1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2

61 582 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hồi Và Tái Chế Chất Thải Rắn Các Trạm Trung Chuyển
Trường học Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải
Chuyên ngành Quản lý Chất Thải Rắn
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 413,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động tái chế mang lại những lợi ích sau: - Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế thay cho vật liệugốc; - Giảm lượng rác thông qua việc giảm chi phí

Trang 1

Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác, xử lý

trung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm khác

Tái chế nhiệt: bao gồm các hoạt động khôi phục năng lượng từ rác thải.

Củng có thể coi hoạt động tái chế như hoạt động tái sinh lại chất thải thông qua:

Tái sinh sản phẩm chuyển hóa hóa học: chủ yếu dùng phương pháp đốt để thành các sản

phẩm khí đốt, hơi nóng và các hợp chất hữu cơ

Tái sinh các sản phẩm chuyển hóa sinh học: chủ yếu thông qua quá trình lên men, phân

hủy chuyển hóa sinh học, để thu hồi các sản phẩm như: phân bón, khí mêtan, protêin, các loạicồn và nhiều hợp chất hữu cơ khác

Tái sinh năng lượng từ các sản phẩm chuyển hóa: từ các sản phẩm chuyển hóa bằng quá

trình sinh học, hóa học có thể tái sinh năng lượng bằng quá trình đốt tạo thành hơi nước vàphát điện

Hoạt động tái chế mang lại những lợi ích sau:

- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế thay cho vật liệugốc;

- Giảm lượng rác thông qua việc giảm chi phí đổ thải, giảm tác động môi trường do đổthải gây ra, tiết kiệm diện tích chôn lấp;

- Một lợi ích quan trọng là có thể thu lợi nhuận từ hoạt động tái chế; hoạt động tái chế lúcnày sẽ mang tính kinh doanh và vì thế có thể giải thích tại sao các vật liệu có thể tái chếhiện được thu gom ngay từ nguồn phát sinh cho tới khâu xử lý và tiêu hủy cuối cùng

6.2 CÁC HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ VÀ THU HỒI CHẤT THẢI

1

Trang 2

-Hoạt động tái chế và thu hồi chất thải được thực hiện thông qua hệ thống thu gom chất thảirắn theo mạng lưới 3 cấp gồm: người thu gom, đồng nát và buôn bán phế liệu (hình 6.1).Công nghiệp thu hồi có 3 cấp được chia thành 6 nhóm nghề:

1 Cấp thứ nhất (gồm người đồng nát và người nhặt rác): Hai nhóm người này có cùngchức năng trong hệ thống thu gom, nhưng lại khác nhau về địa điểm hoạt động, công

cụ làm việc và nhu cầu vốn lưu động

2 Cấp thứ hai (gồm những người thu mua đồng nát và người thu mua phế liệu từ ngườithu nhặt tại bãi đổ rác, người nhặt rác và đồng nát trên vỉa hè trong toàn thành phố):Những người thu mua phế liệu này củng tiến hành theo cách tương tự tại những nơi cốđịnh

3 Cấp thứ ba: gồm những người buôn bán hoạt động kinh doanh với quy mô lớn hơn ởnhiều địa điểm cố định và các đại lý thu mua thường là điểm nút đặc biệt trong buônbán như các bên trung gian giữa các ngành công nghiệp và người bán lại

Tùy thuộc vào vị trí, nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thành phần chất thải mà lựachọn các phương pháp tái sinh khác nhau

Các loại chất thải rắn và xỉ không thể sử dụng được nữa được đổ ở bãi chôn lấp hoặc đổxuống biển

Tất cả các vật liệu trước và sau khi sử dụng có thể cần cho hoạt động kinh doanh, có trongrác thải đô thị như các chất hữu cơ, kim loại, nhựa, giấy, kinh v.v… được gọi là “vật liệu cóthể tái chế”

Hoạt động tái chế củng cần chi phí để thu gom, vận chuyển, chế biến và ngăn chặn các tácđộng tiêu cực lên môi trường do quá trình tái chế gây ra, do đó, nếu như chi phí tái chế caohơn lợi ích tái chế thì lúc đó hoạt động tái chế không được coi là hoạt động kinh doanh Nếuchi phí tái chế thấp hơn lợi ích tái chế thì hoạt động tái chế được coi là hoạt động kinh doanh

Sơ đồ hệ thống thu hồi các chất và dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu được thể hiện ở hình6.2

2

Trang 3

Nhóm thu mua phế liệu

Nhóm buôn bán

và sử dụng lại phế liệuĐội quân bới

rác tại bãi rác

Thu mua tại bãi đổ rác

Đội quân nhặt rác lưu động

Thu mua đồng nát tại kho chứa

Các cơ sở sản xuất ngành công nghiệp

Đại lý và những người buôn bán

Những người mua đồng nát lưu động

Hoạt động thu mua dọc đường phố

Xuất khẩu

Trang 4

4

-Tác độngmôi trường Tiêu hủy cuối cùng(chôn lấp)

Môi trường

toàn cầu

(hệ sinh thái)

Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên kinh tế

Sản xuấtPhân phốiTiêu dùng Chất thải

Tái chế

Xử lý trung gian

“Xử lý tốt hơn” (tái chế)

Hoạt động kinh tế

“kinh tế thị trường”

Các nguồn tài nguyên tái chế

Tái sản xuất

Các tác động môi trường

Tài nguyên có thể tái chế

Hình 6.2a Dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu

Trang 5

Để tính lợi ích tái chế, người ta sử dụng công thức:

PV 1 – PV 2 : chênh lệch về chi phí giữa vật liệu thô

CVE 1 + CVU 1 - CRE 1 : chênh lệch chi phí bên ngoài

CCW 1 – CCR 1 : chênh lệch chi phí thu gom

CDW 1 : chi phí tiết kiệm đổ thải rác

Nếu kết quả tính theo phương trình (6.2) dương thì có nghĩa hoạt động tái chế mang lạihiệu quả, còn nếu kết quả ngược lại thì có nghĩa là hoạt động tái chế không mang lại hiệuquả

Ở một số nước như Nhật Bản, các hoạt động tái chế được dựa trên cơ sở tính toán lượng rácsản sinh ra, chi phí đổ thải và tỉ lệ tái chế Các hoạt động tái sử dụng , quay vòng và thu hồichất thải là một trong những giải pháp có hiệu quả về mặt chi phí xử lý và tiêu hủy chất thải,củng như bảo vệ được nguồn lực cho các hoạt động này Sự thay đổi về tổng lượng rác đô thị(rác thường) phát sinh ở Nhật Bản được minh họa ở hình 6.3 Tỷ lệ phát sinh chất thải trungbình tại Nhật Bản là 1kg/người.ngày Thay đổi về tổng chi phí đổ thải rác ở Nhật Bản đượcminh họa trong hình 6.4

Các hoạt động tái chế rác thải ở Nhật Bản được hỗ trợ bởi hệ thống luật và quy định củanhà nước bao gồm:

- Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970);

- Luật quản lý rác thải (1992);

- Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế (1991);

- Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996);

- Luật tái chế thiết bị điện (1998)

Theo con số thống kê tại Nhật Bản năm 1995 có khoảng 50% giấy loại được thu hồi và táichế; 100% các chai thủy tinh và 75% số lượng đồ hộp vỏ kim loại và nhôm được thu hồi và

5

Trang 6

-tái chế Hình 6.5 thể hiện lượng các thành phần thu hồi và -tái chế từ rác thải thông thườngtrong vòng 10 năm từ 1985 – 1995 tại Nhật Bản.

Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Đức (Duales System Deutschland), được minh họa ởhình 6.6 Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Pháp được minh họa ở hình 6.7 Chỉ số quản lýrác thải ở một số nước được thể hiện ở bảng 6.1

6

-Chính quyền địa phương

Đốt rác,chôn lấp

Hệ thống tái chế chất thải

Tái chế

Các công ty sản xuất và bán

Đốt, chôn lấpTái chế

Rác thải bao bìChất thải khác

- Áp dụng chi phí thu gom và tái chế

Hìn 6.7 Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Pháp

Trang 7

Bảng 6.1 Chỉ số quản lý rác thải ở một số nước trên thế giới năm 1992

Tên nước Dân số

(triệu)

Thu nhậpquốc nộiGDP(USD)

Chất thải(kg/người.năm)

Chônlấp(%)

Đốt(%)

Ủsinh học(%)

Thu hồitái chế(%)

- Axit hay kiềm

- Dung môi, dầu;

6.3 THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT DẺO

Ở Việt Nam các sản phẩm chất dẻo bắt đầu thâm nhập vào cuộc sống từ những năm 1960 Một số vật dụng gia đình trước đây chế tạo từ tre, nứa, sợi tự nhiên… lần lượt được thay thế bằng nhựa Bao gói thực phẩm bằng lá cây, giấy đã được thay thế bằng plastic

7

Trang 8

-Trong công nghiệp và xây dựng, vật liệu plastic cũng chiếm lĩnh thị trường trong nhiều lĩnhvực như cấp thoát nước , trang trí…

Vật liệu plastic đã góp phần nâng cao mức độ văn minh của cuộc sống nhưng cũng đặt ra không ít những vấn đề rắc rối liên quan đến công tác bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, dù bị chỉ trích nhiều nhưng vật liệu plastic vẫn được sử dụng rộng rãi do tính ưuviệt của nó cả về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật Với những tính năng ưu việt đó, plastic dẫn đầu so với những vật liệu cạnh tranh với nó trong lĩnh vực bao gói như thủy tinh, năng lượng cần thiết cho việc tạo ra nó củng nhỏ hơn 2 lần, khối lượng vật liệu ban đầu cần thiết để tạo ra nó củng thấp hơn 20 lần, nhu cầu nước cần cho chế tạo giảm đi 1,5 lần và chất thải rắn giảm đi một nữa Mặt khác, so với túi xách catton thì quá trình chế tạo túi xách plastic thải ít ô nhiễm hơn đối với môi trường như trình bày ở bảng 6.2

Bảng 6.2 So sánh mức độ ô nhiễm trong quá trình chế tạo chất dẻo và giấy

Tính bền vững của chất dẻo dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của chúng trong thiên nhiên sau khi

sử dụng Để phân rã sinh hoạt hoàn toàn plastic có nguồn gốc từ hóa dầu ngày nay cần cómột thời gian từ 2 – 4 thế kỷ

Những vấn đề đặt ra khi thu gom và tái chế vật liệu chất dẻo:

Mặc dù chất dẻo hiện đang là vật liệu được ưa chuộng và có nhiều hứa hẹn trong tương lainhưng chúng cũng đồng thời đang bị các nhà môi trường phản đối do mức độ gây ô nhiễmtrong quá trình chế tạo, sử dụng và tiêu hủy Các nhà môi trường phản đối vật liệu plastic vìnhững lý do sau đây:

- Chất độc thải ra trong quá trình chế tạo plastic;

8

Trang 9

Chất độ do phân hủy nhiệt plastic gây ra khi đốt rác;

- Làm giảm lượng chất thải rắn, đặc biệt là chất lượng phân compost chế tạo từ rác

Tuy nhiên việc thu gom plastic để tái sử dụng hay tiêu hủy chúng cùng với các thành phầnchất thải rắn khác củng cần phải được cân nhắc trên khía cạnh kinh tế hơn là khía cạnh kỹthuật Khả năng tái sinh chất dẻo được xác định trên cơ sở phân tích tổ hợp các thông số sauđây:

- Cân bằng năng lượng tổng thể, yêu cầu năng lượng để thu gom và tiêu hủy chất thải;

- So sánh chất lượng, giá thành vật liệu chất dẻo thu gom;

- Ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình chuyên chở và tiêu hủy chất thải rắn;

- Ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là nước để rửa sản phẩm và lọc khói

Theo kết quả của bảng này thì việc thu gom để tái chế chất plastic từ túi xách đã qua sửdụng và chai lọ nhựa có hiệu suất năng lượng xấp xỉ nhau Trong khi đó, nếu xử lý bằngphương pháp đốt thì hiệu suất năng lượng của chai nhựa PVC chỉ bằng khoảng 50% hiệu suấtnăng lượng của túi xách

Tuy nhiên việc thu gom chất dẻo hiện nay chưa cho phép tạo ra sản phẩm nhựa tái sinh có

tỉ lệ chất lượng, giá thành tương đương với kỹ thuât chế tạo sản phẩm từ hạt nhựa nguyênthủy Việc thu gom chất dẻo chủ yếu để tái chế làm giảm năng lượng thu hồi bằng bằngphương pháp đốt rác Việc thu gom này chỉ có hiệu quả ở các bãi rác công nghiệp hay bãi rácthương mại Ngoài ra, ở các bãi rác khác người ta phải tiêu tốn một năng lượng đáng kể đểthu được một khối lượng chất dẻo có giá trị

Vấn đề tập trung thu hồi và xử lý các chất thải polyme – chất dẻo đòi hỏi phải giải quyếtngay trong điều kiện sản xuất nơi có nhu cầu chất dẻo Thực tế có hai hướng:

1 Xử lý chế biến lại từng loại chất dẻo polyme ngay trong điều kiện sản xuất, ở đây chủyếu đối với các loại chất dẻo dùng phản ứng nhiệt

2 Thu hồi tập trung các chất thải và vận chuyển tới nhà máy đặc biệt để chế biến sảnphẩm xác định Vấn đề sử dụng chất thải là vật liệu polyme với công nghệ và tính kinh

tế càng trở nên phức tạp khi phải kể đến việc cải thiện tính chất của vật liệu chất dẻonhư: bền vững đối với quá trình oxy hóa, bền vững sinh học, cơ học… Những vật liệunày không bị phân hủy tự nhiên(thối rữa, phong hóa, tan trong nước) mà dùng biệnpháp phân hủy cưỡng bức (đốt, sấy nóng, tàng trử một nơi) thì lại gây nhiễm bẫn môi

9

Trang 10

-trường và do đó giá thành phá hủy lại cao hơn nhiều từ 6 – 8 lần so với chi phí xử lý vàphá hủy các chất thải của đa số các xí nghiệp công nghiệp khác.

Tốt nhất nên sử dụng chất thải polyme ở dạng làm nguồn nguyên liệu bổ sung Việc ứngdụng công nghệ khả thi để chế biến nguyên liệu polyme thứ cấp sẽ cho phép thỏa mãn cácnhu cầu của nền kinh tế quốc dân về loại vật liệu này

Những nguồn chủ yếu của nguyên liệu polyme để sử dụng làm nguyên liệu thứ cấp là cácchất thải công nghệ khi chế biến chất dẻo và tạo sản phẩm bằng phương pháp cơ học, hoặccác sản phẩm đã hao mòn bỏ đi rồi hoặc bán thành phẩm bỏ đi (phim, thùng, hộp…)

Việc chế biến thứ cấp có đặc điểm riêng và là một quá trình công nghệ phức tạp nhiều cấp.tất nhiên việc chế biến lại lần hai cũng liên quan với việc tổng hợp polyme và tạo sản phẩmlần đầu, liên quan tới phương hướng sử dụng tiếp theo Do vậy giải quyết nhiệm vụ này phảigắn liền giữa tập trung – chế biến lại lần hai với việc sử dụng tiếp và sao cho nhuần nhuyễn.Khi giải quyết vấn đề sử dụng lại vật liệu polyme phải chia ra nhiều bước sau đây:

1 Tổ chức thu hồi tập trung các phế thải polyme trong công nghiệp

2 Nhận dạng chính xác và nhanh chóng các loại phế thải phế thải nhằm mục đích thuthập phế thải phù hợp với chủng loại vật liệu ban đầu

3 Tạo lập sơ đồ mới và hoàn thiện các sơ đồ công nghệ có sẵn, thiết bị có sẵn để chếbiến lại lần hai

4 Phân tích kinh tế một cách cẩn thận về các phương pháp gia công chế biến khác nhau

6.4 THU HỒI VÀ CHẾ BIẾN CÁC SẢN PHẨM CAO SU

Trong công nghiệp chế tạo máy, việc sử dụng các sản phẩm cao su kỹ thuật rất đa dạng.Trong đó phức tạp chủ yếu nhất là giải quyết vấn đề sử dụng các sản phẩm bỏ đi và cũ khôngdùng nữa Mặc dù cao su được sử dụng ở các thiết bị công nghệ các loại, nhưng tỷ lệ vềlượng thì lại rất thấp so với khối lượng của sản phẩm

Để lấy miếng cao su từ trong kết cấu ra, đôi khi phải tháo dỡ các nút và các chi tiết ra.Thông thường các công tác tháo dỡ khá lớn nên giá trị thu hồi không đáng kể Vì vậy khithiết bị đã hỏng đi thì người ta đưa ra đống sắt vụn mà không phân chia các bộ phận riêng rẽđược Chính do sự tản mạn của các sản phẩm từ cao su trong toàn bộ khối lượng thiết bị nên

nó gây khó khăn cho việc tổ chức thu nhặt nguyên liệu thứ cấp

Vấn đề tổ chức thu nhặt có ý nghĩa rất quan trọng Việc tàng trử các chất thải cao su kỹthuật của các sản phẩm lớn như: săm lốp otô, băng chuyền, ống cao su mềm mang tính chất

10

Trang 11

-lẻ tẻ, vụn vặt mà số lượng không nhiều, xảy ra tình trạng cấm không được giao đồ cao su mớicho xí nghiệp công nghiệp nếu họ không giao nộp lại đồ cũ Tuy nhiên không phải lúc nàocũng thực hiện được vì khó khăn trong việc giao nộp tập trung và không có mạng lưới giaonộp tập trung và không có mạng lưới tổ chức thu hồi thiết bị cao su Việc vận chuyển mộtlượng nhỏ chất thải trên một khoảng cách dài thì lại không lợi cho xí nghiệp Vì vậy việc tậptrung hóa công tác gia công sơ bộ các chất thải sản xuất phải xét đến hệ thống thu nhặt cao sucũ.

Trong trương hợp đang xét thì không thể dùng lực lượng của người tiêu thụ, sử dụng đểhoàn nguyên các chất thải cao su kỹ thuật được, bởi vì công nghệ phục hồi tính chất ban đầucủa cao su là một quá trình phức tạp nhiều giai đoạn đòi hỏi ở các trạm với thiết bị chuyêndùng cũng như cán bộ được đào tạo chuyên môn Công việc đó chỉ có thể thực hiện trongđiều kiện của xí nghiệp chế tạo săm lốp hoặc công nghiệp cao su kỹ thuật Hoàn nguyên cao

su là một hướng cơ bản và có lợi nhất trong việc gia công lại các sản phẩm bỏ đi bởi vì chocao su hoàn nguyên vào lẫn với hỗn hợp cao su thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều cao su mới vàcác thành phần phụ gia khác, ta biết trong các loại cao su có tới 5 – 6 đến 20 thành phần chấtliệu khác nhau

Quá trình hoàn nguyên bao gồm: công đoạn chuyển hóa cao su thành vật liệu đàn hồi dẻorồi tiếp theo là xử lý kỹ thuật và quá trình lưu hóa Trước khi đưa cao su vào hoàn nguyênngười ta phải phân loại theo sản phẩm, theo dạng và lượng Sau khi loại kim loại và các tạpchất khác khỏi cao su, người ta nghiền nó thành bột tới mức nhất định nào đó và giải phóng

ra các mẫu kim loại đen

Thực tiễn cho thấy tốt nhất nên thực hiện nghiền sơ bộ trong môi trường nitơ lỏng với nhiệt

độ -30 và -60 Cao su trở nên giòn và dễ tách khỏi kim loại Kim loại vẫn giữ tính đàn hồi,tính dẻo và không bị phá hủy, do đó cho phép thu hồi dễ dàng và hoàn toàn Hỗn hợp thuđược sẽ qua khử lưu huỳnh, chuyển thành bán sản phẩm dẻo Cao su hóa dẻo có cấu trúckhông gian 3 chiều do các phân tử cao su tạo thành dưới ảnh hưởng của nhiên liệu, nồng độoxy và các tác động cơ học Sự phá hủy các liên kết hấp phụ của muội – cao su – muội củngtạo khả năng hình thành sản phẩm phân hủy phân tử thấp Người ta thực hiện khử lưu hóacao su trên cơ sở cao su tổng hợp với sự có mặt của các chất làm mềm, làm giảm tác độngtương hỗ giữa các phân tử trong cao su hoặc cho thêm một ít chất hoạt hóa (0,25 – 3,0%) là

11

Trang 12

-chất cho phép rút ngắn thời gian quá trình và chi phí -chất làm mềm và tăng tính dẻo, đàn hồicủa chất đã hoàn nguyên.

Khử lưu hóa cao su có thể được tiến hành tùy thuộc tính chất của cao su khi sử dụng cácphương pháp khác nhau Khi dùng các phương pháp khác: hơi, trung hòa nước, kiềm… thìngười ta thực hiện khử lưu hóa cao su ở nhiệt độ 150 – 200oC với sự có mặt của oxy khôngkhí trong một số giờ

Khi hoàn nguyên bằng các phương pháp cơ nhiệt để khử lưu hóa diễn ra dưới ảnh hưởngcủa nhiệt độ 170oC và nhiều tác động cơ học khác trong vòng 1 – 15 phút Ở Liên Xô người

ta nghiên cứu đề ra quá trình hoàn nguyên cao su bằng cách phân tán trong môi trường nướcchứa nhũ tương Khối lượng phân tán sẽ hình thành sẽ được keo tụ và sấy khô Sản phẩm thuđược có tính dẻo tốt Tính chất bền chắc của cao su chế tạo bằng phương pháp này gần vớicác thông số tương tự của cao su ban đầu

Giai đoạn cuối cùng của quá trình hoàn nguyên cao su là làm sạch khối lượng đã thu đượckhỏi các tạp chất lẫn vào và sử dụng cao su khi sản xuất các hỗn hợp công tác để lưu hóa Sơ

đồ công nghệ tái chế lốp cao su được thể hiện ở hình 6.8

6.5 THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CÁC SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP KHÁC

Sử dụng Công nghệ nặng Sử dụng

Hình 6.8 Công nghệ tái chế lốp cao su

Trang 13

Sơ đồ thu hồi và tái chế các sản phẩm khác như bóng đèn hỏng từ các nhà máy chế tạo bóngđèn, dầu thải từ các xí nghiệp công nghiệp cơ khí, chế tạo hoặc trung tâm dịch vụ sửa chữa

xe, máy… được thể hiện ở hình 6.9 và hình 6.10

Chế tạo bóng mới

Sản xuất bóng đèn

Hình 6.9 Tái chế bóng đèn ống tại Brazin

Trang 14

6.6 THU HỒI NĂNG LƯỢNG TỪ CHẤT THẢI

Hoạt động thu hồi năng lượng từ quá trình xử lý trung gian mà chủ yếu là từ quá trình đốt

và quá trình ủ sinh học (bảng 6.3)

- Giảm khối lượng

- Thu hồi năng lượng (nhiệt và điện)

- Giữ ổn định các chất độc hại trong rác

Tách dầu nhẹ Nhiên liệu

Xử lý nước Loại bỏ

Hình 6.10 Công nghệ thu hồi dầu thải ở Hồng Kông

Trang 15

Refuse Derived Fuel (RDF) là loại nhiên liệu thu từ rác thải có thể đốt được giống như than(hình 6.10).

Xử lý rác thải sinh hoạt để sử dụng làm nhiên liệu cho các nồi chưng để tạo hơi nước điện

Ưu điểm của công nghệ thu hồi nhiên liệu mới từ rác là:

- Dễ lưu trữ;

- Dễ vận chuyển;

- Giá trị nhiệt lượng cao (3000 – 5000 kcal/kg)

- Chất lượng đồng nhất;

- Không sử dụng lò đốt tại nguồn phát sinh;

Tuy nhiên, công nghệ thu hồi nhiên liệu mới từ rác củng còn những bất lợi sau:

Bản thân nhiên liệu vẫn ở dạng rác thải, vì vậy khi đốt chúng cũng tương tự như đốt rác vàcần phải có phương pháp thu gom, xử lý lượng khí thoát ra Việc đầu tư nhà máy loại này rẻhơn lò đốt nhưng đòi hỏi chi phí cho các trang thiết bị sử dụng loại nhiên liệu này Quá trìnhthu hồi nhiên liệu (RDF) từ rác thải đô thị được thể hiện ở hình 6.10b

Công nghệ thu hồi khí và nung chảy dựa trên nguyên tắc sử dụng khí đốt thu hồi từ quátrình nung chảy và đồng thời tái thu kim loại không chứa oxyt – đây là loại kim loại có giá trịcao Tuy nhiên hệ thống này rất đắt vì phải trang bị lò đốt thông thường kèm theo hệ thốngnung chảy Sơ đồ hệ thống tạo khí và nung chảy được thể hiện ở hình 6.11

15

-Tách loại lần 1

Tách loại lần 2

Nghiền lần 1

lần 3

Nghiền lần 2

Trang 16

6.7 HOẠT ĐỘNG THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI TẠI VIỆT NAM

ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng giatăng mạnh mẽ tại vùng kinh tế trọng điểm đã làm nảy sinh nhiều vấn để nan giải trong côngtác bảo bệ môi trường Bên cạnh những khó khăn nhất định trong việc triển khai các biệnpháp kỹ thuật và công nghệ xử lý nước thải, khí thải thì chất thải rắn đang thật sự là một mối

đe dọa lớn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng vì lượng thải ngày càng tăng đặc biệt

là các chất thải nguy hại ngày càng phong phú về cả số lượng lẫn chủng loại

Tình trạng thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công chưa đáp ứng yêu cầu hiện naycũng là một nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, vệ sinh

đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị và sức khỏe cộng đồng

Theo con số thống kê từ các tỉnh, thành phố, từ năm 1996 – 1999, lượng chất thải rắn bìnhquân khoảng từ 0,6kg/người.ngày – 0,8 kg/người.ngày Ở một số đô thị nhỏ, lượng chất thảirắn phát sinh dao động từ 0,3 – 0,5 kg/người.ngày

Lượng rác thải đô thị củng như công nghiệp ngày càng tăng, tính chất độc hại của rác thảicủng tăng Ở Hà Nội năm 1995: thành phần nilon, chất dẻo trong rác thải sinh hoạt là 1,7%,thành phần kim loại vỏ hộp là 1,2%, năm 1997 đã tăng lên 4,1% và 5,5% Năm 1998, tỷ lệ vềthành phần chất rác thải củng có những biến đổi hơn so với những năm trước đó

Các hoạt động thu hồi tái chế tại Việt Nam chủ yếu sẽ được tập trung vào các vấn đề sau:

- Tăng cường thu hồi sản phẩm đã sử dụng để dùng lại cho cùng một mục đích, hoặc tìm

ra một mục đích sử dụng khác Tái sử dụng tập trung chủ yếu vào các loại chai đựng đồuống, các loại bao bì vận chuyển thông qua khâu lưu thông dưới dạng đặt cọc để khépkín một chu trình: sản xuất – lưu thông – tiêu dùng – lưu thông – sản xuất

- Khuyến khích các cơ sở tái chế chất thải rắn bằng cách thu hồi các sản phẩm đã qua sửdụng, xử lý hoặc chế biến lại để đưa vào nền kinh tế dưới dạng các sản phẩm ban đầuhoặc tạo ra các sản phẩm mới

- Tái sử dụng và tái chế chất thải rắn có thể thực hiện tốt ở các khu công nghiệp tập trungtrên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao đổi chất thải vì trong một số trườnghợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này để trở thành nguyên liệu đầu vào ở nơi khác.Tại thành phố Hà Nội, các hoạt động tái chế được thực hiện thông qua sơ đồ lưu chuyển ởhình 6.13

16

Trang 17

-Các vật liệu có thể tái chế được thu gom từ hộ gia đình, chợ , đường phố và khu chôn lấp

do những người thu gom hay người mua thuộc thành phần tư nhân Trung bình mỗi ngày cóhơn 200 tấn vật liệu tái chế được thu gom Các hoạt động tái chế tư nhân hiện đang diễn ra ở

Hà Nội dựa trên cơ sở thị trường giống các nước đang phát triển khác, tuy nhiên, các hoạtđộng tái chế này hiện đang gặp rất nhiều khó khăn:

- Ô nhiễm môi trường do các hoạt động tái chế sinh ra;

- Chi phí lao động gia tăng;

- Chi phí đổ thải rác thải;

- Giảm giá trị các sản phẩm được tuần hoàn;

- Sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm giá thành rẻ hơn

6.8 HOẠT ĐỘNG THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI Ở CÁC NƯỚC

Các nước phát triển trước đây cũng sử dụng hệ thống tái chế tương tự ở Việt Nam Tuynhiên hệ thống tái chế cũng đã từng thất bại do mất giá trị tái chế và do vật liệu có thể tái chếđược lẫn với rác thải

Thu gombằng xe đẩy tay

Vận chuyển

Bãi chôn lấp

Hình 6.13 Sơ đồ lưu chuyển các dòng tái chế rác ở Hà Nội

Ngành công nghiệp tái chế

Người mua phế liệu

Người thu gom mua phế liệuNgười nhặt rác

Người thu gom mua phế liệu

33,5 kg/ngườiThu gom - ngày

12,9 – 26,2 kg/người.ngày

Trang 18

Các nước đã phát triển hiện nay đang thay đổi lối sống là tiêu dùng các sản phẩm tái chế và

sẽ phát triển ngành kinh doanh tái chế mới trên cơ sở thị trường Ví dụ ở Mỹ các đây 250năm, tỷ lệ tái chế là hơn 90% Năm 1970, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 70% và hiện naygiảm xuống còn khoảng 30%

Đặc điểm của hoạt động thu hồi và tái chế chất thải ở các nước khác Việt Nam ở chỗ họ đã

tổ chức các dịch vụ công cộng có trách nhiệm đẩy mạnh tái chế rác bằng ngân sách

Để giảm thiểu lượng rác thải sản sinh, nước Mỹ đã có những chính sách hỗ trợ các hoạtđộng tái chế và hiện đang cố gắng thiết lập xã hội kinh tế tuần hoàn (nhà sản xuất phải xemxét xem sản phẩm của mình có sinh ra ít chất thải hơn không? Và các chất thải liệu có khảnăng tái chế không? Hình 6.14)

6.9 CÁC TRẠM TRUNG CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN

Các trạm chuyển tiếp được sử dụng để tối ưu hóa năng lao động của đội thu gom và đội xe.Chúng có thể được dùng để củng cố thêm lượng rác thu gom được từ các xe khác nhau, vàchúng thường được bố trí sao cho thời gian đi và khoảng cách mà các xe thu gom phải chạy

18

Tái chế

Xử lý trung gian đúng quy cách

Đầu thải cuối cùngTối ưu hóa

Tài khoản môi trường

Kế toán toàn bộ chi phí

Hình 6.14 Khái niệm về một xã hội kinh tế tuần hoàn

Trang 19

bên ngoài vòng thu gom bình thường của chúng là nhỏ nhất Các trạm chuyển tiếp còn có thểđược dùng để thực hiện một chức năng quan trọng là giảm lượng rác thải đưa đến bãi chônlấp chung của thành phố và sử dụng lại các vật liệu có khả năng thu hồi, tạo điều kiện chonhững người bới rác không chính thức lẫn những đội quân bới rác có tổ chức thực hiện côngviệc phân loại rác để tái sử dụng ngay tại các trạm này.

Trạm chuyển tiếp, do vậy là một cơ sở đặt tại gần khu vực thu gom, nơi mà các xe thu gom

có thể đổ rác của chúng xuống để sau đó rác lại được chất lại lên những xe tải lớn hơn đểchuyển một cách kinh tế đến bãi rác ở xa hơn

Có hai loại trạm chuyển tiếp rác thải:

- Loại phục vụ cho những xe thu gom ban đầu như những xe thủ công, những xe có động

cơ nhỏ, bao gồm xe xích lô máy và những xe tải đổ rác nhỏ (những loại này đôi khiđược gọi là những điểm chuyển tiếp để phân biệt chúng với loại thứ hai);

- Loại phục vụ cho những loại xe lớn hơn, thường là những xe cơ giới như những xe thugom rác thông thường, có thể mang rác thải đến những trạm chuyển tiếp sau vòng thugom thứ cấp (những loại này đôi khi được gọi là những trạm trung chuyển)

Bất kể dùng loại chuyển tiếp nào, các cơ sở này đều có những mục tiêu chung Các mụctiêu của cơ sở chuyển tiếp bao gồm:

- Đón tiếp những xe thu gom rác thải một cách có trật tự;

- Xác định tải trọng của các xe;

- Hướng dẫn các xe đến điểm đổ rác;

- Đưa các xe ra một cách có trật tự;

- Xử lý các rác thải thành từng khối đã được chọn trước;

- Chuyển từng khối sang hệ thống vận chuyển hoạt động như một bộ phận trung giangiữa hệ thống vận chuyển và các xe thu gom rác thải;

- Giảm đến tối thiểu sự lộn xộn và tác động đến môi trường

Việc thiết kế trạm trung chuyển tốt nhằm:

- Cung cấp một hệ thống quản lý giao thông một cách có hiệu quả và trật tự cho những xethu gom đến (xếp hàng ít nhất, không phải xếp hàng trên đường quốc lộ, quay đầunhanh);

- Giảm đến tối thiểu lượng chất thải phải xử lý;

19

Trang 20

Đảm bảo toàn bộ rác thải đều được chuyển đi hàng ngày và tạo điều kiện thuận lợi cholàm sạch dễ dàng vào cuối ngày;

- Đảm bảo toàn bộ rác thải đưa đến đều được chuyển đi theo một phương cách có kiểmtra mà không làm cản trở sự hoạt động của trạm chuyển tiếp

Trạm chuyển tiếp có thể được sử dụng để giúp cho duy trì hiệu quả chung của toàn hệthống thu gom rác thải Thông thường, nếu thời gian đi và về một điểm thu gom rác thải làtương đương hay lớn hơn một nữa thời gian chất rác trong ngày thì trạm trung chuyển lúc đó

là cần thiết

Mặc dù các trạm chuyển tiếp có thể tiết kiệm, chúng lại tạo ra thêm các thao tác khác và dùvậy có thể cần phải đánh giá lại hoạt động của các trạm chuyển tiếp Để làm điều này cầnxem xét các điểm sau:

- Số lượng xe đồng thời trong trạm chuyển tiếp;

- Số lượng và loại rác được thu gom;

- Bán kính có hiệu quả kinh tế đối với mỗi loại xe thu gom;

- Thời gian để một xe thu gom đi đến điểm dỡ rác thải;

- Khoảng cách của các vòng thu gom kể từ điểm thu gom cuối cùng;

- Các chi phí tương đối tính theo thời gian được công nhận và các chi phí xe cộ từ nơithải đến bãi rác được coi như một phần của chu trình thu gom hay dùng một hệ vậnchuyển trung gian;

Bảng 6.5 trình bày sự so sánh hữu dụng về những chi phí khác nhau của các phương án vậnchuyển Bảng này chỉ ra rõ ràng những ưu thế của việc sử dụng những phương tiện tiết kiệmnăng lượng cho việc vận chuyển những khối lượng lớn rác thải từ điểm chuyển tiếp đến bãichôn lấp

Hình 6.15 minh họa tính kinh tế của việc chuyển tiếp và cách xác định điểm “hoàn vốn” của thờigian/khoảng cách tại Bangkok-Thái Lan Hình vẽ chỉ ra rằng đối với những tuyến đường ngắn, vềthời gian giữa điểm thu gom và bãi chôn lấp, khi thời gian và quảng đường giữa nơi thu gom và chônlấp tăng lên trên 30 phút hay 10 km, sử dụng trạm trung chuyển sẽ có tính kinh tế hơn(tùy thuộc vàoloại xe thu gom) Trong thí dụ này, với khoảng cách trên 25 km giữa nơi thu gom và bãi chôn lấp(khoảng hơn 1 – 1,5 giờ lái xe), sử dụng trạm chuyển tiếp luôn luôn tiết kiệm được chi phí hơn so vớimột loại xe thu gom trong thành phố Lưu ý rằng thời gian là đại lượng có tính quyết định hơn làkhoảng cách

Chi phí (USD) Chuyển trực tiếp Chuyển bằng xe tải Chuyển bằng sà

20

Trang 21

-bằng xe thu gom lan hay tàu kéoChi phí cố định và hoạt động của trạm chuyển tiếp (600m3/ngày)

Các công việc thủ công

80.00030.00006.2006.20012.2000,06/m3

160.00020.000160.00024.00036.00060.4000,27/m3

Các chi phí vận tải

Các giả thiết

Khấu hao hàng năm

Lương cho lái xe

Lương cho đội ngũ công nhân

Bảo hiểm, thuế…

2.2001.6005,500(5 người)1.5003.80014.6002,5/m3

Xe tải lớn 30m3

4chuyến/ngày

Sử dụng 7 năm(giá 60.000/xe +

2 toa rơmooc7.6002.2001.100(1 người)2.00015.00028.9000,66/m3

Xà lan 600 m3

1 chuyến/ngày

Sử dụng 30 năm(giá 810.000/tàukéo + 2 xà lan)27.0003.5002.200(2 người)6.00080.000118.7000,54/m3

Nguồn tài liệu S.J Coirnhau (1982) Quản lý môi trường chất thải rắn đô thị - Hướng dẫn

dự án Tài liệu kỹ thuật phát triển đô thị số 5, Ngân hàng thế giới, Washington

Ghi chú: Giá trị về tiền trong bảng 6.5 không còn đúng, vì thế các giá trị này chỉ nên xem

như những giá trị tương đối hơn là giá trị tuyệt đối

6.10 CÁC LOẠI TRẠM CHUYỂN TIẾP

21

Trang 22

-Chuyển tiếp không dùng thùng côngtennơ: là dạng đơn giản nhất và thường là hình thức

chuyển tiếp có hiệu quả nhất khi rác thải được thu gom bằng những xe nhỏ và đổ xuống cácbãi mà thường có nền bằng bêtông và đôi khi được xây bao quanh để tăng tính mỹ quan vàhạn chế mùi hôi thối, sẽ được chở đến bãi chôn thải bằng các xe thu gom thứ cấp

Các loại rác thải củng có thể đổ trực tiếp vào thùng hở, hoặc các thiết bị có nén ép hay cácbăng tải chuyển thẳng tới nơi phân tách và xử lý Các hoạt động ở đây thường làm bằng thủcông hay máy xúc

Chuyển tiếp dùng thùng côngtennơ hoặc các phương tiện lưu chứa: có 3 phương án của

loại này sử dụng những xe vận chuyển tầm ngắn Sơ đồ loại trạm chuyển tiếp có lưu trử đượcthể hiện ở hình 6.16

- Loại 1 : rác thải được thu gom trong những xe thu gom ban đầu sẽ được đổ trực tiếp vàonhững thùng côngtennơ và chuyển trực tiếp sau đó đến bãi chôn thải Ở dạng đơn giảnnhất, hệ thống này chỉ bao gồm một thùng côngtennơ tại một bãi phẳng và thường chỉ

có tường bao xây lững để ngăn dọc theo vỉa hè Mỗi ngày có một chuyến xe chở chúngđến bãi chôn lấp (hình 6.16a)

- Loại 2 : gồm một bãi phẳng, với hai tuyến đường một chiều cho những xe thu gom banđầu và thứ cấp Các thùng côngtennơ được thu góp bởi những xe thu gom chính sẽ đượcđặt trên khoảng trống giữa các tuyến đường xe để rồi sau đó sẽ được một xe lớn hơn, cóthể chở được một lúc nhiều côngtennơ bốc đi (hình 6.16b)

- Loại 3 : gồm một bãi phẳng, có những hố chứa những thùng côngtennơ hở ở dưới Các

xe tải thu gom chính sẽ đổ rác trực tiếp xuống các thùng ở dưới đó Thường có khoảngcách để đặt vài ba thùng một và một xe tải lớn sẽ chở vài thùng một đến bãi chôn thảihàng ngày (hình 6.16c)

Thêm vào đó, khi bãi chôn lấp được đặt ở một nơi tương đối xa khu vực thu gom và trungtâm thành phố (thường trên 20 km), các bãi chuyển tiếp thường có thể sử dụng nhữngphương tiện vận tải thứ cấp loại rẻ tiền về năng lượng, thí dụ như đường sắt và đường sông(xà lan) Cách vận chuyển này có thể áp dụng cho những khu vực trung tâm lớn nhất, mà tại

đó rác thải có thể được chuyển đi đến những nơi tương đối xa

Chương 7:

22

Trang 23

-CHÔN LẤP VÀ TIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ

7.1 BÃI CHÔN LẤP HỢP VỆ SINH

7.1.1 Khái niệm

Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, chôn lấp là phương pháp phổ biến

và đơn giản nhất Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới

Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên.Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải rắn khichúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờquá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinhdưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4 Như vậy vềthực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn đô thị vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học, vừa

là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thảikhi chôn lấp

Theo quy định của TCVN 6696 – 2000, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh(sau đây gọi

là bãi chôn lấp) được định nghĩa là: Khu vực được quy hoạch thiết kế, xây dựng để chôn lấpcác chất thải phát sinh từ các khu dân cư, đô thị và các khu công nghiệp Bãi chôn lấp chấtthải rắn bao gồm các ô chôn lấp chất thải, vùng đệm, các công trình phụ trợ khác như trạm xử

lý nước, trạm xử lý khí thải, trạm cung cấp điện nước, văn phòng làm việc…

7.1.2 Điều kiện chôn lấp các chất thải rắn tại bãi chôn lấp

Chất thải rắn được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các chất thảikhông nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian, bao gồm:

- Rác thải gia đình

- Rác thải chợ, đường phố

- Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây

- Tro, củi gỗ mục, vãi, đồ da (trừ phế thải da có chứa crôm)

- Rác thải từ văn phòng khách sạn, nhà hàng ăn uống

23

Trang 24

Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục rác thải nguy hại từ các ngành côngnghiệp (chế biến lương thực, thực phẩm, thủy sản, rượu bia giải khát, giấy, giày, da…)

- Bùn sệt thu được từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có cặn khô lớn hơn20%

- Phế thải nhựa tổng hợp

- Tro xỉ không chứa các thành phần nguy hại được sinh ra từ quá trình đốt rác thải

- Tro xỉ từ quá trình đốt nhiên liệu

Rác thải không được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các loại rác

có các đặc tính sau:

- Rác thải thuộc danh mục rác thải nguy hại (quản lý đặc biệt theo quy chế quản lý rácthải nguy hại được ban hành kèm theo nghị định của chính phủ)

- Rác thải có đặc tính lây nhiễm

- Rác thải phóng xạ bao gồm những chất có chứa một hoặc nhiều hạt nhân phóng xạ theoquy chế an toàn phóng xạ

- Các loại tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật và những phế thải có chứa hàm lượng PCBcao hơn 50 mg/kg

- Rác thải dễ cháy và nổ

- Bùn sệt từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có hàm lượng cặn khô thấp hơn20%

- Đồ dùng gia đình có thể tích to, cồng kềnh như giường, tủ, bàn, tủ lạnh…

- Các phế thải vật liệu xây dựng, khai khoáng

- Các loại đất có nhiễm các thành phần nguy hại vượt quá tiêu chuẩn TCVN 5941 – 1995quy định đối với chất lượng đất

- Các loại xác súc vật với khối lượng lớn

7.1.3 Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp

a) Quy mô bãi

Quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào quy mô của đô thị như dân số,lượng rác thải phát sinh, đặc điểm rác thải… Có thể căn cứ vào đặc điểm đô thị Việt Nam cótính đến khả năng phát triển đô thị để phân loại quy mô bãi và có thể tham khảo theo bảng7.1

Bảng 7.1 Phân loại quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị

24

Trang 25

-TT Quy mô bãi

chôn lấp

Dân số(ngàn người)

Lượng chất thải rắn (tấn/năm)

Diện tích bãi(ha)

Thời hạn sử dụng (năm)

Vị trí bãi chôn lấp phải nằm trong tầm khoảng cách hợp lý, nguồn phát sinh rác thải Điềunày tùy thuộc vào bãi đất, điều kiện kinh tế, địa hình, xe cộ thu gom rác thải Đường sá điđến nơi thu gom rác thải phải đủ tốt và đủ chịu tải cho nhiều xe tải hạng nặng đi lại trong cảnăm Tác động của việc mở rộng giao thông củng cần được xem xét

Tất cả vị trí đặt bãi chôn lấp phải được quy hoạch cách nguồn nước cấp sinh hoạt và nguồnnước sử dụng cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm ít nhất là 1000m Ngoài ra chú

ý các khoảng cách khác để đảm bảo an toàn cho khu vực xung quanh

Quy định về khoảng cách tối thiểu từ bãi chôn lấp tới các công trình được ghi ở bảng 7.2

Bảng 7.2 Quy định về khoảng cách tối thiểu từ hàng rào bãi chôn lấp tới các công trình

Khu trung tâm đô thị

Sân bay, hải cảng

Khu công nghiệp

3.0003.0003.000

25

Trang 26

-Đường giao thông quốc lộ

Các công trình khai thác nước ngầm

Công suất lớn hơn 10.000m3/ngđ

Công suất nhỏ hơn 10.000m3/ngđ

Công suất nhỏ hơn 100m3/ngđ

Các cụm dân cư ở miền núi

500

≥ 500

≥ 100

≥ 505.000

Cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:

- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh không được đặt tại các khu vực ngập lụt;

- Không được đặt vị trí bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh ở những nơi có tiềm năng nướcngầm lơn;

- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải có một vùng đệm rộng ít nhất 50m cách biệt vớibên ngoài Bao bọc bên ngoài vùng đệm là hàng rào bãi;

- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải hòa nhập với cảnh quan môi trường tổng thểtrong vòng bán kính 1000m Để đạt mục đích này có thể sử dụng các biện pháp như tạovành đai cây xanh, các mô đất hoặc các hình thức khác để bên ngoài bãi không nhìnthấy được

c) Địa chất công trình và thủy văn

Địa chất tốt nhất là có lớp đá nền chắc và đồng nhất, nên tránh vùng đá vôi và các vết nứtkiến tạo, vùng đất dễ bị rạn nứt Nếu lớp đá nền có nhiều vết nứt và vỡ tổ ong thì điều cực kỳquan trọng là phải đảm bảo lớp phủ bề mặt phải dày và thẩm thấu chậm Việc lựa chọn vậtliệu phủ bề mặt phù hợp là rất cần thiết trong suốt thời gian hoạt động của bãi thải Đất cầnphải mịn để làm chậm lại quá trình rò rỉ Hàm lượng sét trong đất càng cao càng tốt để tạo rakhả năng hấp thụ cao và thẩm thấu chậm Hỗn hợp giữa đất sét bùn và cát là lý tưởng nhất.Không nên sử dụng cát sỏi và đất hữu cơ Dòng chảy nước mặt cần tập trung tại một nơi Cầnkiểm soát sự chuyển dịch của mạch nước ngầm và biết chắc chắn tất cả các giếng sử dụnglàm nước uống trong khu vực

Khi xem xét cần sử dụng bản đồ địa chất, thủy văn, địa hình đồng thời tham khảo ý kiếncủa các cơ quan địa phương đang hoạt động trong lĩnh vực này

d) Những khí cạnh môi trường

26

Trang 27

-Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tại bãi chôn lấp có thể gây ra một số nguy hại cho môitrường Các nguy hại này bao gồm:

- Tạo ra một số vật chủ trung gian gây bệnh như ruồi, muỗi, các loại côn trùng có cánh vàcác loài gặm nhấm

- Mang rác rưởi cuốn theo gió gây ô nhiễm cho các khu vực xung quanh

- Gây các vụ cháy, nổ

- Gây ô nhiễm nguồn nước

Ngoài các yếu tố đã nêu, cần xem xét thêm các tác động môi trường Ví dụ một bãi chônlấp sẽ tạo ra bụi do xử lý và vùi lấp chất thải, chất thải tươi và sự phân hủy của nó tạo ra mùihôi thối Gió có thể cuốn theo rác rưởi rơi vãi ra ngoài khu vực và các phương tiện chuyênchở củng làm rơi vãi rác trong quá trình vận chuyển đến nơi chôn lấp Lưu lượng phươngtiện xe cộ tăng lên có thể gây ách tắc Tiếng ồn và khí xả gây xáo trộn Điều quan trọng đểchấp nhận đối với một bãi chôn lấp là cố gắng bố trí bãi chôn lấp xa khỏi tầm nhìn và xa cáckhu vực giải trí, địa điểm nên khuất gió và có hướng gió xa hẳn khu dân cư Một điều quantrọng nữa là bãi chôn lấp không ở gần các ngã tư đường hoặc không gây cản trở nào khác đốivới trục đường giao thông chính Sau cùng là phải giử gìn khu vực sạch sẽ, đây là khả năngđạt được kết quả tốt nhất về chi phí, hiệu quả và làm giảm bớt sự phản kháng của côngchúng

e) Các chỉ tiêu kinh tế

Lựa chọn bãi chôn lấp phế thải còn phải chú ý đến kinh tế, cố gắng giảm mọi chi phí có thểđược để đạt được yêu cầu về vốn đầu tư hợp lý nhưng không được giảm nhẹ lợi ích côngcộng và hiệu quả xã hội

7.1.4 Phân loại bãi chôn lấp hợp vệ sinh

Hiện nay trên thế giới thường sử dụng các loại bãi chôn lấp sau (12):

Loại 1 - Bãi chôn lấp rác thải đô thị: loại này đòi hỏi có hệ thống thu gom và xử lý nước ròrỉ; hệ thống thu gom nước bề mặt, thu hồi khí tạo thành;

Loại 2 – Bãi chôn lấp chất thải nguy hại: loại bãi này đòi hỏi phải có nhiều đầu tư về quản

lý và được kiểm soát nghiêm ngặt trong quá trình thi công và vận hành;

Loại 3 – Bãi chôn lấp chất thải đã xác định: thường chôn lấp các loại chất thải đã được xácđịnh trước như tro sau khi đốt, các loại chất thải công nghiệp khó phân hủy…

Theo cơ chế phân hủy sinh học, bãi chôn lấp được phân thành các loại:

27

Trang 28

Bãi chôn lấp kị khí;

- Bãi chôn lấp kị khí với lớp phủ hàng ngày;

- Bãi chôn lấp vệ sinh kị khí với hệ thống thu gom nước rác;

- Bãi chôn lấp yếm khí với hệ thống thông gió tự nhiên; hệ thống thu gom và xử lý nướcrác;

- Bãi chôn lấp hiếu khí với nguồn cấp khí cưỡng bức

Theo phương thức vận hành, bãi chôn lấp được phân loại thành:

- Bãi chôn lấp khô: là dạng phổ biến nhất để chôn lấp chất thải sinh hoạt và chất thải côngnghiệp Chất thải được chôn lấp ở dạng khô hoặc dạng ướt tự nhiên trong đất khô và có

độ ẩm tự nhiên Đôi khi cần phải tưới nước cho chất thải khô để tránh bụi khi vậnchuyển và tạo độ ẩm cần thiết Bãi chôn lấp được xây dựng ở nơi khô ráo

- Bãi chôn lấp ướt: là một khu vực được ngăn để chôn lấp chất thải thường là tro, hoặccác phế thải khai thác mỏ có dạng bùn;

Các dạng chính của bãi chôn lấp ướt là dạng bãi chôn lấp chất thải ẩm ướt như bùn nhãođược để trong đất Ở dạng này thường là một khu vực được đổ đất lên, chất thải nhão chảytràn và lắng xuống Bãi có cấu tạo để chứa các chất thải chứa nước như bùn nhão Phươngtiện vận chuyển là đường ống Vì nước chảy ra thường bị nhiễm bẫn nên cần được tuần hoàntrở lại Dạng thứ hai là dạng chôn lấp chất thải khô trong đất ẩm ướt

Ưu điểm: Bãi chôn lấp ướt chỉ thích hợp với vận chuyển chất thải nhão vì để hợp lý hóa

vận chuyển bằng đường ống

Nhược điểm: Bề mặt thoát nước kém, đường ống dễ bị tắc và chi phí cho việc đào đắp lớn.

- Loại kết hợp: Xử lý bùn ở bãi chôn lấp ướt là rất tốn kém nên thông thường người ta xử

lý bùn tại bãi chôn lấp khô cùng với rác thải sinh hoạt

Điều cần lưu ý là đối với các ô dùng để chôn lấp ướt và kết hợp, bắt buộc không cho phépnước rác thấm đến nước ngầm trong bất kỳ tình huống nào

Ưu điểm: phương pháp này cho phép kinh phí đầu tư ban đầu củng như chi phí trong vận

hành là tương đối nhỏ

Nhược điểm: làm tăng mức nguy hiểm của nước rác Nếu bãi chôn lấp nằm ở khu vực có

khả năng gây ô nhiễm cho nguồn nước ngầm thì bùn có hàm lượng hữu cơ và sắt cao khôngnên chôn lấp ở bãi này

28

Trang 29

-Trong hai kiểu bãi chôn lấp khô và ướt thì bãi chôn lấp khô được áp dụng rộng rãi trên thếgiới vì nó phù hợp với việc chôn lấp rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, rác thải thươngnghiệp Ở điều kiện Việt Nam , bãi chôn lấp khô là thích hợp nhất.

Ngoài ra theo kết cấu và hình dạng tự nhiên củng có thể phân các bãi chôn lấp thành cácloại sau:

- Bãi chôn lấp nỗi: là các bãi được xây dựng ở những khu vực có địa hình bằng phẳng,bãi được sử dụng theo phương pháp chôn lấp bề mặt Chất thải được chất thành đốngcao từ 10 – 15m Xung quanh các ô chôn lấp phải xây dựng các đê bao Các đê nàykhông có khả năng thấm nước để ngăn chặn sự thẩm thấu của nước rác ra môi trườngxung quanh

- Bãi chôn lấp chìm: là các bãi tận dụng điều kiện địa hình tại những khu vực ao hồ tựnhiên, các moong khai thác mỏ, các hào, rãnh hay thung lũng sẵn có Trên cơ sở đó kếtcấu các lớp lót đáy bãi và hành bãi có khả năng chống thấm Rác thải sẽ được chôn lấptheo phương thức lấp đầy

Sơ đồ các loại bãi chôn lấp được thể hiện ở hình 7.1

7.1.5 Trình tự thiết kế bãi chôn lấp

7.1.5.1 Các tài liệu cần thiết cho việc thiết kế

Thiết kế bãi chôn lấp khác với các loại thiết kế khác, tuy nhiên nó củng yêu cầu có nhữngbản vẽ chi tiết và những chỉ dẫn kỹ thuật để hướng dẫn cho người vận hành bãi Các tài liệuban đầu cần thiết cho công việc thiết kế bao gồm:

- Các tài liệu về quy hoạch đô thị;

- Các tài liệu về dân số, kinh tế - xã hội hiện trạng và định hướng phát triển trong tươnglai;

- Các tài liệu về địa hình, địa chất công trình, thủy văn, điều kiện khí hậu của khu vực;

- Các tài liệu khác có liên quan

Trang 30

Lót đáy (lớp chống thấm);

- Đường ra vào;

- Rào chắn, biển hiệu;

- Hình thành đê, kè;

- Hệ thống thu gom nước rác và khí ga;

- Nơi vệ sinh gầm xe;

- Các công trình phục vụ: văn phòng, nhà kho, hệ thống điện nước, công trình phong hỏa,trạm máy phát, nơi bảo dưỡng thiết bị, trạm cân…

a) Bố trí và chuẩn bị mặt bằng:

Khi bố trí mặt băng bãi chôn lấp phải lưu ý đến các yếu tố sau:

- Đường ra vào bãi thải;

- Vị trí nhà cửa (gồm cầu cân, lán che thiết bị, nhà điều hành và nhà nghỉ của nhân viên);

- Kho chứa vật liệu phủ bãi và lớp trên cùng;

- Hệ thống thoát nước;

- Rào chắn;

- Nơi xử lý nước rác hoặc trạm bơm;

- Các giếng khoan kiểm tra nước rác;

- Các khu vực chôn lấp;

- Khu vực chôn lấp rác đặc biệt;

- Nơi thu hồi phế liệu;

b) Hệ thống thu gom và xử lý nước rác:

Hệ thống thu gom nước rác củng như hệ thống thoát nước nhất thiết phải được làm trongthời kỳ chuẩn bị bãi ban đầu và phải được kiểm soát chặt chẽ trước khi đổ rác, bởi vì đàohàng tấn rác lên để sửa chữa là không kinh tế Nếu cần thu khí ga thì các công việc chuẩn bịcũng nên được làm trong thời kỳ này

Thu gom nước rác: để tránh sự rò rỉ nước rác ra xung quanh cần phải có một hệ thống rãnh

thoát Hệ thống này dẫn nước rác ra khỏi bãi tới nơi xử lý Nếu vì một lý do rủi ro nào đó, hệthống gom nước rác không thực hiện được chức năng của nó thì sẽ tạo ra sự tích tụ nước rácvới áp lực cao trong bãi, điều đó dẫn đến sự rò rỉ nước rác

Hệ thống thoát nước rác tại đáy bãi (hệ thống thoát đáy): hệ thống thoát nước đáy nằm bên

dưới lớp rác và trên lớp chống thấm Hệ thống này có chức năng dẫn nhanh nước rác ra khỏi

30

Ngày đăng: 25/04/2014, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1. Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải rắn của tư nhân - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.1. Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải rắn của tư nhân (Trang 3)
Hình 6.2a. Dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.2a. Dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu (Trang 4)
Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Đức (Duales System Deutschland), được minh họa ở hình 6.6 - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Sơ đồ h ệ thống tái chế chất thải tại Đức (Duales System Deutschland), được minh họa ở hình 6.6 (Trang 6)
Bảng 6.1. Chỉ số quản lý rác thải ở một số nước trên thế giới năm 1992 - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Bảng 6.1. Chỉ số quản lý rác thải ở một số nước trên thế giới năm 1992 (Trang 7)
Hình 6.8. Công nghệ tái chế lốp cao su - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.8. Công nghệ tái chế lốp cao su (Trang 12)
Sơ đồ thu hồi và tái chế các sản phẩm khác như bóng đèn hỏng từ các nhà máy chế tạo bóng đèn, dầu thải từ các xí nghiệp công nghiệp cơ khí, chế tạo hoặc trung tâm dịch vụ sửa chữa - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Sơ đồ thu hồi và tái chế các sản phẩm khác như bóng đèn hỏng từ các nhà máy chế tạo bóng đèn, dầu thải từ các xí nghiệp công nghiệp cơ khí, chế tạo hoặc trung tâm dịch vụ sửa chữa (Trang 13)
Hình 6.10. Công nghệ thu hồi dầu thải ở Hồng Kông - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.10. Công nghệ thu hồi dầu thải ở Hồng Kông (Trang 14)
Hình 6.10b. Quá trình thu hồi nhiên liệu (RDF) từ rác thải đô thị - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.10b. Quá trình thu hồi nhiên liệu (RDF) từ rác thải đô thị (Trang 15)
Hình 6.13. Sơ đồ lưu chuyển các dòng tái chế rác ở Hà Nội - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.13. Sơ đồ lưu chuyển các dòng tái chế rác ở Hà Nội (Trang 17)
Hình 6.14. Khái niệm về một xã hội kinh tế tuần hoàn - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 6.14. Khái niệm về một xã hội kinh tế tuần hoàn (Trang 18)
Bảng 7.3. Tỷ trọng rác sau khi đầm nén - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Bảng 7.3. Tỷ trọng rác sau khi đầm nén (Trang 35)
Bảng 7.4. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới vi sinh vật [9] - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Bảng 7.4. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới vi sinh vật [9] (Trang 38)
Hình 7.9b. Cơ chế sinh hóa của quá trình phân hủy sinh học trong các bãi chôn lấp [10] - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Hình 7.9b. Cơ chế sinh hóa của quá trình phân hủy sinh học trong các bãi chôn lấp [10] (Trang 40)
Bảng 7.5. Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Bảng 7.5. Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác (Trang 44)
Bảng 7.10. Tóm tắt phương pháp khử kim loại nặng trong nước rác - GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẬP 2
Bảng 7.10. Tóm tắt phương pháp khử kim loại nặng trong nước rác (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w