Mở đầuPhần 1: Tổng quanChương 1: Bitum dầu mỏI. Thành phần và cấu trúc bitumII. Phẩm chất của bitumIII. Ứng dụng của bitum dầu mỏChương 2: Tổng quan về nhũ tương bitumI. Nhũ tương bitumII. Lý thuyết nhũ tươngIII. Chất hoạt động bề mặtIV. Công nghệ chế tạo nhũ tương bitumPhần 2: Phương pháp nghiên cứuChương 1: Nghiên cứu chế tạo nhũ tương bitum
Trang 1K IL
M
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
PHẦN I: TỔNG QUAN
CHƯƠNG I: BITUM DẦU MỎ
I Thành phần và cấu trúc bitum
I.1Thành phần của bitum
I.1.1 Nhóm chất dầu
I.1.2 Nhóm chất nhựa
I.1.3 Nhóm asphan8 I.1.4 Nhóm cacben và cacbôit
I.1.5 Nhóm axit asphan và các alhydrit
I.1.6 Nhóm parafin
I.2 Cấu trúc của bitum
II Phẩm chất của bitum II.1 Độ nhớt hay tính quánh của bitum II.2 Độ dãn dài hay tính dẻo của bitum
II.3 Tính ổn định nhiệt II.4 Tính hoá già của bitum
II.5 Tính ổn định khi đun
II.6 Nhiệt độ bốc cháy của bitum II.7 Tính thấm ướt vật liệu khoáng II.8 Tính liên kết của bitum với bề mặt vật liệu khoáng
III Ứng dụng của bitum dầu mỏ
CHƯƠNGII TỔNG QUAN VỀ NHŨ TƯƠNG BITUM
I Nhũ tương bitum
I.1 Khái niệm về nhũ tương
I.2 Phân loại nhũ tương
Trang 2I.2.1 Phân loại theo pha phân tán và môi trường phân tán
I.2.2 Phân loại theo chất hoạt động bề mặt
I.2.3 Phân loại theo khả năng phân tách
I.2.4 Phân loại theo khả năng thi công (theo caltex)
I.2.5 Phân loại theo Pháp NF T66-16
I.3 Ứng dụng của nhũ tương bitum
I.4 Ưu điểm của nhũ tương trong xây dựng đường giao thông
I.5 Các tính chất và yêu cầu đối vối nhũ tương bitum
I.5.1 Độ nhớt
I.5.2 Tính đồng nhất
I.5.3 Tính ổn định khi vận chuyển và bảo quản
I.5.4 Tính dính bám của màng bitum với vật liệu khoáng
I.5.5 Khả năng phân tán phục hồi tính chất ban đầu trong thời gian tiếp xúc
với vật liệu khoáng
II Lý thuyết nhũ tương
II.1 Chế tạo nhũ tương
II.1.1 Phương pháp ngưng tụ
II.1.2 Phương pháp phân tán
II.2 Phân bố giọt trong nhũ tương
II.2.1 Hàm phân bố theo kích thước
II.2.2 Một số hàm phân bố thường gặp
II.2.2.1 Phân bố chuẩn
II.2.2.2 Phân bố chuẩn logarit
II.2.2.3 Phân bố hàm số mũ GGS
II.2.2.4 Phân bố mũ kép RRS25
II.3 Sức căng bề mặt của dung dịch chất nhũ hoá
II.4 Hiện tượng tách nhũ
Trang 3K IL
M
II.5 Sự đảo tướng nhũ tương
II.6 Ổn định nhũ tương
II.6.1 Cấu tạo lớp điện tích kép
II.6.2 ổn định bằng lực đẩy điện
II.7 Lựa chọn chất nhũ hoá
III Chất hoạt động bề mặt
III.1 Chất hoạt động bề mặt anion
III.2 Chất hoạt động bề mặt cation
III.3 Chất hoạt động bề mặt mang cả hai dấu điện
III.4 Chất hoạt động bề mặt không ion
IV Công nghệ chế tạo nhũ tương bitum
IV.1 Quy trình chế tạo nhũ tương bitum
IV.2 Vấn đề còn tồn tại
PHẦN II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO NHŨ TƯNG BITUM
I Nghiên cứu chế tạo nhũ tương
I.1Lựa chọn chất nhũ hoá
I.2 Ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn và thời gian khuấy
Trang 4Như chúng ta đã biết, phân đoạn cuối của dầu mỏ là bitum đã có rất
nhiều những ứng dụng trong đời sống của con người từ hơn 5000 năm qua Dù
ở dạng này hay dạng khác, nó đã được sử dụng như một chất chống thấm hoặc
kết dính
Một trong những tính chất quan trọng nhất của bitum là tính kết dính
mà con người đã tận dụng vào mục đích xây dựng mạng lưới đường giao
thông, phục vụ đời sống con người và đẩy mạnh nền kinh tế thương mại phát
triển
Hiện nay, mạng lưới đường bộ Việt Nam có chiều dài tổng cộng là
106048 Km, trong đó phần lớn là đường quốc lộ có vị trí quan trọng trong
kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước Tuy vậy, mật độ cây số đường trên số
dân còn thấp, chất lượng đường còn yếu kém, đất nước ta lại đang trên đà phát
triển Do vậy, việc xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới đường giao
thông có chất lượng cao là vấn đề cần thiết
Yêu cầu đối với mặt đường có chất lượng tốt là phải có cường độ và
tính ổn định cao, mặt đường phải nhẵn để có thể chống chịu lại áp lực của các
luồng xe chạy, đảm bảo cho xe chạy đựơc an toàn và kinh tế Ngoài ra, đường
còn phải chịu được các tác dụng xấu của các yếu tố khác như : mưa, gió, nhiệt
độ …
Như vậy, ngoài việc bố trí hợp lý các tầng lớp trong kết cấu mặt đường
thì việc lựa chọn vật liệu thích hợp cho mỗi tầng mặt đường trong điều kiện
cho phép về vật liệu và khả năng thi công là một vấn đề hết sức quan trọng
Trong nhiều loại vật liệu kết dính thì bitum là loại vật liệu có thể đáp
ứng tối đa các tính năng và yêu cầu đó Bitum trong xây dựng đường được sử
dụng theo hai phương pháp
Trang 5- Công nghệ nhựa nguội : sử dụng nhựa đường dạng nhũ tương là nhự
đường ở trạng thái phân tán cao trong nước được ổn định bởi chất nhũ hoá làm
cho nhựa đường vẫn ở trạng thái lỏng ngay ở điều kiện thường Vì vậy, khi thi
công nhựa đường ở dạng nhũ tương thì không cần phải đun nóng
Nhũ tương bitum lần đầu tiên đượng sử dụng làm đường vào những
năm 1906-1914 Sau đó chúng lại bị lãng quên cho đến tận những năm hai
mươi Ban đầu thường sử dụng nhũ tương dạng anion nhưng bởi những tính
chất vượt trội, nhũ tương dạng cation dần được phổ biến hơn cho đến ngày
nay
Nhũ tương bitum được sử dụng trong các lĩnh vực duy tu bảo dưỡng,
sửa chữa, rải nhựa láng mặt, làm lớp dính bám và lớp bảo dưỡng Thấm nhập
và tưới thấm nhựa, gia cố và cấp phối Cấp phối đá nghiền hoặc sỏi cuộn trộn
nhũ tương và chế tạo vữa nhựa, hạt thô trộn rải nguội
Khi sử dụng nhũ tương bitum thi công sẽ rất dễ dàng như: Không cần
đun nóng, không gây ô nhiễm môi trường, an toàn cho công nhân và người đi
đường Có thể cho phép tiến hành thi công trên mặt đường ẩm ướt vào mùa
mưa Tiết kiệm được 15-30% bitum so với công nghệ nhựa nóng Trong nhũ
tương bitum có chứa nước nên khả năng lèn chặt mặt đường được dễ hơn Vì
vậy, việc nghiên cứu chế tạo nhũ tương bitum là rất cần thiết để đáp ứng được
yêu cầu hiện nay
Trong điều kiện cho phép ở Việt Nam, em xin trình bày lý thuyết tổng
quan về nhũ tương bitum và phương pháp nghiên cứu chế tạo ổn định nhũ
tương bitum trong bản luận văn này
Trang 6I.Thành phần và cấu trúc của bitum [37]
I.1 Thành phần của bitum
Bitum dầu mỏ là một hỗn hợp phức tạp của nhiều loại hydrocacbon
khác nhau như (Alkan,naphten, các loại mạch vòng ) và một số dẫn xuất phi
kim loại khác…
Bitum có nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng chủ yếu là sản phẩm của
công nghệ chế biến dầu mỏ và hoá dầu, ở dạng lỏng nhớt hay rắn, có màu nâu
hoặc đen, có các đặc tính kết dính và không thấm ướt Hoà tan được trong
Trong bitum người ta phân thành ba nhóm chính: Nhóm asphan, nhóm
chất nhựa và nhóm chất dầu Ngoài ra còn có mặt của các nhóm khác như:
Nhóm cacben và cacboit, nhón axit asphan và các alhydrit, nhóm parafin
Nguyên liệu cặn dầu mỏ loại aromatic hoặc naphten- aromatic là
nguyên liệu rất tốt để sản xuất bitum Ngược lại chứa nhiều parafin rắn là loại
nguyên liệu xấu nhất để sản xuất bitum
Các loại bitum có chất lượng xấu ta có thể đem biến tính bằng cách oxy
hoá bằng oxy không khí ở 170-260°c
Quá trình oxy hoá diễn ra, một bộ phận dầu sẽ chuyển sang nhựa, nhựa
sẽ chuyển sang asphanten Do đó, có thể thay đổi được thành phần của bitum
để tạo ra bitum có chất lượng tốt hơn
Trang 7Gồm những hợp chất có phân tử lượng thấp từ 300-600, không mầu,
khối lượng riêng nhỏ từ 0.91- 0.925 NHóm chất dầu là môi trường pha loãng,
có tác dụng hoà tan nhựa và làm trương nở asphanten trong bitum Nếu hàm
lượng này tăng thì tính quánh của bitum sẽ giảm Trong bitum nhóm chất dầu
chiếm khoảng 45- 60%
I.1.2 Nhóm chất nhựa
Gồm những hợp chất có phân tử lượng cao hơn, khoảng từ 600- 900
Khối lượng riêng xấp xỉ bằng 1, có mầu nâu sẫm, hoà tan trong benzen,
etxăng, clorofooc Nhóm chất nhựa trung tính (tỉ lệ H/C= 1.6-1.8)làm cho
bitum có tính dẻo Nhựa axit (H/C= 1,3-1,4) làm tăng tính bám dính của bitum
đá Hàm lượng nhóm chất nhựa vào khoảng 15- 30%
I.1.3 Nhóm asphan
Là nhóm chất rắn, giòn gồm các hợp chất có phân tử lượng lớn 1000-
6000 Khối lượng riêng 1,1- 1,15, có mầu nâu sẫm hoặc đen hoà tan trong ete
và axeton Asphanten đảm bảo cho bitum có độ rắn và nhiệt độ chảy mềm cao
Hàm lượng của asphan trong bitum vào khoảng 10- 38%
I.1.4 Nhóm cacben và cacboit
Tính chất của cacben gần giống với asphanten, chỉ khác là không tan
được trong benzen và CCl4 Hoà tan được trong disulfuacacbon, có khối lượng
riêng lớn hơn 1
Cacboit là một chất rắn dạng muội, hoà tan được trong bất cứ dung môi
hữu cơ nào Hàm lượng của nhóm chất này trong bitum nhỏ hơn 1,5% Chúng
làm bitum kém dẻo
I.1.5 Nhóm axit asphan và các alhydrit
Nhóm này là những chất nhựa hoá (nhựa axit) mang cực tính bao gồm
những phân tử có chứa nhóm cacboxyl (-COOH) Nó là thành phần hoạt tính
Trang 8bề mặt lớn nhất của bitum Dễ hoà tan trong rượu cồn, benzen,CCL4, khó hoà
tan trong etxăng axit asphan có khối lượng riêng nhỏ, mầu nâu sẫm, hàm
lượng có trong bitum nhỏ hơn 1% Khi hàm lượng tăng lên thì khả năng thấm
ướt và cường độ liên kết của bitum với bề mặt vật liệu khoáng dạng cacbonat
tăng lên
I.1.6 Nhóm parafin
Là những hydrocacbon ở dạng rắn Parafin có thể làm giảm khả năng
phân tán và hoà tan của asphanten vào trong các nhóm khác Có thể làm giảm
tính đồng nhất của bitum nếu tỷ lệ parafin cao, nhiệt độ hoá mềm, tính giòn
của bitum ở nhiệt độ thấp sẽ tăng lên Bitum hoá lỏng ở nhiệt độ thấp hơn so
với bitum không chứa parafin Tỷ lệ parafin trong bitum có thể lên đến 5%
I.2 Cấu trúc của bitum
Cấu trúc cơ bản của bitum là cấu trúc mixell Trong lý thuyết mixell đối
với những chất cao phân tử, Menep và Mark coi cấu trúc của chúng như một
hệ thống tinh thể (mixell) Mỗi mixell là một hệ thống phức tạp bao gồm một
số lượng lớn các phân tử có khối lượng phân tử lớn bao quanh một tinh thể
bằng những lực tương hỗ Khi lực tương hỗ lớn thì mỗi mixell là một nút của
mạng Cấu trúc mixell được coi là những pha phân tán với bitum thì pha
phân tán là asphan, xung quanh chúng là những chất nhựa và môi trường phân
tán là chất dầu Trong bitum cứng và quánh mixell chiếm một tỷ lệ rất lớn
Còn trong bitum lỏng chúng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ đến nỗi không có tương
tác gì với nhau nên có thể chuyển động tự do trong chất dầu Quan hệ giữa
hàm lượng và cấu tạo các nhóm trong bitum (dầu, nhựa và asphan) có thể tạo
ra các cấu trúc phân tán khác nhau đó là: Sol, gel, sol- gel Mỗi loại đều có
những tính chất cơ lý nhất định
Cấu trúc sol đặc trưng cho bitum có hàm lượng chất dầu và chất nhựa
lớn Khi các mixell không tạo ra được các lực tương hỗ lẫn nhau và chuyển
Trang 9động tự do trong môi trường dầu, cấu trúc sol có ở trong bitum lỏng và bitum
quánh nấu chảy Khi tỷ lệ asphan trong bitum lớn sẽ tạo nên cấu trúc gel
Trong cấu trúc gel các hạt nhân mở rộng ra, các mixell xích lại gần nhau, tạo
ra các lực tương hỗ lẫn nhau, làm nên mạng cấu trúc không gian tính chất đó
tạo nên tính đàn hồi cho chất kết dính và là đặc trưng cho cấu trúc của bitum
cứng ở nhiệt độ thấp
Cấu trúc sol- gel đặc trưng cho bitum quánh ở nhiệt độ thường Ở cấu
trúc này vật liệu sẽ có tính chất đàn hồi dẻo và tính nhớt
II.Phẩm chất của bitum
II.1 Độ nhớt hay tính quánh của bitum
Tính quánh của bitum thay đổi trong một phạm vi rộng Nó ảnh hưởng
nhiều đến tính chất cơ học của hỗn hợp vật liệu khoáng với chất kết dính,
đồng thời quyết định công nghệ chế tạo và thi công loại vật liệu sử dụng
bitum
Độ quánh của bitum phụ thuộc vào hàm lượng các nhóm cấu tạo và
nhiệt độ môi trường Khi hàm lượng nhóm asphan tăng lên và hàm lượng
nhóm chất dầu giảm đi, độ quánh của bitum tăng lên Khi nhiệt độ của môi
trường tăng cao, nhóm chất nhựa sẽ bị chảy lỏng, độ quánh của bitum giảm
Để đánh giá độ quánh của bitum người ta dùng chỉ tiêu độ xuyên kim, đo bằng
độ (1 độ bằng 0,1mm) Trị số của độ xuyên kim càng nhỏ thì độ quánh của
bitum càng cao
II.2 Độ dãn dài hay tính dẻo của bitum
Tính dẻo đặc trưng cho khả năng biến dạng của bitum dưới tác dụng
của ngoại lực Tính dẻo của bitum phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thành
phần nhóm và được tính bằng số cm khi kéo căng 1 mẫu có thiết diện quy
định ở 25°c với tốc độ kéo là 5 cm/ phút cho tới khi mẫu thử bị đứt độ dãn dài
Trang 10biểu thị cho khả năng dính dẻo, đàn hồi của bitum, cho biết tỷ lệ giữa các
thành phần của bitum Những loại bitum có trị số kéo dài càng lớn càng tốt
II.3 Tính ổn định nhiệt
Khi nhiệt độ thay đổi tính cứng và tính dẻo của bitum thay đổi Sự thay
đổi này càng nhỏ thì bitum có tính ổn định nhiệt càng cao
Tính ổn định nhiệt của bitum phụ thuộc vào thành phần hóa học của
nó Khi hàm lượng asphanten tăng lên, tính ổn định nhiệt của bitum tăng lên,
hàm lượng nhóm asphanten giảm thì tính chất này cũng giảm
II.4 Tính hóa già của bitum
Do tác động của thời tiết mà tính chất và thành phần hóa học của bitum
bị thay đổi.Người ta gọi sự thay đổi đó là sự hóa già của bitum Nguyên nhân
của sự hóa già là do thành phần nhóm asphan tăng lên, sự bay hơi của nhóm
chất dầu cũng làm tính quánh và tính giòn của bitum tăng lên làm thay đổi lớp
cấu tạo phân tử, tạo nên các hợp chất mới Quá trình hóa già của bitum dẫn
đến quá trình già hóa của bê tông asphan Độ giòn cao của bitum làm xuất
hiện các vết nứt trong lớp phủ mặt đường, tăng quá trình phá hoại do ăn mòn
Quá trình hóa già của lớp phủ mặt đường có thể chia làm hai giai đoạn Giai
đoạn 1 cường độ và tính ổn định biến dạng tăng Giai đoạn 2 bitum bắt đầu
già, cấu trúc thay đổi làm lớp phủ mặt đường bị phá hoại Tuy vậy, sự già hóa
của bitum phát triển chậm, thường sau 10 năm sử dụng sự già hóa mới ở mức
độ cao Tính già hóa có thể xác định ngay tại hiện trường hoặc bằng mẫu thử
nghiệm trong các buồng khí hậu nhân tạo
II.5 Tính ổn định khi đun
Khi dùng bitum, người ta thường đun nóng nó lên đến nhiệt độ cao
khoảng 160°c trong thời gian khá dài do đó các thành phần dầu nhẹ có thể bị
bốc hơi làm thay đổi tính chất của bitum Các loại bitum dầu mỏ loại quánh
sau thí nghiệm phải có hao hụt về trọng lượng không được lớn hơn1%, độ
Trang 11II.6 Nhiệt độ bốc cháy của bitum
Nhiệt độ bốc cháy của bitum là nhiệt độ mà tại đó các chất dầu nhẹ
trong bitum bốc hơi hòa lẫn vào môi trường xung quanh tạo lên hỗn hợp dễ
cháy, khi ta đưa ngọn lửa lại gần thì bùng cháy và lan khắp bề mặt bitum
Nhiệt độ bốc cháy là một chỉ tiêu hết sức quan trọng về an toàn cho công nhân
trong khi tiến hành ra cố bitum
II.7 Tính thấm ướt vật liệu khoáng
Tính thấm ướt vật liệu khoáng của bitum phụ thuộc vào hàm lượng các
chất hoạt tính bề mặt có cực và tính chất của vật liệu khoáng, tính thấm ướt
được đặc trưng bởi góc thấm ướt Đó là góc giữa bề mặt vật liệu khoáng và
tiếp tuyến với bề mặt giọt chất kết dính tại ranh giới tiếp xúc với vật liệu Nếu
góc thấm ướt càng nhọn thì tính thấm ướt càng tốt Khi đó lực hút giữa các
phân tử giữa chất kết dính với bề mặt vật liệu khoáng gần bằng lực hút phân tử
nội tại chất kết dính Nếu như góc thấm ướt lớn thì tính thấm ướt kém, lực hút
phân tử với bề mặt vật liệu khoáng yếu Do đó, chất kết dính càng thấm ướt tốt
với vật liệu khoáng thì lực hút phân tử trong chúng càng yếu và lực dính bám
giữa chất kất dính với bề mặt vật liệu khoáng càng mạnh
Những vật liệu khoáng ghét nước là những vật liệu dính bám chất kết
dính hữu cơ tốt
II.8 Tính liên kết của bitum với bề mặt vật liệu khoáng
Sự liên kết của bitum với bề mặt vật liệu khoáng có liên quan đến quá
trình thay đổi lý hóa khi hai chất tiếp xúc tương tác với nhau Sự liên kết này
đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên cường độ và tính ổn định với nước,
với nhiệt độ của hỗn hợp bitum và vật liệu khoáng
Trang 12Khi nhào trộn bitum với vật liệu khoáng, các hạt khoáng được thấm ướt
bằng bitum và tạo thành một lớp hấp phụ Khi đó các phân tử bitum ở trong
lớp hấp phụ sẽ tương tác với các phân tử ở bề mặt vật liệu khoáng Tương tác
đó có thể là tương tác hóa học hay lý học
Lực liên kết hóa học lớn hơn rất nhiều so với lực liên kết lý học do đó
khi bitum tương tác hóa học với vật liệu khoáng thì cường độ liên kết sẽ lớn
nhất Liên kết của bitum với vật liệu khoáng trước tiên phụ thuộc vào tính chất
của bitum Bitum có sức căng bề mặt càng lớn nghĩa là có độ phân cực càng
lớn thì liên kết với vật liệu khoáng càng tốt
Độ phân cực của bitum phụ thuộc vào hàm lượng nhóm chất nhựa, đặc
biệt là nhựa axít Bitum chứa nhóm chất nhựa càng nhiều thì sự liên kết của nó
với vật liệu khoáng càng tốt
Liên kết của bitum với vật liệu khoáng còn phụ thuộc vào tính chất của
vật liệu khoáng Các loại đá bazơ liên kết với bitum tốt hơn các loại đá axit vì
có thể xảy ra liên kết hóa học
Sự ổn định nước của hỗn hợp trong trường hợp này phụ thuộc vào độ
hòa tan trong nước của các hợp chất mới tạo thành Nếu như các hợp chất mới
tạo thành là các muối kali, Natri của các axít hữu cơ thì nó sẽ hòa tan tốt trong
nước và như vậy làm cho hỗn hợp kém ổn định nước Nếu hợp chất đó là
những muối canxi, sắt, nhôm là những hợp chất không hòa tan trong nước thì
hỗn hợp ổn định nước Mức độ liên kết của bitum với bề mặt vật liệu đá hoa
có thể đánh giá theo độ bền của màng bitum trên bề mặt đá hoa khi nhúng
trong nước sôi Nếu sau thí nghiệm hơn 2/3 bề mặt của đá hoa vẫn được bitum
bao bọc thì độ liên kết của bitum với bề mặt đá hoa là tốt
Trường hợp hoạt tính của bitum thấp, sự liên kết của nó với bề mặt vật
liệu khoáng kém, thì cần cho thêm vào bitum chất phụ gia hoạt động bề mặt
để bitum có độ hoạt tính cần thiết
Trang 13III Ứng dụng của bitum dầu mỏ
Bitum có tính quánh ( nhớt ) càng cao thì càng tốt, nhưng tính nhớt càng
cao thì bitum càng đặc và do đó bitum sẽ giòn khi thi công Vì vậy, khi chọn
mác bitum phải căn cứ vào phương pháp thi công, thiết bị thi công, điều kiện
khí hậu để chọn cho phù hợp Dưới đây là một số ứng dụng của bitum trong
xây dựng làm đường:
- Xử lý bề mặt đường ở những vùng khí hậu lạnh, chế biến các hỗn hợp
bitum - sỏi- đá dăm và hỗn hợp bê tông - asphan nóng, sử dụng bitum mác
200/300 ( Bitum có độ xuyên kim từ 200- 300mm )
- Dùng trong ngành xây dựng thuỷ lợi, xử lý các bề mặt đường giao
thông ở những vùng khí hậu ôn hoà, xây dựng mặt đường đá dăm theo phương
pháp thấm ướt ở những vùng khí hậu lạnh và ôn hoà, sử dụng bitum mác
130/200 (Bitum có độ xuyên kim từ 130- 200mm )
- Dùng để xây dựng mặt đường đá dăm theo phương pháp thấm ướt ở
những vùng khí hậu ôn hoà, chế biến các hỗn hợp bitum- khoáng sàng và bê
tông asphan nóng ở những vùng khí hậu lạnh, hay dùng để xử lý bề mặt đường
giao thông ở những vùng khí hậu ấm, sử dụng bitum mác 90/130 (Bitum có độ
xuyên kim từ 90- 130mm )
- Dùng để xây dựng đường giao thông theo phương pháp thấm ướt ở
những vùng có khí hậu ấm, chế tạo các hỗn hợp bitum- khoáng sàng và bê
tông asphan nóng, chế tạo vật liệu lợp và cách nước sử dụng bitum mác 60/90
( Bitum có độ xuyên kim từ 60- 90mm )
- Chế tạo các hỗn hợp bitum- khoáng sàng và bê tông asphan nóng để
xây dựng mặt đường ôtô ở xứ nóng sử dụng bitum mác 40/60 (Bitum có độ
xuyên kim từ 40- 60mm )
Trang 14
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NHŨ TƯƠNG BITUM
I.Nhũ tương bitum [1.2]
I.1 Khái niệm
Lý thuyết nhũ tương được phát triển một cách khá ngẫu nhiên Nó là
một phần quan trọng của lý thuyết hóa học chất keo và là một phần phát triển
từ công nghệ lâu đời liên quan đến việc chế biến sữa Các điều kiện cần thiết
để tạo nên nhũ tương cũng giống như các điều kiện cần thiết để tạo nên các hệ
keo có pha phân tán rắn và môi trường phân tán lỏng Nhũ tương càng bền
vững sa lắng khi khối lượng riêng của hai pha phân tán càng gần nhau
Nhũ tương là hỗn hợp của hai chất lỏng không tan lẫn vào nhau Trong
đó một chất lỏng phân tán vào chất lỏng kia dưới dạng những hạt nhỏ li ti, và
được gọi là pha phân tán còn chất lỏng kia được gọi là môi trường phân tán
Kích thước của các giọt chất lỏng biến đổi trong phạm vi rất rộng
Để nhũ tương có tính ổn định người ta cho thêm vào một chất gọi là
chất nhũ hóa ( chất phụ gia hoạt tính bề mặt ) Chất nhũ hóa sẽ hấp phụ trên bề
mặt các giọt bitum làm giảm sức căng bề mặt ở mặt phân chia pha giữa bitum
và nước Đồng thời nó tạo ra trên bề mặt các giọt bitum một màng mỏng kết
cấu bền vững, có tác dụng ngăn cản sự kết tụ của chúng làm cho nhũ tương
được ổn định
I.2 Phân loại nhũ tương [8.9]
Người ta phân loại nhũ tương theo kiểu và loại, theo tốc độ phân tách,
theo hàm lượng nhựa chứa trong nhũ tương
I.2.1 Phân loại theo pha phân tán và môi trường phân tán
- Nhũ tương thuận: pha phân tán là bitum , môi trường phân tán là nước
-Nhũ tương nghịch: pha phân tán là nước, môi trường phân tán là bitum
Trang 15
I.2.2 Phân loại theo chất hoạt động bề mặt
- Nhũ tương anion hoạt tính
- Nhũ tương cation hoạt tính
- Nhũ tương không ion
- Nhũ tương là loại bột nhão
I.2.3 Phân loại theo khả năng phân tách- theo ASTM D997- 86
- Nhũ tương phân tách nhanh: RS
- Nhũ tương phân tách trung bình: MS
- Nhũ tương phân tách chậm: SS
I.2.4 Phân loại theo khả năng thi công- theo Caltex
- Premix grade: là một công thức nhũ tương có độ ổn định lớn hơn so
với loại spray grade, thích hợp để trộn với vật liệu đá có đường kính danh
nghĩa lớn hơn hoặc bằng 3mm
- Raped setting grade: là một công thức nhũ tương thích hợp để trộn với
các hạt khoáng mịn, hỗn hợp ở dạng vữa và có tốc độ phân tách nhanh
- Spray grade: là một công thức nhũ tương thích hợp với thiết bị phun
cơ học dùng để sử lý bề mặt đường ( láng mặt, làm lớp dính bám … ) và
không yêu cầu trộn với vật liệu đá
- Stable mix grade: là một công thức nhũ tương thích hợp để trộn với
các hạt khoáng rất mịn, cát nghiền Hỗn hợp ở dạng mịn và có tốc độ phân
tách chậm
I.2.5 Phân loại theo pháp NF T66-16:
- Nhũ tương cation hoạt tính, ký hiệu là C
- Nhũ tương anion hoạt tính, ký hiệu là A
Có bốn loại nhũ tương như sau:
- Nhũ tương phân tách chậm: EAL, ECL
- Nhũ tương phân tách nhanh: EAR, ECR
Trang 16- Nhũ tương phân tách trung bình: ECM
- Nhũ tương siêu ổn định: EAS, ECS
I.3 Ứng dụng của nhũ tương bitum [2]
Việc lựa chọn các loại nhũ tương tùy thuộc vào mục đích sử dụng, điều
kiện khí hậu nơi tiến hành thi công Nhũ tương thường được sử dụng vào các
mục đích như sau:
- Duy tu bảo dưỡng, sửa chữa, rải lớp láng mặt, thường sử dụng nhũ
tương phân tách nhanh, nhất là loại nhũ tương cation hoạt tính
- Giải lớp thấm nhập hoặc đá trộn ở hiện trường, thường sử dụng nhũ
tương có tốc độ phân tách trung bình
- Trộn hỗn hợp cấp phối đá nhũ tương ở trạm trộn, thường sử dụng nhũ
tương phân tách chậm
- Công nghệ vữa nhựa hạt thô rải nguội để khôi phục mặt đường cũ,
thường sử dụng nhũ tương phân tách chậm hoặc loại siêu ổn định
- Làm lớp dính bám giữa hai lớp móng và mặt, làm lớp tạo màng bảo
dưỡng bê tông xi măng
- Sử dụng gia cố đất nền, móng dưới…
I.4 Ưu điểm của nhũ tương bitum trong xây dựng đường ôtô [38]
- Không cần đun nóng khi thi công
- Không gây nguy hiểm như hỏa hoạn, độc hại cho công nhân, người đi
đường
- Hồi phục nhanh chóng các tính chất cơ bản của nhựa đường Đảm bảo
nhanh chóng trả lại mặt đường cho các phương tiện lưu thông
- Có khả năng thi công trên mặt đường ẩm, điều kiện thời tiết bất lợi và
khí hậu không ổn định
- Việc tiếp tế nhũ tương phục vụ thi công rất thuận tiện vì có thể tập kết
kho ở gần chỗ thi công
Trang 17- Thành phần dung môi thấp, không gây độc hại và ô nhiễm môi trường
I.5 Các tính chất và yêu cầu đối với nhũ tương bitum [19]
I.5.1 Độ nhớt
Độ nhớt của nhũ tương bitum được xác định bằng nhớt kế kỹ thuật Độ
nhớt đặc trưng cho khả năng dùng nhũ tương ở những mặt đường khác nhau
Tính chất này cơ bản phụ thuộc vào nồng độ chất kết dính trong nhũ tương
Hàm lượng bitum càng lớn thì độ nhớt của nhũ tương càng cao và tăng theo
hàm số mũ
Ví dụ: với những nhũ tương chứa lượng chất kết dính bitum trong
khoảng 50-65%, thì độ nhớt tăng không lớn khi tăng nồng độ bitum Ngược
lại khi hàm lượng bitum lớn hơn 65% thì chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ
bitum cũng làm thay đổi đáng kể độ nhớt của nhũ tương (Hình I-1)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
Hình I-1 Đồ thị sự phụ thuộc độ nhớt của nhũ tương vào hàm lượng bitum
Độ nhớt của nhũ tương thay đổi nhiều theo nhiệt độ Hiện tượng này
gọi là sự mẫn cảm với nhiệt độ Đối với mọi loại chất kết dính trong đó kể cả
Trang 18nhũ tương bitum, sự mẫn cảm với nhiệt độ không phải lúc nào cũng như nhau,
ở nhiệt độ nào cũng thế Nói một cách khác giá trị của đạo hàm ở tại một điểm
trên đường cong quan hệ giữa độ nhớt và nhiệt độ phụ thuộc vào giá trị của
nhiệt độ tại điểm đó Thực vậy, trên một khoảng hẹp nhiệt độ, có thể viết
phương trình của sự mẫn cảm với nhiệt độ như sau:
log η =aθ +b ( I-1 )
Trong đó: η là độ nhớt ( °E ) ; θ là nhiệt độ ( °C )
a và b là những hằng số phụ thuộc vào tính chất nhũ tương
Khi dùng nguội thì độ nhớt của nhũ tương không được thay đổi quá
30% nếu nhiệt độ hạ xuống từ 20-10°c hoặc tăng lên từ 20-40°c
η10C − η20C < 0 η 3 20C
η20C − η40C < 0 η 3 20C
Điều kiện công nghệ cũng ảnh hưởng đến độ nhớt của nhũ tương bitum
Sự thay đổi vận tốc dòng vào thùng khuấy sẽ làm thay đổi sự phân bố kích
thước hạt nhũ tương nếu thành phần của bitum không vượt quá 65%về khối
lượng thì độ nhớt của nhũ tương ít phụ thuộc vào vận tốc dòng nhưng khi
thành phần của bitum vượt quá 65% theo khối lượng thì sẽ làm thay đổi sự
phân bố kích thước hạt và do đó làm thay đổi đáng kể độ nhớt của nhũ tương
bitum
Trang 19
Một yếu tố cũng rất quan trọng tác động đến độ nhớt của nhũ tương
bitum là độ nhớt của bitum Nếu độ nhớt của bitum trong thùng khuấy thấp thì
kích thước hạt của nhũ tương sẽ giảm và có khuynh hướng làm tăng độ nhớt
của nhũ tương Điều này có thể khắc phục bằng cách thêm vào nó một lượng
nhỏ (2-4% khối lượng ) dung môi (thường là dầu hoả ) để pha loãng bitum
I.5.2 Tính đồng nhất
Tính đồng nhất của nhũ tương bitum được đặc trưng bằng hàm lượng
các giọt chất kết dính có kích thước nhỏ, xác định bằng hàm lượng nhũ tương
lọt qua sàng, có kích thước lỗ sàng bằng 0,14mm Khi đó lượng sót lại trên
sàng không được vượt quá 0,5% trọng lượng Nhũ tương không đồng nhất sẽ
gây trở ngại cho quá trình thi công, đồng thời còn đẩy nhanh quá trình kết tụ
sa lắng, gây ra hiện tượng phá nhũ
I.5.3 Tính ổn định khi vận chuyển và bảo quản
Tính ổn định khi bảo quản đặc trưng cho khả năng bảo toàn tính chất
của nhũ tương trong điều kiện nhiệt độ thay đổi Thời gian bảo quản nhũ
Trang 20tương có thể kéo dài Yêu cầu đối với nhũ tương bitum không bị kết tụ hay
lắng đọng trong thời gian dài, đảm bảo độ đồng nhất
Để xác định tính ổn định khi vận chuyển và bảo quản người ta lấy nhũ
tương đã được bảo quản sau bẩy ngày kể từ lúc chế tạo cho chảy qua sàng có
kích thước lỗ sàng bằng 0,14mm Khi đó nếu như lượng còn lại trên mặt sàng
không vượt quá 0,1% theo trọng lượng thì loại nhũ tương đó được xem là ổn
định
I.5.4 Tính dính bám của màng bitum với vật liệu khoáng
Tính dính bám được kiểm tra bằng trị số bề mặt của đá răm vẫn còn
được phủ nhũ tương sau khi rửa mẫu thử nghiệm ở nhiệt độ 100°c Trị số bề
mặt phải không được nhỏ hơn 75% đối với nhũ tương anion và không nhỏ hơn
95% đối với nhũ tương cation
I.5.5 Khả năng của pha phân tán phục hồi tính chất ban đầu trong thời
gian tiếp xúc với vật liệu khoáng
Khả năng này được đặc trưng bằng tốc độ phân giải của nhũ tương Sự
phân giải của nhũ tương khi tiếp xúc với bề mặt khoáng nước sẽ tách ra, các
giọt bitum tiếp xúc với nhau, hình thành lớp dày đặc trên bề mặt của hạt vật
liệu khoáng Tốc độ đông tụ của nó càng nhanh nếu như hoạt tính của chất
nhũ hóa càng lớn Tùy theo tính chất và số lượng chất nhũ hóa mà người ta có
thể nhận được các loại nhũ tương phân giải nhanh, vừa và chậm
Tốc độ phân giải của nhũ tương được xác định bằng cách trộn nó với xi
măng hay vật liệu sỏi Sau hai phút đem mẫu sỏi ra ngoài không khí 30 phút,
đem cân Dùng vòi nước dội trong 15 phút rồi cân lại
Độ phân giải của nhũ tương:
Trang 21Có hai dạng nhũ tương, dạng dầu trong nước ( pha dầu phân tán vào pha
nước ) và dạng nước trong dầu ( pha nước phân tán trong pha dầu ) Trong các
hệ này, phân tử của chất nhũ hóa tự sắp xếp bằng cách định hướng nhóm kị
nước của chúng vào pha dầu và nhóm ưa nước vào pha nước
Dạng nhũ tương được tạo ra tùy thuộc vào loại chất nhũ hóa được sử
dụng, nhiệt độ ,và khối lượng các pha được sử dụng Nói chung pha lỏng nào
dễ hòa tan chất nhũ hóa có xu hướng trở thành pha liên tục
Trong một nhũ tương, kích thước các giọt rất không đồng đều, kích
thước giọt liên quan đến phương pháp chế tạo nhũ tương và nồng độ chất nhũ
hóa Sự thay đổi trong phân bố kích thước giọt là đường cong đối với thời
gian Dựa vào đó có thể xác định độ ổn định của nhũ tương
II.1 Chế tạo nhũ tương
Có hai phương pháp chế tạo nhũ tương: phương pháp ngưng tụ và
phương pháp phân tán
II.1.1 Phương pháp ngưng tụ
Khi chất lỏng A được hòa tan vào chất lỏng B ở trạng thái có bão hòa,
nếu như trạng thái quá bão hòa này bị phá vỡ sẽ tạo thành nhũ tương Có thể
phá vỡ trạng thái quá bão hòa bằng cách hạ nhiệt độ của dung dịch hoặc thay
đổi nồng độ dung dịch để giảm độ hòa tan
Phương pháp này ít được sử dụng trong công nghiệp so với phương
pháp phân tán:
Trang 22II.1.2 Phương pháp phân tán:
Phương pháp phân tán để chế tạo nhũ tương gồm hai dạng Quá trình
nhũ hóa xảy ra một cách tự nhiên với dầu có khả năng nhũ hóa hay hòa tan
Hoặc quá trình nhũ hóa xảy ra do có lực tác dụng bằng thiết bị nhũ hóa để
phân tán một pha lỏng thành những giọt nhỏ vào pha lỏng kia
II.2 Phân bố giọt trong nhũ tương
Trong đa số các trường hợp, việc biểu thị các số liệu thu được bằng hàm
phân bố sẽ thuận tiện cho việc nghiên cứu cấu trúc tập hợp giọt
II.2.1 Hàm phân bố theo kích thước
Mật độ phân bố qr(x) cho biết xác suất gặp một giọt có đường kính nào
đó của tập hợp giọt Chỉ số r chỉ ra các loại hình phân bố:
r = o : phân bố theo số giọt
r =1: phân bố theo độ dài
) (
) ( )
(
x
i r x
i i r x r
dx x q x k
x q x k x
X
X
k = : hệ số hình dạng tính theo tỷ lệ đường kính tương đương
thể