1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ

59 940 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Trường học Trường Đại Học Phú Thọ
Chuyên ngành Bảo Hiểm Xã Hội
Thể loại luận văn
Thành phố Việt Trì
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ

Trang 1

ời lao động, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay.

Điều kiện để Bảo hiểm xã hội tồn tại và phát triển là cần phải có một nguồn quỹ độc lập, hoạt động theo nguyên tắc của một quỹ tài chính Quỹ này đợc hình thành chủ yếu trên cơ sở đóng góp của ngời lao động, ngời

sử dụng lao động và sự giúp đỡ của Nhà nớc Nguồn hình thành quỹ và vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn quỹ bảo hiểm xã hội có ý nghĩa sống còn đối với ngành Bảo hiểm xã hội hiện nay

Đặc biệt, công tác chi trả là một vấn đề mới rất quan trọng đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và đời sống ngời của các đối tợng tham gia Bảo hiểm xã hội , xuất phát từ nhận thức trên, cho nên trong quá trình thực tập làm luận văn tốt nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ em đã chọn đề tài: "Thực trạng chi trả các chế độ BHXH tại BHXH thành phố Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ" Để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp

Mục đích nghiên cứu ở đây là: nhằm tìm ra đợc một số tồn tại và nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội để hoạt động Bảo hiểm xã hội ở nớc ta nói chung và ở thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ nói riêng ngày càng có hiệu quả tốt hơn

Nội dung đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 03 chơng:

Chơng I: Những vấn đề cơ bản về BHXH và chế độ BHXH

Chơng II: Thực trạng chi trả các chế độ BHXH tại BHXH thành phố

Việt Trì - tỉnh Phú Thọ

Trang 2

Chơng III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

hoạt động chi trả các chế độ BHXH

Chơng I

Trang 3

Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội và

chế độ bảo hiểm xã hội

i- Sự cần thiết khách quan và vai trò của Bảo

hiểm xã hội:

1-Bản chất của bảo hiểm xã hội :

BHXH là sản phẩm tất yếu của một xã hội phát triển đến một trình độ nhất định về kinh tế và tổ chức xã hội.Bản chất của BHXH đợc thể hiện ra trên một số mặt cơ bản sau:

+ Về phơng diện cá nhân,BHXH là một nhu cầu của con ngời.

BHXH nhằm đảm bảo an toàn tính mạng con ngời, giữ cho cuộc sống ổn định , an toàn ,tránh đợc nghèo đói sa sút, khi bị mất những nguồn thu nhập trong cuộc sống Đó chính là các nhu cầu về BHXH , và cũng là những nhu cầu tự nhiên trong hệ thống các nhu cầu về cuộc sống của con ngời Điều này xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo các tiêu chuẩn hay giá trị cho một cuộc sống tối thiểu Theo nhà nghiên cứu tâm

lý và hành vi của con ngời (Abraham Maslow) nhu cầu BHXH nằm trong nhóm các nhu cầu ở bậc thiết yếu cùng với các nhu cầu về điều kiện sinh tồn khác là cơm ăn , áo mặc và các điều kiện sinh hoạt khác nh nhà ở ,đi lại ở mức tối thiểu Và BHXH cần phải đợc đảm bảo trớc khi thoả mãn các nhu cầu xã hội khác rộng hơn trong đời sống của con ngời nh các nhu cầu về quan hệ trong xã hội , về địa vị xã hội

BHXH thực sự là một trong những nhu cầu bức thiết Các Mác đã từng viết “Vì nhiều rủi ro khác nhau nên phải giành một số thặng d nhất

định cho quĩ bảo hiểm xã hội để baỏ đảm mở rộng theo kiểu luỹ tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết ,phù hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số “ BHXH thoả mãn nhu các cầu về bảo đảm cuộc sống nh đã trình bày ở trên còn là cần thiết để tái sản xuất sức lao

động , một trong những tiền đề quan trọng nhất cho quá trình tái sản xuất xã hội

Trang 4

+Dới góc độ kinh tế:

BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp.Trong đó :đối với những ngời hởng các chế độ của BHXH, thì đó là sự bảo đảm thu nhập , bảo đảm cuộc sống khi họ ở trong điều kiện khó khăn do bị giảm hay mất khả năng lao

động mà bị giảm hay mất thu nhập Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân,hoạt động của BHXH mang nội dung của quá trình phân phối và quá trình phân phối lại một phần thu nhập trong dân c thông qua việc hình thành và sử dụng quĩ BHXH, một quỹ tiền tệ tập trung có quy mô rất lớn

và ngày càng tăng lên

Khi có sự phát triển của thị trờng tài chính và nếu đợc quản lí và sử dụng tốt, quỹ BHXH còn có khả năng sinh lợi qua các hoạt động đầu t hợp pháp khác nhau Việc sử dụng quỹ BHXH để đầu t sinh lời đợc thấy rất rõ trong các nớc có nền kinh tế và thị trờng phát triển Hiện tại BHXH Việt nam đã bắt đầu thực hiện hoạt động này nh dùng quỹ BHXH để mua trái phiếu kho bạc nhà nớc Trong tơng lai việc sử dụng quỹ này vào các hoạt

động đầu t cũng sẽ đợc mở rộng ra với nhiều hình thức khác nhau

+Về phơng diện chính trị:

BHXH là sự liên kết giữa những ngời lao động khác nhau trong xã hội cùng vì lợi ích chung của cộng đồng, trong đó có các cá nhân tham gia BHXH.BHXH cũng phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định Đối với quốc gia đây còn là những hoạt động thể hiện thái độ trách nhiệm của chính phủ đối với ngời dân trong xã hội.Trong rất nhiều nớc, sự không

ổn định hay khủng hoảng của hệ thống BHXH đều có tác động rất mạnh

đến hệ thống chính trị của các nớc đó.Chính vì vậy mà các chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của các chính sách về kinh tế , xã hội,

và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ thống các chính sách quản

lý đất nớc của các quốc gia

+ Về mặt xã hội :

BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm

đảm bảo đời sống cho ngời dân và làm lành mạnh xã hội Thông qua đó

mà bảo vệ và phát triển nguồn lao động , xã hội , mở rộng sản xuất , phát triển kinh tế , ổn định trật tự xã hội nói chung BHXH mang tính nhân

Trang 5

văn , nhân đạo sâu sắc vì lợi ích của con ngời trong những hoàn cảnh gặp khó khăn ,vì an sinh xã hội và có ý nghĩa xã hội rất lâu dài.

Nh vậy , tổ chức và vận hành một hệ thống BHXH phải đứng trên quan điểm tổng thể toàn diện BHXH không thể tách khỏi một thể chế chính trị nhất định và chỉ dựa trên những cơ sở nền tảng kinh tế cụ thể BHXH không phải là loại hình bảo hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm

mà đó là sự bảo hiểm đặt trong những ràng buộc giữa những con ngời với nhau trong những mối quan hệ nhất định trong cộng đồng , mặc dù xuất phát điểm bao giờ cũng là các nhu cầu của mỗi con ngời

2- Sự cần thiết khách quan và vai trò của Bảo hiểm xã hội:

và những ngời phụ thuộc Nhng trong thực tế không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sống bình th-ờng Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác nh bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động mất khả năng nuôi dỡng hoặc khi tuổi già khả năng lao động và khả năng phục vụ đều suy giảm

Khi lâm vào hoàn cảnh đó, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm trí có thể xuất hiện thêm nhu cầu mới, nh khi ốm đau cần phải chữa bệnh, khi sinh đẻ có nhu cầu bồi dỡng cho ngời mẹ hoặc đứa con và hàng loạt các nhu cầu khác Bởi vậy muốn tồn tại con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và

Trang 6

thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau, một trong những cách

đó là “Bảo hiểm xã hội”

Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động hay bị mất việc làm Bảo hiểm xã hội còn là một chính sách xã hội cần thiết của Nhà nớc đối với ngời lao động và các thành viên trong gia đình họ Bởi vậy, Bảo hiểm xã hội tồn tại khách quan và là nhu cầu cần thiết đối với ngời lao động, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay

ở nớc ta, hiện nay Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng

và Nhà nớc Với chức năng thông qua việc huy động các nguồn đóng góp của các thành viên để trợ cấp lại cho họ nhằm khắc phục những khó khăn

về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra khi họ bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn góp phần đảm bảo an toàn xã hội, tăng cờng sức mạnh của hệ thống chính trị Hoạt động Bảo hiểm xã hội mang ý nghĩa nhân văn là nét đẹp tổng hoà về đạo lý và văn hoá của cộng

đồng trên cơ sở bắt buộc hoặc tự nguyện hợp tác vì sự tiến bộ của xã hội

Thế giới hoạt động bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển gần 200 năm, đã trải qua các hình thái kinh tế- xã hội khác nhau, mỗi hình thái có một cách giải quyết đặc thù nhất định Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, do cha có t hữu t liệu sản xuất, mọi ngời cùng nhau hái lợm, săn bắn, sản phẩm thu nhập phân bố bình quân nên khó khăn, bất lợi của mỗi ngời đợc cả cộng đồng san sẻ, gánh chịu Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng lộc của Nhà Vua, dân c thì dựa vào sự

đùm bọc lẫn nhau trong họ tộc, cộng đồng làng xã hoặc sự cứu giúp của những ngời hảo tâm và của Nhà nớc Ngoài ra, họ còn có thể đi vay hoặc

đi xin Với những cách này, ngời gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp đỡ Do đó, sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể có hoặc không, có thể nhiều hoặc ít, không hoàn toàn chắc chắn

Từ khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển, xuất hiện việc thuê mớn nhân công, lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, dần dần về sau phải cam kết các việc đảm bảo cho ngời làm thuê có một

Trang 7

số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu sống thiết yếu khi họ

ốm đau, tai nạn, thai sản, tuổi già

Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra nên ngời chủ không phải chi một đồng tiền nào Nhng cũng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc ngời chủ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, giới thợ phải liên kết với nhau để đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện những cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội Dần dần trong cơ chế thị trờng đã xuất hiện một bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện những cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng hoạt động thích hợp của nó Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi trực tiếp những khoản tiền lớn khi ngời lao động làm thuê bị ốm đau, tai nạn giới chủ có thể trích ra hàng tháng một khoản tiền nhỏ đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất những biến cố của tập hợp những ngời lao động làm thuê Số tiền này

đợc giao cho bên thứ ba tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ Khi ngời lao

động bị ốm đau, tai nạn thì cứ theo các cam kết giữa giới chủ và giới thợ bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ có muốn hay không Nhvậy, một mặt giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế bởi một lúc không phải chi

ra một khoản tiền lớn, mặt khác ngời lao động làm thuê lại đợc đảm bảo chắc chắn phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn lao động, thai sản

Trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, không ai có thể dự tính hết đợc mọi khía cạnh, nhiều trờng hợp rủi ro xảy ra vợt quá khả năng khắc phục của một ông chủ Để tồn tại, các ông chủ cũng phải liên kết với nhau trong việc chống lại áp lực đấu tranh của giới thợ, đồng thời cũng để san sẻ gánh nặng rủi ro với nhau Song trong thực tế, vấn đề lợi ích luôn luôn vận động với tất cả những khía cạnh phức tạp của nó Giới thợ luôn luôn mong muốn đợc bảo đảm nhiều hơn trớc, còn giới chủ luôn luôn mong muốn phải chi ít hơn, do vậy việc tranh chấp chủ- thợ lại tiếp diễn

Trớc tình hình đó, Nhà nớc buộc phải can thiệp vào; sự can thiệp này, một mặt làm tăng vai trò của Nhà nớc, giới chủ buộc phải đóng góp thêm khi tình hình kinh tế xã hội của phát triển, đồng thời giới thợ cũng phải đóng góp một phần vào sự đảm bảo cho chính mình, cả giới chủ và giới thợ đều thấy có lợi và đợc bảo vệ Song chính là nhờ những mối quan

Trang 8

hệ ràng buộc nh vậy mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc giàn trải theo nhiều chiều, một quỹ tiền tệ tập chung trên phạm vi quốc gia nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già đợc thiết lập Nhờ vậy đã tạo ra những khả năng giải quyết các phát sinh của rủi ro của cả tập thể ngời lao động trong phạm vi bao quát của quỹ

Toàn bộ những hoạt động và những mối quan hệ chặt chẽ đó đợc thế giới quan niệm là Bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động Vì vậy, ta có thể hiểu bảo hiểm xã hội chính là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn tích dần do sự đóng góp của ngời lao động, ngời

sử dụng lao động dới sự bảo trợ và điều tiết của Nhà nớc nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu của ngời lao động và gia

đình họ khi gặp những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập lao

động Những biến cố, rủi ro này xảy ra ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan gắn với quá trình lao động và đợc nhìn nhận không chỉ trên cơ sở quan hệ lao động mà còn trên quan điểm xã hội Nó bao gồm những trờng hợp bị mất việc làm, mất hoặc giảm khả năng làm việc trong quá trình lao

động nh ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, và cả những trờng hợp liên quan diễn ra ngoài quá trình đó nh mất ngời nuôi dỡng, tàn tật không do tai nạn lao động, đồng thời bảo hiểm xã hội cũng đảm nhiệm những trờng hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên nh tuổi già, thai sản, làm tăng chi tiêu đột ngột Vì xét cho cùng thì việc tăng chi tiêu đột ngột trong những trờng hợp nh thế sẽ làm tụt ngân sách gia đình trên đầu ngời

và làm giảm khả năng thanh toán của ngời lao động đối với những nhu cầu sinh sống thiết yếu từ thu nhập theo lao động

Vì vậy quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội luôn

là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế xã hội trên mọi quốc gia nhằm đảm bảo cho cuộc sống của ngời lao động khi họ gặp rủi ro, làm cho

họ yên tâm công tác, lao động sản xuất cống hiến cho xã hội

Ngày nay mọi ngời lao động trong xã hội đều thấy cần thiết phải tham gia bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu, quyền lợi của ngời lao động và đợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con ngời trong Tuyên ngôn nhân quyền

Trang 9

của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948:

“Tất cả mọi ngời với t cách là thành viên trong xã hội và có quyền hởng Bảo hiểm xã hội”

2.2- Vai trò của Bảo hiểm xã hội:

Quá trình hình thành và sự phát triển bảo hiểm xã hội cho chúng ta thấy rõ bảo hiểm xã hội không chỉ có vai trò to lớn đối với đời sống của ngời lao động, đảm bảo đợc thu nhập của ngời lao động khi họ mất việc làm, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà thông qua

đó trật tự xã hội đợc đảm bảo, tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát triển công bằng và văn minh hơn

Trong điều kiện kinh tế thị trờng với nhiều biến động không ngừng, bảo hiểm xã hội tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa ngời sử dụng lao động với ngời lao động thông qua bên thứ ba- Tổ chức bảo hiểm xã hội chuyên trách dới sự bảo trợ đặc biệt của Nhà nớc Trong mối quan hệ đó:

- Về phía ngời sử dụng lao động: Mặc dù phải đóng một phần vào quỹ

bảo hiểm xã hội nhng họ không phải chi ra những khoản tiền lớn khi những ngời lao động gặp những rủi ro nêu trên

- Về phía ngời lao động: Bảo hiểm xã hội đặt chỗ dựa về mặt tâm lý cho

họ, giúp họ yên tâm trong công tác từ đó nâng cao hiệu quả công việc, hạn chế đợc tình hình ngừng trệ sản xuất kinh doanh, giảm thiệt hại cho ngời

sử dụng lao động Đồng thời thực hiện sinh đẻ có kế hoạch vì khi tuổi già

có quỹ bảo hiểm xã hội nuôi dỡng không cần đẻ nhiều con

- Đối với Nhà nớc: Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi quốc

gia Vì thực hiện bảo hiểm xã hội góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Thực hiện bảo hiểm xã hội sẽ hình thành quỹ tiền tệ tập trung có thể đầu t một phần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ bảo hiểm xã hội Do việc chi trả không phải lúc nào cũng diễn ra thờng xuyên, cho nên Nhà nớc có thể đầu t trở lại để bảo toàn quỹ Mặt khác, bảo hiểm xã hội giúp cho Nhà nớc điều tiết và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội Nh vậy, tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội đa lại lợi ích cho cả ba bên:

+ Ngời lao động

Trang 10

+ Ngời sử dụng lao động.

+ Nhà nớc và xã hội

Do đó cả ba bên đều có mối quan hệ với bảo hiểm xã hội Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, bảo hiểm xã hội ngày càng trở thành một nhu cầu thờng xuyên, tự nhiên, chính đáng của ngời lao động Nó cần phải

đợc đáp ứng nh hàng loạt nhu cầu thiết yếu khác của con ngời, nó là một

bộ phận cấu thành trong hệ thống chính sách kinh tế- xã hội của quốc gia Bảo hiểm xã hội không những đóng một vai trò thiết yếu về mặt xã hội mà còn mang một ý nghĩa kinh tế- chính trị to lớn Tính kinh tế đợc thể hiện: Bảo hiểm xã hội phải tính toán thu- chi và hiệu quả hoạt động (nhng khác với kinh doanh kiếm lời) Bảo hiểm xã hội có ý nghĩa chính trị bởi thông qua đó tính u việt, trình độ văn minh của một thể chế chính trị của một quốc gia, của một Nhà nớc đợc thể hiện Ngoài những ý nghĩa trên bảo hiểm xã hội còn mang tính nhân đạo, tính nhân văn cao cả, nó thực hiện theo quy luật “lấy số đông bù cho số ít” tức là lấy sự đóng góp nhỏ của số

đông chu cấp cho số ít mà vì lý do nào đó (bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp ) họ bị giảm đi hoặc mất thu nhập hay rủi ro trong cuộc sống bình thờng

Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế xã hội nói chung còn

Từ những vấn đề đã đợc trình bày ở trên chúng ta có thể khẳng định rằng bảo hiểm xã hội là một vấn đề rất cần thiết khách quan của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay Đồng thời bảo hiểm xã hội cũng có vai trò hết sức quan trọng trong tất cả các lĩnh vực Kinh tế- Chính trị- Xã hội

Trang 11

1- Bảo hiểm xã hội trên thế giới.

Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, bảo hiểm xã hội đã có những bớc tiến đáng khích lệ và ngày càng trở nên thiết yếu đối với ngời lao

động, nhu cầu đó phải đợc đáp ứng nh nhu cầu cơm áo, áo mặc hàng ngày của hầu hết ngời lao động nói chung trong xã hội Hơn nữa sự phát triển của bảo hiểm xã hội gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất trên thế giới Những nớc có nền sản xuất phát triển, khoa học công nghệ đã dần dần đi vào đời sống sản xuất, cụ thể là các nớc t bản chủ nghĩa ở châu

Âu và châu Mỹ, bảo hiểm xã hội ra đời sớm và nổi rõ nhất từ thời kỳ bắt

đầu công nghiệp hoá, trong xã hội xuất hiện tầng lớp làm công ăn lơng

Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời tại Cộng hoà Liên bang

Đức (1850) bằng việc chính quyền nhiều bang ở Cộng hoà Liên bang Đức bắt tay trực tiếp với giới thợ thuyền thiết lập quỹ ốm đau do chính những ngời thợ phải đóng góp bắt buộc đợc đề ra từ năm 1883 đợc giao cho Hội

đồng quản lý, đến năm 1884 mở tiếp bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp do các Hiệp hội giới chủ quản lý và năm 1889 phát triển thêm bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do các tỉnh quản lý

Nh vậy ba đối tác xã hội là giới thợ, giới chủ, Nhà nớc đã đóng vai trò quan trọng và có trọng lợng trong việc quản lý hệ thống

Các trợ cấp xã hội nh các tên của nó chỉ ra đợc chi trả từ các khoản

đóng góp bảo hiểm xã hội Các loại trợ cấp này là bắt buộc đối với ngời làm công ăn lơng có trình độ hoặc không, bắt buộc đối với ngời già cũng

nh đối với ngời trẻ, đàn ông cũng nh đàn bà và hoàn toàn độc lập với tình trạng sức khoẻ của họ Từ bây giờ trở đi, những ngời không có gì ngoài khoản tơng trợ của Nhà nớc còn đợc một hệ thống trợ cấp mới bảo vệ mà không phải lo, phải khai báo về tình trạng khốn khó và lo vào sống ở trại

tế bần dành cho ngời nghèo

Nguyên tắc bảo hiểm là sự thể hiện tình đoàn kết của giai cấp công nhân, bởi vì họ thờng xuyên đóng góp để dự phòng cho đồng nghiệp của mình trong trờng hợp rủi ro bị rơi vào cảnh khốn khó, đồng thời thể hiện mối quan tâm chung giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động cùng

Trang 12

chi trả cho một chế độ mà hiệu quả của nó không chỉ mang lại lợi ích cho ngời lao động mà còn cho cả ngời sử dụng lao động.

Tiếp theo nớc Cộng hoà Liên bang Đức là một loạt các nớc châu Âu

và các nơi khác Trong những năm 30, bảo hiểm xã hội đã tìm thấy đất của mình ở châu Mỹ la tinh, nớc Mỹ và Canađa Sau chiến tranh thế giới lần thứ II và sau ngày đăng quang độc lập rất nhiều nớc châu Phi, châu á

và vùng Caribê cũng xây dựng cho mình một hệ thống bảo hiểm xã hội, và cùng trong giai đoạn đó khái niệm “Bảo hiểm xã hội” đợc sử dụng chính thức đầu tiên trong tiêu đề của một điều luật của nớc Mỹ: Luật năm 1935

về bảo hiểm xã hội, Luật này chỉ mới đề cập đến hu trí, tử tuất, tàn tật và thất nghiệp Khái niệm này lại đợc tái xuất hiện vào năm 1938 trong một

Đạo luật của Tây Ban Nha, Đạo luật này đợc tập hợp một số hình thức trợ cấp đang tồn tại và các hình thức trợ cấp mới Năm 1944, khái niệm này

đợc sử dụng trong một tài liệu chiến tranh đợc biết đến dới tên “Hiến

ch-ơng Đại Tây Dch-ơng”, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã không chậm trễ trong việc chấp nhận khái niệm này, đây là khái niệm đợc diễn đạt một cách rành mạch và phổ cập nhất của toàn bộ nhân loại trên thế giới Khi đi vào thực hiện bảo hiểm xã hội, một số nớc bớc đầu mới chỉ thực hiện từng phần với một số chế độ, sau đó tuỳ theo điều kiện kinh tế- xã hội và nhu cầu thực tế phát sinh mà mở thêm các chế độ bảo hiểm khác Chính vì vậy

mà mỗi nớc có điều kiện khác nhau sẽ có các chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau, không nớc nào có thể ngay từ đầu thực hiện tất cả các chế độ bảo hiểm xã hội khi xét thấy chế độ này phù hợp nhất sẽ u tiên thực hiện trớc

Có nớc chọn trợ cấp ốm đau, thai sản, với chế độ này đòi hỏi thời gian

đóng góp ngắn hạn, lại đảm bảo trợ cấp nhanh, hơn nữa nó phù hợp với tâm lý ngời lao động trẻ họ thờng lo lắng đến những khó khăn trớc mắt,

đồng thời nó mang lại sự tín nhiệm đối với bảo hiểm xã hội Trái lại, có những nớc bắt đầu thực hiện bảo hiểm xã hội bằng các chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật, tử tuất Ưu điểm của việc thực hiện các chế độ này là khi bắt

đầu với những chế độ bảo hiểm xã hội ít phải chi trả trợ cấp ngay và thờng xuyên, do đó có thời gian tích luỹ quỹ bảo hiểm xã hội nên có thể đem

đầu t sinh lợi tăng trởng thêm thu nhập cho bảo hiểm xã hội nói riêng và cho quốc gia nói chung Nhng không phải mọi quốc gia đều thiết lập một

Trang 13

cơ chế bảo hiểm xã hội một cách hoàn thiện, mà bằng cách này hay cách khác tuỳ thuộc vào điều kiện cho phép của đất nớc việc thiết lập còn phải dựa trên cơ sở cố gắng nỗ lực của Nhà nớc.

Đến nay đã trải qua trên 100 năm ra đời và phát triển, Bảo hiểm xã hội trở nên rất phong phú, đa dạng đợc áp dụng rộng rãi trên 160 nớc trên thế giới Tuy nhiên do điều kiện kinh tế- xã hội ở mỗi quốc gia có sự khác nhau, do đó Bảo hiểm xã hội cũng có những điểm khác nhau Nhng vấn đề duy nhất cơ bản mà nớc nào cũng phải giải quyết khi xây dựng hệ thống Bảo hiểm xã hội của mình đó là:

1.1- Phạm vi đối tợng.

Theo Hội nghị quốc tế về an toàn lao động của tổ chức lao động quốc tế (ILO) quy định bảo hiểm xã hội là một hệ thống gồm 3 tầng:

+ Tầng 1: Là tầng cơ sở để áp dụng cho một thành viên trong xã hội,

trong đó chủ yếu là cho những ngời nghèo và ngời có thu nhập thấp Vì vậy, tầng lớp này gọi là “Tầng lới an toàn”

+ Tầng 2: Dành cho các đối tợng có công ăn việc làm, đây là đối tợng bắt

buộc gồm công chức viên chức Nhà nớc, ngời lao động ở các thành phần kinh tế

+ Tầng 3: Là tầng bảo hiểm xã hội tự nguyện hay còn gọi là bổ xung.

Tất cả các nớc thực hiện bảo hiểm xã hội đều đợc xác định phạm vi

đối tợng bảo hiểm xã hội dựa vào thu nhập của ngời lao động làm công ăn lơng Ban đầu tập trung vào công nhân viên chức Nhà nớc, tiếp đến cho ngời lao động ở các thành phần kinh tế khác

Hiện nay, một số nớc ban hành chế độ bảo hiểm xã hội cho tất cả mọi tầng ngời tham gia, một số nớc khác lại có chế độ bảo hiểm xã hội riêng cho đối tợng viên chức Nhà nớc

1.2- Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội.

Tháng 8 năm 1952 Hội nghị hàng năm của (ILO) đã thông qua Công ớc 102 về quy định phạm vi tối thiểu về đảm bảo xã hội gồm 9 chế

độ:

+ Chăm sóc y tế+ Trợ cấp thất nghiệp+ Trợ cấp gia đình

Trang 14

+ Trợ cấp khi sinh đẻ+ Trợ cấp tai nạn và bệnh nghề nghiệp+ Trợ cấp ốm đau

+ Trợ cấp tuổi già+ Trợ cấp khi tàn phế+ Trợ cấp cho ngời còn sốngTrong đó (ILO) đã khuyến cáo mỗi nớc tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội phải thực hiện ít nhất 1 trong 5 chế độ sau:

+ Trợ cấp thất nghiệp+ Trợ cấp gia đình+ Trợ cấp tai nạn và bệnh nghề nghiệp+ Trợ cấp tuổi già

+ Trợ cấp cho ngời còn sống

Số liệu sau đây cho biết các chế độ mà các nớc đã thực hiện qua một số năm nh sau:

Bảng 1: Tình hình thực hiện bảo hiểm x hội ã

Trang 15

Qua số liệu bảng 1 chúng ta thấy đợc ngày càng có nhiều nớc thực hiện hoạt động bảo hiểm xã hội với số lợng các chế độ ngày càng tăng trong đó số nớc thực hiện chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng nh chế độ hu trí, tử tuất phát triển khá nhanh dù dới hình thức này hay hình thức khác trong hệ thống bảo hiểm xã hội hầu nh tất cả các nớc đều trang bị cho mình dạng trợ cấp này.

Hơn nữa số nớc đã thiết lập chế độ bảo trợ cho ngời lao động trong trờng hợp ốm đau, thai sản Song chỉ có đợc 1/4 số nớc thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp, chế độ này thờng chỉ thấy ở những nớc công nghiệp phát triển và có nền kinh tế thị trờng

1.3- Điều kiện hởng- Mức hởng bảo hiểm xã hội:

Điều kiện chung để hởng các chế độ bảo hiểm xã hội ở các nớc là phải tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội, với chế độ hu trí thời gian đóng góp bắt buộc của các nớc lao động từ 15 năm đến 37,5 năm, ngoài ra còn kèm theo điều kiện tuổi đời và tuổi thọ bình quân của quốc gia Mức hởng bảo hiểm xã hội nói chung là thấp hơn mức lơng đang làm việc

1.4- Quỹ bảo hiểm xã hội:

Phần lớn các nớc đều quy định cả giới thợ, giới chủ đều phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội Tỷ lệ đóng góp có thể là một tỷ lệ theo tiền lơng hoặc một tỷ lệ theo một khoản thu nhập nhất định nào đó Một số n-

ớc còn quy định có thêm sự hỗ trợ của Nhà nớc

* Nguồn thu:

Nguồn thu để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội, đại đa số các nớc

đều thống nhất nh sau:

+ Tiền đóng (phí bảo hiểm xã hội) của chủ và ngời thợ

+ Tiền trợ cấp từ ngân sách Nhà nớc

+ Tiền sinh lời từ các hoạt động đầu t

+ Tiền phạt do đóng bảo hiểm xã hội chậm

+ Tiền thu từ các khoản thuế do Nhà nớc quy định

Tỷ lệ và phơng thức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào việc xây dựng các chế độ bảo hiểm xã hội của từng Nhà nớc, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nớc bao gồm các dạng:

+ Mức đóng theo phần trăm (%) mức lơng của ngời lao động

Trang 16

+ Theo một mức quyđịnh (Quy định cứng)

+ Theo mức thu nhập thực tế của ngời lao động

+ Theo mức tối đa

* Các khoản chi:

- Các khoản chi về bảo hiểm xã hội của các nớc thờng bao gồm:

+ Chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội ngắn hạn: Y tế, ốm đau, thai sản

+ Chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội dài hạn: Hu trí, mất sức lao động, tử tuất

+ Trợ cấp thơng tật lao động, mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn, trợ cấp ngời ăn theo

+ Chi để đầu t sinh lời và chi phí quản lý

1.5- Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội:

Hầu hết các nớc đều giao cho Bộ Lao động và xã hội quản lý, Nhà nớc thống nhất đối với hệ thống bảo hiểm xã hội Bộ Tài chính giám sát về hoạt động tài chính, Bộ Y tế giám sát phần chăm sóc y tế trong hệ thống

đó, hoạt động nghiệp vụ về bảo hiểm xã hội thờng có một hệ thống riêng Quỹ bảo hiểm xã hội đều do một hội đồng quản lý điều hành, một số nớc lập ra hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội quốc gia thuộc bộ chủ quản

Các nớc Tây Âu và Bắc Mỹ ngoài phần bảo hiểm xã hội bắt buộc theo luật định, Chính phủ còn cho phép thành lập các công ty t nhân của các tổ chức xã hội làm phần bảo hiểm xã hội mà Nhà nớc không làm

Trên đây là một số nét chung về bảo hiểm xã hội trên thế giới đợc các nớc đã và đang thực hiện

2- Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Thực tế Bảo hiểm xã hội Việt Nam ra đời trong thời kỳ Pháp thuộc Một trong những chính sách nổi bật nhằm duy trì bộ máy cai trị của chính quyền Thực dân là chính sách bảo hiểm xã hội cho đội ngũ công chức, quân nhân Việt Nam và lực lợng vũ trang của Pháp ở Đông Dơng (gồm các chế độ hu bổng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau ) mặc

dù đây là chế độ bảo hiểm xã hội đầu tiên đợc thực hiện ở Việt Nam nhng phạm vi thực hiện còn trong hạn hẹp

Sau cách mạng tháng 8- 1945, Đảng và Nhà nớc đã sớm quan tâm

đến vấn đề bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội thực sự là một chính sách

Trang 17

lớn của Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao động và cộng đồng Điều đó

đ-ợc thể hiện ngay sau khi nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đđ-ợc thành lập, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội Sắc lệnh 54/SL ngày 01 tháng 11 năm 1945 ấn định những

điều kiện cho công chức về hu Sắc lệnh số 105/SL ngày 14 tháng 6 năm

1946 ấn định việc cấp hu bổng cho công chức Hai sắc lệnh này đã quy

định công chức phải đóng hu liễm vào trong quỹ hu bổng có phần đóng thêm của Nhà nớc Sắc lệnh số: 76/SL ngày 20 tháng 05 năm 1950 ấn định

cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao

động và tiền tuất đối với viên chức Trong khu vực sản xuất lúc này cha thành lập quỹ bảo hiểm xã hội, nhng sắc lệnh số 29/SL ngày 12 tháng 03 năm 1947 và sắc lệnh số 77/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 đã ấn định cụ thể các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hu trí, tử tuất đối với công nhân

Sau khi hoà bình lập lại ở Miền Bắc, thực hiện Hiến pháp năm

1959, Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nớc kèm theo Nghị định

số 218/CP ngày 27 tháng 11 năm 1961 Các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm 6 loại trợ cấp:

+ Chế độ trợ cấp ốm đau+ Chế độ trợ cấp hu trí+ Chế độ trợ cấp tử tuất+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp+ Chế độ trợ cấp thai sản

+ Chế độ trợ cấp mất sức lao động

Đáng chú ý là đến lúc này quỹ bảo hiểm xã hội đợc chính thức thành lập, là quỹ thuộc ngân sách Nhà nớc Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc chỉ nộp một tỷ lệ phần trăm (%) so với tổng quỹ lơng của công nhân viên chức và công nhân viên chức không phải đóng góp phí bảo hiểm xã hội

Điều lệ tạm thời này đợc thực hiện trong suốt thời gian gần 32 năm Trong quá trình này có một số điểm bổ sung, sửa đổi nhng chỉ là về tỷ lệ nộp của các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc, điều kiện và mức hởng trợ

Trang 18

cấp, cách tính thời gian công tác, tiền lơng làm căn cứ tính mức trợ cấp, cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội.

Cái mới ở giai đoạn này là đã có thêm cơ chế bảo hiểm xã hội đối với khu vực ngoài quốc doanh trong khu vực tiểu thủ công nghiệp Liên hiệp xã, Trung ơng ban hành điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm xã hội

đối với các xã viên hợp tác xã và các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp (theo Quyết định 292/BCH- LĐ ngày 15 tháng 02 năm 1982)

Về cơ bản, điều lệ này mô phỏng theo mô hình các chế độ bảo hiểm xã hội trong khu vực Nhà nớc, tuy có tính đến một số đặc điểm của ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp Đặc điểm khác quan trọng hơn là nguồn thu dựa trên cơ sở tiền đóng góp của ngời lao động nhng do sản xuất tiêủ thủ công nghiệp không ổn định nên ngời lao động đóng góp không thờng xuyên, quỹ bảo hiểm xã hội lại không có sự bảo hộ của Nhà nớc Vì vậy,

điều lệ chỉ đợc thực hiện trong thời gian ngắn ngủi đến năm 1989 phải chấm dứt

ở giai đoạn này, trong khu vực nông nghiệp tuy cha có bảo hiểm xã hội chính thống, nhng do nhu cầu cuộc sống một số nơi đã tự phát lập ra chế độ bảo hiểm tuổi già trong phạm vi thôn xã là chính Quỹ bảo hiểm tuổi già đợc hình thành chủ yếu bằng số thóc nộp của những ngời tham gia, trợ cấp tuổi già cũng bằng thóc cho nên điều này chỉ là hình thức sơ khai có tính chất bảo hiểm xã hội, phạm vi tác dụng còn nhiều hạn chế

Nh vậy trải qua 30 năm thực hiện cho đến gần đây các chế độ bảo hiểm xã hội nh đã nêu phần trên đã đợc nhiều lần sửa đổi bổ sung theo sự thay đổi của tình hình kinh tế- xã hội của đất nớc Trong các lần đó, lần sửa đổi bổ xung quan trọng nhất là vào tháng 8- 1985 bằng Nghị định 236/HĐBT khi Nhà nớc thực hiện tổng điều chỉnh Giá- Lơng- Tiền để phù hợp với chính sách kinh tế- xã hội trong giai đoạn mới ở nớc ta hiện nay, khi công cuộc đổi mới toàn diện của đất nớc ngày càng đi vào chiều sâu Trong các chính sách xã hội thì việc cải cách đổi mới chế độ bảo hiểm xã hội có một yêu cầu cấp bách Ngày 22 tháng 6 năm 1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định cụ thể về chế độ bảo hiểm xã hội cho ngời lao động ở các thành phần kinh tế Đây là sự cải cách toàn diện về bảo hiểm xã hội nhằm xoá bỏ t duy bao cấp, ỷ nại trong lĩnh vực bảo hiểm

Trang 19

xã hội, mở ra loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực hiện cơ chế đóng góp phí bảo hiểm xã hội đối với những ngời đợc bảo hiểm xã hội Trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc thì ngời sử dụng lao động cũng phải đóng góp phí bảo hiểm xã hội nhân danh những ngời lao động sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội đợc Nhà nớc

hỗ trợ thêm; quy định lại 5 chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội là: ốm đau (ngoài bảo hiểm y tế), tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hu trí

và tử tuất Xoá bỏ chế độ trợ cấp mất sức lao động vốn đã bộc lộ nhiều biểu hiện tiêu cực và bất hợp lý; thống nhất hoá hệ thống bảo hiểm xã hội trong cả nớc Tỷ lệ trích nộp phí bảo hiểm xã hội, cách tính thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, điều kiện hởng trợ cấp, tiền lơng làm căn cứ và mức hởng trợ cấp đều đợc sửa đổi căn bản Tuy vậy đối với loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn cha có những quy định chi tiết và cụ thể

Trên cơ sở thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội từ trớc đến nay, nhất

là dựa vào những kinh nghiệm thực hiện Nghị định 43/CP cơ chế bảo hiểm xã hội đã đợc chế định thành một chơng trong Bộ luật Lao động đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 và đã đợc cụ thể hoá trong Điều lệ bảo hiểm xã hội mới ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26 tháng 01 năm 1995 và Nghị định 19/CP ngày 11 tháng 02 năm 1995 về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Chơng Bảo hiểm xã hội trong Bộ luật lao động bao gồm những quy phạm có tính nguyên tắc Điều lệ bảo hiểm xã hội mới có sửa đổi một vài quy định cụ thể, chủ yếu là một số điều kiện và mức hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, so với quy định theo Nghị định 43/CP Điều lệ bảo hiểm xã hội mới đợc ban hành căn cứ vào Bộ luật Lao động đã mở ra một trang lịch sử ra đời và phát triển của chính sách bảo hiểm xã hội ở nớc ta, với cơ chế kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa

2.1- Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

Bảo hiểm xã hội là một chính sách của Đảng và Nhà nớc đối với ngời lao động và cộng đồng Sự ra đời và phát triển của các chế độ bảo hiểm xã hội gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ

Trang 20

cộng hoà trớc đây và Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay Chính sách bảo hiểm xã hội và việc tổ chức thực hiện nó trong những năm trớc đây đã thực sự là nguồn động viên cổ vũ công nhân viên chức yên tâm phấn khởi lao động sản xuất góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội

ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nớc Tuy nhiên cùng với sự phát triển, đổi mới đi lên của đất nớc các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội tr-

ớc đây không còn phù hợp với tình hình đổi mới theo các Nghị quyết Đại hội Đảng VI- VII- VIII đã đề ra Đặc biệt là trong việc hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội Chúng ta có thể tóm tắt sơ lợc nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam qua các giai đoạn sau:

a- Giai đoạn 1945- 1961:

Nh đã nêu ở phần trên sau khi thành lập nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chính phủ ta đã có Sắc lệnh 27/SL ngày 12 tháng 3 năm 1947, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 ban hành một số chính sách

về bảo hiểm xã hội nhằm ổn định tình hình chính trị- xã hội lúc bấy giờ,

đảm bảo các quyền lợi của cán bộ công nhân viên chức và công chức- viên chức trong chính quyền Pháp thuộc tiếp tục làm việc cho Nhà nớc ta Do

điều kiện nguồn tài chính hạn hẹp nên Chính phủ ta chỉ quy định hai chính sách bảo hiểm xã hội đó là: Chính sách trợ cấp hu trí và trợ cấp tử tuất

Đồng thời Chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định mức

đóng góp để có nguồn chi cho các chế độ nêu trên cụ thể là:

+ Những ngời thuộc đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội phải nộp từ 6% - 7% tiền lơng đợc hởng hàng tháng

+ Cơ quan, đơn vị có ngời tham gia bảo hiểm xã hội phải trích nộp 7% - 10% tổng quỹ lơng để nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội

Nh vậy thời kỳ này ngời lao động và ngời sử dụng lao động đã phải

đóng phí bảo hiểm xã hội từ 13% đến 17% tiền lơng

Nhận xét về chế độ bảo hiểm xã hội lúc bấy giờ các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế và xã hội cũng nh các nhà kinh tế học Việt Nam cho rằng Chính phủ ta đã sớm tiếp thu những chính sách kinh tế- xã hội trong đó có chính sách bảo hiểm xã hội đang áp dụng hiện hành tại n-

ớc Pháp, ở các nớc thuộc địa bàn mà đang đợc vận dụng thực hiện tại Việt Nam đối với công chức, viên chức làm việc cho chính quyền Pháp trớc

Trang 21

đây Chính cách này tuy sơ khai nhng đã phản ảnh đợc những mặt tiến bộ nhất định về việc hình thành một quỹ bảo hiểm xã hội Nguồn quỹ này chủ yếu dựa vào sự đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động

Điều đó cho thấy t tởng chỉ đạo của Chính phủ ta ngày từ khi thành lập

n-ớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà muốn đảm bảo cân đối tài chính về hoạt

động bảo hiểm xã hội và ổn định cuộc sống cho công chức- viên chức Nhà nớc nhằm động viên khuyến khích họ yên tâm phục vụ Ngay từ thời gian

đầu hình thành các hoạt động về bảo hiểm xã hội, Nhà nớc ta đã khẳng

định rằng chỉ nên hỗ trợ một phần cho hoạt động bảo hiểm xã hội khi cần thiết chứ không bao cấp

b- Giai đoạn 1988- 1992:

Trớc tình hình quỹ bảo hiểm xã hội trong thời kỳ 1976- 1987 có nhiều tồn tại và cha phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế xã hội Sang đầu thập kỷ 80 Nhà nớc ta đã có quyết định đột phá trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội Theo quyết định số 181/HĐBT ngày 30 tháng 10 năm 1986 của Hội đồng Bộ trởng đã quyết định nâng mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam quản

lý từ 3,7% quỹ lơng lên 5% Năm 1988 Chính phủ quy định mức thu bảo hiểm xã hội cho các chế độ bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động thơng binh

và xã hội quản lý là 10% quỹ tiền lơng do cơ quan, xí nghiệp Nhà nớc trích nộp, nhng sau đó do cuộc sống của công nhân viên chức Nhà nớc có nhiều khó khăn nên trích lại 2% trong tổng số 10% từ tổng quỹ lơng để chi trợ cấp khó khăn cho cán bộ công nhân viên chức Nhà nớc Nh vậy thu

Trang 22

bảo hiểm xã hội để chi trả 6 chế độ bảo hiểm xã hội do cơ quan quản lý từ năm 1988 là 13% tổng quỹ tiền lơng Mục đích của việc nâng tỷ lệ đóng góp là nhằm giảm bớt một phần trợ giúp của ngân sách Nhà nớc cho quỹ bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội.

c- Giai đoạn từ 1993 đến nay:

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng và Nhà nớc ta

đã chủ trơng đổi mới nền kinh tế đất nớc theo hớng kinh tế thị trờng, chuyển từ hình thức “Đơn sở hữu” sang hình thức “Đa sở hữu” từ nền kinh

tế với sự độc quyền của thành phần kinh tế Nhà nớc sang nền kinh tế nhiều thành phần nhằm khuyến khích, tận dụng, phát huy mọi năng lực sản xuất trong xã hội Cho đến giai đoạn này công cuộc đổi mới của đất n-

ớc đã thu đợc rất nhiều kết quả tốt đẹp và ngày càng đi vào chiều sâu, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển và thu hút lao

động vào làm việc ngày càng đông

Trong khu vực quốc doanh, Nhà nớc chủ trơng xoá bỏ dần chế độ bao cấp với các thành phần kinh tế quốc doanh và thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh trên nguyên tắc “Lời ăn lỗ chịu”, mở rộng thế chủ động trong kinh doanh cho các doanh nghiệp và buộc các doanh nghiệp phải hoàn thành đầy đủ các chỉ tiêu chất lợng với Nhà nớc trên cơ sở đảm bảo

đời sống cho ngời lao động, nếu không đáp ứng đợc các yêu cầu trên buộc phải giải thể hoặc chuyển hớng kinh doanh

Đối với các quỹ ngân sách, Nhà nớc chủ trơng chỉ tiếp tục bao cấp với các quỹ có ý nghĩa sống còn về an ninh quốc gia, giảm dần trợ cấp các quỹ danh cho y tế, giáo dục Các quỹ thuộc ngân sách Nhà nớc buộc phải tách ra thực hiện chế độ tự đảm bảo thu- chi và Nhà nớc chỉ hỗ trợ một phần khi gặp khó khăn không thể khắc phục đợc hoặc để giải quyết những vấn đề là hậu quả của quá khứ Quỹ bảo hiểm xã hội thuộc diện này

Trớc yêu cầu phải đổi mới các chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội trong điều kiện mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22 tháng 6 năm 1993 quy định tạm thời các chế độ bảo hiểm xã hội, sau đó là Nghị định 12/CP ngày 26 tháng 01 năm

1995 về việc ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội, Nghị định 19/CP ngày 16 tháng 02 năm 1995 về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Theo

Trang 23

điều lệ bảo hiểm xã hội mới này thì các chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm: Chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao

động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hu trí và chế độ trợ cấp tử tuất Nh vậy

là đã bỏ đi chế độ trợ cấp mất sức lao động vốn đã bộc lộ nhiều tiêu cực và không còn giữ đợc mục đích ý nghĩa ban đầu của nó nữa

Về đối tợng bảo hiểm xã hội điều lệ quy định gồm có:

- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc

- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, hợp đồng lao

động từ 3 tháng trở lên

- Ngời lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nớc ngoài hoặc các tổ chức quốc tế khác tại Việt Nam, trừ trờng hợp điều ớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác

- Ngời lao động làm việc trong các tổ chức liên doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể

- Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ thuộc các lực lợng vũ trang

- Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nớc, Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện

- Công chức, viên chức Nhà nớc làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện

- Những đối tợng trên đợc gọi chung là ngời lao động Điều lệ cũng quy

định quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành do ngời lao động và ngời sử dụng lao động đóng góp, ngân sách Nhà nớc đóng và hỗ trợ, lãi hoạt động bảo tồn tăng trởng quỹ và thu khác Mức đóng góp của các bên vào quỹ bảo hiểm xã hội và việc sử dụng quỹ đợc quy định nh sau:

- ngời lao động hàng tháng đóng 5% tiền lơng vào quỹ bảo hiểm xã hội để thực hiện chế độ hu trí, tử tuất

- Ngời sử dụng lao động hàng tháng đóng 15% tổng quỹ tiền lơng vào quỹ bảo hiểm xã hội Trong đó: 10% để thực hiện các chế độ hu trí, tử tuất;

Trang 24

5% để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

2.2- Hệ thống tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm xã hội qua các thời kỳ:

Hệ thống chính sách chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đợc hình thành và phát triển từ năm 1962 với mục đích hỗ trợ cho ngời lao động (những ngời tham gia bảo hiểm xã hội) khi họ gặp những rủi ro bất khả kháng Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà bảo hiểm xã hội mới chỉ thu hút đợc một bộ phận nhỏ ngời lao động gồm những ngời làm việc trong các khu vực Nhà nớc và lực lợng vũ trang

Về bộ máy quản lý và thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam có thể chia làm 02 thời kỳ lớn:

- Giai đoạn trớc khi có Nghị định 12/CP và 19/CP năm 1995

- Giai đoạn sau khi có Nghị định 12/CP và 19/CP của Chính phủ cho đến nay

a- Giai đoạn trớc khi có Nghị định 12/CP và 19/CP năm 1995.

Hệ thống tổ chức làm công tác bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội phân tán ở ba cơ quan khác nhau nh:

- Bộ Tài chính thu phần quỹ bảo hiểm xã hội dành để chi trợ cấp hu trí

- Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có trách nhiệm thu và chi trả các chế

độ trợ cấp thờng xuyên nh: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

- Bộ Lao động Thơng binh và xã hội giải quyết những vấn đề liên quan

đến chế độ hu trí, tử tuất, mất sức lao động

Nhìn chung với sự hỗ trợ khá lớn của ngân sách Nhà nớc những cơ quan trên đã thực hiện đợc chức năng của mình về thu và chi các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Nhà nớc và cũng tuỳ theo từng giai

đoạn phát triển kinh tế- xã hội mà Nhà nớc quy định tỷ lệ thu phí bảo hiểm xã hội và tỷ lệ do các ngành thu và quản lý khác nhau Điều đó đợc thể hiện qua giai đoạn 1961 đến 1987 với mức thu 4,7% tổng quỹ lơng Trong đó: 1% do Bộ Lao động thơng binh và xã hội thu và quản lý để chi trả cho các chế độ hu trí, mất sức lao động và tử tuất Còn 3,7% để chi cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp do

Trang 25

Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thu và quản lý chi Có thể thấy ở giai

đoạn này nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam chỉ bao gồm nguồn thu từ ngời sử dụng lao động và nguồn tài trợ của ngân sách Nhà n-

ớc Quỹ bảo hiểm xã hội đợc Nhà nớc xác định là hạch toán riêng biệt tuy một phần quỹ vẫn nằm trong hệ thống ngân sách Nhà nớc, vẫn đợc ngân sách Nhà nớc hỗ trợ khi không đảm bảo đợc cân đối thu chi Trong giai

đoạn này quỹ bảo hiểm xã hội cũng không đợc đem đầu t phát triển và tăng trởng nhằm mục đích bảo toàn quỹ

Với cách tính toán đơn giản về mức đóng góp của các cơ quan, xí nghiệp vào quỹ bảo hiểm xã hội nhìn bề ngoài có vẻ hợp lý nhng lại không tính đến những yếu tố khách quan lâu dài, không dự đoán đợc nhu cầu phát sinh để có biện pháp dự phòng, tích luỹ Vì vậy Nhà nớc đã định

ra mức đóng góp quá thấp nh vậy thu không đủ chi làm cho quỹ bảo hiểm xã hội bị bội chi trong những năm sau đó, có thể nói việc định ra mức phí nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội mang nặng tính bao cấp của nền kinh tế kế hoạch Đồng thời hệ thống bảo hiểm xã hội do hai cơ quan quản lý (Bộ Lao động thơng binh và xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) cho nên việc tổ chức thu, chi bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội cũng do hai cơ quan trên tiến hành Phần quỹ do Tổng Liên đoàn lao

động Việt Nam quản lý do có phơng thức tổ chức thu phù hợp nên đạt đợc kết quả khá cao Trong khi đó phần thu quỹ bảo hiểm xã hội do Bộ Lao

động thơng binh và xã hội quản lý thì thu bảo hiểm xã hội rất nhỏ so với chi do vậy ngân sách Nhà nớc luôn phải hỗ trợ rất lớn lên tới 95% Nói chung sự phân chia quản lý quỹ bảo hiểm xã hội nh vậy mang tính phân tán, các nguồn thu không hỗ trợ đợc cho nhau và tạo thêm những mối quan hệ không đáng có giữa các cơ quan quản lý Nhà nớc và làm cho sự

điều hành quỹ kém linh hoạt dẫn đến sự thừa thiếu giữa hai ngành Cụ thể

là nguồn quỹ do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thu và quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn thì luôn bội thu, còn nguồn quỹ bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động thơng binh và xã hội thu và quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn lại luôn luôn bị bội chi Do vậy ngân sách Nhà nớc luôn phải hỗ trợ rất lớn, do đó chi trả các chế độ bảo hiểm

Trang 26

xã hội dài hạn thời kỳ 1961- 1987 luôn là một gánh nặng của ngân sách Nhà nớc.

Trớc tình hình đó, Nhà nớc ta quyết định đột phá trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội Theo Nghị định số 181/HĐBT ngày 30- 10- 1986 của Hội đồng Bộ trởng đã quyết định nâng mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động thơng binh và xã hội và Tổng Liên

đoàn lao động Việt Nam quản lý từ 4,7% lên 15% quỹ tiền lơng do các cơ quan, xí nghiệp Nhà nớc trích nộp nhng phơng thức quản lý thì vẫn không thay đổi, có nghĩa là: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thu và quản lý chi 5% còn Bộ Lao động thơng binh và xã hội thu và quản lý chi 10% Nhng sau đó do cuộc sống của công nhân viên chức Nhà nớc có nhiều khó khăn nên Nhà nớc đã trích 2% trong tổng số 10% từ tổng quỹ lơng để chi trợ cấp khó khăn có cán bộ công nhân viên chức Nhà nớc Nh vậy thu bảo hiểm xã hội để chi trả 6 chế độ bảo hiểm xã hội do hai cơ quan quản lý từ năm 1988 là 13% tổng quỹ lơng Mục đích của Nhà nớc trong việc nâng

tỷ lệ đóng góp là nhằm giảm bớt phần hỗ trợ của ngân sách Nhà nớc cho quỹ bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội Nh-

ng do không thống nhất đợc phơng thức quản lý do đó việc cân đối thu- chi vẫn không có gì thay đổi, cụ thể là: nguồn quỹ 5% do Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thu và quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn luôn bội thu và đợc sử dụng vào các mục đích khác nh tổ chức cho cán bộ công nhân viên chức ở các cơ quan, xí nghiệp đi tham quan, nghỉ mát dẫn đến ngời lao động coi đây nh là một chế độ bảo hiểm xã hội và

có ảnh hởng lớn đến nhận thức sau này khi hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam ra đời thì chế độ này không còn nữa Đồng thời một phần quỹ bảo hiểm xã hội bội thu đợc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam dùng để xây dựng cơ sở vật chất của ngành nh: Nhà nghỉ công đoàn

Đối với 8% do Bộ Lao động thơng binh và xã hội thu và quản lý chi các chế độ bảo hiểm xã hội dài hạn luôn mất cân đối giữa thu và chi, nghĩa là luôn bội chi, ngân sách Nhà nớc phải hỗ trợ trên 71% Do đó, chi bảo hiểm xã hội vẫn luôn là gánh nặng đối với ngân sách Nhà nớc

Trang 27

Bảng 2: sơ đồ tổ chức quản lý- thực hiện của các chế độ bảo

(Giai đoạn trớc Nghị định 12/CP và 19/CP)

1)Thực hiện quản lý hành chính ( )

(2) Quản lý, hớng dẫn và thực hiện về chính sách- chế độ bảo hiểm xã

hội nh: Hu trí, tử tuất ( )

Một số đánh giá sơ bộ về thu nộp và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội.

Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội trong giai đoạn trớc Nghị

định 12/CP và 19/CP vẫn chỉ bao gồm nguồn thu từ cơ quan, xí nghiệp

Nhà nớc và nguồn tài trợ lớn từ ngân sách Nhà nớc

Tỷ lệ đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội có thay đổi tăng từ 4,7%

lên 13% so với tổng quỹ lơng Nó làm cho thu bảo hiểm xã hội cũng tăng

lên, song số đối tợng hởng bảo hiểm xã hội trong giai đoạn này cũng tăng

lên nhanh đặc biệt là các năm 1990- 1993 Nên quỹ bảo hiểm xã hội vẫn

là gánh nặng đối với ngân sách Nhà nớc (đặc biệt là phần quỹ do Bộ Lao

động thơng binh và xã hội quản lý)

Bảng 3: sơ đồ tổ chức quản lý- thực hiện của các chế độ bảo

Trang 28

bù số ít” Mặt khác, còn gây nên sự bất bình đẳng giữa những ngời lao

động trong xã hội Ngời lao động trong khu vực Nhà nớc thì đợc bao cấp toàn bộ từ chi phí sinh hoạt, ăn ở, ốm đau, bệnh tật cho tới lúc qua đời Còn ngời lao động ở các khu vực khác mặc dù vẫn phải lao động, kiếm sống trên chính sức lao động của mình, có đóng góp cho xã hội và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nớc nhng lại không đợc hởng quyền lợi gì

về bảo hiểm xã hội Vì thế, ngời lao động nảy sinh tâm lý phải vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp của Nhà nớc để đợc hởng các chế độ bảo

Tổng liên đoàn lao động việt nam

Liên đoàn lao động tỉnh thành phố

trực thuộc Trung ơng

Liên đoàn lao động quận,

Trang 29

Việc ban hành các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội còn nhiều bất hợp lý nhất là trong việc tính toán mức hởng bảo hiểm xã hội Nghị

định 236/HĐBT của Hội đồng Bộ trởng cho phép quy đổi thời gian công tác theo hệ số: 1 năm công tác đợc tính thành 1 năm 2 tháng, 1 năm 4 tháng hoặc 1 năm 6 tháng Vì vậy, thời gian tính mức hởng bảo hiểm xã hội đã tăng lên so với thời gian công tác thực tế từ 1,17 đến 1,5 lần Trong giải quyết chính sách bảo hiểm xã hội đã tồn tại hai khái niệm: thời gian công tác thực tế và thời gian công tác quy đổi, nên đã có các trờng hợp ng-

ời lao động chỉ cần 8 năm công tác ở chiến trờng, những nơi có điều kiện khó khăn, gian khổ là đợc nghỉ mất sức với mức trợ cấp 40% mức tiền l-

ơng và phụ cấp thâm niên trong khi vẫn còn đủ sức để làm việc tiếp Nam giới chỉ cần 30 năm công tác quy đổi, nữ giới chỉ cần 25 năm công tác quy

đổi là đợc nghỉ hu và hởng 75% mức lơng trớc khi nghỉ hu Và cũng từ vấn đề này mà ngời nghỉ hu đợc hởng tới mức tối đa là 95% mức lơng

đang công tác năm cuối cùng Quy định này là không hợp lý đối với quỹ bảo hiểm xã hội do việc tính toán dựa vào một khoảng thời gian không có thực (đó là khoảng thời gian mà thực chất đối tợng không có đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội nhng lại đợc coi là có) Do vậy, việc chi trả các chế

độ bảo hiểm xã hội là gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc

- Việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội luôn đợc 2 cơ quan quản lý (Tổng Liên đoàn lao động và Bộ Lao động thơng binh và xã hội) thiếu sự điều hành chung dẫn đến sự mất cân đối thu- chi khi có sự thừa thiếu ở mỗi ngành

Do vậy Nhà nớc đã chủ trơng tăng mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để bù đắp thêm cho chi, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà n-

ớc, đồng thời thay đổi hệ thống quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

b/ Giai đoạn sau Nghị định 12/CP và 19/CP đến nay.

Trớc yêu cầu phải đổi mới các chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội trong điều kiện mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22- 6- 1993 quy định tạm thời các chế độ bảo hiểm xã hội và có quy định: Chính phủ thành lập hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam để quản lý thống nhất quỹ và sự nghiệp bảo hiểm xã hội trên cơ sở thống nhất tổ chức bảo hiểm xã hội thuộc Bộ Lao động thơng

Ngày đăng: 15/12/2012, 09:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình thực hiện bảo hiểm x  hội  ã ở một số nớc trên thế giới - Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Bảng 1 Tình hình thực hiện bảo hiểm x hội ã ở một số nớc trên thế giới (Trang 14)
Hình sau: - Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Hình sau (Trang 38)
Bảng 11 : Đối tợng hởng các chế độ bảo hiểm x  hội dài hạn tại ã thành phố việt trì từ 1992- 9/1995. - Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Bảng 11 Đối tợng hởng các chế độ bảo hiểm x hội dài hạn tại ã thành phố việt trì từ 1992- 9/1995 (Trang 39)
Bảng 13: CHi các chế độ bảo hiểm x  hội do ngân sách đảm bảo ã tại bảo hiểm x  hội thành phố việt trì - Thực trạng chi trả các chế độ Bảo Hiểm xã hội thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Bảng 13 CHi các chế độ bảo hiểm x hội do ngân sách đảm bảo ã tại bảo hiểm x hội thành phố việt trì (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w