BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT ~~~~~~*~~~~~~ ĐỀ TÀI Đánh giá các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền nhân thân của cá nhân (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hư[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
~~~~~~*~~~~~~
ĐỀ TÀI : Đánh giá các quy định trong Bộ luật Dân
sự năm 2015 về quyền nhân thân của cá nhân (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)?
Sinh viên thực hiện : Vũ Hồng Quân
Mã sinh viên : 22A5101D0204
Giáo viên hướng dẫn
: Nguyễn Thị Vinh Hương
Trang 2Thành Phố Hà Nội, Ngày 22 tháng 3 năm 2023
Trang 3MỞ ĐẦUCon người luôn là trung tâm của mọi chính sách phát triểncủa mọi đất nước hướng tới trong quá trình phát triển của đấtnước mình Song song với việc phát triển về mặt kinh tế - xã hộithì vấn đề con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ.Quyền nhân thân là một trong những nhóm quyền cơ bản vàquan trọng bậc nhất của công dân trong quan hệ dân sự Đặcbiệt trong xã hội ngày nay, khi mà cuộc sống của con ngườingày càng đầy đủ hơn, công nghệ, khoa học kĩ thuật ngày càngphát triển thì nhu cầu con người được bảo đảm quyền lời củamình trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua cácthời kì của đất nước – quyền con người, quyền công dân ngàycàng được thể chế hóa và ghi nhận trong Hiến pháp – một đạoluật cơ bản của hệ thống Việt Nam và đặc biệt là trong phápluật dân sự Từ đó bộ luật dân sự 2015 được ra đời đã ghi nhậntrong đó rất nhiều lần sửa đổi, bổ sung phần quy định về cácquyền nhân thân của cá nhân Vậy các quy định các quyềnnhân thân trong Bộ luật Dân sự 2015 được quy định như nào?
Có những ưu điểm và hạn chế gì? Chúng ta cần phải định hướnghoàn thiện các quy định pháp luật ra sao?
Để làm rõ được vấn đề đó em đã chọn đề tài “đánh giá cácquy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền nhân thâncủa cá nhân” trong nghiên cứu của mình
NỘI DUNGI.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN
1.Khái niệm về quyền nhân nhân của cá nhân
Trang 4Quyền nhân thân với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, lầnđầu tiên được nhắc đến trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995,
nó ra đời và có ý nghĩa là cơ sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhântồn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thể độc lập trongcộng đồng Thông qua việc cụ thể hoá các quy định của Hiếnpháp năm 1992 về quyền con người về dân sự, BLDS năm 1995xác định quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cánhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợppháp luật có quy định khác Đây được xem là một bước đổi mớiquan trọng trong tư duy, nhận thức của các nhà làm luật ViệtNam, cũng là bước tiến đáng ghi nhận, có ý nghĩa đặt nền móngcho sự phát triển quy định về quyền nhân thân trong hệ thốngpháp luật dân sự Việt Nam
Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay trong pháp luậtthực định cũng như trong các công trình nghiên cứu khoa họckhác chưa có một định nghĩa nào thống nhất và cụ thể vềquyền nhân thân của cá nhân Trong khi đó cũng có rất nhiềuquan điểm khác nhau đưa ra để định nghĩa về quyền nhân thâncủa cá nhân, từ đó xuất phát từ những quan điểm khác nhau,lập pháp Việt Nam đã đưa ra một định nghĩa thống nhất đượcghi nhận trong Điều 25 BLDS 2015 như sau” Quyền nhân thân
là quyền dân sự gắn liền với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể,không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao chongười khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
2.Đặc điểm quyền nhân thân của cá nhân
Thứ nhất, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền nhân thân
Quyền nhân thân được ghi nhận cho tất cả mọi người từ khi sinh ra chotới khi chết đi, khồng phân biệt giới tính, tôn giáo, thành phần giai cấp
Trang 5Cá nhân được quyền bảo đảm an toàn về tình mạng, sức khỏe, thân thể,danh dự… của mình mà không phụ thuộc vào độ tuổi hay và khả năng nhận thứccủa cá nhân, không thể bị tức đoạt hoặc hạn chế bởi bất kì ai.
Đối với một số quyền nhân của cá nhân, bản thân cá nhân không phảibằng hành vi của minnh thì quyền được pháp luật ghi nhận mới thực sự đượcthực hiện
VD: Các quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, bí mật đời tư haytên gọi, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể
Thứ hai, quyền nhân thân của cá nhân có tính chất phi tài sản
Khác với quyền tài sản, đối tượng của quyền nhân thân làmột giá trị tinh thần, do đó, quyền nhân thân không biểu hiệnbằng vật chất, không quy đổi được thành tiền và mang giá trịtinh thần Giá trị tinh thần và tiền tệ không phải là những đạilượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Do vậy,quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyểnnhượng cho người khác Một người không thể kê biên quyềnnhân thân của con nợ Pháp luật quy định cho mọi chủ thể đềubình đẳng về quyền nhân thân Mỗi một chủ thể có những giá trịnhân thân khác nhau nhưng được pháp luật bảo vệ như nhaukhi các giá trị đó bị xâm phạm
Thứ ba, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người
khác
Nghĩa là quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cánhân đó có quyền thực hiện hoặc do người đại diện của họ thựchiện trong một số trường hợp do phápluậtquyđịnh
Xuất phát từ những điểm thống nhất trong một số quanđiểm nêu trên và quy định về quyền nhân thân tại Điều 25
Trang 6BLDS năm 2015, có thể đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân
như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với giá trị
tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
3 Quy định về quyền nhân thân của cá nhân trong pháp luậtdân sự
Quyền có họ, tên ( Điều 26 BLDS 2015): Cá nhân có
quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có) Họ, tên củamột người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó
Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ
đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họcủa con được xác định theo tập quán Trường hợp chưa xác địnhđược cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ
và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo
họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha
mẹ nuôi Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ củatrẻ em được xác định theo họ của người đó Trường hợp trẻ em
bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhậnlàm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị củangười đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghịcủa người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ emđang được người đó tạm thời nuôi dưỡng Cha đẻ, mẹ đẻ đượcquy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sựkiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từviệc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình
Quyền thay đổi họ (Điều 27 BLDS 2015): Cá nhân có
quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Trang 7việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây: Thay đổi họ cho con
đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại; thay đổi
họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của chanuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ,
mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc
mẹ đẻ; thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻhoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con; thay đổi họ củangười bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; thayđổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật củanước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họtrước khi thay đổi (đây là một trong những điểm mới được bổsung nhằm giải quyết kịp thời những bất cập phát sinh từ đờisống xã hội); thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định
Quyền thay đổi tên (Điều 28 BLDS 2015): Cá nhân có
quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhậnviệc thay đổi tên trong trường hợp sau đây: Theo yêu cầu củangười có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởngđến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp củangười đó; theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổitên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi vàngười này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ,
mẹ đẻ đã đặt; theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người conkhi xác định cha, mẹ cho con; thay đổi tên của người bị lưu lạc
đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; thay đổi tên của vợ,chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nướcngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi; thay đổi
Trang 8tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giớitính; trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29 BLDS 2015): Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của
mình Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộccủa cha đẻ, mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộckhác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc củacha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trườnghợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theotập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của conđược xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn (đây làmột trong những điểm mới quan trọng của BLDS năm 2015 liênquan đến các quy định quyền nhân thân của cá nhân) Trườnghợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và đượcnhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc củacha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi.Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ emđược xác định theo dân tộc của người đó Trường hợp trẻ em bị
bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhậnlàm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của ngườiđứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị củangười đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng kýkhai sinh cho trẻ em
Quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30 BLDS 2015): Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh Cá nhân
chết phải được khai tử Trẻ em sinh ra mà sống được từ haimươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử;nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khaisinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu
Trang 9Quyền đối với quốc tịch (Điều 31 BLDS 2015): Cá
nhân có quyền có quốc tịch Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi,trở lại quốc tịch Việt Nam do Luật quốc tịch Việt Nam quy định.Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổViệt Nam được bảo đảm theo luật
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32 BLDS 2015): Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình Việc sử
dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý So vớiBLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung một quy định mớilà: Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, baogồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễnnghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hạiđến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh Việc sửdụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phảitrả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên cóthỏa thuận khác
Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33 BLDS 2015): Cá nhân
có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thânthể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe Không ai bị tướcđoạt tính mạng trái luật Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật
mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặcyêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiếtđưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khámbệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh,chữa bệnh
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34 BLDS 2015): Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ Cá nhân
Trang 10có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấuđến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình Trường hợp khôngxác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự,nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêucầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng Đây là mộttrong những điểm mới tiến bộ của BLDS năm 2015 so với BLDSnăm 2005 nhằm bảo đảm cho các cá nhân tự mình bảo vệquyền của bản thân khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâmphạm.
Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35 BLDS 2015): Cá nhân có quyền hiến mô, bộ
phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơthể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh chongười khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứukhoa học khác Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể củangười khác để chữa bệnh cho mình Cơ sở khám bệnh, chữabệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học cóquyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thửnghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác
Quyền xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2015): Cá
nhân có quyền xác định lại giới tính Việc xác định lại giới tínhcủa một người được thực hiện trong trường hợp giới tính củangười đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác
mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định củapháp luật
Chuyển đổi giới tính (Điều 37 BLDS 2015): Một trong
những điểm nổi bật về quyền nhân thân của cá nhân trongBLDS năm 2015 chính là việc chuyển đổi giới tính Điều 37 BLDS
năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện
Trang 11theo quy định của luật Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính
đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác
Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều
39 BLDS 2015): Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình
đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền đượcnhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhânthân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con vàquan hệ giữa các thành viên gia đình Con sinh ra không phụthuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền vànghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình
4 Ý nghĩa của quyền nhân thân
Việc quy định quyền nhân thân là cơ sở pháp lý để cá nhânđược thực hiện các quyền nhân thân trong sự bảo hộ của Nhànước và pháp luật
Quyền nhân thân có ý nghĩa rất lớn đối với mọi sinh hoạtđời sống tinh thần của cá nhân Mỗi hành vi xam phạm tớiquyền nhân thân của cá nhân đều ảnh hưởng tới đến đời sốngtình thân người bị xâm hại Việc bảo vệ quyền nhân thân có tácdụng kịp thời ngăn chặn những hành vi trái pháp luật với múc
Trang 12đích xâm phạm tới quyền nhân của người khác, đảm bảo trật tựpháp lí xã hội và giáo dục ý thức pháp luật cho công dân
Việc quyền nhân thân được ghi nhận trong những đạo luậtquan trọng nhất của đất nước cũng một phần khiến cho côngdân nước đó họ tin tưởng vào hệ thống pháp luật của nướcmình
II NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁNHÂN TRONG BLDS 2015
1.Những ưu điểm quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luậtDân sự 2015
Bộ luật Dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII thông quangày 14/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017 vớinhiều nội dung mang tính đột phá liên quan tới quyền nhânthân Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định vềnhân thân liên quan đến hộ tịch, xác định tư cách chủ thể cánhân trong các quan hệ dân sự và cụ thể hóa cơ chế công nhận,tôn trọng, thực hiện bảo vệ quyền Bộ luật Dân sự 2015 đã thểchế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể, chitiết các quyền nhân thân của mỗi cá nhân trong đời sống dân
Điều 26 BLDS 2015 quy định về Quyền có họ, tên: