Vì vậy người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không được đối xử với họ như một kẻ có tội, ngay cả khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và kết án bị cáo phạm vào một tội nào đó quy
Trang 1 Thẩm phán khác chánh án ở chỗ nào ?
Chánh án Toà án Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị
của Chủ tịch nước Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của
Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh ánToà án Nhân dân tối cao Nhiệm kỳ của Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao là 5 năm
Thế nào là thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm?
* Tại phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, nội dung của kháng nghị và đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến; nếu Toà án đã triệu tập những người tham gia tố tụng có liên quan đến việc kháng nghị, thìnhững người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu Hội đồng xét xử thảo luận và ra quyết định
Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị, vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án
Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị,
vì có những tình tiết mới được phát hiện, có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định, mà Toà án không biết được khi ra bản án, hoặc quyết định đó
Sản phẩm pháp luật tố tụng của phiên toà sơ thẩm; phiên toà phúc thẩm là bản án; còn của Toà giám đốc thẩm, Toà tái thẩm là một quyết định tố tụng Toà giám đốc thẩm, Toà tái thẩm không phải là các cấp xét xử theo quy định của pháp luật Việt Nam
* giám đốc thẩm và tái thẩm là hai trường biệt đặc, và cũng với những tình tiết đặc biệt
mới có thể xảy ra
giám đốc thẩm sẽ xảy ra nếu bản án bị sai do chính bên tòa tuyên án, đúng hơn là do cơ quan có thẩm quyền, thường thì giám đốc thẩm sẽ do tòa án nhân dân tối cao thực hiện.Còn tái thẩm sẽ xảy ra khi có một tình tiết mới xảy ra làm thay đổi hoàn toàn bản án, ví như:tranh chấp về tài sản,khi tài sản đã được phân chia rõ ràng, bản án đã tuyên, nhưng độtnhiên lại có 1 người khác đến và chứng minh họ có liên quan và có quyền cùng phân chia tài sản vậy bản án đã có thêm một tình tiết hoàn toàn mới đó là trường hợp đặc biệt cần phải tái thẩm
Khi nào quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật ?
Khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị mà không có ai kháng cáo kháng nghị Bản án thì
30 ngày, quyết định thì 15 ngày!
Năng lực pháp luật là gì? Trường hợp nào bị hạn chế năng lực Pháp luật?
* 1 - Năng luật pháp luật là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ của mình từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết; mọi cá nhân điều có năng lực pháp luật như nhau 2- trường hợp bị hạn chế năng lực khi cá nhân bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hình sự hoặc quyết định hành chính tước bỏ một số quyền nhất định tuân theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật qui định Việc hạn chế, tước bỏ một số quyền chỉ
có thể do tòa án hoặc do cơ quan hành chính thực hiện
Lưu ý: Một cá nhân khi bị áp dụng hình thức hạn chế năng lực pháp luật thì không thể tước bỏ toàn bộ năng lực pháp luật, trừ khi cá nhân đó chấm dứt sự sống
Trang 2* NĂNG LỰC PHÁP LUẬT:
là khả năng của cá nhân (thể nhân), pháp nhân (tổ chức, cơ quan) hưởng quyền và nghĩa
vụ theo luật định NLPL là hiện tượng pháp lí độc lập Trong pháp luật dân sự, NLPL của
cá nhân xuất hiện từ khi người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân
có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự; mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau” (điều 16) Nội dung NLPL của cá nhân quy định tại điều 17: “Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó” “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế trừ trường hợp
do pháp luật quy định” (điều 18)
Ví dụ: Điều kiện để dứng tên thẻ tín dụng
- Chủ thẻ chính: phải đủ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật
Những người phạm tội - được coi là không có năng lực pháp luật để tham gia ký kết hợp kinh tế
Trường hợp bị hạn chế:
1 Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
2 Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
3 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
Năng lực pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi nào?
* khả năng của cá nhân (thể nhân), pháp nhân (tổ chức, cơ quan) hưởng quyền và nghĩa
vụ theo luật định NLPL là hiện tượng pháp lí độc lập Trong pháp luật dân sự, NLPL của
cá nhân xuất hiện từ khi người đó sinh ra và mất đi khi người đó chết Bộ luật dân sự ViệtNam năm 1995 quy định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân
có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự; mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự nhưnhau” (điều 16) Nội dung NLPL của cá nhân quy định tại điều 17: “Quyền nhân thânkhông gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế vàcác quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từquan hệ đó” “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế trừ trường hợp
do pháp luật quy định” (điều 18) Trong một số ngành luật khác như luật nhà nước, luật laođộng, luật hôn nhân và gia đình thì NLPL và năng lực hành vi của cá nhân xuất hiện đồngthời ở lứa tuổi nhất định theo quy định của pháp luật NLPL dân sự của pháp nhân là khảnăng của pháp nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động củamình NLPL dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm
Trang 3quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng kí hoạt động thì NLPLdân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm đăng kí NLPL dân sự của pháp nhân chấmdứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân
* Theo khoản 2 Điều 86 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì năng lực pháp luật dân sự của
pháp nhân chấm dứt tại thời điểm chấm dứt pháp nhân, Thời điểm này được xác định theođiều 99 BLDS năm 2005
Như thế nào là có tiền án ?
* Đã từng phạm tội và chưa được xóa án tích có thể phạm một lần hoặc nhiều lần, nếu
đã được xóa án tích thì coi như chưa có tiền án!
Tại sao lại vi phạm pháp luật?
* Vi phạm pháp luật là do người vi phạm phạm pháp luật chưa ý thức được những hành
vi của mình do pháp luật quy định: không được làm hoặc phải làm Hiện nay, trong khoa học pháp lý, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, người ta phân chia vi phạm pháp luật thành bốn loại: vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự và viphạm kỷ luật
Một hành vi vi phạm pháp luật phải cấu thành các yếu tố sau đây:
1 Tính trái pháp luật của hành vi
2 Yếu tố lỗi
3 Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể hành vi trái pháp luật
* có 4 yếu tố cấu thành tội phạm, đó là:
Hỏi đáp pháp luật / một người chỉ bị coi là có tội khi nào?
* Một người thực hiện hành vi phạm tội nếu họ chưa bị Toà án kết án thì họ chưa bị coi
là có tội Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác phải có thái độ tôn trọng họ khi tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết có liên quan đến thân thể và tài sản của họ (việc bắt giữ hoặc kêbiên tài sản nhằm đảm bảo cho quá trình chứng minh tội phạm)
Đây là nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân được quy định trong Hiến pháp và Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự nước ta Theo nguyên tắc này thì: Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Nghĩa là họ vẫn phải chịu một số biện pháp cưỡng chế nhất định, nhưng không ai được xem là có tội và không chịu bất kỳ một hình phạt nào khi chưa có bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Trong giai đoạn xét xử, nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ tuy họ đã bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vẫn chưa bị coi là người có tội Họ tham
Trang 4gia tố tụng với tư cách là bị cáo, vì họ còn đầy đủ các quyền của một công dân Vì vậy người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không được đối xử với họ như một kẻ
có tội, ngay cả khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và kết án bị cáo phạm vào một tội nào đó quy định tại Bộ luật Hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ thì cũng không vì thế mà chorằng họ đã là người bị coi là có tội mà chỉ khi nào bản án có hiệu lực pháp luật thì họ mới
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã tuyên Hình phạt là biện pháp chế tài nghiêm khắc mà pháp luật dành cho một người khi có đủ các điều kiện luật định
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tạođiều kiện để bị can, bị cáo và người bào chữa sử dụng các biện pháp do luật định để gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm bớt trách nhiệm bồi thường thiệt hại và những quyền lợi khác
Có tội là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ thể mà ở đây là con người, là tính từ chỉ tính chất của sự vật, hiện tượng Người có tội hay bị coi là có tội là sự đánh giá của xã hội đối với một con người, cũng như ta thường nói người này tốt, người kia xấu Tuy nhiên, sự đánh giá một con người có tội chỉ có Toà án mới có quyền, ngoài Toà án không một cơ quan, cá nhân nào có quyền này Hiện nay, còn không ít người quan niệm rằng, một người
bị khởi tố, đã bị bắt tạm giam là có tội nên mọi người đối xử với họ với thái độ khinh miệt,
xa lánh, thậm chí những người thân của họ cũng khinh rẻ, hắt hủi, kể cả sau một thời gian tiến hành điều tra, cơ quan điều tra chứng minh là họ không có hành vi phạm tội, họ được trả tự do nhưng khi trở về với gia đình và xã hội vẫn bị mặc cảm Nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội không chỉ ngăn chặn sự phân biệt đối xử của cơ quan tiến hành tố tụng
mà còn có ý nghĩa đặc biệt là xoá sự mặc cảm của gia đình và xã hội khi họ được Toà án tuyên vô tội
Phạm tội là động từ chỉ hành động (hành vi) của con người đã thực hiện một tội phạm do
Bộ luật Hình sự quy định Vì vậy khi nói hành vi phạm tội, tức là mới nói đến một thực trạng khách quan đã và đang xảy ra và việc ngăn chặn hành vi này là rất cần thiết như: Bắt giữ, ra lệnh tạm giam, tiến hành các biện pháp điều tra xác minh theo quy định của Bộ luật
Tố tụng Hình sự để chứng minh hành vi phạm tội của một người Việc cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn đối với người có hành vi phạm tội là nhằm ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra cho xã hội, đồng thời giúp cho việc điều tra, truy
tố và xét xử không bị cản trở Điều đó có thể lý giải vì sao có người phạm tội thì bị bắt tạmgiam, có người thì được tại ngoại? Song, dù bị tạm giam hay được tại ngoại thì họ đều là người có hành vi phạm tội, chứ chưa bị coi là có tội Người phạm tội và người có tội là haikhái niệm hoàn toàn khác nhau, theo đó, tội phạm là khái niệm pháp lý, là danh từ chỉ một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan (Điều 8 - Bộ luật Hình sự quy định rất rõ khái niệm này) Trong Bộ luật Hình sự khái niệm phạm tội và tội phạm được dùng để chỉ cái chung, cái riêng của một hiện tượng xã hội khách quan, mà lại rất ít khi dùng khái niệm có tội nên
sự nhầm lẫn giữa có tội với hành vi phạm tội và tội phạm rất hay xảy ra Tuy nhiên, đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thì không thể đồng nhất các khái niệm này với nhau, vì như thế sẽ dẫn đến sự vi phạm nguyên tắc trong hoạt động điềutra, truy tố và xét xử
* Một người chỉ bị coi là có tội khi mà hành vi của người đó bị tòa án quy kết là có tội
trong bản án , đồng thời tương ứng với tội đó là 1 sự trừng phạt theo mức đã được quy
Trang 5định trong luật hình sự Chính xác hơn, người chỉ bị coi là có tội khi bị trừng phạt theobản án vừa có hiệu lực pháp lý.
Thế nào là tội chuẩn bị phạm tội?
* là chuẩn bị các đk để thực hiện hành vi PT, vd: hung khí, địa điểm, phương tiện, cáchthức thực hiện, nơi tiêu thụ
* Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn của quá trình thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiênkhông phải tội phạm nào cũng có giai đoạn chuẩn bị phạm tội
- Các giai đoạn:
+ Giai đoạn chuẩn bị phạm tội
+ Giai đoạn thực hiện hành vi phạm tội
+ Chấm dứt hành vi phạm tội: hành vi phạm tội đã chấm dứt, kết thúc trên thực tế, có thể xảy ra các trường hợp:
Phạm tội chưa đạt (chưa đạt chưa hoàn thành, chưa đạt đã hoàn thành)
Tội phạm hoàn thành (hành vi đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm)
- Tôi xin đi vào phân tích giai đoạn chuẩn bị phạm tội (điều 17 bộ luật hình sự)
đó là việc đối tượng tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Đây là giai đoạn mà đối tượng đã bắt đầu thực hiện hành vi, tức là đã hành động tuy nhiên khách thể chưa bị xâm hại Chuẩn bị thực hiện đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng=> truy cứu
* Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Ngày cập nhật : 31/01/2010)
1 Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt đựơc quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng
2 Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định
3 Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
Luật tố tụng hình sự khác luật hình sự ở chỗ nào?
* Khái niệm luật hình sự nói về những luật có chung tính chất là đề ra những hình phạt riêng biệt và nặng nề hơn bình thường nếu phạm vào
Tùy theo loại tội và thẩm quyền, sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị phạt vạ Những tội cổ xưa như sát nhân (giết người), phản
quốc v.v luật hình sự nơi nào cũng có Nhưng cũng có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà nước khác thì không Ngay cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về ranh giới giữa dân sự và hình sự
Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố bởi chính quyền, không giống như luật dân
sự thường được tiến hành khởi tố bởi người dân hay các pháp nhân khác
Trang 6còn
Nhằm góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến Bộ luật hình sự; giúp cho cán bộ, nhân dân quán triệt sâu sắc và nêu cao ý thức trách nhiệm chấp hành pháp luật, nâng cao chất lượng vào hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN.
Hy vọng cuốn sách sẽ đem đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích về Luật tố tụng hình
• Trong tố tụng hình sự:
- Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự) Cần chú ý là trong một số trường hợp Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình (khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự);
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự);
- Xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự) Khi xét xử Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, nhữngtình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo;
- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người tiến hành tố tụng, trong đó có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vôtội
• Trong tố tụng dân sự:
- Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự);
- Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của đương sự (Điều 6 Bộ luật tốtụng dân sự) Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp
Bộ luật tố tụng dân sự có quy định;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự);
- Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự);
- Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự)
Câu hỏi1
Trang 7Theo tinh thần quy định tại Điều 88 và Điều 303 của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 2 năm trở xuống hoặc người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý thì không áp dụng biện pháp tạm giam Như vậy, nếu các bị can, bị cáo thuộc trường hợp này bỏ trốn và Cơ quan điều tra có quyết định truy nã thì khi bắt được người bị truy nã, có được áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ không?
Trả lời
Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịutrách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổiphải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệtnghiêm trọng Như vậy, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý chỉ có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi họ từ đủ 16 tuổi trở lên; tuy nhiên ngay cả đối vớitrường hợp này thì khi xử lý cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc quy định tại Điều 69 của
Bộ luật Hình sự, trong đó có nguyên tắc: “Người chưa thành niên có thể được miễn tráchnhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hậu quảkhông lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giámsát, giáo dục” (khoản 2 Điều 69)
Về thủ tục tố tụng, Bộ luật Tố tụng Hình sự có một chương (chương XXXII) quy địnhnhững thủ tục đặc biệt để áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội Chỉnhững vấn để mà Chương XXXII không quy định thì các cơ quan tiến hành tố tụng mớiđược áp dụng các quy định tại các chương khác của Bộ luật Tố tụng Hình sự và việc ápdụng phải đảm bảo không trái với các quy định tại Chương XXXII Theo quy định tại Điều
303 của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có thể bị bắt,tạm giữ, tạm giam trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rấtnghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Bởi vậy, đối với những bị can, bị cáo
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý thì không áp dụng biệnpháp tạm giam đối với họ Tuy nhiên, đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng ở độtuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi và bỏ trốn, nếu khi bị phát hiện họ đã đủ 18 tuổi và có đủ cáccăn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 88 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (thuộc trườnghợp mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm; có căn cứ cho rằng người đó
có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội) thìviệc Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ là không trái với quy định tạiĐiều 303 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Đối với trường hợp bị can, bị cáo đã thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình
sự quy định hình phạt tù từ 2 năm trở xuống, nếu họ bỏ trốn thì về nguyên tắc theo quyđịnh tại Điều 161 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nãđối với họ Mặc dù Điều 88 của Bộ luật Hình sự không quy định về việc áp dụng biệnpháp tạm giam đối với trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình
sự quy định hình phạt tù từ 2 năm trở xuống, tuy nhiên Điều 88 cũng không loại trừ việc
áp dụng biện pháp tạm giam đối với trường hợp này Theo quy định tại Điều 83 của Bộluật Tố tụng Hình sự về những việc làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt theo lệnhtruy nã thì: “… Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩmquyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện
Trang 8kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt Sau khi nhận đượclệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đếntrại tạm giam nơi gần nhất” Như vậy, đối với trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêmtrọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 2 năm trở xuống bỏ trốn và đã có lệnhtruy nã thì khi bắt được đối tượng bị truy nã, việc Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạmgiam đối với họ là không trái với quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trường Cán bộ Tòa án
Hỏi đáp về Bộ luật Tố tụng Hình sự (Phần 4):
31 Hỏi: Chứng cứ được pháp luật hiện hành quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về chứng cứ như sau:
1 Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luậtnày quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ đểxác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tộicũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
2 Chứng cứ được xác định bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo;
c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác
32 Hỏi: Lời khai của người làm chứng được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
như thế nào?
Trả lời:
Điều 67 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về lời khai của người làm chứng nhưsau:
1 Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bịbắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác và trả lờinhững câu hỏi đặt ra
2 Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày,nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó
33 Hỏi: Bộ luật Tố tụng hình sự có những quy định gì về lời khai của người bị
hại?
Trả lời:
Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về lời khai của người bị hại như sau:
1 Người bị hại trình bày về những tình tiết của vụ án, quan hệ giữa họ với người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và trả lời những câu hỏi đặt ra
2 Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người bị hại trình bày, nếu
họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó
Trang 934 Hỏi: Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự được pháp luật hiện
hành quy định như thế nào?
Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau:
1 Bị can, bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án
2 Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợpvới các chứng cứ khác của vụ án
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội
36 Hỏi: Vật chứng là gì? việc thu thập và bảo quản vật chứng được pháp luật
hiện hành quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Vật chứng là vật được dùng làm công
cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tộiphạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và ngườiphạm tội
Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc thu thập và bảo quản vật chứngnhư sau:
1 Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vàobiên bản và đưa vào hồ sơ vụ án
Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và
có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án Vật chứng phải được niêm phong, bảoquản
2 Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn và hưhỏng Việc niêm phong, bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:
a) Đối với vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thuthập Việc niêm phong, mở niêm phong phải được tiến hành theo quy định củapháp luật và phải lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án;
b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy,chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phảichuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc cơ quan chuyên trách khác;
c) Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản thì
cơ quan tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợppháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương,
cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
Trang 10d) Đối với vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản nếu không thuộctrường hợp quy định tại khoản 3 Điều 76 của Bộ luật này thì cơ quan có thẩmquyền quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này trong phạm vi quyền hạn củamình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoảntạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại kho bạc nhà nước để quản lý;
đ) Đối với vật chứng đưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan công
an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thihành án có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án
3 Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá hủyniêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại vậtchứng của vụ án, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật Hình sự;trong trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng vật chứng của
vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quyđịnh tại Điều 300 của Bộ luật Hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theoquy định của pháp luật
37 Hỏi: Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc bắt bị can, bị cáo để
tạm giam?
Trả lời:
Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giamnhư sau:
1 Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân
sự các cấp;
b) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa ánnhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợp này,lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành
2 Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họtên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt Lệnh bắt phải có chữ ký của người ralệnh và có đóng dấu
Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bịbắt và phải lập biên bản về việc bắt
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã,phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến Khi tiến hànhbắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người
đó làm việc chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứngkiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người
3 Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tộiquả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộluật này
Trang 1138 Hỏi: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp được pháp luật hiện hành quy
định như thế nào?
Trả lời:
Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấpnhư sau:
1 Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:
a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rấtnghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy
và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặnngay việc người đó trốn;
c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thựchiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủychứng cứ
2 Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; ngườichỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bếncảng
3 Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấpphải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này
4 Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểmsát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp đểxét phê chuẩn
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này.Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắttrước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liênquan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặcquyết định không phê chuẩn Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thìngười đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt
39 Hỏi: Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được Bộ luật Tố tụng
hình sự quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:
1 Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạmthì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ ngườinào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủyban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngayngười bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền
2 Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng
có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt
Trang 1240 Hỏi: Tạm giữ được pháp luật hiện hành quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về tạm giữ như sau:
1 Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợpkhẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bịbắt theo quyết định truy nã
2 Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của
Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người bịtạm giữ quy định tại Điều 48 của Bộ luật này
3 Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phảiđược gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứhoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định huy bỏ quyết định tạm giữ vàngười ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Quyết định tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giaocho người bị tạm giữ một bản
2 Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời giandài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháptạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điềutra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam
Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần khôngquá một tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứnhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứnhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần,mỗi lần không quá bốn tháng
3 Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát được quy định như sau:
a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyềngia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhấtđối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng Trong trường hợp vụ
án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân