1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lí luận văn học 1 Ôn Tập

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lí luận văn học 1 ôn tập
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 43,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÍ LUẬN VĂN HỌC 1 Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật (5 đặc trưng) Hình tượng là nhân vật chính mà tác giả muốn gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào đó Nghệ thuật là hình tượng về tình cảm xã hội th.

Trang 1

LÍ LUẬN VĂN HỌC

1 Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật: (5 đặc trưng)

- Hình tượng: là nhân vật chính mà tác giả muốn gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào

đó

- Nghệ thuật: là hình tượng về tình cảm xã hội thẩm mĩ.

- Hình tượng nghệ thuật: là một sản phẩm của phương thức tái tạo thể hiện là chiếm lĩnh

hiện thực theo quy luật của phản ánh, tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật Là phương thức tồn tại của văn nghệ và là phương thức cảm nhận của nhà văn với những biểu hiện phong phú và quan hệ đa dạng cùng tình cảm xã hội thẩm mĩ

 Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù:

- Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, không phụ thuộc vào nhà văn

và người đọc Nó tồn tại độc lập khỏi suy nghĩ và mong muốn của nhà văn lẫn bạn đọc

 khách thể.

- Chúng ta không dùng các giác quan để cảm nhận hình tượng nghệ thuật  tinh thần.

- Là sản phẩm của khoa học, trí tuệ, tình cảm ở mức độ cao  đặc thù.

 Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm chiếm lĩnh đời sống của nhà văn, phản ánh tầm đón nhận của người đọc, phản ảnh tầm hiểu biết của nhà văn Nhưng nó nằm ngoài mong muốn, suy nghĩ của nhà văn, và bạn đọc nên được xem như là một khách thể Chúng ta không dùng các giác quan để cảm nhận được hình tượng nên là tinh thần Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của khoa học, trí tuệ, tình cảm ở mức độ cao nên mang tính đặc thù

 Hình tượng nghệ thuật có tính tạo hình và tính biểu hiện:

- Tính tạo hình là tạo cho hình tượng một hình dáng, một đường nét, một sự tồn tại mang

một hình dáng cụ thể trong không gian, thời gian nhất định  bên ngoài

Ví dụ: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được” hình ảnh tựa gối ôm cần…

- Tính biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất, cái nét riêng của hình

tượng, làm cho hình tượng toàn vẹn, sinh động và thái độ, quan điểm của tác giả  bên trong

- Sự thống nhất giữa cái tạo hình và biểu hiện: làm cho hình tượng có một hình thức

nghệ thuật độc đáo Đó là một thể thống nhất sinh động giữa thực và hư, trực tiếp và gián tiếp, ổn định và biến hóa, thống nhất và đa dạng, mang đầy nội dung cuộc sống, tư tưởng và cảm xúc

Ví dụ: Trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến có viết “Tựa gối ôm cần lâu

chẳng được” Hình ảnh: “tựa gối ôm cần” cho ta thấy một hình dáng ngồi câu cá ôm

cần tựa gối nhưng sau cái hình dáng đó là một tâm trạng muốn thu nhỏ mình lại trước thiên nhiên, trước vũ trụ Cho ta thấy, nhà thơ đang lo nghĩ về một việc gì đó rất dữ dội,

nó như đang giằng xé lấy ông Phải chăng đó là nỗi buồn thời cuộc, chính nỗi buồn này

đã làm ông lãng quên đi hành động câu cá

Ví dụ: Trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh có viết “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và

lặng lẽ” Hình ảnh “dữ dội”, “dịu êm”, “ồn ào”, “lặng lẽ” gợi cho ta một hình ảnh của

ngọn sóng biến vỗ liên hồi, tùy đợt sóng mà tốc độ khác nhau Đằng sau hình ảnh đó là tất cả tâm trạng khi yêu, là khát vọng to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành, mãnh liệt

 Tính hình tượng và kí hiệu:

- Kí hiệu là sản phẩm của cộng đồng, tài sản chung của cộng đồng Là phương thức lưu

giữ kinh nghiệm, là phương tiện để giữ gìn và truyền đạt kinh nghiệm giữa người với người

Trang 2

- Hình tượng là sản phẩm cá biệt của từng nhà văn, là sự mã hóa kí hiệu nhằm làm phong

phú ý nghĩa của kí hiệu trong một bối cảnh cụ thể

- Quan hệ giữa kí hiệu và hình tượng:

- Ví dụ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”.

Hình ảnh mặt trời được tác giả sử dụng, về mặt hình ảnh thì có quan hệ tương đồng nghĩa là sức mạnh và ý nghĩa của mặt trời tự nhiên có vai trò to lớn như vai trò Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam Đây là quan hệ tương đồng về giá trị hình ảnh Nhà văn Viễn Phương, khi xây dựng hình tượng Bác Hồ sánh ngang với mặt trời là do tác giả đã nhận

ra được vai trò to lớn của Bác Ngoài ra, sự so sánh này đã làm phong phú thêm cho hình

ảnh, ý nghĩa của kí hiệu “mặt trời”.

 Hình tượng nghệ thuật là một quan hệ xã hội – thẩm mĩ:

Nghệ thuật phản ánh cuộc sống do đó cấu trúc của hình tượng là một mối quan hệ xã hội – thẩm mĩ Giá trị của mối quan hệ xã hội – thẩm mĩ là tính người, hướng đến giá trị tốt đẹp, truyền tải cho người đọc phân biệt được thiện ác, tốt đẹp, hướng con người đến giá trị tốt đẹp

 Tính nghệ thuật (thẩm mĩ) của hình tượng:

- Tính thẩm mĩ của hình tượng phải đảm bảo tính chân thực và sinh động của hình tượng.

- Chân thật: Phản ảnh đúng thân phận, địa vị và nhận thức của nhân vật.

- Sinh động: Linh hoạt, đạt tới mức độ cảm xúc chân thành và mãnh liệt.

2 Đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ:

Chất liệu của văn học là ngôn ngữ hay ngôn từ

Ngôn từ: là ngôn ngữ sử dụng có ý nghĩa, có mục đích, có tác dụng nghệ thuật Vì vậy mới nói là nghệ thuật ngôn từ Nghệ thuật ngôn từ khác với ngôn từ nghệ thuật

Văn học vừa là một hình thái ý thức xã hội – hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, vừa là một loại hình nghệ thật (đặc biệt) – nghệ thuật ngôn từ

Đặc trưng ở đây là sự khác nhau giữa các loại hình nghệ thuật nói chung và văn học

Chỗ mạnh và chỗ yếu của nghệ thuật ngôn từ không phụ thuộc vào chủ thể, không phải của chủ thể, mà là những thuộc tính khách quan, chúng có mối liên hệ biện chứng hữu cơ – chính vì nhờ chỗ yếu đó mới có chỗ mạnh và ngược lại Mặc khác chúng có biến thành hiện thực hay không thì lại phụ thuộc vào vai trò của chủ thể

Tính hình tượng – gián tiếp

 Chất liệu của văn học là ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là vỏ ký hiệu, nên luôn mang ý nghĩa biểu thị

 Mỗi ngôn ngữ đều có 2 mặt: biểu đạt (chữ cái) và biểu tượng (cái được biểu đạt)

 Văn học tư duy bằng hình tượng - ở mặt thứ 2 Biểu đạt nên gọi là gián tiếp

 Ví dụ:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Trang 3

Ý nghĩa biểu đạt của câu ca dao là công ơn sâu nặng của cha mẹ được biểu tượng ở hình ảnh

“núi Thái sơn” và “nước trong nguồn”

Tính tư duy – trực tiếp

 Ngôn ngữ là công cụ trực tiếp của tư duy nên tư duy trong văn học là tư duy trực tiếp

 Còn các loại hình nghệ thuật khác là tư duy gián tiếp

 Ví dụ:

“Anh chờ em, ôi trăng dài viễn phố Vạn trần gian thương sáng khôn nguôi Anh chờ em chim bay qua núi đỏ Non hao gầy qua hố nước xanh xao”

Bài thơ bộc lộ tâm trạng của nhờ thơ, người đọc có thể trực tiếp tư duy được qua từng câu

hữ tâm trạng buồn nhớ của nhà thơ vì nỗi chờ đợi

Tính vô cực hai chiều về không – thời gian.

Không phải mật nhưng lại dính với tất cả, ngôn ngữ có thể diễn dạt được tất cả các chiều rộng hep của không gian, các chiều quá khứ, hiện tại của thời gian và moji chiều của đời sống tâm hồn… Không loại hình nghệ thuật nào có thể khái quát cao như vậy

Ví dụ:

“Không gian như có dây tơ, Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn ”

Xuân Diệu

Tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận:

Ngôn ngữ là tài sản chung của cộng đồng nên dễ đọc, dễ hiểu, dễ cảm thụ, dễ truyền bá

3 Văn học với các hình thái ý thức xã hội khác, mối quan hệ giữa văn học với hiện thực:

VĂN HỌC VỚI HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG: (4 CẤP ĐỘ PHẢN ÁNH)

- Phản ánh với nhận thức

- Phản ánh với biểu hiện

- Phản ánh với sáng tạo

Trang 4

- Phản ánh với tác động

- Phản ánh với nhận thức: Phản ánh hiện thực, văn học có khả năng hiểu biết và khám

phá được bản chất hoặc những khía cạnh bản chất của hiện thực Không phải bất cứ trào lưu văn nghệ nào, bất cứ nghệ sĩ và tác phẩm nào cũng có tác dụng nhận thức Chúng liên quan với nhau nhưng khác nhau Nhận thức bắt nguồn từ phản ánh, nhưng không phải phản ánh nào cũng có giá trị và tác dụng nhận thức Tác phẩm văn học nào cũng có tính hiện thực do chính tác giả (nhà văn) đã nhận thức được và phản ánh qua văn chương Nhưng không phải tác phẩm nào cũng có tính chân thật Như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có tính chân thật cao độ và giá trị nhận thức to lớn ở chỗ nó đã vạch ra bản chất chà đạp quyền sống của con người trong chế độ phong kiến Hiện thực tác động sâu sắc đến nhận thức, nhưng khả năng nhận thức ít nhiều phụ thuộc vào loại hình, loại thể, phương pháp sáng tác

- Phản ánh với biểu hiện: Phản ánh hiện thực không phải chỉ phản ánh thế giới khách

quan, mà còn biểu hiện cả thế giới chủ quan Lấy thực tế làm gốc, phản ánh luận Max-Lenin thừa nhận văn nghệ không chỉ biểu hiện khát vọng của con người, mà còn biểu hiện toàn bộ thế giới chủ quan của con người; thế giới quan, cá tính, lí tưởng, ước mơ… Theo phản ánh luận Max – Lenin thì văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới quan Và

đó là cách nhìn đúng với duy vật biện chứng Khách quan và chủ quan ở đây không phải

là dấu cộng mà là sự chuyển hóa lẫn nhau Suy cho cùng cái chủ quan của nhà văn vẫn bắt nguồn từ cái khách quan hiện thực Ví dụ: tiểu thuyết Tây Du Ký có thể có những quan điểm là do chính Ngô Thừa Ân tự đặt ra và ông thêm vào những chi tiết chủ quan của bản thân Nhưng suy cho cùng chính vì những hiện tượng thực tế như những cuộc đảo chính chế độ, những thói hư tật xấu hay những cái tốt đẹp của chính con người trần gian mà tác giả đã chủ quan xây dựng lại thành Tôn Ngộ Không, Đường Tăng, hay là Tiên Phật Thánh Thần và yêu ma, Như vậy chính cái khách quan của hiện tượng xã hội đã tạo nên sự sáng tạo bên trong tác giả (chủ quan)

- Phản ánh với sáng tạo: Phản ánh văn học không chỉ tìm tòi, hiểu biết và khám phá mà

còn sáng tạo Văn học không chỉ phản ánh hiện thực, mà còn có những phi hiện thực Nếu văn học là cái nguyên vẹn của chính cuộc sống đòi hỏi nghệ sĩ luôn có thái độ chính xác trong việc mô tả thì rất sai lầm Chính xác là vấn đề của khoa học chứ không phải của nghệ thuật Ví dụ: Nguyễn Du viết “ Sầu đong càng lắc càng đầy – Ba thu dồn lại lại một ngày dài ghê” hay Chế Lan Viên viết: “ Buổi sáng xa em chi – Cho chiều mùa thu đến” hay Xuân Quỳnh viết “ Dẫu xuôi về phương bắc - Dẫu ngược về phương nam” thì tuy trái với quy luật tự nhiên, nhưng lại rất đúng với quy luật tình cảm đột xuất dâng lên trong nghệ thuật

- Phản ánh với tác động

Tác động là sự ảnh hưởng của sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác và dẫn đến thay đổi Tác phẩm văn học là quá trình chiêm nghiệm, suy tư về đời sống của người nghệ sĩ Tác phẩm chỉ tạo ra sự tác động khi có sự tiếp nhận của người đọc Mỗi tác phẩm, trào lưu nghệ thuật luôn có ảnh hưởng nhất định đối với xã hội Văn nghệ góp phần sáng tạo ra thế giới khách quan bằng cách tác động vào hoạt động thực tiễn của quần chúng Một tác phẩm văn học sinh ra để thưởng thức thôi chưa đủ, nó còn phải tác động tích cực, chân chín đến người đọc Phản ánh để mà thông báo, tác động phải tự chứng minh ua thông báo, tác động Muốn cải tạo và xây dựng tốt thế giới trước hết phải

Trang 5

giải thích đúng đắn thế giới Muốn thông báo có hiệu quả dến công chúng, tác động tích cực vào cuộc sống, văn nghệ phải phản ánh đúng đắn chân thực cuộc sống

- Nhật Hào:

“Tác phẩm nghệ thuật luôn được xây dựng từ những vật liệu mượn ở thực tại, nhưng nhà văn không chỉ muốn ghi lại những cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ” (Nguyễn Đình Thi) Yêu cầu tất yếu của văn học về sự sáng tạo, về cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn Sự sáng tạo trong quá trình sáng tác, không chỉ là yêu cầu cơ bản, mà còn

là khao khát, nỗ lực của nhà văn, làm nên vị trí của nhà văn trong văn đàn, và trên tất cả, chính là sự thăng hoa của anh ta trong nghệ thuật, là niềm say mê vô tận khi khám phá ra những giá trị mới, những tư tưởng mới, những tình cảm mới, những vẻ đẹp mới

Khi đề cập đến hai khía cạnh không thể tách rời của quá trình sáng tác bao gồm: Hiện thực và sự sáng tạo Tác phẩm không thể hình thành nếu thiếu đi hiện thực, nếu thiếu đi nguồn vật liệu cấu thành lên nó, nhưng đồng thời, để tồn tại, để khẳng định giá trị, để sống mãi với thời gian, nhất thiết tác phẩm văn học phải chứa đựng sự sáng tạo, phải có những điều “mới mẻ” Vật liệu hiện thực và sự mới mẻ mà nhà văn khám phá chính là hai mặt của một đồng xu, có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, làm nên sự hình thành và tồn tại của một tác phẩm văn học chân chính

Đối tượng phản ánh của văn nghệ chính là hiện thực cuộc sống “Cuộc đời là điểm khởi đầu và cũng là điểm đi tới của văn chương” Thực chất tác phẩm văn học chính là hiện thực cuộc sống được phản ánh qua lăng kính của nhà văn, nếu tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm từ hiện thực anh ta khai thác chỉnh là đỉnh cao của tác phẩm, chính là phần làm nên giá trị, sức hút của tác phẩm, thì vật liệu hiện thực chính là cái rễ bền chắc giữ cho phần thăng hóa ấy luôn ổn định, vững vàng Có thể nói, tác phẩm nghệ thuật bắt rễ

từ cuộc sống và đơm hoa nơi tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ

Chất liệu làm nên hình hài sắc vóc cho tác phẩm văn học chính là ngôn từ nghệ thuật

Mà ngôn từ bắt nguồn từ cuộc sống “Ở đâu có lao động, ở đó có sáng tạo ngôn ngữ” Chính từ những hoạt động sống hằng ngày, từng lao động, từ sinh hoạt mà ngôn ngữ ra đời Ngôn ngữ tồn tại khách quan, không một cá nhân nào có thể tùy tiện thay đổi, làm biến dạng, nó như một thứ khế ước mà mọi thành viên trong cộng đồng đều phải học cách sử dụng Ngôn ngữ chính là những vỉa quặng mà từ đó nhà văn, bằng tài năng nghệ thuật và cảm nhận tinh tế, tôi luyện thành ngôn từ nghệ thuật của mình, là những gì tinh

tế nhất, hàm súc nhất, biểu cảm nhất, để có thể truyền tải trọn vẹn tư tưởng, tình cảm mà anh ta đang ấp ủ Quá trình đó rất gian khổ, nhưng thành quả cũng thật cao quý “Phải tốn hằng tấn quặng ngôn từ/Chỉ thu về một chữ mà thôi/ Những chữ ấy làm cho rung động/Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài” Như vậy có thể nói, một vật liệu không thể thiếu để làm nên tác phẩm nghệ thuật mà nhà văn mượn từ thực tại, chính là ngôn ngữ

Để hoàn thành sứ mạng cao của của mình, văn học không thể không quan tâm đến thực tại Thật vậy, văn học có chức năng cao cả là “Trở thành thứ vũ khí thanh cao và đắc lực

mà chúng ta có để vừa tố cáo vừa thay đổi thế giới xấu xa, giả dối, vừa làm tâm hồn người đọc trong sạch hơn, phong phú hơn” (Thạch Lam) Theo quy luật của sự sáng tạo, một tác phẩm văn học không kết thúc trên trang giấy, mà nó trỗi dậy, hòa mình vào cuộc sống, tác động vào tư tưởng tình cảm của con người để góp phần cải tạo cuộc sống, làm cuộc sống tốt đẹp hơn, trong sạch hơn Chính vì vậy, văn học không thể không chú tâmvđến cuộc sống, nhà văn không thể khước từ việc tìm kiếm những vật liệu mượn từ cuộc sống Vật liệu ở đây chính là hiện thực rộng lớn ngoài kia, mênh mông bao la như

Trang 6

biển lớn với những cơn sóng ngầm dữ dội, với những mâu thuẫn gay gắt của thời đại, với những nỗi đau, những số phận, những tâm tư nguyện vọng, những ước mơ khát khao Trước biển lớn hiện thực ấy, mỗi nhà văn cần trải rộng tâm hồn mình để đón nhận những vang vọng của cuộc đời, vắt kiệt trái tim của mình để hòa điệu cùng những đau thương trong cuộc sống, để cuộc sống ùa vào trái tim, tràn ra nơi đầu ngọn bút Nhà văn

là người bạn, nhà văn là người thấu hiểu, “Nhà văn là người cho máu”.Chỉ tác phẩm được xây dựng nên bằng máu nóng da diết yêu thương hướng đến cuộc đời, bằng những giọt nước mắt sáng trong sâu đậm niềm yêu người, yêu đời tha thiết mới là những tác phẩm chân chính, mới có thể “vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn, trở thành tác phẩm chung cho loài người”, mới có thể “vượt qua sự băng hoại của thời gian”, để phủ nhận cái chết Nhà văn không chỉ ghi chép những gì đã có mà luôn muốn nói một điều gì mới

mẻ Như Nam Cao đã nói “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo những kiểu mẫu đưa cho, văn chương cần những người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi, tìm ra những gì chưa có”, sự sáng tạo là yếu tố sống-còn của một nhà văn đối với nghệ thuật Bởi lẽ, tác phẩm nghệ thuật không phải là bản photocopy vô hồn của cuộc sống, bởi lẽ, tác phẩm nghệ thuật chính là thế giới khách quan được nhìn qua lăng kính của nhà văn, nên tác phẩm nghệ thuật sẽ không bao giờ thành hình nếu thiếu đi dấu

ấn cá nhân của nhà văn in đậm trong nó Nói cách khác, nếu thiếu đi sự sáng tạo, nếu nhà văn không có dấu vân tay nghệ thuật riêng, tác phẩm nghệ thuật sẽ chết và tuột trôi vào quên lãng, cùng với dòng chảy của những thứ nhợt nhạt giống nhau khác, và nhà văn, khi anh ta không thể kiến tạo giá trị mới, khi anh ta chỉ loay hoay trong lối mòn, lặp lại chính mình và lặp lại người khác “Người tạo nên tác phẩm là tác giả, nhưng người quyết định số phận của tác phẩm lại là độc giả” (gorki), người đọc sẽ không bao giờ tiếp nhận những gì đã quen nhàm, cũ kĩ Độc giả tìm đến tác phẩm trước

hết để tìm thấy những điều mới lạ, để làm giàu thêm cho tâm hồn, để làm giàu thêm vốn sống, kinh nghiệm sống, để hiểu mình, hiểu đời nhiều hơn, để bản thân có được những phút giây rung cảm chọn vẹn giữa cái đẹp Nếu thiếu đi sự sáng tạo, những gì nhà văn ghi lại chỉ là ghi chép y nguyên cuộc sống, thứ cuộc sống diễn ra mỗi ngày xung quanh

họ, thứ cuộc sống mà họ dường như những áp lực bủa vây đã khiến họ thấy quen nhàm, thậm chí mệt mỏi, thì thử hỏi, người đọc có tiếp nhận tác phẩm hay không?

Tác phẩm chỉ tồn tại, khi chiếm được một vị trí trong tim độc giả, và yếu tố sáng tạo, chính là điều kiện tiên quyết cho sức sống ấy, đồng thời, cũng chính đòi hỏi khắt khe này đã tạo ra sự đào thảo khắc nghiệt của thế giới văn chương

Vật liệu của thực tại và sự sáng tạo của nhà văn chính là hai yếu tố không thể tách rời, tác động qua lại lẫn nhau làm nên sự sống của tác phẩm Từ những vật liệu của thực tại,

ta sẽ bắt gặp sự sáng tạo, cái mới mẻ cua nhà văn Đồng thời, sự mới mẻ, sáng tạo của nhà văn sẽ làm cho vật liệu mượn ở thực tại trở nên sâu sắc hơn, đẹp hơn, gợi cảm hơn Vật liệu chính là những vấn đề cốt lõi, cơ bản, trọng đại, cấp bách của cuộc sống, đòi hỏi nhà văn thâm nhập, trải lòng, trăn trở, suy tư Làm nên tư tưởng chủ đề tác phẩm, sự mới

mẻ của nhà văn thể hiện ở góc độ đề tài mà anh ta chọn, thể hiện ở điểm nhìn của anh ta với vật liệu hiện thực đó, thể hiện ở khía cạnh tư tưởng mới mẻ mà anh ta khám phá ra [Đề tài người nông dân và khám phá của Nam Cao so với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan ] Vật liệu chính là những sự vật ngoài đời thực hóa thân thành hình tượng của nghệ thuật Qua tay mỗi nhà văn, sự vật ấy sẽ mang những ý nghĩa, những biểu tượng riêng, đại diện cho những kiểu người khác nhau, chất chứa những tình cảm khác nhau [Con cò ngoài đời thực đến con cò trong ca dao, dân ca, đến con cò trong thơ Chế Lan Viên; sóng trong thơ Xuân Diệu và trong thơ Xuân Quỳnh]

Trang 7

Vật liệu chính là ngôn ngữ, cái mới mẻ của nhà văn đó là chắt lọc được từ thứ ngôn ngữ dân dã, thông tục hằng ngày những ngôn từ đắt giá, những cách kết hợp từ mới mẻ, gợi cảm, để thể hiện tư tưởng, tình cảm của anh ta

Những tác phẩm văn học, những hình tượng văn học khi rời khỏi tay nhà văn và đi vào cuộc sống, đã trở thành những khách thể tinh thần, tồn tại khách quan với sự vận động nội tại của nó, với tính cấu trúc chỉnh thể của riêng nó, cũng trở thành một phần của hiện thực, và cũng có khả năng trở thành vật liệu để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật mới

Đó là khi tác phẩm nghệ thuật trở thành thi liệu, văn liệu, khơi gợi sự sáng tạo của các nhà văn thế hệ sau Sự sáng tạo ở chỗ vận dụng các thi liệu, văn liệu để bày tỏ cái riêng của bản thân, bày tỏ tâm tư tình cảm của bản thân, nhiều khi cái cá nhân đó, cái tâm tư tình cảm đó trái ngược lại với tư tưởng, tình cảm của tác phẩm gốc chứa thi liệu, văn liệu

mà anh ta sử dụng

Văn học với các hình thái ý thức xã hội khác:

1 Văn học với triết học: triết học là khoa học tìm hiểu những quy luật chung, khái quát nhất

của tồn tại, tức tự nhiên, xã hội và con người Triết học tạo ra một hệ thống quan điểm, quan niệm về toàn bộ thế giới như một cái toàn vẹn siêu tổng cộng Nó cung cấp cho mọi người, trong đó có nhà văn một cái nhìn, một lối nhìn, một cách rút ra kết luận về đối tượng nhận thức và từ đó hỗ trợ nhà văn tư duy sáng tạo những thế giới nghệ thuật Các tư tưởng triết học thường hiện ra trong hình tượng của thế giới nghệ thuật và những tác phẩm văn học lớn thường chứa đựng các khái quát sâu sắc về lịch sử, lẽ sống, con người Triết học giúp văn học đạt được chiều sâu tư tưởng nhận thức rộng lớn tuy nhiên không pahir bất cứ loại hình triết học nào cũng làm cho văn học có giá trị sâu sắc và đúng đắn Những triết học duy tâm, suy đồi hiện đại thường làm văn chương suy thoái, bế tắc, tác động xấu đến tư tưởng, tình cảm người đọc Tư tưởng triết học trong văn học dễ đi sâu vào lòng người hơn, không khô khan, cứng nhắn Triết học còn là cơ sở ý thức, phương pháp luận nghiên cứu, lí luận phê bình, tiếp nhận văn học

2 Văn học với chính trị

 Tác giả: thế giới quan – nhân sinh quan

 Tính triết lsy tác hẩm

 Phê bình

Có quan hệ nhiều tầng bậc và trực tiếp nhất chính trị không chỉ là hình thái ý thức mà còn là các thể chế, tổ chức, tương ứng Văn học luôn dễ dàng giao tiếp với mọi vấn đề của chính trị và bày

tỏ cách này hay cách khác thái độ chính trị thoe lí tưởng thẩm mĩ của mình (trang 103, đoạn 2) Văn học là trợ thủ đắc lực cho chính trị tiến bộ và hạnh phúc nhân dân Tính đa nghĩa, đa thanh của văn chương thường tạo ra những ẩn ý, bóng gió trước những vấn đề khó bộc lộ trực diện, tế nhị của đời sống chính trị Tư tưởng quan điểm chính trị của lực lượng thống trị chi phối trực tiếp, mạnh mẽ các hoạt động văn học từ sáng tác, nghiên cứu lý luận phê bình đến xuất bản, tuyên truyền, phổ biến

Trang 8

Văn học có thể là vũ khí của chính trị và cũng có thể là vũ khí để đối phó chính trị, hỗ trợ một nền chính trị khác

4 Đặc trưng của tư duy nghệ thuật của nhà văn

Tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật:

- Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là khách thể tinh thần, phản ánh trí tuệ nhận thức của nhà văn với đời sống

Gồm có 3 yếu tố để xây dựng hình tượng nghệ thuật:

- Hình tượng nghệ thuật phải đạt đến tính điển hình: Cá thể hóa (Tính riêng, sắc nét không lặp lại) và khái quát hóa (tầm bao quá những chân lý lớn lao, những con người cụ thể phải thuộc về một cộng đồng cụ thể).

- Hư cấu: nhào nặn chất liệu vốn có để tạo ra hình tượng nghệ thuật độc đáo (Yếu tố cần để làm cho tính hình tượng trở nên điển hình, sinh động hơn)

- Bộc lộ thế giới chủ quan và phát hiện thế giới khách quan.

Thể nghiệm trong tư duy nghệ thuật:

 Thể nghiệm là trải qua kinh nghiệm, trải qua thực tế Tự mình sống lại bằng tình cảm, tư

tưởng những kinh nghiệm đã trải qua “Nhập tâm”, “sống thử”, “sống lại” với thời gian

trong quá khứ, tương lai

 Công việc của nhà văn càng phức tạp hơn nhiều, thể nghiệm những nếm trải của người khác, nhập thân vào đối tượng, phát hiện lại trên bản thân mình những kinh nghiệm của người đời

Logic đa trị mơ hồ trong tư duy nghệ thuật:

Logic: rạch ròi, chặt chẽ, biện chứng, nằm trong một hệ thống

Đa trị: nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa, nhiều khả năng liên tưởng, gợi nhớ…

Mơ hồ: không rõ ràng, không rành mạch, không chắc chắn, có nhiều cách hiểu khách nhau Cách biểu hiện:

 Diễn đạt lấp lững: cách diễn đạt tạo nhiều cách hiểu khác nhau.

Trong cách diễn đạt lẫp lửng thì vai trò của ẩn dụ thể hiện rất rõ Chẳng hạn như những

câu thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Ở đây, cần nói đôi lời về chữ “ai”, cả bốn lần chữ “ai”- đại từ phiếm chỉ cùng xuất hiện

Trang 9

trong các câu hỏi tu từ đều mơ hồ ám ảnh Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chới với trước một mối tình đơn phương mộng ảo Đặc biệt chữ “ai” lặp lại hai lần trong câu thơ cuối như hoài nghi, như một chút hi vọng mong manh mà tha thiết nhưng đang nhạt nhòa và mờ đi cùng sương khói Câu hỏi khép lại bài thơ vừa như tiếng thở dài, vừa là lời cầu mong của kẻ gắn bó đến cháy lòng với cuộc đời trần thế

 Từ đa nghĩa: từ có nhiều nghĩa

Ví dụ: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Ở từ “hoa” ta sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, hoa là bông hoa nơi rừng sâu, hoa là ngọn đuốc giữa đêm khuya hay hoa có thể hiểu chính

là hình ảnh của những người chến sĩ hành quân trong rừng tối

 Phá vỡ tính liên tục, tạo nên ngắt quãng, gián đoạn: một câu thơ có nhiều cách ngắt nhịp tạo nhiều ý nghĩa khác nhau

Trong đoạn mở đầu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, nhà văn đã chọn tả phố huyện

vào một buổi chiều tàn Hai điểm nhìn: không gian, thời gian trở thành một nghệ thuật đầy

ám ảnh Những dòng đầu tiên Thạch Lam vẫn chậm rãi lắng nghe tiếng trống thu không,

đưa mắt ngắm nhìn ánh hồng trên nền trời phương tây, ngắm nhìn dãy tre làng Đột nhiên ông làm cho thời gian, không gian chuyển mình trong một vũ điệu rất duyên dáng và nhịp

nhàng: “Chiều, chiều rồi” Câu văn như thơ, như họa, nhịp 1/2 co duỗi vừa ngỡ ngàng vừa

buông chùng, kéo dài một nỗi buồn mênh mang khó lí giải Không phải tác giả giật mình nhận ra chiều đang tới mà có lẽ hình ảnh buổi chiều đã in đậm trong hồn người Cho nên

Thạch Lam đã tỉnh lược đi rất nhiều từ, ông chỉ để lại ba từ đặc tả nhất, ba tiết tấu ngân vang

toàn tác phẩm, tạo nên sự ngắt quãng để hướng tới một tiểu không gian, thời gian khác

“Một chiều êm ả như ru văng vẳng tiếng ếch kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhè nhẹ đưa vào ”

Có những bài thơ đòi hỏi phải có sự phá vỡ tuyến tính từng câu, buộc chúng ta phải tháo cấu trúc câu ra trong chiều lập thể của nó thì ta mới có thể hiểu được

“Quán bên đường

Các du nữ ngủ

Trăng và đinh hương”

(Thơ Haiku - Nhật chiều dịch)

Đọc bài thơ ta chỉ thấy các hình ảnh xuất hiện chồng xếp lên nhau: Quán bên đường với các

cô du nữ, trăng và đinh hương Giữa chúng có một khoảng trống rất rõ, chỉ được gọi tên và đặt cạnh nhau Bài thơ rất dung dị, nhà thơ hầu như không sử dụng một thủ pháp nào, ông chỉ làm một công việc duy nhất là gọi tên các sự vật có vẻ rất rời rạc: các du nữ là kĩ nữ, là

Trang 10

những người bị coi đã lặn ngụp dưới đáy sâu cuộc đời; trăng và đinh hương vốn tượng trưng cho sự thanh tao, cao quý rồi đặt chúng cạnh nhau Nhưng bằng cách đó nhà thơ đã tạo ra những gạch nối giữa các hình ảnh, các câu thơ, tạo ra sợi dây mối quan hệ bình đẳng giữa các sự vật trong vũ trụ, trong cảm quan khoáng đạt của nhà thơ Vạn vật trong vũ trụ này tồn tại bình đẳng với nhau và khi ngủ họ hoà làm một với đất trời, trăng sao với cây cỏ

 Đa bội điểm nhìn: nhiều góc nhìn khác nhau có các ý nghĩa khác nhau.

Ví dụ: Hồ Xuân Hương tả cái“giếng”: “Cầu trắng phau phau đôi ván ghép/ Nước trong leo lẻo một dòng thông/Cỏ gà lún phún leo quanh mép/ Cá diếc le te lách giữa dòng” thì đúng

là tả cái giếng thật Tất nhiên là cái giếng của ngày xưa không xây bằng gạch, chỉ là đào sâu xuống, bắc đôi ván làm chỗ đứng để múc nước Mép giếng có cỏ gà mọc, dưới giếng có cá con, cá diếc đang bơi Song tất cả những sự vật được miêu tả trên có nét tương đồng với hình ảnh khác Người đọc cười, xấu hổ đỏ mặt, nhưng chẳng ai bắt bẻ được bà Cho rằng miêu tả như thế là dâm? Không! Bà tả cái giếng thật đấy chứ! Có kẻ nào đó dám trách bà thế

là tục quá, dâm quá Bà ngạo nghễ trả lời: “Kẻ nào có tâm hồn đen tối thì nhìn sự vật cũng thành đen tối Cái giếng thì tôi tả cái giếng, ai hiểu thế nào thì hiểu”

 Nhại, lưỡng giọng: một câu nói nhưng thái độ nói khách nhau.

Khi nhại ta đã tạo ra ý mỉa mai Mỉa mai là bề ngoài thì nói thế này nhưng bên trong thì ngược lại

Đọc truyện Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc ta thấy bề ngoài thì ca ngợi nhưng thực chất bên

trong là sự hạ bệ vua Khải Định

Hay bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến

“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Phấn son tô điểm mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời !

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe

Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi!”

Đọc lần thứ nhất ta thấy đó là chỉ thứ đồ chơi con trẻ, đọc lần thứ hai ta cảm thấy buồn cười nhưng đọc đến lần thứ ba ta cảm thấy sự chua xót, mỉa mai của chính bản thân tác giả

Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng là sự có mặt

Ngày đăng: 23/03/2023, 14:26

w