Bài trình bày về "Sắc ký điều chế và ứng dụng" trong môn các phương pháp phân tích hoá lý.
Trang 1Trường Đại Học Bách Khoa Khoa Kỹ Thuật Hóa Học
Môn học: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÔNG CỤ
Đề tài số 1: SẮC KÝ ĐIỀU CHẾ VÀ ỨNG DỤNG
GV: TS Huỳnh Khánh Duy
HVTH:
Nguyễn Quốc Tuấn 13050203
TP HỒ CHÍ MINH, 1/2014
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN 1 5
SẮC KÝ LỚP MỎNG ĐIỀU CHẾ 5
1.1 Nguyên tắc – yêu cầu 5
1.2 Ưu, nhược điểm và ứng dụng của PTLC 5
1.2.1 Ưu điểm 5
1.2.2 Nhược điểm 6
1.2.3 Ứng dụng 6
1.3 Pha tĩnh 6
1.3.1 Silica gel 6
1.3.2 Nhôm oxit 7
1.3.3 Cellulose 7
1.3.4 Silica gel ghép 7
1.3.5 Các pha tĩnh khác 7
1.4 Dung môi 8
1.5 Chuẩn bị mẫu sắc ký 8
1.6 Cách phát hiện trong sắc ký lớp mỏng điều chế 10
1.6.1 Soi UV 10
1.6.2 Phun thuốc thử lên phần không bị che 10
1.6.3 Sử dụng hơi iod 10
PHẦN 2 11
SẮC KÝ CỘT ĐIỀU CHẾ 11
2.1 Các cách tiến hành phân tích sắc ký 11
2.1.1 Phương pháp tiền lưu 11
2.1.2 Phương pháp rửa giải 12
2.1.3 Phương pháp rửa đẩy 12
2.2 Cột sắc ký 13
2.2.1 Cột phân tích 13
2.2.2 Chất nhồi cột 13
2.2.3 Cột chế hóa 13
2.3 Pha tĩnh 13
2.3.1 Silicagel (hay kieselgel của acid silicic) pha thuận 13
2.3.2 Nhôm oxit 14
Trang 32.3.3 Kieselguhr 15
2.3.4 Polyamide 15
2.3.5 Silicagel pha đảo 15
2.3.6 Pha tĩnh cho sắc ký rây phân tử 16
2.3.7.Cellulose 16
2.4 Kỹ thuật nhồi cột sắc kí 17
2.4.1 Dụng cụ 17
2.4.2 Thực hiện 18
2.5 Pha động 19
2.5.1 Lựa chọn dung môi 19
2.5.2 Dung môi cho sắc ký pha thuận 21
2.5.3 Dung môi cho sắc ký pha đảo 22
2.5.4.Dung môi cho sắc ký gel 22
2.6 Cách phát hiện trong sắc ký cột điều chế 23
2.6.1 UV detector 23
2.6.2 Refractive detector (RI) 23
2.7 Định tính một cột sắc ký 23
2.7.1 Sắc ký đồ 23
2.7.2 Số đĩa lý thuyết 25
2.7.3 Chiều cao tương ứng với một đĩa lý thuyết 25
2.7.4 Chiều cao đĩa lý thuyết đã làm giảm 25
2.7.5 Độ phân giải 26
2.7.6 Thể tích chết 26
2.8 Phân lập kết quả sắc ký 27
2.9 Sắc ký cột nhanh (FC – Flash Chromatography) 28
2.9.1 Nguyên tắc 28
2.9.2 Lựa chọn pha tĩnh phù hợp 28
2.9.3 Khảo sát hệ thống sắc ký trước bằng sắc ký lớp mỏng 29
2.9.4 Từ TLC đến FC 31
2.9.5 Nạp mẫu lên cột 31
2.9.6 Rửa giải theo gradient 32
PHẦN 3 34
Trang 43.2 Ưu- nhược điểm, khả năng và mức độ ứng dụng 35
3.3 Pha tĩnh, cách chuẩn bị cột 36
3.3.1 Normal-phase silica gels 37
3.3.2 Reversed-phase silica gels 37
3.4 Cách nhồi cột 38
3.4.1 Cột kiểu 4.3 39
3.4.2 Cột kiểu hình 4.4 39
3.4.3 Chuẩn bị mẫu- Đưa mẫu lên cột 39
3.4.4 Với pha đảo (Reverse Phase HPLC Basics for LC/MS) 40
3.5 Lựa chọn dung môi- Thay đổi dung môi 41
3.6 Phương pháp phát hiê ̣n và thu nhâ ̣n kết quả sắc ký 42
3.7 Các ứng dụng cụ thể 44
PHẦN 4 45
MPLC ĐIỀU CHẾ 45
4.1 Tổng quan 45
4.2 So sánh ưu nhược điểm giữa MPLC và HPLC 45
4.2.1 Chuyển đổi dung môi 45
4.2.2 Cột nạp mẫu rắn 45
4.3 Ứng dụng 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 5PHẦN 1
SẮC KÝ LỚP MỎNG ĐIỀU CHẾ 1.1 Nguyên tắc – yêu cầu
Sắc ký lớp mỏng điều chế (Preparative thin layer chromatography – PTLC) là một phương pháp sắc ký được sử dụng để tách một lượng nhỏ đơn chất (10 – 1000 mg) từ một hỗn hợp đơn giản (chỉ gồm vài cấu tử) Trong PTLC, một dung dịch mẫu thử được chấm trên một lớp chất hấp phụ (thường là silica gel, nhôm oxyd) có độ dày từ 0,5 – 2,0
mm tráng trên nền phẳng (kính, kim loại, chất dẻo) đóng vai trò là một pha tĩnh Một dung môi khai triển (pha động) di chuyển dọc theo bản mỏng sẽ làm di chuyển các cấu tử của mẫu thử theo một vận tốc khác nhau tạo thành một sắc ký đồ gồm nhiều vết có Rf khác nhau Sau khi khai triển, ta có thể thu được những cấu tử đặc trưng bằng cách cạo vùng chất hấp phụ chứa vết ra khỏi bản và phản hấp phụ chất ra khỏi giá hấp phụ bằng một dung môi thích hợp Hợp chất thu được từ bản mỏng có thể được tinh khiết hóa tiếp tục bằng sắc ký lớp mỏng (Thin layer chromatography – TLC) hay các phương pháp sắc
ký khác hoặc hợp chất này đã đạt độ tinh khiết để tiến hành định tính, xác định cấu trúc bằng các phương pháp phân tích cơ bản hay bằng phép đo quang phổ, nghiên cứu hoạt tính sinh học, nghiên cứu tổng hợp hóa học, sử dụng như chất chuẩn đối chiếu
1.2 Ƣu, nhƣợc điểm và ứng dụng của PTLC
1.2.1 Ƣu điểm
Phương pháp tiến hành của PTLC nhìn chung tương tự như TLC chỉ khác ở việc
sử dụng những bản mỏng dày hơn so với TLC: PTLC 0,5 – 2 mm, có thể dày đến 10 mm tùy yêu cầu sử dụng; TLC 0,2 – 0,25 mm
So với sắc ký cột:
- Nhanh và thuận tiện hơn so với sắc ký cột cổ điển
- Dễ tìm được dung môi thích hợp để tách các chất
Trang 6- Rẻ, đơn giản hơn so với HPLC Thiết bị, thao tác đơn giản dễ nắm bắt và áp dụng
Sử dụng một lượng nhỏ dung môi → có thể triển khai nhiều lần để thu được kết quả phân tách tốt hơn, dễ dàng tách các vùng chứa chất hấp phụ ra khỏi bản mỏng, có thể triển khai đồng thời các chất chuẩn đối chiếu trong cùng một điều kiện xác định giúp tạo thuận lợi cho việc xác định hợp chất mong muốn
1.3 Pha tĩnh
Pha tĩnh hay sử dụng trong PTLC là các chất hấp phụ, các chất hấp phụ này phần
cũng có trường hợp không dùng chất kết dính
1.3.1 Silica gel
Là một chất phân cực, hoạt động chủ yếu theo cơ chế hấp phụ, trung tâm hấp phụ
là các nhóm – OH silanol → hấp phụ các chất có tính kiềm (alkaloid base ) hơn là các chất có tính acid (polyphenol )
Mật độ nhóm silanol càng cao (VD: hạt càng mịn), khả năng hấp phụ của silica gel
sẽ càng lớn
Trang 7Khả năng hấp phụ của silica gel phụ thuộc vào phụ thuộc vào tình trạng ngậm
C
1.3.2 Nhôm oxit
Có 3 dạng: oxit nhôm kiềm, trung tính, acid
Là một chất hấp phụ phân cực mạnh, có tính trao đổi ion lưỡng tính
Trung tâm hấp phụ là các nhóm OH, khi các trung tâm hoạt động này bị hút ẩm, oxit nhôm sẽ giảm hoạt tính Muốn hoạt hóa nó, người ta sấy để loại bỏ lượng nước hấp phụ này đi Nhiệt độ sấy càng cao, lượng nước hấp phụ càng giảm đi, oxit nhôm càng hoạt động
Oxit nhôm có nhiều cỡ hạt, hạt càng bé khả năng hấp phụ càng cao
Trang 81.4 Dung môi
Chọn dung môi:
Có độ tinh khiết cao, tránh chứa các vết kim loại
Dung môi không quá dễ bay hơi
Thay đổi dung môi:
Khả năng tách riêng các hợp chất bằng PTLC tùy thuộc tỉ lệ phân phối của các hợp chất này giữa chất hấp phụ và dung môi ly giải
Thường ly giải với hỗn hợp dung môi nhưng tránh sử dụng hỗn hợp dung môi có nhiều hơn 2 cấu tử (vì hỗn hợp phức tạp dễ dẫn đến việc thay đổi pha khi thay đổi nhiệt độ)
Để thay đổi khả năng tách có thể thay đổi dung môi hoặc thành phần dung môi
Dùng các chất hấp phụ tạo hỗn dịch bền trong nước (có thể thêm một lượng nhỏ chất trơ như thạch cao để kết dính nếu cần) rồi tráng lên tấm kính phẳng thành các bản có
độ dày 0,5 – 2,0 mm (có thể dày đến 10 mm) tùy yêu cầu sử dụng
Để khô bản ở nhiệt độ phòng trong 2 ngày, sau đó sấy sơ bộ 600C trong 2h rồi mới sấy hoạt hóa ở 1200C trong 2h
Chuẩn bị mẫu thử (dịch chấm):
Mẫu thử (đã được sơ bộ loại tạp) được cô ở áp suất giảm đến khô, sau đó hòa vào trong một lượng vừa đủ dung môi (phải hòa tan tốt mẫu thử và dễ bay hơi) rồi chấm lên bản mỏng
Trang 9Chấm mẫu thử:
Đánh dấu đường xuất phát cách mép dưới 1 – 2 cm
Dùng ống mao quản hay micropipette chấm dung dịch mẫu thử lên bản mỏng thành băng liên tục, băng có thể dày từ 1 – 2 mm, cách mép bản 1,5 – 2 cm
Khi chấm không được làm thủng lớp mỏng, vết chấm phải gọn (nên chấm dưới một nguồn nhiệt), chứa lượng chất thử khoảng 1 – 10 µg
Khai triển sắc ký:
Đặt bản mỏng đã chấm vào bình, đậy nắp bình Sau khi dung môi chạy đến cách đầu trên của bản khoảng 1 – 2 cm thì lấy ra, đánh dấu mức dung môi trên kính, để khô
Lưu ý:
- Cấu tử nghiên cứu phải dễ phát hiện (tốt nhất là phát hiện được bằng đèn UV)
- Những điều kiện để phân tách thành công trên bản mỏng chế hóa:
- Bản mỏng phải đồng nhất
- Lượng mẫu chấm trên bản mỏng phù hợp
Lượng chất hấp phụ trên bản mỏng thay đổi tùy theo từng trường hợp, đối với silica gel cần 20 – 25 g/ bản mỏng kích thước 20 × 20 cm, dày 1mm, những bản mỏng dày có thể bị nứt trong quá trình sấy do đó phải giảm lượng nước trong hỗn dịch hay hỗn hợp bột nhão của chất hấp phụ, tăng lượng chất kết dính (thạch cao CaSO4), tăng thời gian sấy hoặc có thể sấy bằng tia hồng ngoại
Vết chấm phải thẳng, hẹp và phải cách 2 mép hai bên của bản mỏng ít nhất 1 – 3 cm
để tránh hiệu ứng viền thường làm dung môi chuyển động nhanh hơn hoặc chậm hơn bình thường ở hai mép của bản mỏng hơn là ở trung tâm của bản mỏng
Mẫu thử được hòa tan trong một dung môi không phân cực, dễ bay hơi ở một nồng độ
mà tất cả các cấu tử của mẫu thử được hấp phụ không chỉ trên bề mặt mà phải xuyên suốt chiều dày của bản mỏng Có thể chấm bằng tay bằng cách sử dụng micropipette hay syringe và thước kẻ hoặc có thể sử dụng những dụng cụ được thương mại hóa phục vụ
Trang 101.6 Cách phát hiện trong sắc ký lớp mỏng điều chế
1.6.1 Soi UV
Ƣu điểm:
Nhanh, tiện lợi
Không bị hao hụt mẫu như phun xịt bản
Dùng tấm kiếng hoặc tấm nilon che 1 phần bản
1.6.2 Phun thuốc thử lên phần không bị che
Dựa vào những vết hiện trên bản, dùng spatule cạo phần silicagel để thu hợp chất
- Đặt bản trong buồng hơi iod
- Khi thấy vết lấy bản ra khỏi buồng
- Đánh dấu vị trí vết
- Phơi bản ngoài quạt gió để bay hơi iod
- Cạo bản để thu chất
Trang 11PHẦN 2
SẮC KÝ CỘT ĐIỀU CHẾ
Phương pháp sắc ký dựa vào sự phân bố khác nhau của các chất giữa hai pha động và tĩnh Có nhiều nguyên nhân đưa đến sự phân bố khác nhau của các chất, nhưng chính sự lặp đi lặp lại hiện tượng hấp phụ - phản hấp phụ của các chất khi dòng pha động chuyển động qua pha tĩnh là nguyên nhân chủ yếu của việc tách sắc ký
2.1 Các cách tiến hành phân tích sắc ký
Tuỳ thuộc chế độ đưa mẫu vào hệ thống sắc ký cũng như các thao tác tiến hành sắc
ký, người ta chia cách tiến hành sắc ký thành ba loại:
2.1.1 Phương pháp tiền lưu
Đây là phương pháp sắc ký đơn giản nhất người ta cho hỗn hợp, ví dụ, hai chất A
và B liên tục chảy qua cột có nạp sẵn các các chất hấp phụ Người ta xác định nồng độ các cấu tử trong dung dịch chảy ra khỏi cột và xây dựng đồ thị theo hệ toạ độ: nồng độ cấu tử- thể tích dung dịch chảy qua cột đồ thị này thường gọi là sắc ký đồ hay đường cong thoát (có tác giả gọi là đường cong xuất) Do các cấu tử bị hấp phụ lên cột, nên trước hết từ cột chỉ chảy ra dung môi Sau đó trong dung dịch thoát sẽ có cấu tử bị hấp phụ yến hơn trên cột, ví dụ cấu tử A, sau đó đến phần dung dịch chứa hỗn hợp A+B, đường cong thoát theo phương pháp tiền lưu cho trên hình dưới Trong phương pháp tiền lưu, ta chỉ thu được dung dịch thoát có cấu tử A tinh khiết ở lúc đầu, sau đó là hỗn hợp A+B Phương pháp tiền lưu không cho phép tách hoàn toàn các cấu tử ra khỏi nhau nên thực tế ít được dùng vào mục đích phân tích các chất
Trang 122.1.2 Phương pháp rửa giải
Trong phương pháp rửa giải, đầu tiên người ta cho Vml dung dịch chứa hỗn hợp các cấu tử (ví dụ, hỗn hợp hai cấu tử A và B, trong đó A có ái lực với cột nhỏ hơn B) chạy qua cột Các cấu tử A, B chứa trong Vml trước hết sẽ bị giữ lại ở phần trên của cột Sau đó cho dung dịch rửa (thường là dung môi hoà tan các cấu tử) chảy qua cột Lúc đó các cấu tử bị giữ ở phần trên của cột sẽ bị dung môi “rửa” và đưa dẫn xuống phía dưới Cấu tử A có ái lực với cột nhỏ hơn B nên chuyển động xuống phía dưới nhanh hơn B Nếu cột đủ dài và chế độ chảy của dung dịch rửa thích hợp thì sau một thời gian cho chảy dung dịch rửa, các cấu tử tách ra thành từng vùng Các vùng này sẽ tuần tự thoát ra khỏi cột, mỗi vùng lại được cách nhau bằng một phần dung môi Hình bên dưới biểu diễn đường cong thoát của quá trình rửa giải Trong phương pháp rửa giải, người ta cũng hay dùng những dung dịch chứa một cấu tử có ái lực với cột nhưng phải nhỏ hơn ái lực của các cấu tử cần tách với cột
2.1.3 Phương pháp rửa đẩy
Trong phương pháp rửa đẩy, sau khi đưa mẫu vào cột, ta cho chảy qua cột một dung dịch rửa chứa chất có ái lực với pha tĩnh lớn hơn các cấu tử cần tách Các cấu tử cần tách
sẽ bị chuyển dần xuống phía dưới khi ta tiến hành quá trình rửa cột và tuần tự thoát ra khỏi cột Cấu tử thoát ra khỏi cột đầu tiên là cấu tử tương tác với pha tĩnh yếu nhất, sau
đó dần dần đến các cấu tử có ái lực với cột mạnh dần Khác với phương pháp rửa giải, nồng độ các cấu tử không giảm qua quá trình sắc ký Một nhược điểm quan trọng của phương pháp rửa đẩy là rất khó phân biệt các phần riêng của các cấu tử trong dung dịch
Trang 13thoát vì ở đây giữa các phần dung dịch thoát chứa các cấu tử không tách nhau bằng các thể tích dung dịch rửa
Silica (silic dioxyd) kết tụ thành silicagel
Silicagel bao lớp mỏng hữu cơ liên kết ( hóa học hoặc vật lý) với bề mặt
Nhôm oxyd, polymer, nhựa trao đổi ion
2.3.1 Silicagel (hay kieselgel của acid silicic) pha thuận
- Chất hấp phụ được sử dụng rộng rãi hiện nay Là một chất phân cực, thường được dùng làm pha tĩnh để phân tách các chất phù hợp với hầu hết các pha động nó có thể chạy với những lượng mẫu rất nhỏ như trong sắc ký lớp mỏng
Trang 14- Ngày nay, Silicagel có kích thước các lỗ là 40,60 và 100Å (Si-40, Si-60, Si-100) được dùng tron sắc ký điều chế Si-60 thường được sử dụng nhất Trong một vài trường hợp, kích thước hạt quá nhỏ làm giảm hiệu quả của sự chiết tách
Có nhiều kích cỡ silicagel khác nhau phụ thuộc vào nhà sản xuất Đối với sắc ký chế hóa
sử dụng cho những lượng mẫu trong phòng thí nghiệm thường sử dụng loại có kích thước 15-25µm,25-40µmhay 40-63µm
- Tính hấp phụ của silicagel do các nhóm OH trên bề mặt quyết định Nhóm OH
là các trung tâm hấp phụ
- Để Silicagel hấp phụ được tốt thì cần hoạt hóa trước khi sử dụng: Sắt kim loại được loại bỏ bằng cách đun sôi với HCl đặc, dùng nước rửa sạch ion clorid và lắng gan
không cần hoạt hóa) Không sấy quá lâu tránh làm mất nhóm silanol→bất hoạt
- Tùy chất cần phân tích mà hoạt hóa silicagel khác nhau Ví dụ : khi chạy tịnh dầu thì sấy silicagel cần lâu càng tốt còn đối với các chất phân cực mạnh thì sấy hoạt hóa ít
đi, them một ít nước để giảm hoạt tăng Rf
- Tuỳ theo việc chọn các dung môi thích hợp cá thể dùng silicagel để tách các hợp chất base(alkaloid) hay các hợp chất ưa dầu Phân tách các chất có độ phân cực gần với
nó Silicagel là sự lựa chọn tốt nhất làm pha tĩnh khi phân tách cá chất có khối lượng phân tử nhỏ(<2000Da)
- Khả năng tách của silicagel tốt hơn khi tẩm nó bằng dung dịch bạc nitrat10-12%, dung dịch acid boric , ammoniac, dung dịch đệm phosphate
Trang 15- Để tách tốt hơn người ta xử lý nhôm với các dung dịch acid hoặc base
Hoạt tính của nhôm oxit tùy thuộc lượng nước nó chứa, hoạt tính sẽ giảm đi khi lượng
- Oxit nhôm phân tách tốt các chất phân cực yếu đến trung bình, thường dùng để phân tách các hợp chất thơm( có ái lực mạnh với OH phenol) và các hợp chất đồng phân của nó Oxit nhôm còn được dùng để tách các chất : hydrocacbon, alkaloid, chất màu thực phẩm, lipid
2.3.3 Kieselguhr
- Là một chất phân cực yếu, dùng để tách các chất phân cực như đường, các triglyceric, các acid béo bậc cao, cetoacid, lacton Nhưng thường được dùng chủ yếu làm giá mang cho pha tĩnh trong sắc ký phân bố
2.3.4 Polyamide
- Ít được dùng làm chất hấp phụ , chủ yếu được dùng để tách các chất có chứa nhóm chức phenol( flavon) , đường
2.3.5 Silicagel pha đảo
- Có nhiều loại mẫu kị nước như các peptid, thì sắc ký pha đảo thường là phương pháp được lựa chọn sử dụng cột silicagel C-18
- Trong sắc ký pha đảo thì pha tĩnh có bản chất khác với pha động(pha tĩnh không
Trang 16- Đây là silicagel có gắn một chuỗi carbon dài thường là 18C(c-18) hay 8C(C-8) :Si-O-Si- nối Carbon
- Các hợp chất được rửa giải ra khỏi theo thứ tự: hợp chất chứa nhóm _COOH→ alcol/phenol →amin→ eter/aldehyd→ cetone→hợp chất halogen→alkan
- Mặc dù sắc ký pha đảo có mắc tiền hơn sắc ký pha thuận nhưng nó có nhiều ưu điểm hơn như:
Không cần phải hoạt hóa trước khi dùng
Hệ được thiết thiết lập cân bằng nhanh chóng
Dung dịch thân nước có thể đi qua
Tách tốt đối với các chất phân cực
- Thường được áp dụng trong HPLC
2.3.6 Pha tĩnh cho sắc ký rây phân tử
- Rây phân tử thường dùng các chất như :dextran, agarose hay polyacrylamide( Sephadex, Sepharose, Fraktogel, Bio-gel…)
- Có các loại gel như gel cứng và gel bán cứng Các gel cứng được cấu tạo từ các hợp chất vinyl và divinyl styren polymer Còn các gel cúng thì được cấu tạo bởi các hạt thủy tinh xốp và silicagel xốp Tùy vào tính chất của từng loại gel ma chia ra hai loại là gel thân nước (hydrophilic gel) và gel thân dầu (lipophilic gel)
Trang 17Nhược điểm của cellulose không thể phát hiện vết sắc ký bằng các thuốc thử mạnh như NaOH, H2SO4
- Nếu dùng pha thuận, silicagel có gắn nhóm OH thì nó sẽ giữ chặt các chất phân cực, các chất không phân cực sẽ liên kết với silicagel yếu hơn nên sẽ ra trước, các chất phân cực hơn sẽ ra sau Ngoài ra tùy thuộc vào lượng mẫu có mà sẽ dùng lượng silicagel bao nhiêu, từ đó sẽ chọn kích cỡ cột sắc kí Dùng lượng silicagel gấp 20, 30 hay 50 lần lượng mẫu Chú ý lượng silicagel phải đổ đến khoảng gấp 10 lần đường kính cột thì quá trình tách sẽ diễn ra tốt Dung môi: thông thường chọn dung môi phụ thuộc vào chất nhồi cột
- Nếu dùng silicagel pha thường (phân cực) thì chọn dung môi đi từ không phân cực đến phân cực (ví dụ từ chloroform đếm methanol), thông thường dùng hỗn hợp dung môi Chú ý dung môi chạy sắc kí cột phải phân cực hơn một chút so với dung môi chạy bản mỏng vì hạt silicagel dùng cho cột sắc kí sẽ to hơn hạt trên bản mỏng nên khả năng tách sẽ kém hơn một chút.(sắc kí cột là phương pháp để tách chất sau khi đã có tất cả thông tin trên bản mỏng, TLC, thin layer chromatography, là biện pháp đầu tiên dùng để
"dò tìm" thông tin về hỗn hợp của mình cũng như biện pháp tách chất cần lấy)
Trang 182.4.2 Thực hiện
Bước 1: nhồi cột
Sau khi đã chọn cột, làm khô và cân silicagel cần dùng, pha dung môi chạy hệ rồi thì hòa tan silicagel vào dung môi đó trong một erlen Lấy một miếng nhỏ bông gòn nhồi dưới đáy cột để chặn silicagel lại, nếu cột quá dài thì dùng 1 dây kẽm thọt bông gòn xuống, chú ý dùng ít bông gòn Với những cột có sẵn miếng xốp hay lọc thủy tinh để chặn silicagel rồi thì không cần làm việc này, tuy nhiên miếng xốp có nhược điểm là sau khi chạy cột xong ta phải rửa lại nhiều lần cho sạch, rất mất thời gian so với việc nhồi bông gòn, khi chạy cột xong chỉ cần vứt bông gòn
Sau khi nhồi chặt bông gòn thì tiến hành khuấy silicagel trong dung môi (không phân cực) đã pha sẵn rồi rót nhẹ nhàng vào cột Trong lúc rót thì nên mở khóa để silicagel lắng đều, nhớ để 1 erlen bên dưới để thu hồi dung môi, tiếp tục làm như vậy đến khi cho hết lượng silicagel vào, tiến hành rót thêm dung môi (từ erlen bên dưới) để ổn định hệ, chế đi chế lại nhiều lần đến khi hệ ổn định, cột không bị nứt hay gãy thì xem như việc nhồi cột đã hoàn thành Khóa cột lại
Bước 2:
Nạp mẫu chất vào Có 2 loại nạp mẫu là nạp mẫu khô và nạp mẫu ướt Nạp mẫu ướt là hỗn hợp chất phân tích cũng tan trong dung môi chạy cột nên chỉ cần cho mẫu vào Còn nếu mẫu không tan trong dung môi chạy cột thì phải hòa tan mẫu vào dung môi gián tiếp trong 1 erlen Sau đó dùng lượng ít silicagel cho vào erlen để hấp thu mẫu, sau đó cho hết vào bình cô quay để cô quay đuổi dung môi đi thu được silicagel khô có chứa mẫu Lúc này nạp hết silicagel đó vào cột và cho dung môi chạy cột vào: gọi là nạp mẫu khô Khi cô quay thì nhớ lót miếng bông gòn ở miệng bình cô quay để tránh silicagel bay lên Cô quay là chưng cất trong áp suất kém (chân không)
Bước 3:
Sau khi hoàn tất việc nạp mẫu rồi thì lót 1 miếng bông gòn ở bên trên mẫu chất để
ổn định hệ rồi tiếp tục châm dung môi vào, từ từ thay đổi độ phân cực của hệ, chú ý
Trang 19không được thay đổi đột ngột cũng như chuyển từ không phân cực sang phân cực rồi lại quay lại không phân cực, làm như vậy sẽ gãy cột và phải nhồi lại từ đầu
Bước 4:
Mở khóa, lúc này cột bắt đầu tách chất, hứng lượng dung môi chảy ra có kém theo chất đã tách được bằng ống nghiệm nhỏ, mỗi lần hứng khoảng 1/3ống nghiệm Sau đó đem chấm bản các ống nghiệm, những ống có vệt tương tự nhau sẽ được gom lại, đó là 1 chất Tiếp tục như vậy thì cuối cùng ta sẽ tách được các chất mong muốn
2.5 Pha động
Pha động là một thông số dễ điều chỉnh nhất khi tối ưu hóa hệ thống sắc ký Trong khảo sát pha động, vấn đề đặt ra là làm sao để tìm dung môi hoặc hỗn hợp dung môi phù hợp nhất trong thời gian ngắn nhất có thể và sử dụng ít nhất vật liệu
2.5.1 Lựa chọn dung môi
Dung môi lựa chọn không được ảnh hưởng tới kết quả của phương pháp phát hiện Thường dùng hỗn hợp dung môi nên cần phải chú ý đến khả năng trộn thành hỗn hợp của các dung môi:
Điểm sôi của các dung môi cũng là một yếu tốt rất quan trọng Nhiệt độ sôi thấp sẽ
dễ dàng và tiết kiệm cho việc thu hồi Tuy nhiên dung môi sử dụng không nên có điểm
Trang 20Dung môi với độ nhớt thấp cũng được ưu tiên vì giúp giảm áp lực phải đặt lên cột Tính bền vững và tính trơ phải được quan tâm để tránh hư mẫu
Độc tính thấp, khả năng cháy nổ và giá cả cũng cần quan tâm
Độ mạnh của dung môi
Snyder dựa trên giá trị thực nghiệm đưa ra bảng giá trị độ mạnh của dung môi:
Độ phân cực của dung môi
Độ phân cực của dung môi có thể lựa chọn dựa trên tam giác chọn lọc được xây dựng bởi Snyder:
Trang 21Độ tinh khiết của pha động:
Không có hoạt chất nào 100% tinh khiết Độ tinh khiết càng cao, giá càng cao Cần phù hợp yếu tố chi phí với độ tinh khiết nhằm đưa các ảnh hưởng của nó về giới hạn phù hợp
2.5.2 Dung môi cho sắc ký pha thuận
Trang 222.5.3 Dung môi cho sắc ký pha đảo
2.5.4.Dung môi cho sắc ký gel
- Theo cơ chế rây phân tử, trao đổi ion, ái lực Ngược lại với các loại sắc ký khác, sắc ký gel không cho phép người dùng tác động lên tính tan do sự thay đổi pha động Pha động chỉ được chọn theo 3 tiêu chí:
- Khả năng hòa tan tốt mẫu
- Độ nhớt thấp (= áp lực tác động lê gel thấp)
- Không làm phá hủy pha tĩnh
- Tài liệu cung cấp từ nhà sản xuất gel cần phải được nghiên cứu kĩ lưỡng nhằm tránh cho gel bị phá hủy do tương tác với dung môi không phù hợp
Trang 232.6 Cách phát hiện trong sắc ký cột điều chế
Phương phát ghi nhận sắc ký bằng detector UV thường được sử dụng nhất Trong khi việc phun thuốc thử giống để phát hiện là không khả thi thì sử dụng máy đo UV lại tỏ
2.6.2 Refractive detector (RI)
Bộ phận phát hiện nhờ chỉ số khúc xạ Bộ phận phát hiện này tuy có độ nhạy thấp hơn so với bộ phát hiện UV nhưng nó có ứng dụng nhất định trong sắc ký điều chế Với
độ nhạy thấp, khi lựa chọn dung môi sẽ dựa vào RI để lựa chọn được loại dung môi nào chạy ra kết quả có nồng độ cao nhất
2.7 Định tính một cột sắc ký
Vì nhiều lý do, cần thiết phải có sự đánh giá những đặc thù nhất định của cột tự làm
Thông tin nào quan trọng nhất cho việc đánh giá một cột sắc ký chế hóa?
Thông tin về hiệu lực cột, thông tin này cho phép đưa ra kết luận về kết quả phân lập của sắc ký
2.7.1 Sắc ký đồ
Nếu đầu ra của cột được ghi nhận bởi một bộ phận phát hiện thích hợp trong quá trình phân lập sắc ký, và tín hiệu từ bộ phận phát hiện được ghi nhận dạng nồng độ theo thời gian, sẽ ghi nhận được đường cong điển hình Đường cong Gausian
Toàn bộ các ghi nhận của các tín hiệu được gọi là sắc ký đồ Dữ liệu sau đâu có