1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng

63 588 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đa số các tác giả nước ngoài cũng như trong nước thường đo lường bằng hai chỉ tiêu là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG

1.1 Tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng

Có nhiều định nghĩa và khái niệm về tỷ suất sinh lợi, tỷ suất sinh lợi là khái niệm được sử dụng cho nhiều tình hình khác nhau trong kinh tế học, nói về những khoản tiền thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra lãi hay số chi phí đã tiêu hao để sinh ra lãi Tỷ suất sinh lợi được biểu hiện bằng: Tỷ suất sinh lợi của vốn, tỷ suất sinh lợi của giá thành…; Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ để tạo ra các khoản lợi nhuận cho doanh nghiệp; “Tỷ số sinh lợi là chỉ số đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần” (Trần Trọng Thơ, 2007, 128)

Từ những nội dung trên tác giả đúc kết tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là: khoản lãi thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra khoản lãi đó hay chi phí đã tiêu hao để sinh ra khoản lãi đó Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng được biểu hiện bằng: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên…

1.2 Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA

ROA = Lợi nhuận ròng /Tổng tài sản bình quân

ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng Hiệu

Trang 2

quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA, ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE

ROE = Lợi nhuận ròng /Vốn cổ chủ sở hữu bình quân

ROE đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy

mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn Các ngân hàng có xu hướng sử dụng đòn bẩy cao, do đó họ thường đạt ROE cao nhưng ROA thấp ROE cũng có thể tính bằng cách nhân ROA với tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Cả hai tỷ số ROA và ROE đều là tiêu chí quan trọng đối với cơ quan quản lý, các ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc đưa ra các quyết định chiến lược trong quản lý và đầu tư phù hợp

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM

NIM = Thu nhập lãi thuần /Tài sản sinh lãi

Tài sản sinh lãi = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi lại các TCTC khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng

Tỷ lệ lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Tỷ lệ này chỉ ra

Trang 3

năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng chi phí

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên NNIM

NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) /Tài sản sinh lãi

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng)

Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lợi được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau Để xác định các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đa số các tác giả nước ngoài cũng như trong nước thường đo lường bằng hai chỉ tiêu là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân (ROA) và lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) vì ưu điểm của chỉ số ROA và ROE là tương đối đơn giản, dễ tính toán và mang tính tổng quát cao

so với các chỉ số khác Trong bài luận văn này tác giả sẽ lấy hai chỉ số ROA và ROE để làm biến phụ thuộc đại diện cho tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi

Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thường được đo bằng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), chúng bị tác động bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố tác động bên trong bao gồm các biến đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng… Các biến bên ngoài bao gồm các biến vĩ

mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng như: tốc

độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá…

1.3.1 Các yếu tố bên trong

Trang 4

1.3.1.1 Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng được thể hiện thông qua tổng tài sản hoặc tổng nguồn vốn của ngân hàng Quy mô ngân hàng là một yếu tố nội tại quyết định tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Bởi vì trên thực tế các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng kinh doanh của mình bằng cách tăng tổng tài sản và nguồn vốn Các ngân hàng lớn có thể đạt được lợi thế quy mô từ đó làm gia tăng lợi nhuận, với lợi thế về quy mô, nổi tiếng nên các ngân hàng quy mô lớn dễ tiếp cận và huy động vốn, dễ phát hành các chứng khoán hơn

Mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Anper và Anbar (2011) Mặt khác, tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa Các ngân hàng tận dụng lợi thế của đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng

nó cũng có thể làm giảm tỷ suất lợi nhuận, quy mô lớn cũng kéo theo chi phí vận hành và các chi phí khác cao hơn Theo Eichengreen và Gibson (2001) đề xuất rằng

sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác động cùng chiều lên lợi nhuận đến một mức độ nhất định nào đó

1.3.1.2 Quy mô vốn chủ sở hữu

Theo Short (1979) thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của một ngân hàng gắn liền với quy mô của nó bởi vì các ngân hàng lớn có

xu hướng tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với ngân hàng nhỏ dựa vào khả năng huy động vốn ít tốn kém hơn Thực tế cho thấy các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao, quản trị vốn tốt, duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay có thể cải thiện

tỷ suất sinh lợi Tỷ số này quá cao cũng cho thấy ngân hàng chưa sử dụng tốt đòn bẩy tài chính Bài nghiên cứu của Sharma và Gounder (2012) cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất sinh lợi là không thể dự đoán được

1.3.1.3 Tiền gửi khách hàng

Trang 5

Đặc thù của các ngân hàng là sử dụng đòn bẩy tài chính cao, và chức năng chính của ngân hàng là trung gian tài chính đóng vai trò luân chuyển nguồn vốn từ nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu nguồn vốn, vì thế nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Ponce (2012) cho rằng sự gia tăng tiền gửi của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng chủ động trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu vào cho ngân hàng từ đó có thể gia tăng dư nợ và đầu tư vào các kênh khác nhau làm gia tăng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

1.3.1.4 Dƣ nợ tín dụng

Dư nợ tín dụng cao rõ ràng lợi nhuận thu về từ việc cho vay sẽ cao hơn nếu kiểm soát rủi ro tín dụng tốt Sufian và Habibullah (2009) đã nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng của Bangladesh và đã cho thấy rằng mối quan hệ cùng chiều giữa việc gia tăng dư nợ tín dụng và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Bangladesh Nghiên cứu còn cho thấy việc gia tăng dư nợ còn có các tác động tích cực khác là chiếm lĩnh thị phần, gia tăng sự nhận biết của khách hàng về ngân hàng Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thì việc gia tăng thị phần phải đi đôi với việc quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả

1.3.1.5 Rủi ro tín dụng

Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho rằng rủi ro tín dụng là một trong những biến số quan trọng trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Điển hình là nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2005) đã cho thấy rằng sự thay đổi của biến rủi ro tín dụng là lý do chính trong việc giải thích các biến động trong tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, tỷ suất sinh lợi của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên Davydenko (2011) cũng cho thấy tỷ suất sinh lợi của ngân hàng có mối quan hệ nghịch biến với rủi ro tín dụng Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi danh mục cho vay của các ngân hàng trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn làm cho lợi

Trang 6

nhuận giảm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Các ngân hàng có các khoản vay có rủi ro tín dụng thấp thì tỷ suất sinh lợi sẽ cao hơn

1.3.2 Các yêu tố bên ngoài

1.3.2.1 Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm

Có khá nhiều nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng GDP lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cao sẽ có tác động tích cực đến hoạt động của ngành ngân hàng Nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2005) cho thấy chu kỳ kinh tế có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi của ngành ngân hàng tại Hy Lạp tức là nếu tốc độ tăng trưởng GDP dương qua các năm thì sẽ tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, khi tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống và thậm chí là âm thì chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng sẽ giảm, do đó làm giảm tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

1.3.2.2 Tỷ lệ lạm phát

Tác động của các yếu tố môi trường kinh tế vi mô lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đã được nghiên cứu khá rộng rãi và trong đó tỷ lệ lạm phát là yếu tố tiêu biểu Nghiên cứu của Perry (1992) cho rằng tác động của lạm phát lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thông qua mối liên hệ giữa tốc độ tăng của tiền lương và các chi phí hoạt động với tỷ lệ lạm phát Khả năng quản lý hiệu quả chi phí hoạt động của các ngân hàng phụ thuộc vào khả năng dự báo lạm phát trong tương lai, mà mức độ

dự báo này phụ thuộc rất nhiều vào sự hoàn thiện của môi trường kinh tế vĩ mô Trong trường hợp các nhà quản lý có thể dự báo một mức lạm phát kì vọng tương đối chính xác, ngân hàng cần điều chỉnh mức lãi suất một các hợp lý để tăng doanh thu nhanh hơn chi phí

1.3.2.3 Lãi suất cho vay

Trang 7

Lãi suất cho vay là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của ngân hàng Một mức lãi suất cho vay phù hợp sẽ vừa kích thích nhu cầu vay của khách hàng vừa mang lại lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng Nếu lãi suất cho vay quá cao sẽ gây bất lợi cho khách hàng và cả nền kinh vì thế lãi suất cho vay cũng là một trong những biến có tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Theo nghiên cứu của Obamuyi (2013) thì lãi suất cho vay tác động tích cực đến lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Nigeria

1.3.3 Các yếu tố khác

1.3.3.1 Hình thức sở hữu ngân hàng

Hình thức sở hữu ngân hàng là chủ thể nắm quyền sở hữu và điều hành của ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân Nghiên cứu của Short (1979) cho thấy một mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và quyền sở hữu của Nhà nước đối với các ngân hàng Bourke (1989) đã thử nghiệm tác động của yếu tố sở hữu Nhà nước lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng bằng cách sử dụng một biến nhị phân đại diện cho quyền sở hữu của Nhà nước, kết quả cho thấy mối quan

hệ ngược chiều với nhau Kết quả cũng cho thấy rằng chi phí quản lý nhân viên trong nhóm các ngân hàng quốc doanh là không hiệu quả và năng suất lao động của các ngân hàng tư nhân là cao hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước

1.3.3.2 Mức độ tập trung của thị trường ngành ngân hàng

Theo giả thiết cấu trúc – vận hành - hiệu quả (Structure- Conduct- Performance) thì các ngân hàng có thể tận dụng sức mạnh thị trường của mình để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì có lợi thế về sức mạnh trong thị trường nên các ngân hàng này có thể tăng lãi suất cho vay giảm lãi suất huy động từ đó làm tăng lợi nhuận lên Nghiên cứu của Bourke (1989) cho rằng mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng có quan hệ cùng chiều với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Các ngân hàng

có thể liên kết với nhau tạo ra lợi ích nhóm, lợi ích nhóm có thể gây hại cho khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác khó có thể tham gia vào thị trường hơn

Trang 8

1.4 Sự cần thiết nghiên cứu tác động của các yếu tố đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Việc nghiên cứu tác động của các yếu tố lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là cần thiết để có thể nâng cao tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, thông qua việc nghiên cứu chúng ta có thể thấy được đâu là nhân tố tác động tích cực, đâu là nhân tố tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Từ đó có thể giúp cho các nhà quản trị đưa ra các chính sách phù hợp giúp ngân hàng phát huy tốt các nhân tố tác động tích cực hay khắc phục, loại bỏ các nhân tố tiêu cực tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Đối với các nhà đầu tư việc nghiên cứu góp phần cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và là căn cứ để ra quyết định đầu tư đúng đắn Đối với các nhà hoạch định chính sách việc biết được các nhân tố tác động sẽ giúp cho việc ban hành các quy định và chính sách phù hợp hơn phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của đất nước chúng

ta

1.5 Các nghiên cứu trước đây về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng

1.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Nối tiếp theo bài nghiên cứu đầu tiên của Short (1979), một số nghiên cứu gần đây cố gắng xác định một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi thông qua lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) Các nghiên cứu thực nghiệm tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng của từng quốc gia như Athanasoglou và các cộng sự (2005), Rajesh và Sakshi (2009), Andreas và Gabrielle (2010), Ramlall (2009), Sufian (2010), Davydenko (2011), Sufian (2011), Riaz (2011), Alper và Anbar (2011), Ponce (2012) Các kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu trên khác nhau

về bộ dữ liệu, khoảng thời gian, môi trường kinh tế và các chỉ số vĩ mô ở các quốc gia này đều khác nhau tuy nhiên chúng ta có thể rút ra một số yếu tố chung chấp nhận được tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Trang 9

Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thường được đo bằng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và chúng bị tác động bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố tác động bên trong bao gồm các biến đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng, chi phí… Các biến bên ngoài bao gồm các biến vĩ mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng như: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá…

Athanasoglou và các cộng sự (2005) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng ở Hi Lạp trong khoảng thời gian từ 1985 đến

2001, sử dụng phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments)

Kết quả cho thấy rằng quy mô vốn ngân hàng, kinh nghiệm quản lý điều hành, lạm phát, chu kỳ kinh tế (business cycle) có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, trong khi đó rủi ro tín dụng và chi phí quản lý lại có tác động tiêu cực

đối với tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Hi Lạp

Rajesh và Sakshi (2009) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, tư nhân và nước ngoài tại Ấn Độ trong giai đoạn 2001 đến 2007 Sau khi phân tính hồi quy tác giả đưa ra kết luận là thu nhập bình quân đầu người, chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá bán buôn, xuất khẩu và tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Ấn Độ Trong khi đó tiền gửi, quy mô ngân hàng không tác động đến tỷ suất sinh lợi các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước và có tác động tích cực đến các ngân hàng tư nhân và các ngân hàng nước ngoài tại Ấn Độ

Andreas và Gabrielle (2010) nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của 453 ngân hàng tại Thụy Sĩ trong khoảng thời gian năm 1999 đến 2006 Nghiên cứu cho thấy rằng ngân hàng có vốn lớn hơn và tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng nhanh hơn tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chung của ngành sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Độ tuổi (bank age) của ngân hàng thì không

có ảnh hưởng gì đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng tuy nhiên yếu tố vùng miền

Trang 10

(region) và quyền sở hữu ngân hàng (bank ownership) lại có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Các ngân hàng ở Geneva có tỷ suất sinh lợi cao hơn các ngân hàng ở Zurich Các ngân hàng của Thụy Sĩ và các ngân hàng tư nhân có tỷ suất sinh lợi cao hơn so với các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng do nhà nước sở hữu Nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ tăng trưởng GPD có tác động rất tích cực tới tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng trong khi đó thuế thu nhập doanh nghiệp

và mức độ tập trung của thị trường ngân hàng (bank concentration) có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Thụy Sĩ (Mức độ tập trung của thị trường được đo lường bằng tổng tài sản của 3 ngân hàng lớn nhất/ tổng tài sản toàn ngành ngân hàng)

Ramlall (2009) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng Đài Loan dựa trên các biến độc lập là các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô, dữ liệu được thu thập theo quý trong khoảng thời gian

2002 đến 2007 Kết quả cho thấy rằng vốn của ngân hàng ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi Tuy nhiên rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, nghiên cứu cho thấy 1% tăng lên của rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến giảm 94% tỷ suất sinh lợi Điều này có thể thấy được khi gia tăng về rủi ro tín dụng thì nó

sẽ làm giảm lợi nhuận từ đó làm giảm tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Một giải pháp được thực hiện bởi ngân hàng Trung ương của Đài Loan là thiết lập chính sách phù hợp để kiểm soát rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng của Đài Loan

Sufian (2010) tìm thấy các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi (ROA và ROE) tại các ngân hàng của Thái Lan trong giai đoạn 1999 đến 2005 Sau khi phân tích hồi quy tác giả kết luận rằng: quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu của ngân hàng có quan hệ tương quan thuận với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Trong khi đó thu nhập ngoài lãi (non interest income) và chi phí chung (overhead cost) có quan hệ tương quan nghịch với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, riêng yếu tố tỷ lệ nợ xấu có quan hệ tương quan nghịch với ROA và tương quan thuận với ROE Có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lợi với tốc độ tăng

Trang 11

trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tại các ngân hàng ở Thái Lan tuy nhiên tỷ suất sinh lợi lại có quan hệ ngược chiều với GDP trên đầu người

Davydenko (2011) nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng ở Ukraina Davydenko sử dụng dữ liệu bảng trong khoảng thời gian từ 2005 đến

2009 Kết quả cho thấy, các ngân hàng bị một cú sốc lớn đánh vào chất lượng các khoản cho vay đã làm cho các ngân hàng ở Ukraina không có khả năng tái tạo lại lợi nhuận của họ dựa trên sự tăng trưởng lượng tiền gửi Thế nên các biến rủi ro tín dụng, thanh khoản, tiền gửi, lạm phát và biến giả (dummy) ngân hàng nước ngoài tất cả đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Không chỉ có các tác động tiêu cực, ông còn phát hiện ra những tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Ukraina đó là vốn, quy mô, tỷ giá và mức độ tập trung trung của thị trường ngân hàng

Sufian (2011) đã nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng Hàn Quốc trong suốt giai đoạn 1992 đến 2003 ông ấy đã tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc Tính thanh khoản và các yếu tố vĩ mô đặc biệt là lạm phát có tác động đáng kể tới tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi Ngoài ra quan sát của tác giả thấy rằng các yếu tố trên ảnh hưởng mạnh đến tỷ suất sinh lợi trước giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997

Alper và Anbar (2011) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của 10 ngân hàng thương mại tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2010 Họ đã đi đến kết luận quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi, ngân hàng có quy mô càng lớn thì tỷ suất sinh lợi càng cao Các biến còn lại như: thanh khoản, tiền gửi, tỷ lệ an toàn vốn và thu nhập lãi thuần không tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Tuy nhiên, biến

dư nợ tín dụng và các khoản vay dưới chuẩn tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ Trong khi đó các biến vĩ mô là tỷ lệ tăng trưởng GDP và lạm phát ảnh hưởng tích cực nhưng rất ít đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

Trang 12

tại Thổ Nhĩ Kỳ Một nghiên cứu khác về hiệu quả hoạt động các ngân hàng của Thổ Nhĩ Kỳ đề xuất rằng ngân hàng nên có quy mô vừa phải sẽ có hiệu quả hoạt động cũng như tỷ suất sinh lợi tốt hơn so với ngân hàng có quy mô lớn tại Thổ Nhĩ Kỳ Aysan và Ceyhan (2007)

Riaz (2011) nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của 32 ngân hàng tại Pakistan trong giai đoạn 2006 đến 2010 Bài nghiên cứu sử dụng các biến độc lập kích thước ngân hàng, rủi ro tín dụng, tiền gửi, dư nợ cho vay, hiệu quả quản lý, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm, chỉ số CPI Kết quả hồi quy cho thấy rủi ro tín dụng, lãi suất chiết khấu có tác động ngược chiều; tổng tài sản, tiền gửi có tác động cùng chiều đến ROE Đối với biến phụ thuộc ROA thì chỉ có rủi ro tín dụng và lãi suất chiết khấu có tác động ngược chiều đến ROA

Ponce (2012) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Tây Ban Nha giai đoạn từ 1999 đến 2009 Kết quả thu được bằng cách sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho thấy tỷ suất sinh lợi của ngân hàng

bị ảnh hưởng tích cực bởi dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, hiệu quả hoạt động

và ảnh hưởng tiêu cực bởi rủi ro tín dụng Quy mô vốn ngân hàng chỉ ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi khi sử dụng ROA là thước đo Tác giả không tìm thấy bằng chứng về quy mô ngân hàng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Trong khi đó các yếu tố vĩ mô tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, mức độ tập trung của thị trường ngoại trừ lãi suất đều tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Tây Ban Nha

1.5.2 Các Nghiên Cứu Trong Nước

Bài nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga (2011) tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Mình (HOSE) và Hà Nội (HNX) tại Việt Nam thông qua việc ước lượng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận tính trên tài sản ROA và tỷ suất lợi nhuận tính trên vốn chủ sở hữu ROE với các biến độc lập

Trang 13

tiền gửi khách hàng, vốn cổ phần, dư nợ cho vay, dự phòng rủi ro tín dụng và cấp

độ rủi ro là các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên cở

sở hệ thống dữ liệu thứ cấp (báo cáo tài chính) thu thập từ 6 ngân hàng giai đoạn

2005 đến 2010 gồm có ngân hàng ACB, Eximbank, Sacombank, Vietcombank, Vietinbank, SHB Kết quả ước lượng cho thấy tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tiền gửi khách hàng, cấp độ rủi ro và dư nợ tín dụng Biến độc lập tiền gửi khách hàng có mối tương quan thuận với ROA và ROE điều này khẳng định tiền huy động là một trong những yếu tố quyết định đến

tỷ suất sinh lợi của ngân hàng cao hay thấp Biến độc lập vốn cổ phần và dự phòng rủi ro tín dụng không ảnh hưởng đến ROA và ROE, điều này phù hợp với thực tế tại Việt Nam thì năm 2010 các ngân hàng tăng vốn rất nhanh nhưng lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi thậm chí không cao hơn các năm trước Biến độc lập dư nợ tín dụng có quan hệ tương quan nghịch với cả ROA và ROE, điều này cho thấy hoạt động cho vay của ngân hàng còn tồn tại nhiều yếu kém, tỷ lệ nợ xấu cao Biến cấp độ rủi ro ngân hàng không có ý nghĩa thống kê đối với ROA nhưng có có ý nghĩa thống kê và tương quan thuận với ROE điều này cho thấy ngân hàng đã sử dụng đòn bẩy tài chính cao để tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông

Tóm tắt các yếu tố tác động theo các công trình nghiên cứu tại phụ lục

1.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Như các yếu tố đã được tác giả xác định, để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nội tại của các ngân hàng và yếu tố vĩ mô lên tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, tác giả dự kiến sử dụng mô hình nghiên cứu sau:

Trang 14

- CAit: là quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng i tại thời điểm t

- DEit: là chỉ số tiền gửi của khách hàng của ngân hàng i tại thời điểm t

- LOit: là chỉ số dư nợ tín dụng của ngân hàng i tại thời điểm t

- PLit: là chỉ số rủi ro tín dụng của ngân hàng i tại thời điểm t

- GDPit: là tốc độ tăng trưởng GDP tại thời điểm t

- INFit: là tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t

- LIit: là lãi suất cho vay tại thời điểm t

- α: là tung độ gốc

- β: là hệ số tương quan

- ε it: là sai số hồi quy

Biến phụ thuộc là: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE

Biến độc lập là: Quy mô ngân hàng SIZE, quy mô vốn chủ sở hữu CA, tiền gửi khách hàng DE, dư nợ tín dụng LO, rủi ro tín dụng PL, tốc độ tăng trưởng GDP,

tỷ lệ lạm phát INF và lãi suất cho vay LI

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương một đã tổng quan về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết và

cơ sở lý thuyết, kết quả thực nghiệm của các bài nghiên cứu trước đây về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng Về mặt lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng được chia thành hai nhóm các biến đại diện cho nội tại của ngân hàng (các yếu tố bên trong) và các biến đại diện cho yếu tố ngành và vĩ mô (yếu tố bên ngoài) Đa số các bài nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tác động bên trong bao gồm các biến đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ cho vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng, thu nhập từ lãi… Các

Trang 15

biến bên ngoài bao gồm các biến vĩ mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng như: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá…

Trang 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐO LƯỜNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA CÁC NGÂN HÀNG

TMCP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 2.1 Sơ lược về các ngân hàng niêm yết

Các ngân hàng niêm yết được phân tích trong luận văn trong giai đoạn từ năm 2007 - 2013 gồm có: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam ( Vietcombank - VCB) Ngân hàng TMCP Công Thương (Vietinbank - CTG), ngân hàng TMCP Quân Đội (MBbank - MBB), ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - EIB), ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - STB), ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) Ngoài ra các ngân hàng niêm yết còn có ngân hàng TMCP Quốc Dân (trước kia là ngân hàng TMCP Nam Việt - NVB) quy mô của ngân hàng này khá nhỏ so với các ngân hàng trên nên tác giả sẽ không đề cập đến ngân hàng này Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV chuyển đổi từ Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam 100% vốn Nhà nước thành ngân hàng TMCP vào ngày 23/4/2012 và đến ngày 24/1/2014 cổ phiếu ngân hàng này mới được niêm yết, bài luận văn của tác giả thực hiện trong giai đoạn từ năm 2007 – 2013 nên tác giả sẽ không đưa ngân hàng BIDV vào bài luận văn

Trang 17

Bảng 2.1: Tóm tắt một số thông tin về các ngân hàng niêm yết

Tên Ngân

Hàng

Sàn Niêm Yết

Ngày Niêm Yết

Tổng Tài Sản 31/12/2013 (tỷ VNĐ)

Vốn Điều

Lệ 31/12/2013 (tỷ VNĐ)

Nguồn: tổng hợp của tác giả

2.2 Tổng quan nền kinh tế và ngành ngân hàng giai đoạn năm 2007-2013

Hoạt động của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường

vĩ mô và cách Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) điều hành và quản lý các ngân hàng thương mại Ở đây, tác giả điểm lại những điểm nổi bật của tăng trưởng GDP và tỷ

lệ lạm phát từ năm 2007 đến năm 2013, tốc độ tăng trưởng tín dụng, nợ xấu ngành ngân hàng và một số thay đổi quan trọng trong quy định và cơ chế của NHNN trong quản lý chính sách tiền tệ

2.2.1 Tốc Độ Tăng Trưởng GDP Và Tỷ Lệ Lạm Phát

Trang 18

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP và của các khu vực kinh tế

Nguồn: Tổng cục thống kê

Với tốc độ tăng trưởng GDP khá cao 8,46% vào năm 2007 bước qua năm

2008, kinh tế thế giới trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc suy thoái năm 1929 Nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, với tăng trưởng GDP chậm lại chỉ còn 6,31% năm 2008 Mặc dù giảm thêm xuống mức 5,32% vào năm 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế phục hồi tốt nhất trong khu vực Nền kinh tế Việt Nam đã mạnh lên và tiếp tục tạo ấn tượng so với các nước châu Á trong năm 2010, với tỷ lệ tăng trưởng GDP đạt 6,78% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó đã tăng trưởng chậm lại ở mức 5,89% năm 2011, 5,1% năm 2012 và 5,42% năm 2013 Đóng góp chính cho mức tăng của GDP vẫn đến từ khu vực dịch vụ trong khi khu vực công nghiệp và xây dựng ghi nhận mức tăng 5,43% thấp hơn mức 5,75% của năm 2012, còn lại là nông nghiệp Dấu hiệu thoát đáy của nền kinh tế đã trở nên rõ ràng với sự phục hồi tốt của lĩnh vực sản xuất

Trang 19

Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng GDP và Lạm phát

Nguồn: Tổng cục thống kê

Tỷ lệ lạm phát tăng rất nhanh từ 8,3% vào năm 2007 lên 23,12% vào năm

2008 do cuộc khủng hoảng giá lương thực và giá dầu toàn cầu gây ra lạm phát cao ở Việt Nam Trước tình hình lạm phát ở mức cao năm 2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong sáu tháng đầu năm Tuy nhiên, việc thắt chặt tiền

tệ không thể kéo dài trước nguy cơ kinh tế suy thoái do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu Từ tháng 09/2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt hơn bao gồm việc cắt giảm lãi suất huy động Lãi suất

cơ bản, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn giảm xuống chỉ còn 8,5%, 7,5%,

và 9,5% vào cuối năm 2008 Lãi suất cho vay cao nhất giảm xuống chỉ còn 12,75%

và lãi suất huy động cũng hạ xuống quanh mức 8%/năm Ngoài ra, chính phủ đã tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 143 nghìn tỷ đồng, một phần trong gói kích thích này đã được sử dụng trong chương trình hỗ trợ lãi suất cho vay Chương trình

Trang 20

hỗ trợ này đã tăng thêm động lực phát triển cho nền kinh tế và nhờ đó, trong năm

2010, tăng trưởng GDP đã cao hơn các năm trước

Chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với tăng trưởng tín dụng và gia tăng cung tiền nhanh chóng là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát Chỉ số CPI đã tăng trở lại lần đầu tiên kể từ năm 2009 và đà tăng tiếp tục diễn ra trong năm 2010

và 2011 CPI trong hai năm 2010 và 2011 lần lượt đạt ngưỡng cao ở mức 8,86% và 18,68% Thực tại đó, đã buộc Việt Nam đổi hướng chính sách tiền tệ từ mục tiêu ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ

mô Chính sách tiền tệ thắt chặt đã giúp tỷ lệ lạm phát giảm xuống trong năm 2012 còn 9,09%, năm 2013 còn 6,04% mức thấp nhấp trong vòng 10 năm qua

2.2.2 Môi Trường Pháp Lý

Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu

sự điều chỉnh của pháp luật Các hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) chịu sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà Nước, cụ thể trong từng thời kỳ tuân thủ những quy định về lãi suất,

dự trữ, hạn mức cho vay Mặt khác, các NHTM là các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, là lĩnh vực chứa đựng rủi ro rất lớn do vậy mà các ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các qui định của pháp luật NHNN căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để thực hiện điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm một số mục tiêu nhất định như ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế… Các ngân hàng thương mại là định chế trung gian, đóng vai trò phân phối luồng tiền lưu thông trên thị trường, lợi nhuận có được do phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí trên luồng tiền đó Do

đó, khi luồng tiền được phép lưu thông tăng hay giảm đều ảnh hưởng đến nguồn lợi nhuận cũng như khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng

Tác giả xin tổng hợp lại các quy định pháp luật quan trọng nhất như sau:

Trang 21

Bảng 2.2 Tóm tắt các văn bản pháp luật quan trọng

Luật 46/2010/QH12 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam

Nghị định 05/2010/NĐ-CP Quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ

Nghị định 69/2007/NĐ-CP Quy định về việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ

phần của NHTM Việt Nam Thông tư 08/2010/TT-

Quyết định

27/2008/QĐ-NHNN

Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành theo Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007

Trang 22

Quyết định 780/QĐ-NHNN Quy định về phân loại nợ với nợ được điều chỉnh

Nghị định 53/2013/NĐ-CP Quyết định thành lập công ty quản lý tài sản của

các tổ chức tín dụng Việt Nam Thông tư 19/2013/TT-

NHNN

Quy định về mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam Thông tư 20 /2013/TT-

NHNN

Quy định về cho vay tái cấp vốn của Công ty Quản

lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam Thông tư 15/2013/TT-

NHNN

Quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng

Thông tư

09/2014/TT-NHNN

Sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ các văn bản của NHNN

Theo nghị định 141/2006/NĐ-CP, hết năm 2008 các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng Tuy nhiên mới chỉ tới

Trang 23

gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141

Nghị định 10/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 141/2006/NĐ-CP, quy định mức vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đến hết ngày 31/12/2011 là 3.000 tỷ đồng Đến tháng 2 năm 2011, vốn điều lệ của các ngân hàng đã dần thấy có biến chuyển tăng trên hoặc ở mức 3.000 tỷ đồng Việc phải tăng vốn điều lệ trong thời gian quá ngắn khiến các tổ chức tín dụng gặp khá nhiều khó khăn trong việc tăng vốn

Quyết định số 254/QĐ-TTg về đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015 Qua đó NHNN tiến hàng đánh giá, xác định thực trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các TCTD để phân loại, xác định các TCTD yếu kém; trên cơ sở đó, ưu tiên xử lý trước phù hợp với nguồn lực, bảo đảm cơ cấu lại, xử lý những TCTD yếu kém nhưng vẫn giữ vững sự ổn định, an toàn của hệ thống Điều này buộc các TCTD phải tự tái cấu trúc, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất cũng được các ngân hàng chủ động tiến hàng trong giai đoạn này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình

Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, trong đó quy định nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của NHTM từ 8% lên 9% Việc ra đời Thông tư trên là một tín hiệu đáng mừng phản ánh quyết tâm của NHNN trong việc nâng cao hơn nữa khả năng bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng tiếp cận và áp dụng hệ thống chuẩn mực đánh giá an toàn ngân hàng theo Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel Trong những năm trở lại đây, sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn đã giúp các ngân hàng cải thiện đáng

kể năng lực tài chính và hệ số này Hệ số CAR của nhiều NHTM đã vượt 9% mà NHNN đặt ra tại Thông tư 13 Bên cạnh đó, Thông tư số 13 có hiệu lực từ ngày 1/10/2010, đây cũng là thời điểm các NHTM phải đáp ứng vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng (hạn chót là 31/12/2010) Nhưng vấn đề đặt ra là tử số (vốn tự có) tăng lên thì mẫu số (tài sản "có" rủi ro) không được tăng theo đây là vấn đề mà các NHTM sẽ gặp khó khăn

Trang 24

Nghị định 53/2013/NĐ-CP Công ty quản lý tài sản VAMC của các TCTD Việt Nam ra đời nhằm xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng của Việt Nam Theo đó, đến cuối tháng 8/2014, VAMC đã mua được 3.281 khoản nợ, với tổng dư nợ gốc hơn 56 nghìn tỷ đồng nợ xấu, giá mua hơn 46 nghìn tỷ đồng Đến nay, VAMC đã thu hồi được 1.462 tỷ đồng nợ xấu thuộc 31 TCTD Việc xử lý nợ xấu của VAMC tuy chưa hiệu quả nhưng phần nào cũng giúp các TCTD giảm gánh nặng nợ xấu trên bảng cân đối kế toán, có thêm thời gian và nguồn lực để xử lý nợ xấu cho chính mình Thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21 tháng 1 năm 2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập và sử dụng dự phòng rủi ro của các

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo chuẩn mới Thông tư 02 ra đời sẽ phơi bày thực chất hơn thực trạng nợ xấu, nợ xấu nhiều ngân hàng có thể tăng lên 10%, 20%, thậm chí cao hơn Các ngân hàng phải dồn nguồn dự phòng lớn

để xử lý nợ xấu, có thể thua lỗ, làm tăng chi phí và gây sức ép đối với lãi suất… Nhưng NHNN đã ban hành Thông tư 09 sửa đổi Thông tư 02 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, lùi một số điều khoản trong Thông tư 02 Việc lùi thời hạn hiệu lực đối với những quy định này sẽ làm giảm và trì hoãn áp lực về nợ xấu đối với các ngân hàng, qua đó, giúp các TCTD có thêm thời gian để điều chỉnh hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của mình theo hướng áp dụng từng bước các quy định trong thông tư 02 trước đây, đồng thời tránh được cú sốc về nợ xấu tăng đột biến và lợi nhuận kế toán sụt giảm mạnh Trong năm 2013, để tránh sự thay đổi đột ngột về

nợ xấu khi áp dụng thông tư 02, các ngân hàng đã tăng dần trích lập dự phòng, nâng dần tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng/Tổng dư nợ để cải thiện nguồn tiền để đối phó và xử lý nợ xấu sau này Đồng thời, tích cực sử dụng nguồn dự phòng để xử

lý nợ xấu và bán nợ xấu cho VAMC

2.2.3 Tăng Trưởng Tín Dụng

Trang 25

Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng tín dụng

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt kỷ lục vào năm 2007 lên đến 51,4% so với năm trước Trong một khoảng thời gian kéo dài, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam gấp ba đến bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP Nói một cách khác, tín dụng đã tăng trưởng quá nóng và đó là một tín hiệu không tốt trong việc điều hành của NHNN Tốc độ tăng trưởng trong ba năm gần đây đã giảm đáng kể Tín dụng năm

2012 tăng trưởng ở mức thấp kỷ lục, đây là lần đầu tiên kể từ năm 1992, mức tăng trưởng tín dụng ở một chữ số Nguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn, các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu

2.2.4 Lãi Suất Cho Vay và Huy Động

Trang 26

Biểu đồ 2.4: Lãi suất cho vay và huy động hàng năm

Nguồn: Wordbank

Diễn biến lãi suất ở Việt Nam kể từ năm 2007 đã trải qua nhiều thay đổi, đặc biệt là giai đoạn từ 2007 đến 2012 Lãi suất cho vay và huy động trung bình hàng năm từ mức thấp, lần lượt ở mức 7,5% và 11,3% năm 2007, đã lên cao tới 14% và 17% tương ứng năm 2011 Lãi suất cho vay và huy động không phải luôn luôn di chuyển song song, khiến cho lợi nhuận biên trung bình (lãi suất cho vay - lãi suất huy động) dao động từ 1,9% năm 2010 đến 3,7% năm 2007

Với nỗ lực của chính phủ nhằm bình ổn kinh tế bằng cách điều chỉnh lãi suất, quy định trần lãi suất huy động, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu… diễn biến lãi suất dường như đã ổn định hơn và mức lãi biên đã ổn định dần kể từ 2011 Trong năm 2013, do tăng trưởng tín dụng đã khá chậm, tỷ suất này đã tăng lên một ít Lãi suất huy động giảm đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm mạnh lãi suất cho vay để chia sẻ khó khăn đối với các doanh nghiệp

Lãi Suất Cho Vay Và Huy Động Hàng Năm

Lãi Suất Cho Vay Lãi Suất Huy Động Chênh Lệch Lãi Suất

Trang 27

2.2.5 Tỷ Lệ Nợ Xấu

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng qua các năm

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia

Tỷ lệ nợ xấu tăng liên tục từ năm 2009 đến nay cho thấy sự yếu kém trong quản trị rủi ro của các ngân hàng và quản lý lỏng lẻo của NHNN trong việc xử lý các nguyên nhân gây ra nợ xấu Gần đây nhất cho thấy nổ lực cố gắng của NHNN nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu xuống là việc thành lập công ty quản lý tài sản VAMC vào ngày 26/7/2013 Tính đến ngày 31/12/2013, VAMC đã mua được 38.900 tỷ đồng

nợ xấu tính theo giá trị sổ sách

Xử lý nợ xấu đang là một yêu cầu đặt ra không chỉ với bản thân của mỗi tổ chức tín dụng mà còn cả toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Nợ xấu lớn như hiện nay cũng đã làm ách tắc dòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực không chỉ với các ngân hàng mà còn cả các doanh nghiệp Do bị đọng vốn trong nợ xấu, các ngân hàng không có điều kiện mở rộng tăng trưởng tín dụng, khiến cho hoạt động sản xuất của nền kinh tế gặp khó khăn Xử lý được nợ xấu sẽ góp phần hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lành mạnh và

Trang 28

góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng bền vững

2.3 Thực trạng các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng

thương mại niêm yết hiện nay

2.3.1 Kết quả hoạt động và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại

niêm yết

Trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013 hoạt động của các ngân hàng niêm yết diễn biến theo chiều hướng tốt, kinh doanh đều có lãi, tiền gửi và dư nợ đều tăng qua các năm Tuy nhiên lợi nhuận các ngân hàng đã giảm nhanh từ năm

2011 do diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế vĩ mô, trong giai đoạn này các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước là Ngân hàng Công Thương Việt Nam Vietinbank, và Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Vietcombank và ngân hàng Quân Đội MBbank hoạt động tương đối tốt và ổn định trong khi đó các ngân hàng còn lại lợi nhuận sụt giảm rất nhiều Năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, gây ra không ít khó khăn đối với các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng của Việt Nam tuy nhiên các ngân hàng niêm yết vẫn đạt được mức tăng trưởng đáng kể Tăng trưởng lợi nhuận trung bình của các ngân hàng niêm yết năm 2008 là 46% năm 2009 đạt kỷ lục 59% nổi bật nhất trong trong hai năm trên là ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Eximbank, ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Vietinbank và ngân hàng TMCP Quân Đội MB Đến cuối năm 2013 Về tỷ lệ nợ xấu trong bối cảnh ngành ngân hàng đang đối diện với diễn biến khó lường của nợ xấu thì nhìn chung các ngân hàng đều duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3% qua các năm ngoại trừ Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội có tỷ lệ nợ xấu tương đối cao vào năm 2012 là 8,8% và

2013 là 4,06% do do việc sát nhập Ngân hàng TMCP Habubank và phải gánh chịu khoản nợ xấu sau khi sát nhập ngân hàng này vào Trong thời gian tới kết quả hoạt động của ngành ngân hàng sẽ phù thuộc rất nhiều vào việc giải quyết vấn đề nợ xấu

Trang 29

Biểu đồ 2.6 Tỷ suất sinh lợi trung bình của các ngân hàng niêm yết

Nguồn: theo tổng hợp của tác giả

Theo bảng phụ lục 4, 5, 6 và biểu đồ 2.6 thì tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết đang có dấu hiệu giảm dần qua các năm Tỷ suất sinh lợi trung bình của các ngân hàng niêm yết cao nhất là năm 2007, ROA đạt 1,98% và ROE đạt 21,79% và thấp nhất vào năm 2013 ROA đạt 0,91% và ROE đạt 10,88% Năm 2013 chứng kiến sự sụt giảm mạnh của ROA và ROE của các ngân hàng niêm yết mà nguyên nhân chủ yếu là do lợi nhuận suy giảm và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và vốn chủ sở hữu nhanh hơn nhiều so với lợi nhuận Trong các ngân hàng niêm yết thì ACB là ngân hàng có mức suy giảm tỷ suất sinh lợi cao nhất Từ mức cao nhất trong các ngân hàng niêm yết, vào năm 2007 ROE của ngân hàng ACB đạt mức 42,8% và ROA đạt mức 2,72% chỉ đứng sau Sacombank là 3,13% và giảm qua các năm Đến năm 2013 thì ROE chỉ còn 6,57% cao hơn Eximbank đạt 4,32% còn

Trang 30

ROA chỉ đạt 0,48% mà nguyên nhân chính là do nợ xấu của ACB tăng nhanh Các ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, MBbank nhìn chung tỷ suất sinh lợi biến động ít hơn và ổn định như Vietcombank ROA vào ROE cao nhất vào năm 2009 đạt lần lượt là 1,65% va 25,74% và thấp nhất vào năm 2013 là 1,05% và 12,33% Trong những năm gần đây 2013 và 2013 chứng kiến sự sụt giảm lợi nhuận nghiêm trọng của các ngân hàng ACB, Eximbank, SHB kéo theo tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng này rất thấp trong các ngân hàng niêm yết

2.3.2 Các yếu tố bên trong

2.3.2.1 Quy mô ngân hàng

Quy mô các ngân hàng của Việt Nam hiện nay là rất nhỏ so với các ngân hàng nước ngoài điều này làm giảm đi tính cạnh tranh trong quá trình hội nhập hiện nay, tuy nhiên để tối đa hóa lợi nhuận các ngân hàng cần lựa chọn một quy mô vốn tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận Điều này chứng tỏ rằng quy mô ngân hàng có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi nhuận cũng như tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Với thực tế thị trường Việt Nam hiện nay, vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu điển hình là sự tăng trưởng tín dụng nhanh trong giai đoạn năm 2007 đến năm

2010 dẫn đến sự tăng trưởng của tổng tài sản và lợi nhuận, thực tế cũng cho chúng

ta thấy trong giai đoạn này tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết rất cao, kỳ vọng mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và quy mô ngân hàng sẽ cùng chiều Theo phụ lục 4 thì tổng tài sản của các ngân hàng niêm yết nhìn chung tăng khá nhanh nhưng so với các ngân hàng nước ngoài thì các ngân hàng niêm yết của Việt Nam quá nhỏ bé Vietinbank có tốc độ tăng trưởng tài sản trung bình nhanh nhất tính đến 12/2013 thì tổng tài sản của Vietinbank là cao nhất trong các ngân hàng niêm yết đạt hơn 28 tỷ USD, Vietcombank hơn 23 tỷ USD, MBbank gần 9 tỷ USD, ACB hơn

8 tỷ USD, Sacombank gần 8 tỷ USD, Eximbank hơn 8 tỷ USD, SHB hơn 7 tỷ USD Tổng tài sản của Agribank, ngân hàng lớn nhất Việt Nam cũng chỉ đạt khoảng 35 tỷ USD trong khi đó theo phụ lục 8 tổng tài sản của các ngân hàng nước ngoài như: Ngân hàng Công Thương Trung Quốc lên đến 3.125 tỷ USD, ngân hàng HSBC là

Trang 31

830 tỷ USD, ngân hàng Bangkok của Thái Lan là 78 tỷ USD, ngân hàng OCBC của Singapore là 278 tỷ USD Tổng tài sản của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam quá nhỏ sẽ ảnh hưởng đến việc mở rộng thị phần ra nước ngoài bằng chứng gần đây nhất là sự thất bại của BIDV trên đất Myanmar mà nguyên nhân chính là tổng tài sản ngân hàng này quá bé Vì thế, tổng tài sản sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh cũng như quy mô của các ngân hàng niêm yết của Việt Nam vẫn chưa đạt đến mức

độ tối ưu từ đó ta thấy được quy mô ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam

2.3.2.2 Vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn vô cùng quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng, tuy nhiên việc sử dụng vốn chủ sở hữu cao sẽ làm giảm tác dụng của đòn bẩy tài chính Các ngân hàng thương mại trong nước đã có cuộc đua tăng vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu trong các năm vừa qua theo yêu cầu của NHNN nhằm đảm bảo năng lực tài chính, giữ thị phần trước sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam Yêu cầu tăng vốn đối với các ngân hàng Việt Nam chủ yếu xuất phát từ quy mô về tài sản và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Việt Nam là quá nhỏ so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới Các ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu cho mục đích đầu tư tăng năng lực hạ tầng (đầu

tư xây dựng trụ sở, đầu tư cho công nghệ, mở rộng mạng lưới hoạt động…) và tăng vốn để tăng năng lực tài chính nhằm nâng cao cạnh tranh và đảm bảo các hệ số an toàn vốn (hệ số CAR) đáp ứng cho việc ngân hàng tăng trưởng nóng tín dụng và tài sản có rủi ro khác trong tổng tài sản Theo phụ lục 4 thì về tốc độ tăng vốn chủ sở hữu nhanh nhất vẫn là Vietinbank năm 2007 đạt hơn 10 ngàn tỷ đồng đến năm 2013 đạt hơn 54 ngàn tỷ đồng tiếp theo là Vietcombank từ hơn 13 ngàn tỷ đồng năm

2007 và đạt hơn 42 ngàn tỷ đồng năm 2013 Các ngân hàng niêm yết còn lại tốc độ tăng vốn thấp hơn so với Vietinbank và Vietcombank Eximbank hơn 6 ngàn tỷ đồng vào năm 2007 đến năm 2011 đạt 16,3 ngàn tỷ đồng sau đó giảm còn 14,6 ngàn

tỷ đồng vào năm 2013, ACB cũng tương tự vốn chủ sở hữu năm 2012 đạt 12,8 ngàn

Ngày đăng: 02/02/2016, 15:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tóm tắt một số thông tin về các ngân hàng niêm yết - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.1 Tóm tắt một số thông tin về các ngân hàng niêm yết (Trang 17)
Bảng 2.2 Tóm tắt các văn bản pháp luật quan trọng - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.2 Tóm tắt các văn bản pháp luật quan trọng (Trang 21)
Bảng 2.2 Tóm tắt các biến và mối tương quan kỳ vọng giữa các biến độc lập và  các biến phụ thuộc - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.2 Tóm tắt các biến và mối tương quan kỳ vọng giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc (Trang 43)
Bảng 2.6: Kết quả kiểm định Glejser của mô hình hồi quy 1 - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.6 Kết quả kiểm định Glejser của mô hình hồi quy 1 (Trang 48)
Bảng 2.8: Kết quả kiểm định Glejser của mô hình hồi quy 2 - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.8 Kết quả kiểm định Glejser của mô hình hồi quy 2 (Trang 49)
Bảng 2.9: Tổng hợp các kết quả kiểm định. - Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Bảng 2.9 Tổng hợp các kết quả kiểm định (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w