1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

A Hàm - Mưa pháp chuyển hóa phiền não

77 418 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề A Hàm - Mưa Pháp Chuyển Hóa Phiền Não
Tác giả Ni Sư TN Giới Hương
Trường học Hội Phật Học Đuốc Tuệ
Chuyên ngành Phật giáo
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2011
Thành phố ca
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 247,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A Hàm - Mưa pháp chuyển hóa phiền não

Trang 1

MƯA PHÁP CHUYỂN HÓA PHIỀN NÃO

Ni Sư TN Giới Hương Ngày 14 tháng 08 năm 2011 Tại Hội Phật Học Đuốc Tuệ, CA

7/21/2011

Trang 2

 Kinh tạng Nikàya (Pàli) và A-hàm (Hán tạng) là những bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh tạng Nguyên thủy Đó là những bộ kinh chứa đựng những gì Đức Phật đã tuyên thuyết trong 12 năm đầu như Tổ Thiên Thai nói:

Trang 3

1.1 Kiết tập lần thứ nhất

Sau khi Phật nhập diệt, 500 vị A-la-hán tập hợp trong hang Thất Diệp, Vương Xá A-nan tụng Pháp (Kinh)

Lần kiết tập này chủ yếu tụng Kinh tạng.

Nguồn gốc sâu xa của Kinh A-hàm và Nikaya bắt

nguồn từ lúc này

1.2 Kiết tập lần thứ hai

Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, 700

Tỳ-kheo tập hợp tại thành Tỳ-xá-ly

Lần kiết tập này chủ yếu tụng Luật tạng.

 

1 CÁC KỲ KIẾT TẬP

7/21/2011

Trang 4

 1.3 Kiết tập lần thứ ba

là thời Vua A-dục, đại chúng tập hợp tại

thành Hoa Thị.

năm bộ Nikàya rất đầy đủ

 3 kỳ kiết tập trên chỉ là do truyền khẩu và

học thuộc lòng.

Trang 5

1.4 Kiết tập lần thứ tư

  Khoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn

 Lần kiết tập thứ tư này chủ yếu là luận thích Tam Tạng

và bắt đầu được chép thành văn

Lan vẫn giữ phong cách truyền khẩu cho đến khi một đại hội kiết tập được tổ chức tại Tích Lan ở làng Aluvihata

  

 Đây là lần đầu tiên, Ba tạng Pàli được chép bằng chữ

trên lá buông vào năm 83 trước Tây lịch

  

tập lần thứ nhất, từ lần kiết tập thứ hai đến thứ tư, tức

vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên là thời kỳ Kinh

A-hàm hay Nikaya chính thức được thành lập.

  

7/21/2011

Trang 6

 Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm,

 Phật giáo Nguyên Thủy chia thành Đại Chúng Bộ và

Thượng Tọa Bộ

  

Bộ, Tiểu Bộ ) chép bằng văn Pàli.

  

A-hàm (Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và

Tạp A-hàm) được ghi bằng Phạn văn

Đây là bốn bộ A-hàm Bắc truyền

  

2 SỰ TRUYỀN THỪA CỦA KINH A-HÀM và NIKAYA

Trang 7

 Trường A-hàm của Bắc truyền tương đương với Trường Bộ

kinh của Nam truyền.

 Trung A-hàm của Bắc truyền tương đương với Trung Bộ kinh

của Nam truyền.

 Tạp A-hàm của Bắc Truyền tương đương với Tương Ưng Bộ

kinh của Nam Truyền.

 Tăng Nhất A-hàm của Bắc Truyền tương đương với Tăng-chi

Bộ kinh của Nam Truyền.

 A-hàm của Bắc Truyền không có kinh nào tương đương với

Tiểu Bộ Kinh của Nam Truyền

  

7/21/2011

Trang 8

 Năm bộ kinh Nam truyền được ghi bằng văn Pàli,

gần với ngôn ngữ thường dùng ở thời Phật.

 Nam truyền giàu sắc thái nguyên thủy hơn Bắc

 Luật (Vinaya) còn gọi là luật tạng, tức nguyên tắc

đạo đức, giới luật

  

Trang 9

  

 3.1 A-HÀM gồm có 4 bộ:

  

 1/ Trường A-hàm (những bài kinh dài)

 2/ Trung A-hàm (những bài kinh bậc trung)

 3/ Tạp A-hàm ( những bài kinh ngắn, nhiều chủ đề, nhiều

đối tượng)

 4/ Tăng Nhất A-hàm (những bài kinh sắp xếp theo con số, pháp số thứ tự tăng dần)

Như vậy, kinh Phật xuất hiện sớm nhất là sau Phật diệt độ

vài tháng, và muộn nhất là từ Phật diệt độ 500 năm về

Trang 10

 3.2 NIKAYA gồm 5 Bộ:

 1/ Trường bộ kinh (những bài kinh dài)

 2/ Trung bộ kinh (những bài kinh bậc trung)

 3/ Tương ưng bộ kinh ( những bài kinh ngắn,

nhiều chủ đề tương ứng với đối tượng)

 4/ Tăng chi bộ (những bài kinh sắp xếp theo con

số, pháp số thứ tự tăng dần)

 5/ Tiểu bộ kinh (nhiều đề tài phong phú)

Trang 11

4.1 KINH TRƯỜNG A-HÀM VÀ TRƯỜNG BỘ KINH

 Kinh Trường A-hàm gồm 30 kinh

 Trường Bộ Kinh có 34 kinh.

4.2 KINH TRUNG A-HÀM VÀ TRUNG BỘ KINH

  Kinh Trung A-hàm có 222 kinh.

  Trung Bộ Kinh có 152 kinh.

4.3 KINH TĂNG NHẤT A–HÀM VÀ TĂNG CHI BỘ KINH

 Tăng Nhất A-hàm gồm có 472 kinh

  Tăng Chi Bộ là tuyển tập 9557 bài Kinh.

7/21/2011

Trang 12

4.4 KINH TẠP A – HÀM VÀ TƯƠNG ƯNG BỘ

Trang 13

 A-hàm không có bộ nào tương ứng với Tiểu Bộ Kinh

 Nên A-hàm chỉ có bốn bộ trong khi Nikaya có năm bộ.

 Tiểu Bộ Kinh là tuyển tập gồm có 15 bộ Kinh theo chủ

Trang 14

8 Trưởng lão Tăng kệ

Trang 15

 5 ĐiỂM KHÁC và GIỐNG

 giữa TRUYỀN THỐNG NGUYÊN THỦY và PHÁT TRIỂN

 Lời Phật dạy được phân làm hai truyền thống:

 Truyền thống Nguyên thủy

 Truyền thống Phát triển

  

 5.1 ĐIỂM KHÁC giữa HAI TRUYỀN THỐNG

  

 Danh Tánh: về mặt Địa lý truyền thừa thì gọi là

 Phật giáo Bắc tông ( truyền bá Phật Giáo ở phương Bắc của Ấn Độ )

 Phật giáo Nam tông ( phương Nam của Ấn Độ )

 Tư tưởng Phật giáo Phát triển kế thừa giáo lý Nguyên thủy.

 Lịch Sử: Kinh A Hàm và Nikaya thuyết minh rõ:

Trang 16

 Thực tiễn và triết lý: A Hàm và Nikaya thường mang màu sắc:

 Sống động của đời thường

 Tâm tư của từng cá nhân

 Những thống khổ mà thân tâm con người thường phải đối diện

 Kinh Tạng Nguyên Thủy mô tả cụ thể:

 Tư tưởng học thuật

 Sinh hoạt

 Tập quán

 Tôn giáo

 Văn hóa Ấn Độ

 Các bậc xuất gia ngày xưa thường trì mật chú

 Mùa hạ bên Ấn Độ thường nhằm mùa mưa, Đức Phật mới chế định pháp kiết

hạ an cư

 Kinh Đại Thừa thường nói về cảnh giới hoa tạng Bồ tát và chư Phật

  

Trang 17

Ba độc mà không đoạn thì không thể nào thoát ly sinh

lão bệnh tử

giới, sanh định và phát huệ.

 Khác với thiền tông là “trực chỉ chân tâm, kiến tánh

thành Phật” tức đốn tu đốn chứng

 Thấy biết phiền não là giả

 Khảy móng tay là lên ngôi chánh giác.

7/21/2011

Trang 18

  

 Quán logic chi tiết:

kinh

của sắc

  Quan niệm sanh tử của:

  

  

Trang 19

để:

Trang 20

5.2 SỰ GIỐNG NHAU giữa KINH TẠNG NGUYÊN THỦY & ĐẠI THỪA

 Nikaya đã có đề cập đến công hạnh vị tha của 60 vị A-la-hán đầu tiên đi khắp

vùng này thôn nọ để thuyết pháp khai thị cho dân làng

 Chính tinh thần Bồ tát từ kinh Nguyên Thủy này đã phát huy mạnh mẽ trong

kinh điển Phát triển sau này

  

Trang 21

6 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM của A-HÀM và NIKAYA

  

 Tư tưởng của hai truyền thống đều giữ được phong cách và pháp vị của thời

Nguyên thủy Phật giáo

 Lý luận giản đơn nhưng rất chặt chẽ

 Nhất là những định nghĩa căn bản của thuật ngữ Phật học rất rõ ràng

  

 Trên phương diện Văn học sử

 Hình ảnh sống động nhất và chân thật nhất về cuộc đời Đức Phật

 Giáo đoàn tăng già ngày xưa là những con người hiện thực như chúng ta

 A hàm và Nikaya cũng mô tả quan điểm của Phật về:

Trang 22

 Về mặt Tư tưởng sử:

 Tư tưởng căn bản của Phật Giáo phát triển.

 Phương pháp chỉ dạy để giữ giới định tuệ

 Liễu sanh thoát tử,

 Chứng nhập Niết-bàn.

 Về phương diện công năng:

 Lời Phật dạy thấm đẫm trí tuệ và từ bi

 Sữa pháp

 Có khả năng trưởng dưỡng thánh thai của thính chúng.

  

 Về phương diện đối tượng:

 Lời Phật dạy được gọi là “mưa pháp”

 Tưới mát đều cho mọi loài, không phân biệt chủng loại, tôn giáo, giới tính, hay lão ấu. 

 Ai nghe đều hưởng lợi ích như mưa tưới đều xuống thế gian

  

Trang 23

 Về phương diện đặc tính:

 Về phương diện ứng dụng:

  

 Tóm lại,

7/21/2011

Trang 24

 ĐỊNH NGHĨA KINH A HÀM và NIKAYA

  

 A Hàm hay Nikaya, tiếng Hán dịch là Pháp Quy

 Quy là quay về Pháp là vạn pháp

 Tất cả vạn pháp quy về một loại kinh này.

 A Hàm là một khu rừng bát ngát mênh mông, bao la.

 Chứa bao nhiêu ngàn bài kinh thuyết minh về đường lối:

 Hiền ngu, tội phước.

 Chân, ngụy, dị, đồng

   

MỤC II   A-HÀM và NIKAYA: MƯA PHÁP CHUYỂN HÓA PHIỀN NÃO (Còn gọi là Sự Ứng Dụng của Mưa Pháp A-hàm và Nikaya)

 

Trang 25

 CHÂN NGỤY DỊ ĐỒNG  

 Ngụy là sự không đúng với lẽ phải, xảo trá.

 Chân là chân thật, đối với chữ ngụy.

 Niệm Phật để mà làm Phật thì cái đó gọi là chân.

 Niệm Phật để cầu tiền bạc, tiếng khen là ngụy

 Hai cô tuy là cùng chuỗi tràng với nhau, ngồi niệm Phật

 Còn một người ngồi đó để mà suy nghĩ lung tung, gọi là dị.

7/21/2011

Trang 26

 CHÂN NGỤY LÀ DO ĐÂU?

  

 Có người đã sống chân thật,

 nhưng tại sao cũng có những người sống ngụy?

Do không hiểu, không biết nên sống ngụy

  

 Đức Thích Ca giáng sanh xuống thế gian này:

 Để khai mở cái mê,

 Biết sự thật và hiểu cái lẽ phải

 Chuyển hóa phiền não

Trang 27

 ĐƯỜNG LỐI của HIỀN NGU và TỘI PHƯỚC

 Bao nhiêu ngàn bản kinh trong bộ A Hàm và Nikaya này phân tách ra

 Những nguyên do của nghiệp thiện ác để làm gì?

Tự chọn con đường mình đi,

Để chúng ta thấy hình tướng của sự tu hành và đọa lạc, Thấy đường lối của hiền ngu và tội phước.

  

 Vua Đảnh Sanh là một vị Chuyển Luân Vương

 Ngài giàu có sung sướng lắm

 Một hôm, ngài ước được lên trời chơi.

 Do phúc đức lớn nên ngài liền bay được lên trời

Trang 28

 Nhưng vua lại muốn chiếm trọn ngai vàng ấy

 Ngay khi niệm thất đức ấy khởi lên khiến cho ngài bị rớt

ngay xuống thế gian

 Dù ở trần gian mà cứ tưởng nhớ đến cõi trời và chán ở thế

gian

 Ngài chết trong trạng thái không thỏa mãn, sầu ưu khổ

não, tái sanh làm ma.

  

 Vì vua Đảnh Sanh cứ để cho cái tâm phóng túng lôi mình

đi,

 Một bề mà nhắm mắt đi theo cái mê

 Đến nổi có cái phước lớn như thế mà lại trở thành một con

người chết trong khổ não.

 Do lòng tham dẫn dắt và đưa đến kết quả thất bại như vậy

  

Trang 29

 KHU RỪNG PHONG PHÚ BAO LA

 Trong A Hàm và Nikaya này, Phật kể nhiều câu chuyện về:

 Thành bại,

 Hiền ngu,

 Phước tội của loài người,

 Chư thiên ở trên trời,

 Các loài ở địa ngục, ngạ quỷ, bao hàm vạn loài trong trời đất,

 Nên gọi là pháp quy - vạn pháp quay về đấy.

 Con đường đi vào trí tuệ giải thoát đó gọi là Đạo Phật

 Đạo do đây tức đạo do A-hàm hay Nikaya hay Kinh tạng mà phát khởi.

  

7/21/2011

Trang 30

PHÁP DO ĐÂY TỒN TẠI  

 Pháp do A-hàm hay Nikaya mà được tồn tại

 Đạo được phát khởi,

 Chúng ta nắm được các pháp môn thì chúng ta tu,

 Hiểu điều phải, theo con đường chân thật

Nhất định thọ trì rồi truyền bá

Do đó các pháp môn mới tồn tại được

 Nếu không có các bộ kinh A-hàm hay Nikaya còn lại

 Chúng ta không biết tội phước, nhân quả để tránh.

 Chúng ta sẽ dễ sống ngụy, sống giả, sống hưởng thụ và không biết ngày mai.

 Những pháp môn tu phải do các Tổ đã thọ, đã trì và truyền lại

 Chúng ta bây giờ cũng thọ và duy trì để ngày mai chúng ta cũng có thể giữ được đạo và

truyền lại cho người sau

 Thế là pháp do đây mà tồn tại

  

Trang 31

 Kinh Phật Thuyết Nguyệt Dụ dạy:

 “Tỳ kheo an trụ vào sự hiểu biết chân chánh:

 Rời các nhiễm ô như luyện vàng ròng;

 Khử trừ chất uế, thấy pháp như thế,

 là pháp có thể lìa sanh già bịnh chết, sầu bi ưu não

 Dùng pháp như thế vì người khác nói,

 Khiến người kia đạt được sự nghe pháp như thế,

 Theo đó tu hành, ở trong đêm dài được lợi lạc lớn

 Do đó, chánh pháp được tồn tại lâu dài.”

7/21/2011

Trang 32

 MỤC ĐÍCH DỨT KHỔ

  

 Kinh A Hàm và Nikaya nói nhiều như vậy mục đích để làm gì?

 Đức Thích Ca giáng sinh

 Ngài nói bao nhiêu ngàn bài kinh như thế để làm gì?

Vì một mục đích duy nhất là cho chúng sanh hết khổ

  

 Làm thế nào để hết khổ?

 Chúng ta phải học kinh A Hàm hay Nikaya để mà hết khổ

 Đức Phật nói nhiều như thế chỉ vì có một việc là làm cho chúng ta khỏi khổ

  

 A Hàm hay Nikaya là biển kinh (chứ không phải vài cuốn kinh) chứa đủ hết

 Chúng ta sẽ hiểu được hết cả chuyện xưa, chuyện nay, chuyện vuông,

chuyện tròn, chuyện tội phước, chân ngụy, chuyện địa ngục, chuyện ma

quỷ

 Nhiều việc nhờ kinh này chúng ta hiểu được hết

 Biết tránh đường khổ

Trang 33

 A GIOI THIỆU KINH TRƯỜNG A HÀM hay TRƯỜNG BỘ KINH

 Niên hiệu Hoằng Thủy thứ 15, năm Quý Sữu, Sa Môn Tam Tạng Phật Đà Da Xá,

người nước Ký Tân đọc thuộc lòng trọn bộ Trường A Hàm

 Sa Môn Phật Niệm, người Lương Châu dịch sang tiếng Trung Hoa,

 Một đạo sĩ người nước Tần là Đạo Hàm ghi chép

  Trường Bộ Kinh là những bài kinh dài

 Trường là giải bày dài về đường tu, hoặc chuyện lâu dài

 Y theo kinh này thì mê nhiều kiếp, tà chánh khó phân cũng được tỏ ngộ hiển

nhiên như đêm ngày

 Việc báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo tiếng, như bóng

theo hình

 Số kiếp tựa xa vời mà gần kề mình như tối sáng

 Lục đạo bao la hiện ra trước mắt mà kinh này là ánh sáng vĩ đại cho đêm dài

sanh tử Kinh này ban mắt tuệ cho chúng sanh đui mù tức là chúng ta

  

 Y theo trường bộ kinh này thì mê nhiều kiếp liền được tỏ ngộ

 Tà chánh khó phân sẽ phân minh hiển nhiên như đêm ngày

7/21/2011

Trang 34

 NHÂN QUẢ BÁO ỨNG

  

 Học A Hàm để chúng ta phân biệt:

 Điều phải điều trái, người hiền người ngu như ngày và đêm

 Nhân quả báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo tiếng

 Phải tin chắc chắn chứ không có mơ hồ

  

 Một Thầy Tam Tạng tỳ kheo chê một vị tăng già tụng kinh như chó sủa

 Tạng thức của thầy đã ghi các lời rủa chê của thầy rồi chuyển biến

khiến kiếp sau của thầy bị làm con chó, 500 đời làm chó

 Thân người này hoại tan rã đi

 Thân chó từ từ hình thành.

 Ăn cắp thì mai đây làm con trâu kéo cày

 Con chim, cá bị bán để trả dần nợ

 Cứ thế bị bán hết thân này đến kia cho đến hết nợ

 Thân chim, gà, cá dần dần phai đi

 Thân trâu dần dần hiển lộ.

  

Trang 35

 Việc báo ứng, nhân quả của lời nói, việc làm đều có quả

báo như bóng hình.

 Người lớn thì cái bóng sẽ lớn

 Người bé thì cái bóng phải bé

 Người nghẹo đầu ở đằng này thì cái bóng nó sẽ nghẹo đầu

ở đằng này

 Vì cái bóng hình là từ cái người ấy mà ra

 Mỗi khi làm một việc bậy hay thiện, chắc chắn sẽ có quả

báo nguy hiểm hay tốt lành.

 Nếu người khôn thì biết hình bóng chắc chắn như vậy thì:

 Đừng có làm sai

 Đừng có sống ngụy.

7/21/2011

NHƯ BÓNG THEO HÌNH

Trang 36

 SỐ KIẾP TỰA XA VỜI

  Số kiếp tựa xa vời mà gần kề như sáng tối

 Xưa kia mình làm con bò, bây giờ làm con người,

 Rồi mai lại là con trâu Đó là số kiếp, là đời sống của chúng ta

 Đi ăn trộm để có tiền tiêu xài du hí

 Tưởng như cái chuyện làm trâu, hay quả báo đối với mình nó xa lắm

Không nghĩ tới là về sau phải bị kéo cày trả nợ

 Thế nhưng thật ra gần kề như buổi sáng với tối

 Vừa mới sáng thì đã tối, vừa mới tối đã đến sáng

 Vừa mới làm con người đây, sẽ làm con trâu liền

 Có an định, trí tuệ, chúng ta mới có khả năng cứu tế đạo và đời.

 Sẽ ích lợi cho người trong chùa, mà cả người thế gian.

 Cần phải học kinh này để cứu tế cả đạo và đời.

 Đạo là đời sống của những người xuất gia.

 Đời là đời sống của những người thế gian chưa cạo đầu

 Đạo và đời đều được an lạc

Trang 37

KINH VỀ BẢY ĐIỂM QUAN YẾU

ĐỂ CHO NGÔI TAM BẢO ĐƯỢC HƯNG LONG HAY CẢ ĐẠO

Vì nếu bảo đi chinh phục nghĩa là đánh lấy nước kia thì:

Bao nhiêu chiến tranh, người chết, gia đình tan nát

Lại sinh ra nhiều chuyện hận thù tiếp nối

Còn nếu bảo đừng đánh nhau, đừng làm vua, quan thế

gian nữa,

Vua quan sẽ không hài lòng và chưa chắc họ đã chịu nghe

7/21/2011

Trang 38

Phật hỏi Anan có nghe ở xứ Bạch Kỳ có bảy việc như sau:

 

1 Việc thứ nhất, dân trong nước mỗi khi có việc gì thì cùng nhau bàn luận Về

việc cai trị dân trong nước thì cùng vua, quan và dân cùng nhau bàn thảo để cai trị trong nước chứ vua không có độc tài, các quan cũng không có quyền

riêng, mà là có cái ý chung của tất cả mọi người  

2 Việc thứ hai là trong nước ấy, vua tôi hòa thuận trên kính dưới nhường  

3 Việc thứ ba là toàn thể dân chúng ấy người ta lễ độ, biết tôn trọng luật pháp

4 Việc thứ tư, trong nước các con cái biết hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận với các bậc trên

5 Việc thứ năm là người ta tin tưởng trên thì có thánh hiền, dưới thì có quỷ

thần cho nên người ta biết kính trọng các chùa và các đền miếu thiêng liêng  

6 Việc thứ sáu là các người nữ nghiêm chỉnh, không có giỡn cười tà bậy

 7 Việc thứ bảy là mọi người tôn kính đạo đức, biết phụng thờ Tam bảo, kính

trọng bậc xuất gia tu đạo

 

Trang 39

 1) TRÊN DƯỚI, TRẺ GIÀ HÒA THUẬN VÀ TÔN TRỌNG LẪN NHAU

  

 Trong cuộc sống hàng ngày:

 Có người trên người dưới

 Có trẻ có già

 Có bổn phận đối với từng người

 Phải hòa thuận tôn trọng lẫn nhau

 Để ngôi Tam Bảo được vững và được hưng thịnh ở thế gian

  

 Đoàn thể của mình bình yên, tăng với ni mà được bình an

 Mới có người giảng dạy Phật Pháp

 Ngôi chùa mới có người trông nom

 Thập phương Phật tử đến lễ chùa

 Phật tử có việc gì cần người ta mới có nơi nương tựa

 Nên phải dẹp mình, quên mình mà hòa thuận.

  

 NƠI NƯƠNG TỰA

   Tam Bảo: Phật - Pháp - Tăng là nơi nương tựa duy nhất của thế gian để giải thoát.

 Nếu nơi nương tựa duy nhất ấy lại tan vỡ, lại bất hòa,

 Làm sao mà thế gian có nơi nương tựa

 Hoặc chúng hộ pháp tức là quý bác mà tan vỡ, bất hòa,

 Làm sao quý bác hộ giữ ngôi tam bảo?

  

 Tội phá chữ Hòa nặng lắm,

 Đừng khơi lên những rắc rối, những nặng nhọc

 Phải cẩn thận luôn luôn tùy thuận trong tập thể,

 Phải quên mình, dẹp mình lại để vui lòng đa số.

7/21/2011

Ngày đăng: 16/01/2013, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w