối với NNT đó (như các bộphận: Hỗ trợ; Kê khai và kế toán thuế; Quản lý nợ thuế; Thanh tra, kiểm trathuế)
Bên cạnh đó, một số sắc thuế (chủ yếu là thuế thu nhập cá nhân, thuế tàisản) lại được thành lập bộ phận quản lý riêng, độc lập để quản lý các sắc thuếnày và trong từng bộ phận quản lý theo sắc thuế lại hình thành bộ phận quản lýtheo từng chức năng
Trang 14Chương II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN
TỔ CHỨC BỘ MÁY NGÀNH THUẾ VIỆT NAM
(Giai đoạn 1990 đến tháng 5/2007)
Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lýthuế đã trải qua nhiều giai đoạn gắn với các giai đoạn phát triển của cách mạngViệt nam Mỗi giai đoạn tương ứng và phù hợp với một bước thay đổi trongchính sách động viên tài chính của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ cho côngcuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước Các giai đoạnphát triển của Tổ chức bộ máy quản lý thuế được trình bày tại tài liệu “Lịch sửphát triển ngành Thuế Việt Nam” Do đó, trong phạm vi tài liệu này chỉ đề cậpđến sự phát triển của tổ chức bộ máy quản lý thuế gắn với sự thay đổi và hoànthiện của chính sách và nghiệp vụ quản lý thuế từ năm 1990 đến nay
I/ ĐẶC TRƯNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ THUẾ GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH THUẾ
Quá trình phát triển của bộ máy quản lý thuế được phân tích và đánh giáqua các mốc chuyển đổi và kiện toàn tổ chức bộ máy (được đánh dấu bằng việcban hành các văn bản pháp quy của Nhà nước và văn bản của ngành Thuế về tổchức bộ máy)
là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 281/HĐBT về việc thành lập Hệ thốngthu thuế Nhà nước trên cơ sở sáp nhập 3 cơ quan thu trực thuộc Bộ Tài chính:Cục Thu quốc doanh, Cục Thuế Công thương nghiệp, Vụ Thuế Nông nghiệp
Hệ thống thu thuế Nhà nước (gọi chung là Tổng cục Thuế) là hệ thống dọc, trựcthuộc Bộ Tài chính
1.1/ Đặc trưng và nhiệm vụ cơ bản của Hệ thống thu thuế Nhà nước
1.1.1/ Hệ thống thu thuế Nhà nước thực hiện việc quản lý thống nhất trong cả nước tất cả các loại thuế, phí của Ngân sách Nhà nước (trừ các khoản thu từ hoạt động xuất nhập khẩu do ngành Hải quan quản lý).
Trang 151.1.2/ Hệ thống thu thuế Nhà nước được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến quận, huyện.
- Tại Trung ương có Tổng cục Thuế Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc
Bộ Tài chính, là bộ máy cao nhất trong hệ thống thu thuế Nhà nước thực hiệnnhiệm vụ giúp Bộ Tài chính nghiên cứu, hoạch định chính sách thuế và soạnthảo các văn bản pháp qui về thuế; chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất trong
cả nước công tác quản lý thu thuế và thu khác đối với mọi thành phần kinh tế
- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Cục Thuế tỉnh, thành phố(gọi chung là Cục Thuế) Cục Thuế là cơ quan chuyên môn thuộc Tổng cụcThuế, có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo và trực tiếp thực hiện thống nhất công tácquản lý thu thuế và thu khác trên địa bàn được phân công
- Tại quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh, thành phố có Chi Cục Thuế quận,huyện, thị xã (gọi chung là Chi cục Thuế) Chi cục Thuế là cơ quan chuyên môntrực thuộc Cục Thuế, có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức công tác quản lý thu thuế vàthu khác trên địa bàn theo đúng pháp luật và sự hướng dẫn của cơ quan Thuếcấp trên
Cục Thuế, Chi cục thuế thực hiện chức năng trực tiếp quản lý thu thuế vàthu khác vào ngân sách nhà nước trong phạm vi địa bàn được phân công
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa Hệ thống Thuế với Bộ Tài chính
Trang 161.2/ Quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý thuế
Khi mới thành lập, bộ máy quản lý thuế tại Trung ương cơ quan Tổng cục Thuế được tổ chức chủ yếu theo sắc thuế, dần dần điều chỉnh và kiện toàn kết hợp với chức năng và đối tượng Ở địa phương (Cục Thuế, Chi cục Thu) bộ máy quản lý thuế được tổ chức chủ yếu theo nhóm đối tượng và theo sắc thuế, dần dần kết hợp với quản lý theo chức năng
Việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế qua từng thời kỳ dựatrên cơ sở của sự đổi mới chính sách thuế, nhiệm vụ quản lý thuế của cơ quanThuế các cấp và việc hoàn thiện các qui trình nghiệp vụ quản lý Cụ thể như sau:
1.2.1/ Từ 1990 đến 1992
Khi mới thành lập hệ thống thuế thống nhất, trong điều kiện hệ thốngchính sách thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế mới được hình thành, do đó
có nhiều đặc điểm ảnh hưởng đến việc xác định tổ chức bộ máy quản lý thuế:
- Các sắc thuế thường xuyên thay đổi, bổ sung, hoàn thiện Do đó, ở cấpTrung ương (Cơ quan Tổng cục Thuế), để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu xây dựngcác chính sách thuế và chỉ đạo các Cục Thuế triển khai thực hiện hệ thống cácluật thuế, bộ máy quản lý được tổ chức dựa trên nguyên tắc quản lý theo sắcthuế là chủ yếu; thành lập các phòng quản lý theo sắc thuế (Phòng thuế doanhthu và tiêu thụ đặc biệt; Phòng thuế lợi tức, thuế thu nhập và thuế vốn; phòngThuế nông nghiệp, Phòng thuế xuất khẩu, nhập khẩu ) Các phòng này thựchiện chức năng tham mưu cho Tổng cục trưởng nghiên cứu xây dựng các chínhsách thuế và hướng dẫn, chỉ đạo các Cục Thuế trong công tác quản lý thu cácloại thuế được phân công, không trực tiếp thu thuế
- Trình độ quản lý thuế còn thủ công, các qui trình quản lý thuế mới chưa
ra đời, chủ yếu vẫn duy trì phương pháp chuyên quản của chế độ quản lý thuếcông thương nghiệp trước đây (mỗi bộ phận quản lý toàn bộ các khâu của quátrình quản lý thuế từ hướng dẫn chính sách đến kê khai tính thuế và thu thuế vàoNSNN đối với một hoặc một số đối tượng nộp thuế được phân công); Ý thứcchấp hành pháp luật của đối tượng nộp thuế còn thấp, do đó, ở cấp Cục Thuế,Chi cục Thuế bộ máy quản lý được tổ chức dựa trên nguyên tắc quản lý theo đốitượng là chủ yếu, kết hợp với quản lý theo sắc thuế và theo chức năng Cụ thể:
+ Cục Thuế thành lập các phòng quản lý theo nhóm đối tượng phâncông theo tính chất và đặc điểm ngành nghề như: phòng Quản lý doanh nghiệpnhà nuớc ngành công nghiệp, xây dựng và giao thông; phòng Quản lý doanhnghiệp nhà nước ngành lưu thông, phân phối, dịch vụ Ngoài ra, tại Cục Thuếcòn thành lập phòng quản lý theo sắc thuế (Phòng nghiệp vụ thuế nông nghiệp,Phòng thuế trước bạ và thu khác; phòng thuế tiêu thụ đặc biệt) và phòng quản lýtheo chức năng (phòng thanh tra và xử lý tố tụng về thuế)
+ Chi cục Thuế: thành lập các tổ, đội quản lý đối tượng nộp thuếtheo qui mô kết hợp với quản lý theo sắc thuế và theo chức năng Gồm các đội:Đội thu thuế hộ lớn, Đội thu thuế khu vực kinh tế tập thể (qui mô nhỏ, vừa), Đội
Trang 17thu thuế khu vực kinh tế quốc doanh (qui mô vừa), Đội thu thuế hộ cố địnhphường, xã (qui mô nhỏ), Đội thu thuế tiêu thụ đặc biệt, Tổ thuế nông nghiệp
Việc phân cấp quản lý đối tượng nộp thuế giữa Cục Thuế và Chi cục Thuếcăn cứ vào qui mô của ĐTNT Cục Thuế quản lý đối với các doanh nghiệp nhànước trung ương (chủ yếu là đối tượng nộp thuế lớn); Chi cục Thuế quản lý đốivới các doanh nghiệp nhà nước quận, huyện và các hộ cá thể kinh doanh côngthương nghiệp (đối tượng nộp thuế có qui mô vừa và nhỏ)
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NGÀNH THUẾ
(Theo Nghị định 281/HĐBT ngày 7/8/1990 tại thời điểm 1993)
TỔNG CỤC THUẾ
PHÒNG THUẾ DOANH THU VÀ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
PHÒNG THUẾ THU NHẬP VÀ
THUẾ VỐN
PHÒNG KẾ HOẠCH, KẾ TOÁN, THỐNG KÊ THUẾ
PHÒNG THU THUẾ KHAC VÀ CÁC
LOẠI LỆ PHÍ
PHÒNG THANH TRA, XỬ LY TỐ TỤNG VỀ THUẾ
PHÒNG TCCB, ĐÀO TẠO & THI
ĐUA
PHÒNG CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ (Gồm cả TUYÊN TRUYỀN) PHÒNG THUẾ NÔNG NGHIỆP
PHÒNG THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ
NHẬP KHẨU (gồm cả ĐTNN và HTQT)
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PHÍA NAM PHÒNG HÀNH CHÍNH, QUẢN TRỊ
lý tố
Tổ thu thuế XNQD
Tổ thu thuế tập thể và
cá thể
Tổ Thuế nông nghiệp
Tổ thu thuế tiêu thụ đặc biệt
Tổ HC,
Q trị Tài vụ Tổ
Các trạm thuế miền
CHI CỤC THUẾ
Trang 181.2.2/ Từ 1993 đến 1998
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng người nộp thuế ngàycàng tăng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng lớn, số lượngdoanh nghiệp liên doanh và có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày một tăng, yêucầu hội nhập quốc tế ngày càng rộng và sâu, các chức năng, nhiệm vụ quản lýthuế đã được bổ sung cả về số lượng và chất lượng, đòi hỏi phải nâng cao trình
độ quản lý thuế, áp dụng các qui trình quản lý và phương pháp quản lý mới, từ
đó đòi hỏi công tác quản lý thuế ngày càng phải hoàn thiện, bộ máy quản lý thuếcủa cơ quan thuế các cấp cũng được kiện toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
và qui trình quản lý thuế mới Cụ thể:
- Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tạo ra các cơ chế, chínhsách nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và tăng cường pháttriển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, bên cạnh việc nghiên cứu xây dựng vàhoàn thiện các chính sách thuế mang tính ưu đãi đối với các khu vực nêu trên,trong giai đoạn này, việc quản lý thuế đối với một số loại đối tượng nộp thuế đặcthù như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh là một nhiệm vụ quan trọng của ngành Thuế Vì vậy, cơ cấu tổ chức bộmáy của Cơ quan Tổng cục Thuế đã có những bước kiện toàn phù hợp vớinhiệm vụ mới, đã chuyển dần từ quản lý theo sắc thuế là chủ yếu sang kết hợpquản lý theo đối tượng và theo chức năng Bên cạnh việc duy trì các phòng quản
lý theo sắc thuế, Phòng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đượcthành lập tại cơ quan Tổng cục Thuế và một số Cục Thuế có nhiều dự án đầu tưnước ngoài; Phòng quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được thànhlập tại Tổng cục Thuế để chỉ đạo Cục Thuế, Chi cục Thuế trong việc quản lýthuế đối với khu vực ngoài quốc doanh
- Năm 1993, ngành Thuế đã cải tiến và áp dụng qui trình quản lý thuế tách
ba bộ phận độc lập thay thế cho phương pháp chuyên quản (ba bộ phận độc lậplà: Tính thuế, ra thông báo thuế; Đôn đốc thu nộp thuế; Thanh tra thuế), đồngthời thực hiện qui trình đối tượng nộp thuế trực tiếp nộp thuế vào ngân sách quaKho bạc nhà nước Do đó, tại Cục Thuế đã thành lập bộ phận Tính thuế, pháthành thông báo thuế thuộc phòng Kế hoạch, kế toán, thống kê thuế Phòng
Thanh tra thuế đã được tăng cường và mở rộng về qui mô; tại Chi cục Thuế đã
hình thành bộ phận thực hiện nhiệm vụ tính thuế, ra thông báo thuế và tăngcường thêm cán bộ cho bộ phận Thanh tra thuế
- Trong giai đoạn này, công nghệ tin học được ứng dụng vào công tácquản lý thuế Vì vậy, năm 1993 tại Tổng cục Thuế đã thành lập phòng Máy tínhlàm nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng, phát triển các phần mềm ứng dụng quản lýthuế và chỉ đạo thực hiện trong toàn ngành; tại các Cục Thuế đã hình thành một
bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ triển khai ứng dụng các phần mềmquản lý thuộc phòng Tin học - Xử lý dữ liệu về thuế