Luận văn : Cơ sở thực tiễn các chế độ Bảo Hiểm XH ở VN
Trang 1lời nói đầuViệt Nam là một nớc đông dân (80 triệu ngời, đứng thứ 13 trên thế giới), nh-
ng lại là một trong những nớc nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu ngờihơn 400 USD Vì vậy,an sinh xã hội nói chung và BHXH nói riêng có ý nghĩa to lớn
đối với ngời lao động và ngời dân.Ngay từ khi thành lập nớc,Chính phủ Việt Nam
đã rất chú trọng đến chính sách BHXH.Riêng lĩnh vực bảo hiểm xã hội,qua 40 nămthực hiện,chính sách BHXH đã đợc mở rộng dần từng bớc,từ chỗ đối tợng chỉ làcông nhân viên chức Nhà nớc,đến nay đã mở rộng cho ngời lao động thuộc tất cảcác thành phần kinh tế Tính đến nay đã có khoảng 4 triệu ngời tham gia bảo hiểmxã hội và 2 triệu ngời đang hởng các trợ cấp BHXH thờng xuyên.Chính sách BHXHgóp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho ngời lao động thụ hởng bảo hiểm xãhội;góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nớc
Là những sinh viên chuyên nghành Kinh tế Lao động từ lâu chúng tôi đãmuốn tìm hiểu những vấn đề cơ bản của BHXH Việt Nam vì tác động rộng lớn của
nó đối với toàn xã hội, nó tồn tại xung quanh cuộc sống mà chúng tôi không hiểu vềnó; và rất may mắn chúng tôi đã đợc giao viết bài luận về vấn đề này
Chắc chắn những hiểu biết từ thông tin thu thập đợc là không đầy đủ ;mong
đợc sự góp ý, bổ sung của các bạn quan tâm đến vấn đề này và ý kiến cô giáo chủnhiệm Tiến sĩ Trần Thị Thu để chúng tôi hoàn chỉnh mảng kiến thức này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2I Cơ sở lý luận của bảo hiểm xã hội.
1.Tính tất yếu của BHXH.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển ,trớc hết cần phải ăn mặc Để thỏa mãnnhững nhu cầu tối thiểu đó, ngời ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cầnthiết Khi sản phẩm đợc tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con ngời ngày càng đầy
đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Nh vậy, việc thỏa mãn những nhucầu sinh sống và phát triển của con ngời phụ thuộc vào chính khả năng lao động củahọ.Nhng con ngời ai cũng phải trải qua vòng đời sinh _lão _bệnh _tử.Khi còn nhỏphải dựa vào bố mẹ nuôi dỡng,khi trởng thành phải lao động nuôi sống bản thân vàgia đình,khi già lại cần con cái nuôi dỡng.Trong thực tế không phải lúc nào con ng-
ời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình ờng Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinhlàm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khituổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v Khi rơi vàonhững trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi,trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới nh: cần đợckhám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau; tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngờichăm sóc nuôi dỡng v.v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xãhội phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau
th-Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do cha có t hữu t liệu sản xuất,mọi ngờicùng nhau hái lợm săn bắn,sản phẩm thu đợc phân phối bình quân,nên khó khăn,bất lợi của mỗi ngời đợc cả cộng đồng san sẻ gánh chịu.Trong xã hội phongkiến,quan lại thì dựa vào chế độ bổng lộc của vua, dân c dựa vào sự đùm bọc lẫnnhau trong họ hàng,cộng đồng làng xã hay sự giúp đỡ hảo tâm và của nhà nớc.Rõràng, những cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên phổbiến Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau phải đã cam kếtcả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trảinhững nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản v.v Trong thực
tế, nhiều khi trong một thời gian dài các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủkhông phải chi ra một đồng nào Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúcphải bỏ ra nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, mâu thuẫn chủ- thợ phátsinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranhnày diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã
Trang 3hội Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệpnày một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ và giớithợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựatrên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với ngời làm thuê Sự đóng góp của cả chủ vàthợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi một quốc gia Quỹ này còn đ-
ợc bổ sung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo cho ngời lao động khigặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi
ro, bất lợi cả ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia đình họ
đợc đẩm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinhdoanh diễn ra bình thờng, tránh những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹtiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyếtcác phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo
Toàn bộ những hoạt động đối với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên
đợc thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động Nh vậy, BHXH là
sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họgặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ
sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngờilao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.BHXH là khách quan
2.BHXH là yêu cầu khách quan trên con đờng đi lên CNXH
Bảo hiểm xã hội xuất phát từ yêu cầu bảo đảm một cách vững chắc cuộc sốngcủa ngời lao động.Ngời lao động Việt Nam cũng có mong muốn chính đáng đó.Đốivới nớc ta thì bảo hiểm xã hội cũng là một tất yếu khách quan.Tuy nhiên,quan niệm
về BHXH của Đảng và Nhà nớc ta là khác với các nớc T Bản chủ nghĩa Trên con ờng đi lên chủ nghĩa xã hội ,từng thời kỳ với tình hình thực tiễn của Đảng ta đã đề
đ-ra từng chiến lợc kinh tế đi đôi với những chính sách xã hội cụ thể Trong sự thốngnhất hài hoà giữa hai chính sách đó,Đảng ta cũng xác định rõ tầm quan trọng của
chính sách xã hội: Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng ời và lấy việc phục
vụ con ngời làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng.Đây chính là xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mac_Lênin về “Con ngời là vốn quí nhất ,”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng và từ lý t-ởng ,mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn trong đó có chứa đựngcác đặc trng:Chủ nghĩa xã hội nớc ta là do dân làm chủ.Con ngời đợc giải phóngkhỏi áp bức bóc lột,bất công, làm theo năng lực ,hởng theo lao động,có cuộc sống
ấm no ,tự do ,hạnh phúc,có điều kiện phát triển toàn diện.Từ đó, chính sách xã hộiphải là tổng thể các biện pháp và phơng tiện của Đảng nhằm nâng cao không ngừng
điều kiện sống,lao động và luôn tạo sự an toàn trong cuộc sống lao động của nhân
dân.Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có nêu:”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ngThực hiện các chính sách xã hội nhằm tạo ra sự an toàn trong cuộc sống của mọi
Trang 4thành viên của cộng đồng,bao gồm BHXH cho mọi ngời lao động thuộc các thành phần kinh tế ”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng
BHXH khẳng định tính nhân văn của chế độ trong tiến trình đi lên Xã hội chủnghĩa ở nớc ta
2.Cơ sở khoa học của BHXH.
2.1.Cơ sở xác suất của Bảo hiểm xã hội
Nh trên đã trình bày, BHXH xuất hiện trên những mối quan hệ đặc trng của
sự phát triển công nghiệp và nền kinh tế hàng hoá ,nhằm thoả mãn những nhu cầusinh sống thiết yếu của ngời lao động trong những trờng hợp bị mất hay giảm thunhập do bị mất hay giảm khả năng lao động hay bị mất việc làm Vậy thế nào lànhu cầu thiết yếu?
Thông thờng ngời ta có rất nhiều nhu cầu.Ngoài những nhu cầu chung nhất
mà ai cũng có,còn có những nhu cầu mang dấu ấn cá nhân.Tất cả đợc phân chia làmhai loại nhu cầu thiết yếu và nhu cầu ít thiết yếu hơn.Tuỳ theo khả năng thanhtoán,ngời ta tìm cách thoả mãn các nhu cầu của mình ở các mức khác nhau cũngtheo thứ bậc đó.Chẳng hạn ,trớc hết ngời ta u tiên thoả mãn nhu cầu ăn, mặc, ở rồimới đến nhu cầu giải trí du lịch Vì một lý do nào đó mà ngời lao động bị giảm thunhập hay bị mất hẳn thu nhập thì ngời đó không còn đủ khả năng thanh toán đểthoả mãn các nhu cầu của mình, nhng họ vẫn phải sống,do đó làm nẩy sinh nhu cầulàm sao vẫn có thu nhập.Đó chính là nhu cầu Bảo hiểm xã hội Nhng do QuỹBHXH không phải của riêng ai mà là của chung tất cả mọi ngời tham gia đónggóp.Quỹ đợc hình thành từ khoản đóng góp nho nhỏ hàng tháng của ngời sử dụnglao động ,ngời lao động đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất những biến
cố của tập hợp những ngơì lao động.Vì vậy, khi đem phân phối dới dạng trợ cấp đểtạo nguồn thu nhập cho một số ít trong tổng số những ngơì tham gia không may gặpphải những vấn đề bất lợi nói trên thì không thể bảo đảm một mức thu nhập cao để
có thể thoả mãn tất cả các nhu cầu không thiết yếu Bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở xác suất khoa học và dựa trên các quy luật tâm lý cơ bản.
2.2.Lý luận về lợi ích biên mang lại
Kinh nghiệm nhiều năm về bảo hiểm xã hội trên thế giới cho thấy,thời gian
đóng góp càng dài,số ngời tham gia càng đông, quy mô của quỹ càng mở rộng thì
hiệu quả kinh tế và xã hội của quỹ ngày càng tăng.Cơ sở của sự lựa chọn này là lý thuyết về lợi ích biên giảm dần Có thể giải thích tóm lợc nh sau: Khi một ngời có
nhiều tiền thì mỗi đồng tiền có thêm sẽ mang lại lợi ích cho anh ta ngày càng ít
đi.Ví dụ cụ thể là một ngời nghèo thì rõ ràng rất quý 5000 đ do nó đem lại cho anh
Trang 5ta một bát phở,anh ta cảm thấy cực kỳ sảng khoái khi ăn bát phở đó.Nhng đối vớimột nhà tỷ phú có đánh rơi 5000 đ có lẽ anh ta cũng chẳng thèm nhặt bởi vì 5000 đ
đó hầu nh không mang lợi ích đáng kể cho anh ta
Chúng ta có thể áp dụng mối quan hệ giữa số tiền tăng lên và lợi ích biên của
nó để xem xét hiệu quả của hoạt động và cách tổ chức của Quỹ BHXH
Giả sử chúng ta mỗi năm có 4 đơn vị tiền tệ Đơn vị tiền tệ thứ nhất mang lạimột lợi ích là 4 đơn vị lợi ích,đơn vị thứ 2 mang lại 3,đơn vị thứ 3 mang lại 2 và đơn
vị cuối mang lại một đơn vị lợi ích.Giả sử từ năm thứ nhất đến năm thứ 3 khôngtrích ra một đơn vị tiền tệ nào và cũng không có trờng hợp nào xảy ra suy giảm haymất khả năng lao động nên không phải chi ra một đơn vị tiền tệ nào,do đó cũngkhông mất đi một đơn vị giá trị sử dụng nào.Nhng năm thứ 4 bị ốm đau và phải chicả 4 đơn vị tiền tệ nên mất đi 10 đơn vị giá trị sử dụng.Nếu mỗi năm trích ra một
đơn vị tiền để hình thành một quỹ ,đến năm thứ 4 bị ốm đau phải chi 4 đơn vị tiền tệthì chỉ mất 4 đơn vị giá trị sử dụng.Với cách này,phần tính hữu ích của giá trị sửdụng bị mất đi sẽ nhỏ hơn 6 đơn vị.Hay đây chính là phơng pháp dàn trải thiệt hại
đồng đều theo thời gian Khi mở rộng khoảng cách thời gian thì sự dàn trải thiệt hại
mở rộng ra nhiều thế hệ,làm cho phần tổng thiệt hại của các thế hệ là ít nhất.Nếuhuy động nhiều ngời cùng tham gia và dựa trên cơ sở tính toán xác suất phát sinhcác thiệt hại của cả tập hợp ngời lao động tham gia bảo hiểm xã hội thì thiệt hại do
đóng góp quỹ của mỗi ngời không đáng kể ,song lợi ích họ nhận đợc lại rất lớn.Hay
đây còn là sự dàn trải thiệt hại theo không gian.BHXH là sự kết hợp dàn trải thiệthại cả không gian và thời gian
BHXH là kết quả ứng dụng nhiều môn khoa học cơ bản
II.Cơ sở thực tiễn các chế độ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
1.Một số chế định quan trọng về BHXH.
BHXH là một nội dung quan trọng của chính sách xã hội.Nó luôn đợc Đảng
và Nhà nớc quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện trong suốt quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nớc ta.Thực tiễn chứng minh chính sách BHXH đã thực hiện ở n-
ớc ta vào loại sớm nhất trong khu vực.Bằng sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 của
Chính Phủ ấn định những chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân Nh chúng ta
đã biết, trong thời gian kinh tế còn kém phát triển;chiến tranh kéo dài,nhng BHXH
đã góp phần động viên hàng triệu cán bộ,công nhân,viên chức nhà nớc,lực lợng vũtrang yên tâm sản xuất ,công tác,chiến đấu và gắn bó với chế độ mới
Đặc biệt,từ khi có ánh sáng Nghị quyết đại hội VI ,đất nớc chuyển sang nềnkinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nớc đòi
Trang 6sách xã hội “ Ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP ;trớc hết
nhằm xoá bỏ t duy bao cấp,ỷ lại trong lĩnh vực BHXH; mở ra loại hình BHXH bắtbuộc và BHXH tự nguyện; thực hiện đóng quỹ bảo hiểm đối với những ngời đợc h-ởng BHXH Chính từ Nghị định này và thực tiễn trên 30 năm thực hiện các chế độ
BHXH,cơ chế BHXH đã đợc chế định thành một chơng trong Bộ Luật Lao
Động,và đợc cụ thể hoá trong Điều lệ BHXH mới kèm theo Nghị định 12/CP ngày
26/1/1995 của Chính phủ(áp dụng với công chức, viên chức và mọi ngời lao động)
và Nghị định 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ (áp dụng với sỹ quan,quân
nhân chuyên nghiệp,hạ sỹ quan,binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân) Bớc sang những năm đầu của thế kỷ 21,Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của
chiến lợc kinh tế xã hội trong 10 năm 2001-2010 : Đ ”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng a đất nớc ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển,nâng cao rõ rệt chất lợng đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.Tạo nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại,nguồn lực con ngời,năng lực khoa học và công nghệ,kết cấu hạ tầng,tiềm lực kinh tế,quốc phòng an ninh đợc tăng cờng vững chắc;thể chế cơ chế thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa đợc hình thành cơ bản.Vị thế của nớc ta trong quan hệ quốc tế đợc củng cố và nâng cao”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng.Nhằm góp
phần đạt đợc mục tiêu ấy,Đảng ta vẫn tiếp tục xác định rõ vai trò, vị trí của BHXH
đối với sự nghiệp chung của Đảng và nhân dân ta nh Chỉ thị 15/CT-TW của Bộ chính trị đã ghi : Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà n’Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà n ớc,góp phần ổn định đời sống cho ngời lao động,ổn định chính trị trật tự an toàn xã hội,thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng
2.Thực trạng các chế độ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.
Tháng 6/1952, Tổ chức Lao động quốc tế có công ớc số 102 tại Giơnevơ về một loạt những vấn đề liên quan đến BHXH, trong đó, họ khuyến cáo BHXH thế giới phải hình thành một hệ thống bao gồm 9 chế độ sau:
+ Chế độ chăm sóc y tế+ Chế độ trợ cấp ốm đau+ Chế độ trợ cấp thất nghiệp+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp+ Chế độ trợ cấp tuổi già (hu trí)
+ Chế độ trợ cấp gia đình+ Chế độ trợ cấp sinh đẻ (thai sản)+ Chế độ trợ cấp khi tàn phế
+ Chế độ trợ cấp cho những ngời còn sống( tử tuất)
Trang 7Trong đó một quốc gia đợc coi là có thực hiện chính sách BHXH phải có ítnhất 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có 1 trong 5 chế độ sau: Chế độ trợ cấp ốm đau,Chế độ trợ cấp thất nghiệp, Chế độ trợ cấp sinh đẻ (thai sản), Chế độ trợ cấp khi tànphế, Chế độ trợ cấp cho những ngời còn sống( tử tuất) Đến nay đã có rất nhiều nớcthực hiện đợc cả 9 chế độ Nớc ta cho đến thời điểm hiện tại đã tiến hành 5 chế độBảo hiểm xã hội : Chế độ trợ cấp ốm đau,chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp,Chế độ hu trí và chế độ trợ cấp thai sản.
2.1.Chế độ trợ cấp ốm đau.
Ngời lao động là ngời tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội Khi họ bị
ốm đau, họ phải đợc nghỉ ngơi, điều trị, an dỡng.Trong thời gian này, họ phải đợcxét trợ cấp BHXH thay vì tiền lơng.Mức trợ cấp phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe,thời gian công tác và mức lơng
2.1.1 Ngời lao động muốn đợc hởng chế độ trợ cấp ốm đau phải có các điều
kiện sau:
+Có đóng phí bảo hiểm theo quy định
+Có xác nhận của tổ chức y tế do Bộ y tế quy định về ốm đau, tai nạn, rủi ro.Nếu tự hủy hoại sức lao động do say rợu hoặc dùng chất ma túy thì không đ-
ợc hởng trợ cấp ốm đau
2.1.2.Thời gian tối đa ngời lao động đợc hởng trợ cấp ốm đau đợc quy định:
+Đối với ngời làm việc trong điều kiện bình thờng:
30 ngày/năm nếu đã đóng BHXH dới 15 năm
40 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến dới 30 năm
50 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên+Đối với ngời lao động làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, làmviệc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên đợc hởng:
40 ngày/năm nếu đã đóng BHXH dới 15 năm
50 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến dới 30 năm
60 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên+Ngời lao động bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày thì thời gian đợc hởngtối đa là 180 ngày/năm không phân biệt thời gian đóng BHXH nhiều hay ít
Nếu hết thời hạn 180 ngày mà vẫn phải tiếp tục điều trị thì thời gian này vẫn
đợc hởng trợ cấp ốm đau bằng 70% mức tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH trớc khinghỉ việc nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.Bằng 65% mức tiền lơng làm căn cứ
đóng BHXH trớc khi nghỉ việc nếu đóng BHXH dới 30 năm
+Nếu ngời lao động có con thứ nhất, con thứ hai (kể cả con nuôi theo quy
định của Luật hôn nhân gia đình) dới 7 tuổi bị ốm đau có yêu cầu của tổ chức y tếphải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau đợc hởng trợ cấp BHXH (nếu cả bố mẹ có
Trang 8con ốm đau đều tham gia BHXH thì chỉ 1 ngời đợc hởng trợ cấp BHXH trong thờigian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau).
Thời gian tối đa đợc hởng trợ cấp chăm sóc con ốm đau:
20 ngày/năm đối với con dới 3 tuổi
15 ngày/năm đối với con từ 3 tuổi đến dới 7 tuổiMức trợ cấp ốm đau nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau bằng 75% mức tiền l-
ơng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi nghỉ việc
+ Ngời lao động thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình:
Nạo thai đợc hởng nghỉ trợ cấp 20 ngày nếu thai dới 3 tháng, 30 ngày nếuthai từ 3 tháng trở lên
Nam thắt ống dẫn tinh, nữ thắt ống dẫn trứng đợc nghỉ việc hởng lơng 15ngày
Lao động nữ đặt vòng hoặc hút điều hoà kinh nguyệt đợc hởng trợ cấp 7ngày
Mức trợ cấp bằng 75% mức tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi nghỉviệc.( NĐ 12CP ngày 26/01/1995).( TT06 LĐTBXH ngày 04/04/1995)
2.1.3 Những tồn tại trong thanh toán trợ cấp ốm đau, thai sản
Thực hiện chi trả đúng đối tợng, đúng chế độ chính sách BHXH là công đoạntơng đối phức tạp của quá trình thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với ngời lao
động Nó không những bảo đảm việc thực hiện tốt chính sách của Đảng vàNhà nớc
ta mà nó còn mang một ý nghĩa chính trị ,kinh tế xã hội sâu sắc Trong đó việc chitrả đúng,đủvà kịp thời trợ cấp ốm đau ,thai sản là việc làm có ý nghĩa,giúp ngời lao
động không bị đảo lộn cuộc sống trong khi bản thân tạm thời không có khả nănglao động va không đợc thanh toán tiền lơng Trong những năm qua, việc chi trả haichế độ ốm đau,thai sản đã đợc cơ quan BHXH VN hết sức quan tâm, tạo mọi điềukiện để ngời lao động đợc trợ cấp một cách nhanh, kịp thời Từ năm 1996 đến năm
2001, ngàng BHXH đã thực hiện chi trả cho trên 5 triệu lợt ngời hởng chế độ ốm
đau với tông số tiền trên 432.529 triệu đồng;chi trả cho gần 770 nghìn ngời nghỉthai sản với số tiền gần 1.030 tỷ đồng
Tỷ lệ chi trợ cấp ốm đau, thai sản chiếm khoảng 25% so với tổng chi các chế
độ BHXH Tuy nhiên con số này chỉ là thống kê theo báo cáo, cha phản ánh mộtcách chính xác và đầy đủ con số thực té về tỷ lệ ốm đau thai sản của ngời lao độngtrên hai khía cạnh:
Thứ nhất, đối với các DNNQD: Tỷ lệ chi ốm đau cao thờng tập trung ở các
DNNQD, đặc biệt các nông lâm trờng,các đơn vị sản xuất kinh doanh không ổn
định,thiếu việc làm cho ngời lao động Trên thực tế,tỷ lệ chi hai chế độ ốm đau ,thai
Trang 9sản có biểu hiện ngày càng cao và đặc biệt cao ở một số đơn vị sử dụng lao động donhiều nguyên nhân Về khách quan thì một số đơn vị nhiều lao động nữ, đặc biệt lalao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ;lao động nặng nhọc, độc hại là những yếu tố dẫn
đến tỷ lệ sinh đẻ và ốm đau tăng Tại một số công ty có vốn đầy t nớc ngoài, có hiệntợng ngời lao đông thoả thuận với giám đốc xin vào làm việc và chi sau đó mấytháng là xin nghỉ đẻ, nghỉ ốm, sau khi nghỉ xong theo chế độ quy định của Điều lệBHXH thì ngời lao động xn nghỉ việc hoặc xin chuyển cơ quan Rõ ràng đây là kẽ
hở của chính sách BHXH đã không quy định về điều kiện thời gian tham gia BHXHtối thiểu để đợc hởng chế độ ốm đau,thai sản nh nhiều nớc trên thế giới đã thựchiện
Tuy nhiên,cũng nhiều ý kiến cho rằng tỷ lệ chi hai chế độ ốm đau, thai sảntăng mạnh chính là từ sự thiếu trách nhiệm của những đơn vị sử dụng lao động vàcác cơ sở y tế Không ít trờng hợp với mục đích cá nhân hoặc một nhóm cá nhân mà
đã lợi dụng những điểm còn cha phù hợp hoặc thiếu chặt chẽ của ĐIều lệ BHXH vàcác quy định về BHXH để thanh toán tiền ốm đau từ quỹ BHXH Chủ sử dụng lao
động ở nhiều đơn vị không có việc làm, sản xuất không ổn định,ngời lao độngkhông có thu nhập hoặc thu nhập thấp đã tạo điều kiện cho ngời lao động “nghỉốm”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng để thanh toán tiền BHXH bởi vì tiền trợ cấp ốm đau do quỹ BHXH chi trả còncao hơn tiền công của ngời lao động và bản thân chủ sử dụng lao động thì lại khôngphải trả lơng Về phía các cơ sở y tế, hoặc có thể cha hiểu hết đợc trách nhiệm củamình trong việc cấp giấy nghỉ ốm chongời lao động có liên quan nh thế nào đếnviệc hởng trợ cấp ốm đau của họ hoặc cũng có thể có một số y, bác sĩ đã thiếu tráchnhiệm nghề nghiệp, bỏ qua sự gian trá của chủ sử dụng lao động và ngời lao độnglập nên những hồ sơ “giả”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng hởng trợ cấp ốm đau Việc thẩm định chi hai chế độ ốm
đau.thai sản dựa trên chứng từ là các giấy nghỉ hởng BHXH do các cơ sở y tế xácnhận,nên có những đơn vị chủ sử dụng lao động còn chỉ đạo trạm y tế cơ quan ghingày nghỉ của số cán bộ CNV trong đơn vị đợc hởng chế độ theo quy định hangnăm để rút tiền BHXH về làm quỹ cơ quan Quả là một việc làm hết sức “hợp lý”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng vềthủ tục hồ sơ mà lại phạm pháp.!
Rõ ràng là việc làm thủ tục hồ sơ nghỉ ốm “giả”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng giữa ngời lao động, chủ sửdung lao động và các cơ sở y tế là không mấy khó khăn khi mà trách nhiệm của họthiếu vững vàng và thiếu hiểu biết về sự ràng buộc trách nhiệm của mình đối vớiquyền lợi hợp pháp của ngời lao động Có nhiều đơn vị cho rằng thôi thì trong lúckhó khăn,ngời lao động không có việc làm, không có tiền lơng thì để cho họ hởng
“cái”Nhằm phát huy mọi khả năng của con ng BHXH của Nhà nớc để mà sống Nếu chẳng may cơ quan BHXH có phát hiện
ra thì sự đã rồi, truy thu sau cúng chẳng sao vì có bị phạt gì đâu ?!
Trang 10Tất cả những thực trang trên không những dẫn tới quỹ BHXH bị thâm hụt một cáchtrầm trọng,mà sâu xa hơn còn làm mất sự công bằng trong xã hội, vi phạm Điều lệBHXH đã đợc quy định trong Bộ luật lao dộng.
Thứ hai,đối với các đơn vị hởng lơng từ NSNN Tại các đơn vị này tồn tại một
thực trạng là phần đông số ngời nghỉ ốm thờng chỉ báo cáo với cấp lãnh đạo để xinnghỉ ngời lao động nghỉ ốm nhng không hởng trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH màvẫn hởng lơng từ NSNN bởi nếu hởng BHXH thì chỉ ddợc 75% lơng NSNN Vềphía lãnh đạo đơn vị thì hoặc là không để ý đến hoặc cũng hiểu nhng thôi thì…đấyđấy
là của Nhà nớc(!) Chính vì lẽ đó mà tỷ lệ chi hai chế độ ở những đơn vị HCSN ờng thấp hơn
Điều lệ BHXH quy định, trong tổng số 20% đóng BHXH thì 5% đợc dùng chicho hai chế độ ốm đau, thai sản.Điều này cũng kông có nghĩa là việc chi hai chế độnày chỉ giới hạn trong 5%, mà thực tế nhiều đơn vị chi lớn hơn 5% thì quỹ BHXHvẫn phải chi trả Đây chinh là sự thể hiện tính chất cộng đồng của chính sáchBHXH Tuy nhiên, với những tồn tại nêu trên cho thấy số liệu thống kê chi trả củangành BHXH hiện nay cũng cha phản ánh đúng thực tế tỷ lệ ốm đau,thai sản củangời lao động Vì vậy để phản ánh chính xác đợc tỷ lệ chi hai chế độ ốm đau,thaisản làm cơ sở cho việc tính toán tỷ lệ đóng BHXH dùng chi trả cho hai chế độ nàytiến tới xây dựng Luật BHXH
Bảng:Đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội 1996-2002.
Trang 11nữ có thai, sinh con thứ nhất, thứ 2 hoặc lao động nữ nuôi con sơ sinh.Tất nhiênnhững đối tợng trên có tham gia đóng bảo hiểm xã hội nên mới đợc hởng
2.2.2 Thời hạn
-Khi có thai đợc nghỉ việc khám thai 3 lần, mỗi lần 1 ngày
-Sảy thai sản xuất nghỉ 20 ngày 30 ngày tuỳ theo tháng thai
-Khi sinh con đợc nghỉ 4 - 6 tháng tuỳ theo điều kiện làm
-Sinh 1 lần nhiều con thì tính từ con thứ 2 trở đi, mỗi con sinh thêm mẹ đợcnghỉ thêm 30 ngày
-Trờng hợp sau khi sinh con chết, ngời mẹ đợc nghỉ 75 ngày kể từ ngày sinh.Nếu con dới 60 ngày tuổi bị chết thì ngời mẹ đợc nghỉ thêm 15 ngày kể từ khi con
bị chết Nhng không quá thời hạn nghỉ sinh con theo quy định chung
-Nếu nuôi con sơ sinh thì ngời nuôi sản xuất nghỉ cho đến khi con đủ 4 thángtuổi
h-định cho họ mà còn liên quan trực tiếp đến sự ổn h-định xã hội - chính trị của đất nớc
Hiểu rõ vai trò đó, ngành bảo hiểm xã hội đã thực hiện tốt công tác chi trảchế độ bảo hiểm xã hội Năm 2000 đã có gần 160 ngàn ngời nghỉ hởng chế độ thaisản với số tiền đợc nhận từ ngành bảo hiểm xã hội trên 228,6 tỷ đồng.Đến 6 tháng
đầu năm 2001 có hơn 150 nghìn ngời chỉ chế độ thai sản đợc thanh toán từ quỹ bảohiểm xã hội số tiền gần 179 tỷ đồng
Hiện nay trong các doanh nghiệp thu nhập thực tế của ngời lao động cao hơnquỹ lơng tham gia đóng bảo hiểm xã hội thậm chí gấp nhiều lần.Thu nhập này cònthuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khối lợng sản phẩm khoánthuộc vào công việc đợc doanh nghiệp giao cho.Đối với các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh phát đạt và ổn định thu nhập thực tế của ngời lao động khá cao Họ chỉquan tâm đến việc làm, đến thời gian sản xuất trong doanh nghiệp
Do vậy đối tợng lao động trong các doanh nghiệp này ngoài nghỉ thai sản và
điều trị bệnh lâu dài ngày bắt buộc tại bệnh viện thì họ không cảm thấy cần thiếtviệc thanh toán trợ cấp khác qua cơ quan bảo hiểm xã hội (kể cả trợ cấp ốm đau)
Trang 12Còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặo khó khăn Việc trả đủ tiềncho ngời lao động trở thành vấn đề nan giải cha đến chuyện đóng đủ bảo hiểm xãhội cho ngời lao động Nhiều lao động tại các đơn vị này luôn phiên nhau nghỉ ốm
để đợc cơ quan bảo hiểm thanh toán Nh là một biện pháp tăng thu nhập hoặc lấytiền từ bảo hiểm xã hội để quay lại đóng bảo hiểm xã hội
XN, Cty
Số ngời nghỉ ốm
Ngày nghỉốm
Ngời nghỉ ( )
Ngày nghỉ ( )
Trong các doanh nghiệp gặp khó khăn việc cấp các chứng từ nghỉ ốm trở nên
dễ dàng hơn với những doanh nghiệp lớn có hệ thống y tế trực thuộc dễ dàng có sựthoả thuận hay chỉ đạo của chủ sử dụng lao động
Trong khối doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đặc điểm nổi bật là ngời lao
động đóng bảo hiểm xã hội với mức lơng cao hơn khi thanh toán các chế độ bảohiểm xã hội họ cũng đợc cao Nhiều doanh nghiệp loại hình này cũng nhận vào làmviệc những ngời mắc bệnh dài ngày, những ngời có thai, đóng bảo hiểm xã hội vàitháng để sau đó đợc hởng bảo hiểm xã hội với số tiền lớn
Ví dụ: trờng hợp bà Lê Thị Hồng Vân làm việc tại văn phòng đại diện BTRPower System: đóng bảo hiểm xã hội đợc 7 tháng với mức đóng 34 USD 1 tháng thìnghỉ thai sản đợc cơ quan bảo hiểm xã hội thanh toán trên 120 triệu đồng bỏ việc
b Những mặt hạn chế bất cập trong quản lý chi trả trợ cấp thai sản
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao
động Việc quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của ngành; Chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng đối tợng là mục đích củacông tác quản lý chi
ở đây chúng tôi chỉ nói đến chi trả thai sản là một loại trợ cấp ngắn hạn haynói cách khác đây chính là chi trả BHXH trả thay lơng Ngời lao động đang làmviệc đợc hởng tiền lơng hoặc tiền công và có tham gia đóng BHXH Nhng trongthực tế hiện nay khi thanh toán chi trả ốm đau thai sản của những đơn vị liên doanhhoặc của những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, chứng từ C04-BH đã đợc đánhmáy vi tính sẵn cho từng ngời lao động và bình quân ai cũng nghỉ ốm 3 ngày trongmột đợt thanh toán Cho đến khi thanh toán hết ngày đợc nghỉ theo điều lệ BHXH là
30, 40, 50 hoặc 60 ngày Trong những năm qua có những xí nghiệp, doanh nghiệp
có nhiều lao động nữ thanh toán
Đây là mới nói đến khâu chứng từ ban đầu Còn khâu thẩm định chứng từ đểquyết toán chi trả thai sản lại là một vấn đề cần quan tâm tiếp Căn cứ chứng từC03-BH, C04-BH cơ quan BHXH thẩm định và tổ chức chi trả cho ngời lao động đ-
Trang 13ợc hởng trợ cấp này Để theo dõi ngời lao động nghỉ BHXH trong năm điều lệBHXH nh đã nêu ở trên, những đơn vị đã áp dụng công nghệ thông tin và đã có mã
số thu BHXH khi phát sinh chứng từ cập nhật vào máy thì chúng ta mới kiểm trakiểm soát đợc ngày nghỉ thuận lợi, những đơn vị làm thủ công hoàn toàn bằng taythì việc kiểm soát này rất khó khăn
Mặt khác, không ít đơn vị nợ đọng BHXH chứng từ phát sinh cách đây 1,2,3năm thậm chí có những đơn vị truy thu 4 - 5 năm mới thanh toán 2 chế độ thai sản
đã gây không ít khó khăn trong khâu quản lý Các chứng từ gốc khi lên liên báo cáoquyết toán biểu 3A-CBH, 3B-CBH để so sánh tỉnh tỷ lệ % chi thai sản trong năm thìquả là một bất cập, tổng quỹ lơng ngời tham gia lao động năm nay nhng lại so sánhvới số chi ốm đau thai sản của những năm trớc, do đó tỷ lệ thực chi so với tổng quỹlơng không chính xác, dẫn đến việc phân tích số liệu quản lý chi trả ốm đau thai sảncũng gặp khó khăn Hiện nay đã thực hiện chi nghỉ dỡng sức phục hồi sức khoẻ vàviệc thanh quyết toán chỉ thực hiện theo niên độ kế toán Nh vậy cùng một báo cáoquyết toán: ốm đau, thai sản, nghỉ dỡng sức phục hồi sức khoẻ có loại trợ cấp chỉ đ-
ợc quyết toán trong năm có loại lại đợc quyết toán của những năm trớc
2.2.5 Giải pháp
Giải pháp nào để khắc phục tình trạng lợi dụng quỹ BHXH, bảo đảm chi trảcác chế độ BHXH một cách chính xác và công bằng, đây là vấn đề đang đợc cácnhà nghiên cứu chính sách BHXH và thực hiện BHXH rất quan tâm Thông t liêntịch số 11/1999/TTLT-BYT- BHXH ngày 22/6/1999 quy định cụ thể việc khámchữa bệnh, cấp giấy chứng nhận nghỉ việc cho ngời bệnh tham gia BHXH, quan đó
đã giao nhiều quyền hạn cho các y, bác sỹ trong ngành y tế về việc nghỉ hởngBHXH cho ngời lao động Với những chứng từ do ngành y tế cấp, cơ quan BHXHphải thực hiện chi trả trợ cấp cho ngời lao động Để đảm bảo sự chính xác, đòi hỏingành y tế cần kiên quyết trớc hiện tợng ốm giả, có trách nhiệm với những giấy tờ,
hồ sơ đã cấp Theo chúng tôi, chi trả 2 chế độ BHXH ngắn hạn có thể thay đổi cáchlàm nh hiện nay và thực hiện thí điểm ở một số doanh nghiệp, một số vùng để xác
định hiệu quả chắc chắn của nó, trớc khi đa vào Luật BHXH thành cơ sở pháp lý
Đó là với khối HCSN, với đặc điểm tập trung hành chính quận huyện, nơi tập trung
hệ thống y tế, thuận tiện cho việc khám bệnh, điều trị, việc chi trả 2 chế độ vẫn ápdụng nh hiện nay, thanh toán trên cơ sở hồ sơ, bệnh án và do cơ quan BHXH thựchiện, với nhiều doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có đông lao động nữ, doanh nghiệphoạt động phân tán, lu động nh ngành dệt may, xây dựng, cầu đờng, địa chất cóthể khoán chi 2 chế độ cho doanh nghiệp Điều đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệpkhông mất nhiều thời gian thanh toán BHXH, chủ động chi ốm đau, thai sản và đócũng chính là mong mỏi của nhiều doanh nghiệp mà chúng tôi đã tiếp xúc, thuận lợi
Trang 14ngời lao động Điều quan trọng là nếu thực hiện khoán chi thì tỷ lệ khoán là baonhiêu để đảm bảo chính xác và công bằng Với khối doanh nghiệp có vốn đầu t nớcngoài cần khống chế thời gian tối thiểu tham gia BHXH trớc khi đợc hởng chế độthai sản (ví dụ 12- 24 tháng), khống chế số tháng đợc hởng tơng xứng với thời giantham gia BHXH đối với những bệnh dài ngày.
Bảo đảm quyền lợi chính đáng của ngời lao động, bảo toàn và phát triển quỹBHXH luôn là những nhiệm vụ trọng yếu của ngành BHXH
Bảo đảm chi trả các chế độ BHXH cho đối tợng đủ điều kiện thụ thởng đầy
đủ và nhanh chóng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của hệ thống BHXHViệt Nam Hiện nay, với trên 1,8 triệu ngời hởng lơng hu và trợ cấp BHXH thờngxuyên, những ngời đã đónh rất nhiều công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng tổquốc, phần lớn trong số họ cuộc sống hàng ngày chỉ trông vào đồng lơng hu, nhiềungời khi nghỉ hu lại chuyển về sinh sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Việc chitrả đầy đủ, đúng thời gian các chế độ BHXH nhất là trợ cấp thờng xuyên khôngnhững bảo đảm đời sống ổn định cho đối tợng mà còn liên quan trực tiếp tới sự ổn
định về xã hội, chính trị của đất nớc Hiểu rõ vai trò quan trọng đó, bằng nỗ lực củacác ngành hữu quan nh chính quyền địa phơng, hệ thống kho bạc Nhà nớc, ngânhàng ngành BHXH đã thực hiện tốt công tác chi trả các chế độ BHXH Năm
2000 chi trả số tiền trên 7.556 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2001 thực hiện chi trả sốtièn 4.708 tỷ 521 triệu đồng
Năm 2000 đã có trên 1 triệu lao động nghỉ hởng chế độ ốm đau, với trên 6triệu ngày công đợc ngành BHXH thanh toán trên 80,2 tỷ đồng, có gần 160 ngànngời nghỉ hởng chế độ thai sản với số tiền đợc nhận từ ngành BHXH trên 228,6 tỷ
đồng, 6 tháng đầu năm 2001 có hơn 523 nghìn lợt ngời nghỉ hởng chế độ ốm đauvới trên 3 triệu ngày công, số tiền thanh toán gần 44,8 tỷ đồng, có 150 nghìn ngờinghỉ chế độ thai sản đợc thanh toán từ quỹ BHXH số tiền gần 179 tỷ đồng
Trong khối HCSN, ngời lao động hởng mức lơng cố định theo thang bậc lơng
do Nhà nớc quy định và đó cũng chính là quỹ tiền lơng tham gia BHXH đợc cấp bởingân sách Nhà nớc Ngoài những trờng hợp thai sản, điều trị bênh dài ngày trongcác bệnh viện, ngời lao động thờng hạn chế việc nghỉ ốm, nếu có đầy đủ chứng từnghỉ ốm họ cũng chỉ đợc thanh toán 75% mức lơng tham gia BHXH do ngànhBHXH chi trả theo quy định, do vậy thanh toán nghỉ ốm không có lợi cho họ Năm
2000, với trên 1,5 triệu lao động tham gia BHXH, chỉ có 70 nghìn lợt ngời nghỉ ốm,với 760 nghìn ngày công, chi trả 9,68 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2001, cùng với sốlao động trên 1,5 triệu ngời, có 32 nghìn lợt ngời nghỉ ốm, với 444 nghìn ngàycông, chi trả trên 5,2 tỷ đồng
Khối doanh nghiệp Nhà nớc, có số lao động tham gia BHXH xấp xỉ khốiHCSN, cũng trên 1,5 triệu ngời, nhng số ngời nghỉ ốm năm 2000 lên đến 770 nghìn
Trang 15lợt ngời với số tiền trên 4,7 triệu ngày công và số tiền chi trả từ quỹ BHXH lên đến52,4 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2001 đã có gần 400 lợt ngời nghỉ ốm với 2,3 triệungày nghỉ và số tiền phải chi từ quỹ BHXH là 29,88 tỷ đồng So với khối HCSN,mọi chỉ số trong nghỉ ốm tăng gấp nhiều lần.
Hiện nay trong các doanh nghiệp, thu nhập thực tế của ngời lao động thờngcao hơn quỹ lơng tham gia đóng BHXH, thậm chí gấp nhiều lần Thu nhập này phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vào khối lợng sản phẩmkhoán, vào công việc sản xuất doanh nghiệp giao cho Với những doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh phát đạt và ổn định, thu nhập thực tế của ngời lao động khá cao, họchỉ quan tâm đến việc làm, thời gian sản xuất trong doanh nghiệp Do vậy đối vớingời lao động trong các doanh nghiệp này, ngoài nghỉ thai sản và điều trị bênh dàingày bắt buộc tại các bệnh viện, việc thanh toán ngày công ốm qua cơ quan BHXHtrở lên nên không cần thiết
Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, việc trả đủ
l-ơng cho lao động cũng trở thành vấn đề nan giải, cha nói đến đóng đủ BHXH chongời lao động Nhiều lao động tại các đơn vị này luân phiên nhau nghỉ ốm để đợccơ quan BHXH thanh toán, nh là một biện pháp tăng thu nhập hoặc lấy tiền từBHXH để quay lại đóng BHXH Xí nghiệp gạch tuy - nen (Lào Cai), có số lao độngtham gia BHXH là 153 ngời, quý I/2001 có 144 lợt ngời nghỉ ốm với số ngày là
1017 ngày; xí nghiệp dệt len Sài Gòn có 587 lao động, số ngời nghỉ ốm trong quý I/
2001 là 638 ngời với 1881 ngày công; Công ty cao su Phớc Hoà (Bình Phớc), chỉtrong thời điểm quý I/2001 đã thanh toán cho2.336 lợt ngời nghỉ ốm với số ngàycông là 9.287 ngày công và 166 ngời nghỉ thai sản; Công ty dệt Thanh Sơn (ĐàNẵng) có 238 lao động, chỉ trong quý I/2001 đã có 395 ngời nghỉ ốm với số ngàynghỉ là 2.786 ngày, số ngời nghỉ thai sản là 23 ngời Xí nghiệp gạch ngói Lai Nghi(Đà Nẵng) cũng trong quý I/2001, chỉ với 53 lao động đã có số lợt ngời nghỉ 2 chế
độ là 123 lợt ngời Trong những doanh nghiệp đang gặp khó khăn, việc cấp cácchứng từ nghỉ ốm trở nên dễ dàng hơn với những doanh nghiệp lớn có hệ thống y tếtrực thuộc, dễ dàng có sự thoả thuận hay chỉ đạo của chủ sử dụng lao động Vậytrong các thí dụ nhỏ nêu trên, khi số lợng ngời nghỉ ốm lớn nh vậy, thử hỏi còn baonhiêu lao động làm việc trong ngày? Cá biệt có đơn vị có số chỉ 2 chế độ quá cao,chiếm tới 8,7% so với tổng quỹ tiền lơng tham gia BHXH
Với khối lợng doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, đặc điểm nổi bật là ngờilao động đóng BHXH với mức lơng cao và khi thanh toán các chế độ BHXH, họcũng đợc hởng cao Nhiều doanh nghiệp loại hình này đã nhận vào làm việc nhữngngời mắc bệnh dài ngày, những ngời đang có thai, đóng BHXH vài tháng, để sau đó
đợc hởng BHXH với số tiền lớn