A Hàm - Mưa pháp chuyển hóa phiền não
Trang 1MƯA PHÁP CHUYỂN HÓA PHIỀN NÃO
Ni Sư TN Giới Hương Ngày 14 tháng 08 năm 2011 Tại Hội Phật Học Đuốc Tuệ, CA
7/21/2011
Trang 2 Kinh tạng Nikàya (Pàli) và A-hàm (Hán tạng) là những bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh tạng Nguyên thủy Đó là những bộ kinh chứa đựng những gì Đức Phật đã tuyên thuyết trong 12 năm đầu như Tổ Thiên Thai nói:
Trang 31.1 Kiết tập lần thứ nhất
Sau khi Phật nhập diệt, 500 vị A-la-hán tập hợp trong hang Thất Diệp, Vương Xá A-nan tụng Pháp (Kinh)
Lần kiết tập này chủ yếu tụng Kinh tạng.
Nguồn gốc sâu xa của Kinh A-hàm và Nikaya bắt
nguồn từ lúc này
1.2 Kiết tập lần thứ hai
Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, 700
Tỳ-kheo tập hợp tại thành Tỳ-xá-ly
Lần kiết tập này chủ yếu tụng Luật tạng.
1 CÁC KỲ KIẾT TẬP
7/21/2011
Trang 4 1.3 Kiết tập lần thứ ba
là thời Vua A-dục, đại chúng tập hợp tại
thành Hoa Thị.
năm bộ Nikàya rất đầy đủ
3 kỳ kiết tập trên chỉ là do truyền khẩu và
học thuộc lòng.
Trang 51.4 Kiết tập lần thứ tư
Khoảng 400 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn
Lần kiết tập thứ tư này chủ yếu là luận thích Tam Tạng
và bắt đầu được chép thành văn
Lan vẫn giữ phong cách truyền khẩu cho đến khi một đại hội kiết tập được tổ chức tại Tích Lan ở làng Aluvihata
Đây là lần đầu tiên, Ba tạng Pàli được chép bằng chữ
trên lá buông vào năm 83 trước Tây lịch
tập lần thứ nhất, từ lần kiết tập thứ hai đến thứ tư, tức
vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên là thời kỳ Kinh
A-hàm hay Nikaya chính thức được thành lập.
7/21/2011
Trang 6 Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm,
Phật giáo Nguyên Thủy chia thành Đại Chúng Bộ và
Thượng Tọa Bộ
Bộ, Tiểu Bộ ) chép bằng văn Pàli.
A-hàm (Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và
Tạp A-hàm) được ghi bằng Phạn văn
Đây là bốn bộ A-hàm Bắc truyền
2 SỰ TRUYỀN THỪA CỦA KINH A-HÀM và NIKAYA
Trang 7 Trường A-hàm của Bắc truyền tương đương với Trường Bộ
kinh của Nam truyền.
Trung A-hàm của Bắc truyền tương đương với Trung Bộ kinh
của Nam truyền.
Tạp A-hàm của Bắc Truyền tương đương với Tương Ưng Bộ
kinh của Nam Truyền.
Tăng Nhất A-hàm của Bắc Truyền tương đương với Tăng-chi
Bộ kinh của Nam Truyền.
A-hàm của Bắc Truyền không có kinh nào tương đương với
Tiểu Bộ Kinh của Nam Truyền
7/21/2011
Trang 8 Năm bộ kinh Nam truyền được ghi bằng văn Pàli,
gần với ngôn ngữ thường dùng ở thời Phật.
Nam truyền giàu sắc thái nguyên thủy hơn Bắc
Luật (Vinaya) còn gọi là luật tạng, tức nguyên tắc
đạo đức, giới luật
Trang 9
3.1 A-HÀM gồm có 4 bộ:
1/ Trường A-hàm (những bài kinh dài)
2/ Trung A-hàm (những bài kinh bậc trung)
3/ Tạp A-hàm ( những bài kinh ngắn, nhiều chủ đề, nhiều
đối tượng)
4/ Tăng Nhất A-hàm (những bài kinh sắp xếp theo con số, pháp số thứ tự tăng dần)
Như vậy, kinh Phật xuất hiện sớm nhất là sau Phật diệt độ
vài tháng, và muộn nhất là từ Phật diệt độ 500 năm về
Trang 10 3.2 NIKAYA gồm 5 Bộ:
1/ Trường bộ kinh (những bài kinh dài)
2/ Trung bộ kinh (những bài kinh bậc trung)
3/ Tương ưng bộ kinh ( những bài kinh ngắn,
nhiều chủ đề tương ứng với đối tượng)
4/ Tăng chi bộ (những bài kinh sắp xếp theo con
số, pháp số thứ tự tăng dần)
5/ Tiểu bộ kinh (nhiều đề tài phong phú)
Trang 114.1 KINH TRƯỜNG A-HÀM VÀ TRƯỜNG BỘ KINH
Kinh Trường A-hàm gồm 30 kinh
Trường Bộ Kinh có 34 kinh.
4.2 KINH TRUNG A-HÀM VÀ TRUNG BỘ KINH
Kinh Trung A-hàm có 222 kinh.
Trung Bộ Kinh có 152 kinh.
4.3 KINH TĂNG NHẤT A–HÀM VÀ TĂNG CHI BỘ KINH
Tăng Nhất A-hàm gồm có 472 kinh
Tăng Chi Bộ là tuyển tập 9557 bài Kinh.
7/21/2011
Trang 124.4 KINH TẠP A – HÀM VÀ TƯƠNG ƯNG BỘ
Trang 13 A-hàm không có bộ nào tương ứng với Tiểu Bộ Kinh
Nên A-hàm chỉ có bốn bộ trong khi Nikaya có năm bộ.
Tiểu Bộ Kinh là tuyển tập gồm có 15 bộ Kinh theo chủ
Trang 148 Trưởng lão Tăng kệ
Trang 15 5 ĐiỂM KHÁC và GIỐNG
giữa TRUYỀN THỐNG NGUYÊN THỦY và PHÁT TRIỂN
Lời Phật dạy được phân làm hai truyền thống:
Truyền thống Nguyên thủy
Truyền thống Phát triển
5.1 ĐIỂM KHÁC giữa HAI TRUYỀN THỐNG
Danh Tánh: về mặt Địa lý truyền thừa thì gọi là
Phật giáo Bắc tông ( truyền bá Phật Giáo ở phương Bắc của Ấn Độ )
Phật giáo Nam tông ( phương Nam của Ấn Độ )
Tư tưởng Phật giáo Phát triển kế thừa giáo lý Nguyên thủy.
Lịch Sử: Kinh A Hàm và Nikaya thuyết minh rõ:
Trang 16 Thực tiễn và triết lý: A Hàm và Nikaya thường mang màu sắc:
Sống động của đời thường
Tâm tư của từng cá nhân
Những thống khổ mà thân tâm con người thường phải đối diện
Kinh Tạng Nguyên Thủy mô tả cụ thể:
Tư tưởng học thuật
Sinh hoạt
Tập quán
Tôn giáo
Văn hóa Ấn Độ
Các bậc xuất gia ngày xưa thường trì mật chú
Mùa hạ bên Ấn Độ thường nhằm mùa mưa, Đức Phật mới chế định pháp kiết
hạ an cư
Kinh Đại Thừa thường nói về cảnh giới hoa tạng Bồ tát và chư Phật
Trang 17Ba độc mà không đoạn thì không thể nào thoát ly sinh
lão bệnh tử
giới, sanh định và phát huệ.
Khác với thiền tông là “trực chỉ chân tâm, kiến tánh
thành Phật” tức đốn tu đốn chứng
Thấy biết phiền não là giả
Khảy móng tay là lên ngôi chánh giác.
7/21/2011
Trang 18
Quán logic chi tiết:
kinh
của sắc
Quan niệm sanh tử của:
Trang 19để:
Trang 205.2 SỰ GIỐNG NHAU giữa KINH TẠNG NGUYÊN THỦY & ĐẠI THỪA
Nikaya đã có đề cập đến công hạnh vị tha của 60 vị A-la-hán đầu tiên đi khắp
vùng này thôn nọ để thuyết pháp khai thị cho dân làng
Chính tinh thần Bồ tát từ kinh Nguyên Thủy này đã phát huy mạnh mẽ trong
kinh điển Phát triển sau này
Trang 216 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM của A-HÀM và NIKAYA
Tư tưởng của hai truyền thống đều giữ được phong cách và pháp vị của thời
Nguyên thủy Phật giáo
Lý luận giản đơn nhưng rất chặt chẽ
Nhất là những định nghĩa căn bản của thuật ngữ Phật học rất rõ ràng
Trên phương diện Văn học sử
Hình ảnh sống động nhất và chân thật nhất về cuộc đời Đức Phật
Giáo đoàn tăng già ngày xưa là những con người hiện thực như chúng ta
A hàm và Nikaya cũng mô tả quan điểm của Phật về:
Trang 22 Về mặt Tư tưởng sử:
Tư tưởng căn bản của Phật Giáo phát triển.
Phương pháp chỉ dạy để giữ giới định tuệ
Liễu sanh thoát tử,
Chứng nhập Niết-bàn.
Về phương diện công năng:
Lời Phật dạy thấm đẫm trí tuệ và từ bi
Sữa pháp
Có khả năng trưởng dưỡng thánh thai của thính chúng.
Về phương diện đối tượng:
Lời Phật dạy được gọi là “mưa pháp”
Tưới mát đều cho mọi loài, không phân biệt chủng loại, tôn giáo, giới tính, hay lão ấu.
Ai nghe đều hưởng lợi ích như mưa tưới đều xuống thế gian
Trang 23 Về phương diện đặc tính:
Về phương diện ứng dụng:
Tóm lại,
7/21/2011
Trang 24 ĐỊNH NGHĨA KINH A HÀM và NIKAYA
A Hàm hay Nikaya, tiếng Hán dịch là Pháp Quy
Quy là quay về Pháp là vạn pháp
Tất cả vạn pháp quy về một loại kinh này.
A Hàm là một khu rừng bát ngát mênh mông, bao la.
Chứa bao nhiêu ngàn bài kinh thuyết minh về đường lối:
Hiền ngu, tội phước.
Chân, ngụy, dị, đồng
MỤC II A-HÀM và NIKAYA: MƯA PHÁP CHUYỂN HÓA PHIỀN NÃO (Còn gọi là Sự Ứng Dụng của Mưa Pháp A-hàm và Nikaya)
Trang 25
CHÂN NGỤY DỊ ĐỒNG
Ngụy là sự không đúng với lẽ phải, xảo trá.
Chân là chân thật, đối với chữ ngụy.
Niệm Phật để mà làm Phật thì cái đó gọi là chân.
Niệm Phật để cầu tiền bạc, tiếng khen là ngụy
Hai cô tuy là cùng chuỗi tràng với nhau, ngồi niệm Phật
Còn một người ngồi đó để mà suy nghĩ lung tung, gọi là dị.
7/21/2011
Trang 26 CHÂN NGỤY LÀ DO ĐÂU?
Có người đã sống chân thật,
nhưng tại sao cũng có những người sống ngụy?
Do không hiểu, không biết nên sống ngụy
Đức Thích Ca giáng sanh xuống thế gian này:
Để khai mở cái mê,
Biết sự thật và hiểu cái lẽ phải
Chuyển hóa phiền não
Trang 27 ĐƯỜNG LỐI của HIỀN NGU và TỘI PHƯỚC
Bao nhiêu ngàn bản kinh trong bộ A Hàm và Nikaya này phân tách ra
Những nguyên do của nghiệp thiện ác để làm gì?
Tự chọn con đường mình đi,
Để chúng ta thấy hình tướng của sự tu hành và đọa lạc, Thấy đường lối của hiền ngu và tội phước.
Vua Đảnh Sanh là một vị Chuyển Luân Vương
Ngài giàu có sung sướng lắm
Một hôm, ngài ước được lên trời chơi.
Do phúc đức lớn nên ngài liền bay được lên trời
Trang 28 Nhưng vua lại muốn chiếm trọn ngai vàng ấy
Ngay khi niệm thất đức ấy khởi lên khiến cho ngài bị rớt
ngay xuống thế gian
Dù ở trần gian mà cứ tưởng nhớ đến cõi trời và chán ở thế
gian
Ngài chết trong trạng thái không thỏa mãn, sầu ưu khổ
não, tái sanh làm ma.
Vì vua Đảnh Sanh cứ để cho cái tâm phóng túng lôi mình
đi,
Một bề mà nhắm mắt đi theo cái mê
Đến nổi có cái phước lớn như thế mà lại trở thành một con
người chết trong khổ não.
Do lòng tham dẫn dắt và đưa đến kết quả thất bại như vậy
Trang 29 KHU RỪNG PHONG PHÚ BAO LA
Trong A Hàm và Nikaya này, Phật kể nhiều câu chuyện về:
Thành bại,
Hiền ngu,
Phước tội của loài người,
Chư thiên ở trên trời,
Các loài ở địa ngục, ngạ quỷ, bao hàm vạn loài trong trời đất,
Nên gọi là pháp quy - vạn pháp quay về đấy.
Con đường đi vào trí tuệ giải thoát đó gọi là Đạo Phật
Đạo do đây tức đạo do A-hàm hay Nikaya hay Kinh tạng mà phát khởi.
7/21/2011
Trang 30PHÁP DO ĐÂY TỒN TẠI
Pháp do A-hàm hay Nikaya mà được tồn tại
Đạo được phát khởi,
Chúng ta nắm được các pháp môn thì chúng ta tu,
Hiểu điều phải, theo con đường chân thật
Nhất định thọ trì rồi truyền bá
Do đó các pháp môn mới tồn tại được
Nếu không có các bộ kinh A-hàm hay Nikaya còn lại
Chúng ta không biết tội phước, nhân quả để tránh.
Chúng ta sẽ dễ sống ngụy, sống giả, sống hưởng thụ và không biết ngày mai.
Những pháp môn tu phải do các Tổ đã thọ, đã trì và truyền lại
Chúng ta bây giờ cũng thọ và duy trì để ngày mai chúng ta cũng có thể giữ được đạo và
truyền lại cho người sau
Thế là pháp do đây mà tồn tại
Trang 31 Kinh Phật Thuyết Nguyệt Dụ dạy:
“Tỳ kheo an trụ vào sự hiểu biết chân chánh:
Rời các nhiễm ô như luyện vàng ròng;
Khử trừ chất uế, thấy pháp như thế,
là pháp có thể lìa sanh già bịnh chết, sầu bi ưu não
Dùng pháp như thế vì người khác nói,
Khiến người kia đạt được sự nghe pháp như thế,
Theo đó tu hành, ở trong đêm dài được lợi lạc lớn
Do đó, chánh pháp được tồn tại lâu dài.”
7/21/2011
Trang 32 MỤC ĐÍCH DỨT KHỔ
Kinh A Hàm và Nikaya nói nhiều như vậy mục đích để làm gì?
Đức Thích Ca giáng sinh
Ngài nói bao nhiêu ngàn bài kinh như thế để làm gì?
Vì một mục đích duy nhất là cho chúng sanh hết khổ
Làm thế nào để hết khổ?
Chúng ta phải học kinh A Hàm hay Nikaya để mà hết khổ
Đức Phật nói nhiều như thế chỉ vì có một việc là làm cho chúng ta khỏi khổ
A Hàm hay Nikaya là biển kinh (chứ không phải vài cuốn kinh) chứa đủ hết
Chúng ta sẽ hiểu được hết cả chuyện xưa, chuyện nay, chuyện vuông,
chuyện tròn, chuyện tội phước, chân ngụy, chuyện địa ngục, chuyện ma
quỷ
Nhiều việc nhờ kinh này chúng ta hiểu được hết
Biết tránh đường khổ
Trang 33 A GIOI THIỆU KINH TRƯỜNG A HÀM hay TRƯỜNG BỘ KINH
Niên hiệu Hoằng Thủy thứ 15, năm Quý Sữu, Sa Môn Tam Tạng Phật Đà Da Xá,
người nước Ký Tân đọc thuộc lòng trọn bộ Trường A Hàm
Sa Môn Phật Niệm, người Lương Châu dịch sang tiếng Trung Hoa,
Một đạo sĩ người nước Tần là Đạo Hàm ghi chép
Trường Bộ Kinh là những bài kinh dài
Trường là giải bày dài về đường tu, hoặc chuyện lâu dài
Y theo kinh này thì mê nhiều kiếp, tà chánh khó phân cũng được tỏ ngộ hiển
nhiên như đêm ngày
Việc báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo tiếng, như bóng
theo hình
Số kiếp tựa xa vời mà gần kề mình như tối sáng
Lục đạo bao la hiện ra trước mắt mà kinh này là ánh sáng vĩ đại cho đêm dài
sanh tử Kinh này ban mắt tuệ cho chúng sanh đui mù tức là chúng ta
Y theo trường bộ kinh này thì mê nhiều kiếp liền được tỏ ngộ
Tà chánh khó phân sẽ phân minh hiển nhiên như đêm ngày
7/21/2011
Trang 34 NHÂN QUẢ BÁO ỨNG
Học A Hàm để chúng ta phân biệt:
Điều phải điều trái, người hiền người ngu như ngày và đêm
Nhân quả báo ứng tuy khó nhận nhưng chắc chắn như vang theo tiếng
Phải tin chắc chắn chứ không có mơ hồ
Một Thầy Tam Tạng tỳ kheo chê một vị tăng già tụng kinh như chó sủa
Tạng thức của thầy đã ghi các lời rủa chê của thầy rồi chuyển biến
khiến kiếp sau của thầy bị làm con chó, 500 đời làm chó
Thân người này hoại tan rã đi
Thân chó từ từ hình thành.
Ăn cắp thì mai đây làm con trâu kéo cày
Con chim, cá bị bán để trả dần nợ
Cứ thế bị bán hết thân này đến kia cho đến hết nợ
Thân chim, gà, cá dần dần phai đi
Thân trâu dần dần hiển lộ.
Trang 35 Việc báo ứng, nhân quả của lời nói, việc làm đều có quả
báo như bóng hình.
Người lớn thì cái bóng sẽ lớn
Người bé thì cái bóng phải bé
Người nghẹo đầu ở đằng này thì cái bóng nó sẽ nghẹo đầu
ở đằng này
Vì cái bóng hình là từ cái người ấy mà ra
Mỗi khi làm một việc bậy hay thiện, chắc chắn sẽ có quả
báo nguy hiểm hay tốt lành.
Nếu người khôn thì biết hình bóng chắc chắn như vậy thì:
Đừng có làm sai
Đừng có sống ngụy.
7/21/2011
NHƯ BÓNG THEO HÌNH
Trang 36 SỐ KIẾP TỰA XA VỜI
Số kiếp tựa xa vời mà gần kề như sáng tối
Xưa kia mình làm con bò, bây giờ làm con người,
Rồi mai lại là con trâu Đó là số kiếp, là đời sống của chúng ta
Đi ăn trộm để có tiền tiêu xài du hí
Tưởng như cái chuyện làm trâu, hay quả báo đối với mình nó xa lắm
Không nghĩ tới là về sau phải bị kéo cày trả nợ
Thế nhưng thật ra gần kề như buổi sáng với tối
Vừa mới sáng thì đã tối, vừa mới tối đã đến sáng
Vừa mới làm con người đây, sẽ làm con trâu liền
Có an định, trí tuệ, chúng ta mới có khả năng cứu tế đạo và đời.
Sẽ ích lợi cho người trong chùa, mà cả người thế gian.
Cần phải học kinh này để cứu tế cả đạo và đời.
Đạo là đời sống của những người xuất gia.
Đời là đời sống của những người thế gian chưa cạo đầu
Đạo và đời đều được an lạc
Trang 37KINH VỀ BẢY ĐIỂM QUAN YẾU
ĐỂ CHO NGÔI TAM BẢO ĐƯỢC HƯNG LONG HAY CẢ ĐẠO
Vì nếu bảo đi chinh phục nghĩa là đánh lấy nước kia thì:
Bao nhiêu chiến tranh, người chết, gia đình tan nát
Lại sinh ra nhiều chuyện hận thù tiếp nối
Còn nếu bảo đừng đánh nhau, đừng làm vua, quan thế
gian nữa,
Vua quan sẽ không hài lòng và chưa chắc họ đã chịu nghe
7/21/2011
Trang 38Phật hỏi Anan có nghe ở xứ Bạch Kỳ có bảy việc như sau:
1 Việc thứ nhất, dân trong nước mỗi khi có việc gì thì cùng nhau bàn luận Về
việc cai trị dân trong nước thì cùng vua, quan và dân cùng nhau bàn thảo để cai trị trong nước chứ vua không có độc tài, các quan cũng không có quyền
riêng, mà là có cái ý chung của tất cả mọi người
2 Việc thứ hai là trong nước ấy, vua tôi hòa thuận trên kính dưới nhường
3 Việc thứ ba là toàn thể dân chúng ấy người ta lễ độ, biết tôn trọng luật pháp
4 Việc thứ tư, trong nước các con cái biết hiếu thảo với cha mẹ, kính thuận với các bậc trên
5 Việc thứ năm là người ta tin tưởng trên thì có thánh hiền, dưới thì có quỷ
thần cho nên người ta biết kính trọng các chùa và các đền miếu thiêng liêng
6 Việc thứ sáu là các người nữ nghiêm chỉnh, không có giỡn cười tà bậy
7 Việc thứ bảy là mọi người tôn kính đạo đức, biết phụng thờ Tam bảo, kính
trọng bậc xuất gia tu đạo
Trang 39
1) TRÊN DƯỚI, TRẺ GIÀ HÒA THUẬN VÀ TÔN TRỌNG LẪN NHAU
Trong cuộc sống hàng ngày:
Có người trên người dưới
Có trẻ có già
Có bổn phận đối với từng người
Phải hòa thuận tôn trọng lẫn nhau
Để ngôi Tam Bảo được vững và được hưng thịnh ở thế gian
Đoàn thể của mình bình yên, tăng với ni mà được bình an
Mới có người giảng dạy Phật Pháp
Ngôi chùa mới có người trông nom
Thập phương Phật tử đến lễ chùa
Phật tử có việc gì cần người ta mới có nơi nương tựa
Nên phải dẹp mình, quên mình mà hòa thuận.
NƠI NƯƠNG TỰA
Tam Bảo: Phật - Pháp - Tăng là nơi nương tựa duy nhất của thế gian để giải thoát.
Nếu nơi nương tựa duy nhất ấy lại tan vỡ, lại bất hòa,
Làm sao mà thế gian có nơi nương tựa
Hoặc chúng hộ pháp tức là quý bác mà tan vỡ, bất hòa,
Làm sao quý bác hộ giữ ngôi tam bảo?
Tội phá chữ Hòa nặng lắm,
Đừng khơi lên những rắc rối, những nặng nhọc
Phải cẩn thận luôn luôn tùy thuận trong tập thể,
Phải quên mình, dẹp mình lại để vui lòng đa số.
7/21/2011