1 PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Huyện Cần Giuộc là một huyện thuộc vùng hạ của Tỉnh Long An, hiện có 16 xã và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên 210 198 km² và dân số hơn 170 000 người (năm[.]
Trang 1PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Huyện Cần Giuộc là một huyện thuộc vùng hạ của Tỉnh Long An, hiện có 16 xã
và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên 210.198 km² và dân số hơn 170.000 người (năm 2009), là một huyện phát triển khá mạnh trong thời gian gần đây do có lợi thế về địa hình: phía Bắc, Đông Bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, phía Đông Nam giáp sông Soài Rạp (là sông lớn nối liền ra cửa biển rất thuận lợi cho vận tải đưởng thủy), với nền kinh tế phát triển đa lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ,…)
Trong những năm gần đây, huyện Cần Giuộc đã đầu tư vào nhiều tuyến đường giao thông Đẩy mạnh giao thương hàng hóa trong khu vực cũng như những vùng lân
cận, góp phần vào việc phát triển kinh tế, đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những điểm tích cực thì còn tồn tại nhiều vấn đề về chất lượng các công trình, khi nghiệm thu đưa vào sử dụng không được bao lâu thì xuống cấp, xuất hiện nhiều ổ gà, ổ voi Những vấn đề trên xuất hiện do nhiều nguyên nhân tuy nhiên nguyên nhân chính
đó là chất lượng thi công những công trình này chưa được đảm bảo Vậy, công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến hiệu quả đầu tư xây dựng Chính vì vậy mà tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công các công trình đường giao thông do Ban Quản lý
dự án Đầu tư xây dựng huyện Cần Giuộc làm chủ đầu tư”
2 M ục đích của đề tài:
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình đường giao thông do Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện Cần Giuộc làm chủ đầu tư, áp dụng cho dự án đường Nguyễn An Ninh, thị trấn Cần Giuộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý chất lượng thi công các dự án đường giao thông do BQL dự án đầu tư xây dựng huyện Cần Giuộc làm chủ đầu tư
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 2Các dự án đường giao thông bê tông nhựa, áp dụng với dự án đường Nguyễn An Ninh, Thị trấn Cần Giuộc – xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Cách tiếp cận:
Đánh giá thực trạng về chất lượng công trình giao thông
Tìm hiểu công tác thi công xây dựng công trình giao thông, những kinh nghiệm
về tổ chức, các biện pháp quản lý chất lượng trong thi công
Thu nhập xử lý thông tin thống kê mô hình hóa
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp đo đạc khảo sát
Phương pháp thống kê phân tích
Phương pháp kế thừa
5 K ết quả dự kiến đạt được:
Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công các công trình giao thông tại Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện Cần Giuộc
Đề xuất các biện pháp có căn cứ khoa học trong công tác quản lý chất lượng các công trình đường giao thông mà Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng làm chủ đầu tư
Vận dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu trong công tác quản lý chất lượng thi công trong công trình giao thông
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG GIAO THÔNG
1.1 C ông trình đường giao thông
Công trình đường giao thông bao gồm các công trình đường bộ; đường cao tốc; đường ô tô; đường đô thị, quảng trường; đường chuyên dùng; đường giao thông nông thôn
1.1.1 Đường bộ
Đường bộ là các loại đường bao gồm đường ô tô, đường phố, đường ô tô cao tốc, đường ô tô chuyên dùng, đường giao thông nông thôn phục vụ vận tải và đi lại trên mặt đất cho người đi bộ, ô tô, xe máy và các phương tiện vận chuyển khác trừ xe
lửa, xe điện bánh sắt
1.1.2 Đường cao tốc
Đường cao tốc là loại đường chuyên dùng để vận chuyển ở cự ly lớn, cho ô tô
chạy với tốc độ cao, các hướng xe chạy tách riêng hai chiều, và không giao cắt cùng mức với các tuyến đường khác, trong đó mỗi chiều tối thiểu phải có một làn xe chạy và
một làn dừng xe khẩn cấp; trên đường có bố trí đầy đủ các trang thiết bị và các cơ sở phục vụ cho việc đảm bảo giao thông liên tục, an toàn, tiện nghi phục vụ nghỉ ngơi dọc tuyến và chỉ cho xe ra, xe vào ở các điểm nhất định
Hình 1.1 Đường cao tốc Đà Nẵng – Quãng Ngãi
Trang 41.1.3 Đường ô tô
Đường ô tô là tất cả các loại đường bộ dành cho các loại xe ô tô không quá khổ quá tải đi qua một cách an toàn và được xây dựng theo những tiêu chí kỹ thuật thống nhất
Hình 1.2 Đại lộ Võ Văn Kiệt
1.1.4 Đường chuyên dùng
Đường chuyên dùng là tất cả các loại đường bộ được xây dựng phục vụ cho
từng mục đích cụ thể, sử dụng cho người và các phương tiện vận tải chuyên dụng đi lại theo các tiêu chuẩn kỹ thuật riêng hoặc vận dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật khác đã ban hành Đường chuyên dùng bao gồm: đường lâm nghiệp, đường vận chuyển tại các khu
mỏ, đường vận hành tại các nhà máy thủy điện và các đường nội bộ khác trong các
cơ quan, đơn vị, khu du lịch, thương mại, trường học, khu công nghiệp hoặc các làng nghề truyền thống
Trang 5Hình 1.3 Đường cất và hạ cánh của sân bay Tân Sơn Nhất
1.1.5 Đường giao thông nông thôn
Đường giao thông nông thôn là loại đường bộ dùng cho người dân và các phương tiện đi lại của người dân nằm trong địa phận làng xã để chủ yếu phục vụ đời sống dân sinh và phục vụ sản xuất nông nghiệp
Hình 1.4 Đường giao thông nông thôn
Trang 61.2 Công ngh ệ xây dựng đường bê tông nhựa (BTN) tại Việt Nam và trên Thế
gi ới
1.2.1 Công nghệ xây dựng BTN tại Việt Nam [5]
Tại Việt Nam hiện đang sử dụng phổ biến hỗn hợp bê tông nhựa nóng (HMA), thiết kế theo phương pháp Marshall
Hình 1.5 Thi công bê tông nhựa nóng
1.2.1.1 Khái niệm hỗn hợp bê tông nhựa nóng (Hot mix asphalt-HMA)
Hỗn hợp bao gồm các cốt liệu (đá dăm, cát, bột khoáng) có tỷ lệ phối trộn xác định, được sấy nóng và trộn đều với nhau, sau đó được trộn với nhựa đường theo tỷ lệ
đã thiết kế
1.2.1.2 Nguyên tắc thiết kế hỗn hợp BTN theo phương pháp Marshall [5]
Công tác thiết kế hỗn hợp BTN theo phương pháp Marshall nhằm mục đích tìm
ra hàm lượng nhựa tối ưu ứng với hỗn hợp cốt liệu đã chọn Việc thiết kế phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Tất cả các vật liệu sử dụng (đá dăm, cát, bột khoáng, nhựa đường) đều phải thoả mãn các chỉ tiêu cơ lý theo quy định của Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường BTN
Trang 7- Đường cong cấp phối của hỗn hợp cốt liệu sau khi phối trộn phải nằm trong
giới hạn của đường bao cấp phối quy định tại Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường BTN
- Hàm lượng nhựa tối ưu lựa chọn phải thỏa mãn các chỉ tiêu liên quan đến đặc tính thể tích (Độ rỗng dư, Độ rỗng cốt liệu ), các chỉ tiêu thí nghiệm theo Marshall (độ
ổn định, độ dẻo ) và các chỉ tiêu bổ sung nếu có theo quy định của Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường BTN
1.2.1.3 Phân loại bê tông nhựa
a) Phân loại theo cỡ hạt danh định lớn nhất của cốt liệu
Theo cách phân loại này, BTN thường được phân thành các loại có cỡ hạt danh định lớn nhất là: 37,5 mm; 25,0 mm; 19,0 mm; 12,5 mm; 9,5 mm và 4,75 mm (tương ứng với việc phân loại theo cỡ hạt lớn nhất là 50 mm; 37,5 mm; 25,0 mm; 19,0 mm; 12,5 mm và 9,5 mm)
b) Phân loại theo đặc tính của cấp phối hỗn hợp cốt liệu
Theo đặc tính của cấp phối cốt liệu, BTN thường được phân thành các loại:
- BTN có cấp phối chặt (dense graded mix); BTN có cấp phối gián đoạn (gap graded mix); BTN có cấp phối hở (open graded mix)
Hình 1.6 Đường thi công bê tông nhựa chặt
Trang 8Hình 1.7 Đường bê tông nhựa cấp phối gián đoạn
Hình 1.8 Bê tông nh ựa cấp phối hở
c) Phân loại theo độ rỗng dư
Theo độ rỗng dư, BTN thường được phân thành các loại:
- BTN chặt, có độ rỗng dư từ 3% - 6%
Trang 9- BTN rỗng, bao gồm các loại BTN có độ rỗng dư lớn hơn 6 %
d) Phân loại theo vị trí và công năng trong kết cấu mặt đường
Theo vị trí và công năng trong kết cấu mặt đường , BTN thường được phân thành các loại:
- BTN có độ nhám cao, tăng khả năng kháng trượt: sử dụng cho đường ô tô cấp cao, đường cao tốc, các đoạn đường nguy hiểm Lớp BTN này được phủ trên mặt BTN, ngay sau khi thi công các lớp BTN phía dưới hoặc được phủ sau này, khi nâng cấp mặt đường
- BTN dùng làm lớp mặt (surface course mixture), bao gồm:
+ BTN dùng làm lớp mặt trên (wearing course mixture): thường sử dụng BTN chặt
+ BTN dùng làm lớp mặt dưới (binder course mixture): thường sử dụng BTN
chặt
- BTN dùng làm lớp móng (base course mixture): loại BTN chặt và BTN rỗng đều có thể sử dụng làm lớp móng BTN rỗng có giá thành thấp hơn do không cần sử
dụng bột khoáng và hàm lượng nhựa thấp hơn so với BTN chặt
- BTN cát (sand-asphalt mixture): sử dụng làm lớp mặt tại khu vực có tải trọng
xe không lớn, vỉa hè, làn dành cho xe đạp, xe thô sơ Có thể sử dụng để làm 1 lớp bù vênh mỏng trước khi rải lớp BTN lên trên Cốt liệu sử dụng cho BTN cát là cát nghiền, cát tự nhiên hoặc hỗn hợp của hai loại cát này
1.2.2 Công nghệ xây dựng BTN trên thế giới [7]
Bê tông nhựa nóng (BTNN) được phát minh và ứng dụng rộng rãi từ những năm đầu tiên của thế kỉ XIX Việc chọn lựa sản phẩm BTNN phù hợp với từng cấp đường, điều kiện khí hậu, thời tiết và cả yếu tố kinh tế luôn là một vấn đề lớn của các nhà thiết
kế và cũng là một lĩnh vực nghiên cứu lớn của các nhà khoa học Để có thể chọn một sản phẩm bê tông nhựa nóng thích hợp, điều quan trọng đầu tiên là phải đưa ra loại cấp
phối thích hợp trong điều kiện mặt đường được thiết kế Theo cấp phối cốt liệu, BTNN thường được chia làm 3 loại khác nhau: cấp phối chặt (dense-graded course), cấp phối rỗng (open-graded course) và cấp phối gián đoạn (gap-graded course)
Trang 10Cấp phối chặt (hay còn được gọi là cấp phối liên tục) được ra đời từ năm 1872
bởi De Smedt và được thi công thử nghiệm tại Công viên Battery và trên Đại lộ 5 – thành phố Newyork (USA) Đến nay, BTN cấp phối chặt là sản phẩm truyền thống được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất khắp thế giới Cấp phối chặt phù hợp với mọi cấp đường, có thể dùng để làm lớp móng, lớp liên kết hoặc lớp mặt BTNN cấp phối chặt được thiết kế với độ rỗng thấp (thông thường từ 3-6%) nhằm đảm bảo mặt đường không bị thấm nước Tuy nhiên, với sự phát triển tăng vọt của ngành giao thông vận tải trong những thập niên qua, tính khả quan của việc sử dụng cấp phối chặt làm lớp mặt cho các tuyến đường siêu trường, siêu trọng, đường cao tốc, đường cảng đang là một câu hỏi lớn và qui mô sử dụng chúng trong các cấp đường này đang ngày càng thu hẹp dần
Hình 1.9 Bê tông nhựa nóng cấp phối chặt
Cấp phối rỗng được chia làm 2 loại: cấp phối rỗng nhám và cấp phối rỗng thoát nước:
- Cấp phối rỗng nhám (open-graded friction course) có độ rỗng lớn hơn 15% và chỉ được dùng để làm lớp mặt với chiều dày rất mỏng Cấp phối rỗng nhám được dùng
rộng rãi tại Mỹ từ năm 1950 Ngoài tính năng tạo ma sát, chống trượt nhờ được thiết kế với độ nhám thích hợp, BTNN cấp phối rỗng nhám còn làm giảm sự bắn tóe nước khi trời mưa và giảm tiến ồn trên mặt đường Cấp phối rỗng nhám thích hợp dùng làm lớp
Trang 11mặt cho các đường cao tốc, đường đua, những đoạn đường đèo, dốc Tuy nhiên cấp
phối này được khuyến cáo không nên dùng ở những nút giao thông và khu vực xe lưu thông tốc độ chậm
- Cấp phối rỗng thoát nước (asphalt-treated permeable base) thường dùng làm lớp móng hoặc nằm dưới lớp BTNN cấp phối chặt, SMA hoặc lớp bê tông xi măng BTNN cấp phối rỗng có chức năng thoát nước cho mặt đường nhờ được thiết kế với độ rỗng cao
Hình 1.10 Bê tông nh ựa nóng cấp phối rỗng
Cấp phối gián đoạn được dùng cho 2 loại sản phẩm là BTNN cấp phối gián đoạn và hỗn hợp đá vữa nhựa (SMA) Được thiết kế theo nguyên tắc đá chèn đá, tạo thành một bộ khung vững chắc, chịu lực tốt, cấp phối gián đoạn được xem là sản phẩm
ưu việt, thích hợp để chống đùn trồi và các biến dạng mỏi, đặc biệt trong số đó phải kể đến là hỗn hợp đá vữa nhựa SMA – một sản phẩm được phát minh bởi Cộng hòa liên bang Đức từ năm 1960 Nhờ những tính năng vượt trội đó, cấp phối gián đoạn được khuyên dùng cho những tuyến đường siêu trường, siêu trọng, các nút giao thông và khu vực giao thông tốc độ chậm
Trang 12Hình 1.11 Bê tông nhựa nóng có cấp phối gián đoạn
Trên thế giới, từ những năm 70 của thế kỷ XX đã có nhiều nghiên cứu về việc
giảm nhiệt độ trộn/đầm nén của bê tông nhựa nóng (HMA) bằng cách làm ẩm cốt liệu, tạo bọt nhựa đường và sử dụng nhũ tương nhựa đường để chế tạo hỗn hợp bê tông nhựa Giảm nhiệt độ sản xuất và nhiệt độ rải của HMA mang lại nhiều lợi ích về kinh
tế, môi trường và cả tính năng sử dụng Sản phẩm đó hiện nay được gọi là WMA (hỗn hợp bê tông nhựa ấm)
Hỗn hợp WMA được sản xuất ở nhiệt độ thấp hơn so với hỗn hợp HMA từ khoảng 5 đến 45oC, song các chỉ tiêu kỹ thuật thấp hơn không nhiều hoặc tương đương với hỗn hợp HMA Để đáp ứng được các yêu cầu ngày càng tăng về bảo vệ môi trường
và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã áp dụng công nghệ WMA trong xây dựng đường bộ và đã đạt được nhiều thành công Công nghệ này giờ đây không những được áp dụng cho mặt đường bê tông nhựa chặt thông thường mà đã
áp dụng cho mặt đường bê tông nhựa cấp phối hở và mặt đường tái chế
Các lợi ích chủ yếu của công nghệ WMA bao gồm:
Lợi ích về môi trường: Ý nghĩa quan trọng nhất khi áp dụng công nghệ WMA là
giảm được phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (từ 20 đến 30% so với công nghệ HMA); công nghệ này tương thích với công nghệ nhựa đường tái chế nên có thể tiết
Trang 13kiệm được nguồn cốt liệu sạch và giảm tác động xấu tới môi trường
Lợi ích về sức khỏe: Việc áp dụng công nghệ làm giảm nhiệt độ hỗn hợp khi trộn và thi công ngoài hiện trường, giúp giảm khói bụi (các yếu tố ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của công nhân)
Lợi ích về kỹ thuật: Nhiệt độ trộn của công nghệ WMA thấp hơn so với HMA nên sẽ làm giảm quá trình oxy hóa và lão hóa của bitum, do đó làm tăng tuổi thọ mặt đường do hạn chế khả năng nứt mỏi Bên cạnh đó, mức độ làm việc cũng được cải thiện nhiều do hỗn hợp WMA ở nhiệt độ thấp hơn, tạo ra khả năng đầm nén tốt hơn và chiều dài đầm nén dài hơn Ngoài ra, nhiệt độ của hỗn hợp WMA nhỏ hơn so với HMA nên cho phép tăng khoảng cách từ trạm trộn đến công trường thi công và tạo ra cơ hội thi công tại khu vực có thời tiết lạnh hơn
Lợi ích về giá thành: Lợi thế này có được do bổ sung thêm các chất phụ gia và công nghệ (bao gồm cả cải tiến trạm trộn), tiết kiệm nhiên liệu tiêu thụ, tăng tuổi thọ mặt đường và sử dụng vật liệu tái chế
Áp dụng công nghệ WMA tại một số nước
Cộng hòa Séc: Nghiên cứu về WMA của Trường Đại học Kỹ thuật Séc tại Praha (CTU) và Trường Đại học Kỹ thuật Brno (VUT) đã đưa ra chỉ dẫn kỹ thuật về WMA do Bộ Giao thông Vận tải Séc ban hành năm 2012 Chỉ dẫn kỹ thuật này phù hợp với mastic asphalt rải tại nhiệt độ thấp hơn so với trước đây Trong năm 2013, tất
cả các lớp asphalt mặt đường trong hầm đường bộ quan trọng tại Praha đã được rải WMA và đây là yêu cầu bắt buộc của Cục Đường bộ Séc
Hình 1.12 Đường giao thông tại Cộng Hòa Sec
Trang 14Pháp: Hiện nay tại Pháp, WMA được khuyến cáo sử dụng rộng rãi trong xây
dựng và bảo trì kết cấu hạ tầng đường bộ, đường đô thị Trong năm 2012 đã có 7,5% sản lượng WMA trong tổng số sản phẩm hỗn hợp asphalt được sử dụng tại Pháp Công nghệ WMA không những được áp dụng cho sản xuất hỗn hợp bê tông nhựa mới mà còn được áp dụng trong tái chế mặt đường bê tông nhựa cũ
Hình 1.13 Đường giao thông tại Pháp
Na Uy: Năm 2010, Hiệp hội sản xuất Asphalt của Na Uy (FAV) khởi xướng một dự án mới với tên gọi Low Temperature Asphalt “LTA - 2011” để nghiên cứu về sức khỏe của công nhân và chất lượng asphalt tại 11 đoạn thử nghiệm với 6 công nghệ khác nhau Kết quả của dự án đã tạo ra hỗn hợp bê tông nhựa có nhiệt độ trộn giảm đi
30oC Năm 2012, Cơ quan Thanh tra lao động Na Uy chủ trương đẩy mạnh việc sử dụng WMA trên khắp đất nước Để đạt được mục tiêu này, Cục Đường bộ Na Uy đã thưởng cho các nhà thầu 4 Euro/tấn nếu sản phẩm bê tông nhựa giảm đi 25oC nhưng chất lượng vẫn đảm bảo yêu cầu và đến cuối năm 2013, có 3 nhà thầu (16 trạm trộn) đã
sản xuất được 210.000 tấn WMA
Trang 15Hình 1.14 Đường giao thông tại nước Na Uy
Thụy Điển: Trong năm 2013 đã có khoảng 145.000 tấn WMA được sản xuất tại nước này Công nghệ WMA ở đây chủ yếu sử dụng loại bitum bọt hoặc cho thêm phụ gia, trong đó các thành phần hạt cốt liệu thô của hỗn hợp cốt liệu được trộn nhựa đường trước Các cốt liệu mịn, bột khoáng và cát được thêm vào sau đó Kết quả là sản phẩm hỗn hợp asphalt được tạo ra có các đặc tính đầm nén tốt hơn nhưng với nhiệt độ trộn, rải và đầm nén thấp hơn
Hình 1.15 Đường giao thông tại Thụy Điển
Trang 16Hoa kỳ: Công nghệ WMA được phát triển mạnh mẽ hơn so với châu Âu Số liệu
từ năm 2009 đến 2012 cho thấy, tỷ lệ WMA so với tổng các hỗn hợp bê tông nhựa đã tăng lên 24% Công nghệ WMA chủ yếu áp dụng tại Hoa Kỳ gồm: Bitum bọt tại trạm trộn 88,1%, phụ gia hóa học 9,6%, bọt có phụ gia 2,1%, phụ gia hữu cơ 0,2%
Hình 1.16 Đường giao thông tại Mỹ
Hàn Quốc: Năm 2009, Viện Công nghệ xây dựng Hàn Quốc (KICT) và Công
ty Hóa dầu Kumho đã phát triển một công nghệ WMA có tên là LEADCAP với 4 sản phẩm chính là: LEADCAP (loại cơ bản), SMACAP (có sợi trong thành phần), RAPCAP (dùng cho bê tông nhựa tái chế), HIPERCAP (với thành phần là polime SBS) Qua đánh giá công nghệ WMA với 4 sản phẩm chính nêu trên cho thấy, chi phí năng lượng giảm 23%; lượng phát thải CO2 giảm 28%; khả năng chịu lún vệt bánh xe
và mỏi tương đương với loại HMA tương ứng; thời gian thông xe sớm hơn so với công nghệ HMA khoảng 2 giờ Từ năm 2012 đến năm 2015, đã có 320 km mặt đường WMA được xây dựng và bảo trì trên các quốc lộ và đô thị tại Busan Năm 2014 và
2015, công nghệ WMA của Hàn Quốc cũng đã được chuyển giao thành công cho Indonesia và Mông Cổ
Trang 17Hình 1.17 Đường giao thông tại Hàn Quốc
Trung Quốc: Công nghệ WMA được áp dụng lần đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 2005 với việc sử dụng phụ gia Evothern Năm 2006, công nghệ WMA với phụ gia Evothern được áp dụng đầu tiên cho lớp phủ SMA với nhựa đường cải thiện Năm
2008, Trung Quốc đã đi đầu trong việc áp dụng công nghệ WMA sử dụng phụ gia Evothern với nhựa đường cao su Hiện nay, công nghệ WMA sử dụng phụ gia Sasobit
đã được áp dụng rộng rãi tại Trung Quốc và đã được thực hiện thành công tại nhiều dự
án, điển hình như: Đại lộ Shanghai Donghai, cầu Chongqing Lijiatuo, cầu Shanghai Lupu và cầu Shandong Yellow River
Hình 1.18 Đường giao thông tại Trung Quốc
Trang 18Mặc dù có nhiều ưu điểm như đã phân tích ở trên nhưng công nghệ WMA gần như còn mới mẻ đối với Việt Nam, vì vậy đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể cũng như chưa có các tiêu chuẩn quy định về vấn đề này
1.3 Đặc điểm thi công các dự án đường BTN [10]
Đối với các dự án đường BTN, quá trình thi công đòi hỏi sự tham gia của tổ hợp máy như: Trạm trộn bê tông nhựa, máy rải, Lu bánh sắt 6 -:- 12 tấn, Lu bánh lốp 16 tấn, xe ô tô tự đổ 10-15 tấn, máy ép khí, máy chổi quét, xe tưới nhựa, dụng cụ đo đạc chuyên dụng
Trong quá trình thi công, việc kiểm tra các máy móc thiết bị và vật liệu trước khi đưa vào thi công rất quan trọng, đối với các máy móc thiết bị tham gia vào quá trình thi công phải có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng Đối với vật liệu bê tông nhựa, phải có chứng chỉ xuất xưởng, cấp phối bê tông phù hợp với yêu cầu thiết kế
Trạm trộng bê tông nhựa:
Trạm trộn bê tông nhựa có hệ thống cân đong điện tử tự động, trộn cưỡng bức theo từng mẻ, đảm bảo cho ra một mẻ hỗn hợp bê tông nhựa và nhiệt độ đúng với cấp phối theo thiết kế ban đầu và nhiệt độ qui định Trạm trộn có hệ thống hút lọc bụi khô
và lọc bụi ẩm, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường Tại trạm trộn bê tông bố trí một trạm cân xe để xác định trọng lượng cho từng chuyến
Các cốt liệu thô và mịn được cung cấp và đánh đống dự trữ riêng biệt, có các vánh ngăn không cho các loại trộn lẫn vào nhau để đảm bảo đúng thành phần cấp phối Dùng bạt che phủ các cốt liệu để đảm bảo tơi khô trước khi trộn
Trạm trộn có hệ thống sàng tiêu chuẩn (sàng 25mm, 19mm, 16mm, 9,5mm và 4,75mm) cốt liệu sau khi được sấy nóng ở tang sấy sẽ qua hệ thống sàng để:
Trang 19Hiệu quả của công việc này là sản xuất ra hỗn hợp BTN đúng thiết kế, tăng năng suất
Hỗn hợp BTN sau khi trộn đảm bảo độ đồng nhất, không có những vệt trắng rời rạc hoặc vón cục, mọi hỗn hợp bị đun nóng thành than hoặc sủi bọt hoặc ẩm ướt đều bị
loại bỏ
Hình 1.19 Tr ạm trộn BTNN tại Hà Giang
Trang 20Máy rải bê tông nhựa:
Sử dụng máy rải có chiều dày lớp rải tối đa 30cm Có hệ thống thanh đầm rung cao cấp có thể đầm đẩm bảo độ chặt từ 70-90% ngay sau khi rải Máy rải có hệ thống SENSOR điều chỉnh cao độ tự động để báo số liệu cho cán bộ kỹ thuật và lái máy để điều chỉnhư cho phù hợp khi rải
BTN sản xuất tại trạm trộn theo đúng thành phần cấp phối thiết kế và được vận chuyển ra hiện trường bằng ôtô tự đổ trút vào phễu của máy rải, điều chỉnh máy rải đảm bảo bề dày vật liệu rải bằng căng dây ga và thường xuyên kiểm tra cao độ bằng máy thuỷ bình
Hình 1.20 Máy r ải bê tông nhựa
Trang 21Công tác lu lèn sử dụng bằng các loại lu bánh thép và bánh lốp được thực hiện ngay sau khi rải với trình tự như sau:
Việc lu lèn sơ bộ được thực hiện bởi chế độ rung cao cấp của máy rải và lu bánh thép 6-8T lu 3-4 lượt/điểm với tốc độ 1,5-2km/giờ Tiếp theo dùng lu lốp 16T lèn chặt 8-10 lần/điểm tốc độ lu 5 lượt đầu là 2Km/h sau tăng lên 5-6 Km/h Cuối cùng dùng lu nặng bánh sắt 12T lu hoàn thiện 2-:-4 lượt/ điểm tốc độ lu 2-:-3 km /h
Hình 1.21 Tổ hợp máy làm việc trong quá trình thi công BTN
Về công tác kiểm tra, giám sát, CĐT phải phối hợp với đơn vị TVGS, ĐVTC
Trang 22tiền hành kiểm tra quá trình sản xuất bê tông nhựa đến khi thi công BTN, cụ thể như sau:
- Kiểm tra giám sát việc chế tạo hỗn hợp BTN tại trạm trộn:
+ Kiểm tra chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của các thiết bị trộn
+ Kiểm tra các bộ phận của thiết bị trạm trộn trước khi hoạt động
+ Kiểm tra thiết bị trong khi chế tạo bê tông nhựa
+ Kiểm tra chất lượng vật liệu đá dăm, bột khoáng, cát
+ Kiểm tra hỗn hợp của bê tông nhựa khi ra khỏi thiết bị trộn
- Kiểm tra trước khi rải bê tông nhựa ở hiện trường:
+ Kiểm tra chất lượng lớp móng: Kiểm tra cao độ, độ bằng phẳng, độ dốc ngang, độ dốc dọc, độ sạch, độ ráo của lớp móng
+ Kiểm tra vị trí các cọc tim và các cọc giới hạn các vệt rải Kiểm tra các dây căng làm cữ Kiểm tra các thanhư chắn ở các mép mặt đường Kiểm tra độ căng và cao
độ của dây chuẩn hoặc dầm chuẩn (khi dùng máy có bộ phận điều chỉnh tự động cao
độ rải)
+ Kiểm tra bằng mắt thành mép mối nối ngang, dọc của các vệt rải ngày hôm trước, (thẳng đứng và bôi nhựa dính bám)
- Kiểm tra trong khi rải và lu lèn lớp BTN:
+ Kiểm tra chất lượng hỗn hợp bê tông nhựa vận chuyển đến nơi rải
+ Kiểm tra chất lượng bù phụ, gọt bỏ các chỗ lõm, lồi của công nhân
+ Kiểm tra chất lượng các mối nối dọc và ngang bằng mắt, bảo đảm mối nối thẳng mặt mối nối không rỗ, không lồi lõm, không bị khuất
+ Kiểm tra lượng lu lèn của lớp bê tông nhựa trong cả quá trình máy lu hoạt động : Sơ đồ lu, phối hợp các loại lu, tốc độ lu từng loại và từng giai đoạn, áp suất của bánh hơi Hoạt động của lu chấn động, nhiệt độ lúc bắt đầu lu lèn và kết thúc lu lèn Tất cả các điều ấy phải đúng theo chế độ đã thực hiện có hiệu quả trên đoạn rải thử
Sau khi thi công hoàn chỉnh CĐT, TVGS, ĐVTC tiến hành kiểm tra, nghiệm thu chất lượng thi công mặt đường BTN, phải đạt yêu cầu về: Kích thước hình học, độ bằng phẳng, độ nhám, độ chặt lu lèn, độ dính bám giữa lớp BTN và lớp móng, chất
Trang 23lượng các mối nối, các chỉ tiêu cơ lý của BTN Khi kiểm tra các yêu cầu trên cần tiến hành ngoài hiện trường và trong phòng thí nghiệm đòi hỏi phải có sự giám sát của CĐT, TVGS và ĐVTC để số liệu kiểm tra được chính xác Tránh việc sử dụng các số liệu ảo, nên đòi hỏi các bên liên quan phải luôn kiểm tra chặt chẽ quá trình thi công và thí nghiệm
1.4 Công tác qu ản lý chất lượng quá trình thi công đường BTN
1.4.1 Khái niệm về quản lý chất lượng (QLCL) [8]
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000 cho rằng: QLCL là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng
Theo Liên Xô: QLCL là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu
của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng một cách hệ thống, cũng như những tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Theo Kaoru Ishikawa: QLCL là hệ thống các biện pháp tạo điều kiện sản xuất kinh tế nhất những sản phẩm hoặc những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên,
nó là kết quả tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này
“QLCL là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về đảm bảo chất lượng”
1.4.2 Khái niệm QLCL công trình xây dựng (CTXD) [2]
QLCL CTXD được định nghĩa theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng như sau:
QLCL CTXD là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng (HĐXD) theo quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công
Trang 24trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình
1.4.3 Nguyên tắc chung trong QLCL CTXD [2]
CTXD phải được kiểm soát chất lượng từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng (ĐTXD) đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận
Hạng mục công trình, CTXD hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan
Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự QLCL các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm QLCL công việc do nhà thầu phụ thực hiện
Chủ đầu tư (CĐT) có trách nhiệm tổ chức QLCL công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án (QLDA), hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định [2] CĐT được quyền tự thực hiện các HĐXD nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác QLCL của các
tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu CTXD, tổ chức thực hiện giám định chất lượng CTXD; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
1.4.4 Công tác QLCL quá trình thi công BTN [2]
Kiểm tra biện pháp thi công BTN của nhà thầu so với hồ sơ dự thầu và thiết kế
biện pháp thi công đã được phê duyệt
Kiểm tra điều kiện và mặt bằng thi công
Kiểm tra và chấp thuận vật liệu đầu vào
Kiểm tra, đôn đốc đơn vị thi công (ĐVTC) và đơn vị tư vấn giám sát (ĐVTVGS) triển khai công việc tại hiện trường theo yêu cầu về tiến độ thi công của công trình
Trang 25Giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; giám sát các biện pháp đảm bảo an toàn đối với các công trình lân cận
Giám sát việc đảm bảo an toàn lao động theo quy định của quy chuẩn, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật về an toàn lao động
Tạm dừng thi công đối với nhà thầu thi công khi xét thấy chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn; chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình và phối hợp xử lý, khắc phục sự cố
Tổ chức nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn trong quá trình thi công xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình
Qua chương 1 tác giả đã nêu ra được những khái quát về quản lý chất lượng xây dựng công trình Công tác quản lý chất lượng quá trình thi công bê tông nhựa là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các bên tham gia như CĐT, ĐVTVGS và ĐVTC nhằm đảm bảo chất lượng quá trình thi công công trình BTN đạt yêu cầu
Trang 26CH ƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG GIAO THÔNG
2.1 Các quy định của pháp luật về QLCL thi công công trình đường giao thông [2]
2.1.1 Trình tự QLCL thi công công trình đường giao thông [2]
Chất lượng thi công XDCT đường giao thông phải được kiểm soát từ công đoạn sản xuất vật liệu xây dựng đưa vào giai đoạn thi công đến khâu nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng Trình tự và trách nhiệm thực hiện của các chủ thể được quy định như sau:
- QLCL đối với vật liệu sử dụng cho công trình
- QLCL của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình
- Giám sát thi công xây dựng công trình của CĐT, kiểm tra và nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công XDCT
- Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công XDCT
- Thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong quá trình thi công XDCT
- Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng, bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng (nếu có)
- Nghiệm thu hạng mục công trình, công trình hoàn thành để đưa vào khai thác,
2.1.2 QLCL đối với vật liệu sử dụng cho công trình đường giao thông [2]
Trách nhiệm của nhà thầu cung ứng vật liệu xây dựng trên thị trường:
- Tổ chức thực hiện thí nghiệm kiểm tra chất lượng và cung cấp cho bên giao thầu (bên mua sản phẩm xây dựng) các chứng chỉ, chứng nhận, các thông tin, tài liệu
Trang 27có liên quan tới sản phẩm xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng, quy định
của pháp luật về chất lượng vật liệu và quy định của pháp luật khác có liên quan;
- Kiểm tra chất lượng, số lượng, chủng loại của vật liệu phù hợp với yêu cầu của hợp đồng xây dựng trước khi bàn giao cho bên giao thầu;
- Thông báo cho bên giao thầu các yêu cầu về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản vật liệu xây dựng;
- Thực hiện sửa chữa, đổi vật liệu không đạt yêu cầu về chất lượng theo quy định của hợp đồng xây dựng
Bên giao thầu có trách nhiệm như sau:
- Quy định số lượng, chủng loại, các yêu cầu kỹ thuật của vật liệu trong hợp đồng với nhà thầu cung ứng; nhà thầu sản xuất, chế tạo phù hợp với yêu cầu của thiết
kế, chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng cho công trình;
- Kiểm tra số lượng, chủng loại, các yêu cầu kỹ thuật của vật liệu theo quy định trong hợp đồng; yêu cầu các nhà thầu cung ứng, sản xuất; chế tạo thực hiện trách nhiệm sau trước khi nghiệm thu, cho phép đưa vật liệu vào sử dụng cho công trình:
+ Tổ chức thực hiện thí nghiệm kiểm tra chất lượng và cung cấp cho bên giao thầu (bên mua sản phẩm xây dựng) các chứng chỉ, chứng nhận, các thông tin, tài liệu
có liên quan tới sản phẩm xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng, quy định của pháp luật về chất lượng vật liệu và quy định của pháp luật khác có liên quan;
+ Thông báo cho bên giao thầu các yêu cầu về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản
Chấp nhận nghiệm thu dựa theo hợp đồng, hồ sơ thiết kế, các tài liệu, kết quả thí nghiệm vật liệu
Cung cấp đầy đủ hồ sơ, kết quả thí nghiệm, nguồn
gốc, xuất xứ của vật liệu
Trang 282.1.3 QLCL của nhà thầu thi công xây dựng công trình [2]
Nhà thầu thi công CTXD có trách nhiệm tiếp nhận và quản lý mặt bằng xây dựng, bảo quản mốc định vị và mốc giới công trình
Lập và thông báo cho CĐT và các chủ thể có liên quan hệ thống QLCL, mục tiêu và chính sách đảm bảo chất lượng công trình của nhà thầu Hệ thống QLCL công trình của nhà thầu phải phù hợp với quy mô công trình, trong đó nêu rõ sơ đồ tổ chức
và trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với công tác QLCL công trình của nhà thầu
Trình CĐT chấp thuận các nội dung sau:
- Kế hoạch tổ chức thí nghiệm và kiểm định chất lượng, quan trắc, đo đạc các thông số kỹ thuật của công trình theo yêu cầu thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật;
- Biện pháp kiểm tra, kiểm soát chất lượng vật liệu, sản phẩm được sử dụng cho công trình; thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định cụ thể các biện pháp, bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình;
- Kế hoạch kiểm tra, nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng;
- Các nội dung cần thiết khác theo yêu cầu của chủ đầu tư và quy định của hợp đồng
Bố trí nhân lực, thiết bị thi công theo quy định của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan,
Thực hiện trách nhiệm quản lý chất lượng trong việc mua sắm, chế tạo, sản xuất vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị được sử dụng cho công trình [2]
Thực hiện các công tác thí nghiệm kiểm tra vật liệu sản phẩm trước và trong khi thi công xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng
Thi công xây dựng theo đúng hợp đồng xây dựng, giấy phép xây dựng, thiết kế xây dựng công trình Kịp thời thông báo cho CĐT nếu phát hiện sai khác giữa thiết kế,
hồ sơ hợp đồng xây dựng và điều kiện hiện trường trong quá trình thi công Tự kiểm soát chất lượng thi công xây dựng theo yêu cầu của thiết kế và quy định của hợp đồng
Trang 29xây dựng Hồ sơ QLCL của các công việc xây dựng phải được lập theo quy định và phù hợp với thời gian thực hiện thực tế tại công trường
Kiểm soát chất lượng công việc xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình đối với công việc xây dựng do nhà thầu phụ thực hiện trong trường hợp là nhà thầu chính hoặc tổng thầu
Xử lý, khắc phục các sai sót, khiếm khuyết về chất lượng trong quá trình thi công xây dựng (nếu có)
Thực hiện trắc đạc, quan trắc công trình theo yêu cầu thiết kế Thực hiện thí nghiệm theo kế hoạch trước khi đề nghị nghiệm thu
Lập nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định
Lập bản vẽ hoàn công theo quy định
Yêu cầu CĐT thực hiện nghiệm thu công việc chuyển bước thi công, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng
Báo cáo CĐT về tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường thi công xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng và yêu cầu đột xuất của chủ đầu tư
Hoàn trả mặt bằng, di chuyển vật tư, máy móc, thiết bị và những tài sản khác của mình ra khỏi công trường sau khi công trình đã được nghiệm thu, bàn giao, trừ trường hợp trong hợp đồng xây dựng có thỏa thuận khác
Trang 30Hình 2.2 Sơ đồ QLCL của nhà thầu thi công
Đối tượng nghi ệm thu
Khắc phục sửa chữa
Yêu cầu nghiệm thu A-B
Đồng ý triển khai
h ạng mục giai đoạn tiếp theo
Điều kiện và tài
Trang 312.1.4 Giám sát thi công xây dựng công trình
Công trình xây dựng phải được giám sát trong quá trình thi công xây dựng theo quy định [1] Nội dung giám sát thi công xây dựng công trình gồm:
- Thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của CĐT, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình, cho các nhà thầu
có liên quan biết để phối hợp thực hiện
- Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định [1]
- Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình so với
hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng, bao gồm: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình
- Kiểm tra biện pháp thi công xây dựng của nhà thầu so với thiết kế biện pháp thi công đã được phê duyệt
- Xem xét và chấp thuận các nội dung do nhà thầu trình quy định [2]và yêu cầu nhà thầu thi công chỉnh sửa các nội dung này trong quá trình thi công xây dựng công trình cho phù hợp với thực tế và quy định của hợp đồng Trường hợp cần thiết, chủ đầu
tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu về việc giao nhà thầu giám sát thi công xây dựng lập và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đối với các nội dung nêu trên;
- Kiểm tra và chấp thuận vật liệu sản phẩm xây dựng đưa vào sử dụng cho công trình
- Kiểm tra, đôn đốc nhà thầu thi công xây dựng công trình và các nhà thầu khác triển khai công việc tại hiện trường theo yêu cầu về tiến độ thi công của công trình
- Giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với các CTXD theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; giám sát các biện pháp đảm bảo an toàn đối với công trình lân cận, công tác quan trắc công trình
- Giám sát việc đảm bảo an toàn lao động theo quy định của quy chuẩn, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật về an toàn lao động
Trang 32- Đề nghị CĐT tổ chức điều chỉnh thiết kế khi phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế
- Tạm dừng thi công đối với nhà thầu thi công xây dựng khi xét thấy chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo
an toàn; chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình và phối hợp xử lý, khắc phục sự cố theo quy định [2]
- Kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu; kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công
- Tổ chức thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định [2]
- Thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng để chuyển bước thi công, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, CTXD theo quy định; kiểm tra và xác nhận khối lượng thi công xây dựng hoàn thành;
- Tổ chức lập hồ sơ hoàn thành CTXD;
- Thực hiện các nội dung khác theo quy định của hợp đồng xây dựng
Tùy theo quy mô, tính chất, kỹ thuật của công trình, cơ cấu nhân sự của tổ chức giám sát thi công xây dựng công trình bao gồm giám sát trưởng và các giám sát viên Người thực hiện việc giám sát thi công xây dựng của tổ chức nêu trên phải có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng phù hợp với chuyên ngành được đào tạo và
- Tổ chức giám sát thi công xây dựng không được tham gia kiểm định chất lượng công trình xây dựng do mình giám sát;
Trang 33- Nhà thầu chế tạo, sản xuất, cung ứng vật liệu, sản phẩm sử dụng cho công trình không được tham gia kiểm định chất lượng sản phẩm có liên quan đến vật tư, sản phẩm do mình cung cấp
2.1.5 Thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng, thí nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình trong quá trình thi công xây dựng [2]
Thí nghiệm đối chứng được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Được quy định trong hợp đồng xây dựng hoặc chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình quan trọng quốc gia, công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng và môi trường;
- Khi vật liệu, sản phẩm xây dựng và chất lượng thi công xây dựng có dấu hiệu không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của chỉ dẫn kỹ thuật hoặc thiết kế;
- Theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng
Kiểm định chất lượng, thí nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Được quy định trong hợp đồng xây dựng hoặc chỉ dẫn kỹ thuật theo yêu cầu
của thiết kế;
- Khi công trình, hạng mục công trình, bộ phận công trình xây dựng có biểu
hiện không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của thiết kế;
- Theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư;
- Trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan chủ trì tổ chức giám định nguyên nhân sự cố khi xảy ra sự cố công trình xây dựng;
- Theo yêu cầu của Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng hoặc yêu cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng khi cần thiết
Nhà thầu thiết kế xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng, sản xuất sản phẩm xây dựng và các nhà thầu khác có liên quan phải chịu chi phí thực hiện thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng, thí nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình nếu kết quả thí nghiệm, kiểm định chứng minh được lỗi của
Trang 34các nhà thầu này Đối với các trường hợp còn lại, chi phí thực hiện các công việc này được tính vào tổng mức đầu tư xây dựng công trình
2.1.6 Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng [2]
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng công trình, CĐT và nhà thầu thi công xây dựng có thể thỏa thuận về việc nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng trong các trường hợp sau:
- Khi kết thúc một giai đoạn thi công hoặc một bộ phận công trình cần phải thực hiện kiểm tra, nghiệm thu để đánh giá chất lượng trước khi chuyển sang giai đoạn thi công tiếp theo Đối với công trình giao thông (CTGT), khi hoàn thành một lớp kết cấu
áo đường thì sẽ tiến hành nghiệm thu lớp kết cấu áo đường đó
- Khi kết thúc một gói thầu xây dựng
Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng có liên quan thỏa thuận về thời điểm nghiệm thu, trình tự và nội dung nghiệm thu, thành phần tham gia nghiệm thu; kết quả nghiệm thu được lập thành biên bản,
2.1.7 Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình [2]
CĐT tổ chức nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng CĐT được quyết định tổ chức nghiệm thu từng phần công trình hoặc nghiệm thu
có điều kiện để đưa công trình vào sử dụng trong trường hợp còn một số tồn tại về chất lượng nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng chịu lực, tuổi thọ, công năng của công trình và bảo đảm công trình, đủ điều kiện khai thác an toàn Biên bản nghiệm thu
phải nêu rõ các các tồn tại về chất lượng cần khắc phục hoặc các công việc xây dựng cần được tiếp tục thực hiện và thời gian hoàn thành các công việc này CĐT phải tổ chức nghiệm thu hoàn thành công trình sau khi các tồn tại về chất lượng đã được khắc
phục hoặc các công việc xây dựng còn lại đã được hoàn thành
2.2 Đặc điểm thi công đối với dự án công trình đường giao thông
2.2.1 Các đặc điểm của các dự án công trình đường giao thông
Thành phần các công việc trong thi công công trình đường giao thông ít, chỉ bao gồm công tác làm nền, móng mặt và các công trình phụ trợ khác (không kể cầu, tuy
Trang 35nen lớn) như hệ thống thoát nước, hệ thống chiếu sáng, các công trình tổ chức và bảo đảm an toàn giao thông
Mặt trận công tác trong thi công đường ô tô phát triển theo tuyến và vì thế nhân lực, máy móc phải di chuyển dọc theo mặt trận công tác thường dài từ vài km đến hàng chục km
Tính chất công việc cũng như khối lượng công tác hầu như không thay đổi hoặc
ít thay đổi dọc theo mặt trận công tác, ngoại trừ một số công trình quy mô lớn có yêu cầu xử lý nền ở các khu vực có nền đất yếu hay gia cố taluy phức tạp Ngay với công trình vừa có nền đào vừa có nền đắp thì tính chất công việc xét về mặt thi công cũng có thể coi là giống nhau
Quy mô và độ phức tạp của các công trình đường giao thông có thể rất khác nhau Có thể có công trình lớn hàng ngàn km vượt qua nhiều sông, suối, đầm lầy, đồi núi nhưng cũng có rất nhiều công trình nhỏ như đường bằng bê tông xi măng đặt trên nền đất tốt đầm chặt
Các công trình đường giao thông có yêu cầu cao về việc đưa vào sử dụng sớm
từng phần hay toàn bộ để sớm phát huy hiệu quả của vốn đầu tư
Đối với các công trình cải tạo hay mở rộng, nâng cấp, yêu cầu bảo đảm giao thông là hết sức quan trọng, nhất là các tuyến đường giao thông độc đạo hay quan trọng
Đối với các công trình phải xử lý nền, nhất là các công trình xử lý bằng phương pháp gia tải trước hay dùng bấc thấm, thì thời gian gián đoạn công nghệ rất lớn và việc xác định chính xác thời gian gián đoạn công nghệ là vấn đề rất phức tạp Ngoài ra, chính việc xử lý nền đất yếu thường là nguyên nhân phá vỡ tiến độ thi công, gây gián đoạn và kéo dài thời gian xây dựng
Mặc dù các công trình đường giao thông vẫn được quan niệm là dễ tổ chức thi công nhất so với các loại hình công trình khác nhưng nếu không có giải pháp thoả đáng khai thác và xử lý các đặc điểm riêng thì việc tổ chức thi công sẽ bị gián đoạn, không phát huy hết công suất của máy móc thiết bị, kéo dài thời gian thi công, tăng chi phí xây dựng và chậm đưa công trình vào sử dụng
Trang 362.2.2 Phân chia không gian thi công
Việc phân chia không gian thi công thể hiện ý đồ tổ chức thi công và ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của tổ chức thi công, nếu phân chia không gian thi công không tốt sẽ dẫn tới việc phối hợp thi công trên công trình khó khăn, làm các tổ đội thi công cản trở lẫn nhau, gây ra gián đoạn trong thi công tăng giá thành xây dựng và chậm đưa công trình vào sử dụng
Không gian thi công các công trình đường giao thông được phân chia phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chiều dài của công trình: Đối với công trình dài hàng chục, hàng trăm Km, việc chia toàn bộ tuyến thành các đoạn khác nhau để thi công song song các đoạn này
là bắt buộc để đưa công trình vào sử dụng sớm từng phần và toàn bộ công trình
- Công trình làm mới hay cải tạo, nâng cấp: Đối với công trình làm mới không
lớn, có thể thi công kiểu cuốn chiếu còn đối với công trình làm mới dài, có mặt đường ngang lớn có thể thi công từng nửa một hoặc làm ở giữa trước, làm hai bên sau hoặc làm toàn bộ, sau đó làm mặt từng phần… để đưa công trình vào sử dụng sớm từng
phần
- Đối với công trình cải tạo hoặc mở rộng, nâng cấp thì thường thi công từng
nửa mặt cắt một theo từng đoạn để bảo đảm giao thông bình thường
- Đặc điểm của đối tượng thi công: Đặc điểm của đối tượng thi công có ảnh hưởng lớn tới việc phân chia không gian thi công Chẳng hạn, việc phân chia không gian thi công khi thi công mặt đường bê tông xi măng đổ tại chỗ khác với việc phân chia không gian thi công khi thi công mặt đường bê tông at- phan do mặt đường bê tông xi măng đổ tại chỗ cần thời gian nhất định để đổ bê tông đạt cường độ cần thiết
- Biện pháp kỹ thuật thi công: Biện pháp kỹ thuật thi công cũng ảnh hưởng lớn tới việc phân chia không gian thi công Ví dụ việc phân chia không gian thi công khi thi công nền đường đắp sử dụng đất đào ở hai bên khác với việc phân chia không gian thi công khi thi công nền đường đắp sử dụng đất ở nơi khác chuyển tới, Việc phân chia không gian thi công khi thi công bằng máy cũng có thể khác với việc phân chia không gian khi thi công bằng thủ công
Trang 37Nhìn chung nên phân chia không gian theo các phân đoạn thống nhất cho tất cả các quá trình Tuy vậy, nếu cần thiết, có thể phân chia không gian thi công thay đổi ngay trên một đoạn thi công, tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể Chẳng hạn, việc phân chia không gian thi công nền đường có thể khác với việc phân chia không gian thi công móng hoặc mặt đường
2.2.3 Công tác quản lý thi công đối với dự án công trình đường giao thông
CĐT kết hợp với Đơn vị TVGS, ĐVTC và các thành phần liên quan kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định tại [1], Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng, bao gồm: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình
Đối với đơn vị TVGS, CĐT cần kiểm tra việc huy động và bố trí nhân lực để giám sát thi công xây dựng công trình so với yêu cầu của hợp đồng xây dựng, cụ thể là năng lực của đơn vị, các cán bộ tham gia giám sát công trình, phải có đầy đủ chứng chỉ hành nghề và kinh nghiệm chuyên môn phù hợp
Trong quá trình thi công, cần phải thực hiện những điều sau đây:
Trước khi đưa vật liệu vào thi công CĐT kết hợp TVGS, ĐVTC kiểm tra vật
liệu đầu vào, các biên bản thí nghiệm, hồ sơ chứng minh nguồn gốc Nếu vật liệu thõa mãn các yêu cầu so với hồ sơ thiết kê được duyệt thì tiến hành nghiệm thu vật liệu đầu vào Đây là khâu rất quan trọng, CĐT cần cử cán bộ kỹ thuật luôn có mặt cùng với TVGS, ĐVTC khi tiến hành kiểm tra, thí nghiệm vật liệu ngoài hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm Tránh việc giao phó hoàn toàn cho TVGS
Các chủ thể liên quan đến dự án phải phối hợp kiểm tra biện pháp thi công , so sánh, đối chiếu có phù hợp với hồ sơ dự thầu và hồ sơ thiết kế không, nếu có sự thay đổi, cần có giải trình, thuyết minh biện pháp thi công mới trình cho CĐT, TVGS phê duyệt;
CĐT phối hợp với TVGS kiểm tra, đôn đốc, giám sát nhà thầu thi công xây dựng công trình, luôn có mặt tại hiện trường trong quá trình thi công Khi phát hiện có sai phạm, tiến hành lập biên bản, đình chỉ thi công Trong trường hợp điều kiện thi
Trang 38công hiện trường khác so với hồ sơ thiết kế thì CĐT phải yêu cầu nhà thầu thiết kế điều
chỉnh lại hồ sơ thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế thi công;
Trong quá trình thi công, mặc dù CĐT không trực tiếp kí vào biên bản nghiệm thu công việc, tuy nhiên vẫn phải có mặt tại hiện trường để chứng kiến buổi nghiệm thu, so sánh đối chiếu khối lượng, chất lượng đối tượng nghiệm thu so với hợp đồng,
hồ sơ thiết kế nhằm tránh sai sót về khối lượng và chất lượng
Khi hoàn thành một hạng mục công trình thì CĐT tiến hành mời các thành phần tham dự nghiệm thu hạng mục để chuyển giai đoạn sang hạng mục khác Để nghiệm thu hoàn thành giai đoạn, cần hệ thống lại các biên bản nghiệm thu vật liệu, các kết quả thí nghiệm vật liệu, chứng chỉ xuất xưởng, các biên bản nghiệm thu công việc Xem xét
có đạt yêu cầu, đầy đủ danh mục biên bản cho hạng mục đó hay không, mới tiến hành nghiệm thu hạng mục chuyển giai đoạn
Tổ chức kiểm định chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình và toàn
bộ công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng hoặc khi được cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu
Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng, đây là bước nghiệm thu cuối cùng, khi
đã tiến hành đầy đủ nghiệm thu vật liệu, nghiệm thu công việc, nghiệm thu hoàn thành giai đoạn Phải tiến hành kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công, xem có phù hợp với thực tế công trình hay không: kích thước hình học, chất lượng công trình Sau đó tiến hành tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng
2.3 Các nhân t ố ảnh hưởng tới công tác quản lý chất lượng thi công công trình đường BTN
2.3.1 Công tác lựa chọn nhà thầu
Thực tế thời gian qua, ở Việt Nam dù đã có nhiều tiến bộ trong công tác đấu thầu nhưng còn nhiều vấn đề gây khó khăn cho cả bên mời thầu và bên đấu thầu dẫn đến lãng phí, thất thoát vốn Khái niệm “đấu thầu” đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, tuy nhiên đối với ở Việt Nam, còn khá mới mẻ Nó chỉ mới hiện diện ở Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX Hiện vẫn còn có người nhầm lẫn và đánh đồng "đấu giá" và
"đấu thầu" là một Xuất phát từ nền kinh tế thị trường cạnh tranh, thuật ngữ "đấu giá"
Trang 39đã được biết đến nhiều hơn "Đấu giá" được hiểu là hình thức có một người bán và nhiều người mua Trên cơ sở người bán đưa ra một mức giá khởi điểm (giá ban đầu), sau đó để cho người mua trả giá trên cơ sở cạnh tranh với nhau và người bán sẽ quyết định giá bán cho người mua nào trả giá cao nhất Tuy nhiên, đối với thực tiễn hoạt động và hình thức thể hiện thì "đấu thầu" lại là hình thức có một người mua và nhiều người bán cạnh tranh nhau để nhằm tối đa hoá lợi ích của người mua Người mua sẽ lựa chọn người bán nào đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của người mua đặt ra trong trường hợp mà việc xác định tương quan giữa giá cả với số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ Đây là phương thức mua bán được sử dụng phổ biến trong nền kinh
tế thị trường
Đối với cấp có thẩm quyền không ngừng củng cố và nâng cao trình độ nghiệp
vụ chuyên môn cho cán bộ làm công tác đấu thầu Hàng năm Chính phủ cần chỉ đạo
Bộ, ngành cần tổ chức mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ đấu thầu cho cán bộ từ Trung ương đến địa phương để đáp ứng được yêu cầu về công tác đối với lĩnh vực đấu thầu Đấu thầu được tiến hành công khai ở tất cả các khâu để tránh thiên vị, cảm tình, đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc riêng với nhau
Nhà nước cần có những giải pháp trực tiếp hoạc gián tiếp để quản lý quá trình đấu thầu các dự án, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng và hạn chế ít nhất các tiêu cực Đây là một yêu cầu khó khăn nhưng rất bức xức nhằm đưa thị trường đầu
tư xây dựng đi vào nề nếp, tránh những hậu quả đáng tiếc
Đối với đơn vị tư vấn phải có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của gói thầu Chuyên gia tư vấn phải có chứng chỉ, bằng cấp xác nhận trình độ chuyên môn phù hợp
Đơn vị tư vấn phải chịu trách nhiệm trước bên mời thầu về tính đúng đắn, chính xác, khách quan đối với công tác chuyên môn và hoàn thành công việc theo hợp đồng
đã ký Bên mời thầu khi tuyển chọn tư vấn phải đặc biệt quan tâm đến năng lực kỹ thuật của nhà tư vấn vì đây là yếu tố quyết định đến chất lượng công trình Đối với những đề xuất kỹ thuật khác nhau, nhà tư vấn có năng lực sẽ lựa chọn được các đề xuất tài chính, kỹ thuật phù hợp nhất cho gói thầu
Trang 40Đơn vị tư vấn cần phải không ngừng củng cố và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ làm công tác tư vấn đấu thầu Hàng năm Chính phủ cần chỉ đạo Bộ, ngành cần tổ chức mở các lớp tập huấn kiểm tra về nghiệp vụ cho các đơn vị
tư vấn để đáp ứng được yêu cầu về công tác đối với lĩnh vực đấu thầu
Đối với nhà thầu để có khả năng tham gia đấu thầu và có khả năng thắng thầu thì nhà thầu phải phát huy hết khả năng của mình về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và các tiềm năng sẵn có khác hoặc liên danh với các nhà thầu khác để có đủ điều kiện cạnh tranh với các nhà thầu khác Không ngừng củng cố và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ làm công tác đấu thầu ở các doanh nghiệp
Việc tăng về số lượng đơn vị tư vấn không đồng nghĩa với việc tăng chất lượng
tư vấn Bởi thực tế, khi thành lập doanh nghiệp, nhiều đơn vị vẫn còn sử dụng các
“chuyên gia vay mượn”, tức là mượn người có năng lực của các công ty khác cho vào
hồ sơ năng lực của mình Điều đó gây khó cho không ít chủ đầu tư khi đánh giá và lựa chọn đơn vị tư vấn có năng lực thực sự
Công việc tư vấn giám sát được thực hiện xuyên suốt quá trình triển khai thi công công trình, từ việc soát xét hồ sơ bản vẽ thi công, kiểm tra chấp thuận hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu, giám sát chấp thuận vật liệu, nhân lực và thiết bị thi công đưa vào công trường đến giám sát quá trình thi công cũng như nghiệm thu thanh-quyết toán cho nhà thầu Vì vậy, công tác này đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn toàn diện, đạo đức nghề nghiệp và sự độc lập của cán bộ cũng như đơn vị tư vấn
Để nâng cao chất lượng tư vấn các đơn vị tư vấn cần phải phát triển nguồn nhân lực tư vấn có năng lực và kinh nghiệm bằng cách đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực