1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô

79 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Tác giả Lê Ngọc Phú, Thị Mai Thùy, Phùng Thế Thịnh, Phùng Thị Thùy Trang, Võ Thị Ngọc Hằng
Trường học School of Finance, UEH
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Bài viết
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáu vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô

Trang 1

SÁU VẤN ĐỀ NAN GIẢI

Trang 2

I Giới thiệu

Kinh tế vĩ mô quốc tế là một lĩnh vực đầy rẫy những vấn đề thật sự hóc búa và chúng ta thường có từ 5 đến 10 câu trả lời khác nhau (hoặc nhiều hơn nữa) cho từng vấn đề Những câu trả lời này thì rất khéo léo và có vẻ là phù hợp nhưng lại chưa đủ sức thuyết phục, vì thế những vấn đề nan giải vẫn tồn tại Tại sao người ta dường như lại ưu tiên quá nhiều cho sự tiêu dùng hàng hóa trong nước (Vấn đề nan giải về xu hướng nội địa hóa trong mậu dịch) Tại sao sự mất cân đối trong tài khoản vãng lai của các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế được quan sát lại có khuynh hướng ít liên quan tới tiết kiệm và đầu tư khi chúng được đo lường trong bất kì một thời

kỳ liên tục nào (Vấn đề nan giải của Feldstein-Horioka) Tại sao những nhà đầu tư trong nước thường thích nắm giữ những tài sản vốn cổ phần nội địa hơn? (Vấn đề nan giải trong danh mục đầu tư có xu hướng nội địa hóa) Tại sao sự tiêu dùng không tương quan cao đối với những quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Vấn đề nan giải về sự tương quan mức tiêu dùng – BKK puzzle) Khả năng nửa chu kỳ của những thay đổi tỷ giá thực có thể mất từ 3 đến 4 năm xảy ra như thế nào? (Vấn đề nan giải về ngang bằng sức mua) Tại sao tỷ giá quá dễ thay đổi và dường như tách rời khỏi những nền tảng cơ bản (Vấn đề nan giải về tỷ giá thiếu liên kết)

Những gì chúng tôi cố gắng để làm trong bài viết này là đưa ra một nền tảng thống nhất cho tất cả những hiểu biết về những vấn đề này, trong đó sự

ma sát chính (đầy ý nghĩa nhưng đáng tin cậy) là một mức độ của chi phí mậu dịch quốc tế trong thị trường hàng hóa Những chi phí mậu dịch này có

Trang 3

thể bao gồm chi phí vận chuyển, hàng rào thuế quan và phi thuế quan và nhiều nhân tố khác nữa có thể cản trở mậu dịch

Đây không phải là lần đầu tiên chúng ta đề cập đến mối quan hệ này Trong một đóng góp cơ bản cho những tài liệu trong thương mại và tài chính quốc tế, Samuelson (1954) tranh luận rằng sự tồn tại của một vấn đề trao đổi quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc có xu hướng nội địa hóa trong tiêu dùng hay không, và ông ta còn chỉ ra rõ ràng cách mà xu hướng nội địa hóa bắt nguồn từ chi phí vận chuyển như thế nào1 Tuy nhiên, trong một nghiên cứu sau đó cách tiếp cận tuyến tính của Samuelson hầu như bị bỏ qua bởi sự ưa chuộng một mô hình được cách điệu hóa hơn căn cứ vào việc tách biệt các sản phẩm của một quốc gia thành 2 loại: hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch

2 Phân tích trong bài nghiên cứu của chúng tôi đề xuất rằng: cho nhiều mục đích, việc phân nhóm này ít có lợi hơn những lựa chọn tự nhiên của việc giới thiệu những chi phí mậu dịch một cách đơn giản

1 Đặc biệt trong cách xử lý của chúng tôi đối với những bất thường của thị trường vốn, cách tiếp cận trong nghiên cứu này không giống với những nghiên cứu mà thường được đề cập trong các nguồn tài liệu Tiêu biểu, một tác giả chọn từ một danh sách của những sự bất hoàn hảo trong thị trường vốn đáng tin cậy ra một thứ thích hợp nhất để giải thích cho một câu hỏi riêng biệt Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của vô số các bất hoàn hảo đặc biệt đến những thị trường tài sản quốc tế Tuy nhiên, mục tiêu của chúng ta ở đây là chỉ ra rằng chúng ta có thể tiến xa tới đâu trong việc Obstfeld và Rogoff (1996, Chapter 4) ghi chi phí thương mại vào bản dịch của Dornbusch-Fischer-Samuelson (1977) mô hình Ricardian và chỉ ra rằng những phân tích về vấn đề vận chuyển Samuelson có thể mở rộng thành một sự sắp xếp chức năng hiện đại (modern dynamic setting) See Krugman (1991) trong sự liên quan của vấn đề vận chuyển đến các cuộc tranh cãi hiện nay trong kinh tế học vĩ mô quốc tế

2 Một sự phản đối đáng chú ý là Backus, Kehoe, and Kydland (1992), những người mà đã nhận thấy rằng phương pháp gần đúng của họ cho việc kết hợp chặt chẽ những chi phí thương mại nhỏ không giải thích được câu đố về sự tương quan tiêu dùng a calibrated one-good global real- business-cycle mode Một người khác, Dumas (1992), ông ta tìm kiếm một mô hình kinh tế mở một sản phẩm năng động, stochastic với những chi phí vận chuyển và thăm dò một số lượng những phần phát hành (a number of issues), bao gồm chi phí tỷ giá kì hạn Công việc của ông ấy

là lý thuyết và chất lượng (theoretical), tuy nhiên ông ấy ko xác định những hàm ý có kinh nghiệm trong mô hình của mình cho những câu đố đa dạng mà chúng ta nhìn thấy ở đây Hơn nữa, quan điểm của chúng tôi trong nghiên cứu này là yêu cầu phải mở rộng đến những trường hợp sản phẩm toàn cầu (multigood) Trong một bài báo gần đây, Ravn and Mazzenga (1999) nghiên cứu xa hơn

về những …(implication) chu kì kinh doanh của các chi phí vận chuyển trong một biến thể của mô hình Backus-Kehoe-Kydland

Trang 4

làm sáng tỏ những bí ẩn cốt lõi trong thực tiễn mà không đá động gì đến bản chất những sự bất hoàn hảo của thị trường vốn quốc tế Đáng chú ý, chúng tôi nhận thấy rằng một khi đã tính đến chi phí mậu dịch trong thị trường hàng hóa, nhiều mâu thuẫn thực nghiệm với các mẫu hình kinh điển của kinh tế vĩ mô quốc tế đã biến mất Cách tiếp cận của chúng tôi – căn cứ vào một mô hình cách điệu hóa rất đơn giản – thì dường như là một thành công đặc biệt trong việc giải quyết khối lượng lớn các vấn đề nan giải cốt lõi Để giải thích một cách thỏa đáng cho những vấn đề khác nhau về việc định giá, chúng ta sẽ cần phải phát triển một cơ cấu đa dạng hơn để làm nổi bật sự cạnh tranh không hoàn hảo, cùng với giá cả và tiền lương cố định, như trong những tài liệu mở rộng gần đây về “nền kinh tế mở vĩ mô mới” đề cập đến Mặc dù chúng tôi không trình bày một mô hình ở đây, nhưng chúng tôi sẽ chứng minh rõ ràng tại sao chi phí mậu dịch lại là một nhân tố thiết yếu Vấn đề đầu tiên mà chúng tôi đề cập đến là vấn đề về hiện tượng nội địa hóa trong mậu dịch (McCallum, 1995), và khi chúng tôi tìm hiểu thì điều này gần như có liên quan đến những vấn đề chuyển đổi cổ điển Theo sau Wei (1998) và Evans (1999) chúng ta sẽ thảo luận chi phí mậu dịch thực nghiệm hợp lý, kết hợp với những ước lượng chuẩn về độ co giãn của sự thay thế giữa nhập khẩu và xuất khẩu, có thể giải thích được nhiều điều trong vấn đề này như thế nào

Bằng cách thiết lập sự ma sát thương mại trong những phân tích cốt lõi của chúng tôi, chúng ta lại trở lại với một trong những vấn đề sơ khai và hốc búa nhất trong tài chính quốc tế, những vấn đề nan giải của Feldstein Horioka Chúng tôi chỉ ra rằng chi phí mậu dịch có thể tạo nên cái nêm giữa lãi suất thực có hiệu lực áp dụng cho người đi vay và cho vay Trong mô hình của chúng tôi, tác động này có tính phi tuyến cao, nó tự biểu hiện mình

Trang 5

một cách mạnh mẽ chỉ khi mà sự mất cân đối tài khoản vãng lai trở nên quá lớn Chúng tôi tranh luận rằng lãi suất thực mới hình thành sẽ có tác động giữ cho sự mất cân đối trong tài khoản vãng lai được quan sát nằm giữ trong một phạm vi bình thường Mặc dù cơ bản là dựa vào sức mạnh lý thuyết của những tranh luận, nhưng chúng tôi sẽ chứng minh một cách có kinh nghiệm rằng những quốc gia có sự thâm hụt tài khoản vãng lai có khuynh hướng có lãi suất thực cao, như mô hình của chúng tôi dự báo

Kế đến, chúng tôi chỉ ra rằng với cùng một phương pháp tiếp cận có thể giải thích một cách đơn giản và nhẹ nhàng về xu hướng nội địa hóa được thảo luận rộng rãi trong việc nắm giữ vốn cổ phần nội địa (hay rộng hơn nữa

là cho tất cả các tài sản) Phần dưới đây bao gồm vấn đề về sự tương quan tiêu dùng, điều mà có liên quan chặt chẽ với ba nhân tố trước đó, vì thế không có gì là đáng ngạc nhiên khi một lần nữa chúng tôi áp dụng cùng một cách tiếp cận Chúng tôi cũng đề cập một cách ngắn gọn đến những nhân tố khác có liên quan

Chúng tôi đã bỏ qua những điều cứng nhắc không đáng kể trong thảo luận của mình về bốn vấn đề đầu tiên, bởi vì lý luận chính của chúng tôi không phụ thuộc vào sự có mặt của chúng Nhưng khi chúng tôi trở lại với hai vấn đề cuối cùng – vấn đề về sự ngang bằng sức mua và tỷ giá hối đoái thiếu liên kết – dĩ nhiên chúng tôi phải nghĩ đến việc thêm vào những thành phần khác, trong một hình thức của sự cạnh tranh không hoàn chỉnh và một mức độ cứng nhắc nào đó của lương và giá Tuy nhiên chúng tôi tranh luận rằng chi phí mậu dịch trong thị trường đầu ra phải là một thành phần cốt yếu trong việc giải quyết tốt các vấn đề này Phần cuối cùng kết luận và đánh giá kết quả của chúng tôi trong việc làm rõ hơn xu hướng dài hạn của các chi

Trang 6

2 VẤN ĐỀ VỀ XU HƯỚNG NỘI ĐỊA HÓA TRONG MẬU DỊCH

Điểm xuất phát cho tất cả các vấn đề mà chúng tôi khảo sát là những dấu hiệu tăng trưởng mà thị trường hàng hóa quốc tế xuất hiện nhiều sự phân khúc hơn là những gì chúng ta tưởng Có lẽ những đề xuất ấn tượng nhất của sự phân khúc xuất phát từ nghiên cứu của McCallum (1995) Bằng cách sử dụng mô hình trọng lượng của Tinbergen (nhóm NC TCQT sẽ trình bày trong phần phụ lục) điều chỉnh theo khoảng cách, các quy mô đối tác thương mại và một vài nhân tố khác, McCallum đã nhận thấy rằng mậu dịch giữa các tỉnh thành trong nội bộ quốc gia Canada lớn gấp 20 lần mậu dịch giữa cá nhân các tỉnh thành Canada với các tiểu bang của Mỹ, một sự chênh lệch lớn đáng ngạc nhiên Sự thật là những tài liệu sau đó vừa củng cố những ước tính của McCallum vừa nghi ngời sự giải thích của chúng Những tính toán của McCallum căn cứ vào thời điểm năm 1988, khởi đầu của hiệp định tự do mậu dịch giữa Mỹ và Canada, và trước khi những mô hình mậu dịch được điều chỉnh một cách đầy đủ Bằng việc sử dụng những

dữ liệu của giai đoạn 1993 – 1996, Helliwell (1998) đã nhận thấy rằng xu hướng nội địa hóa không giải thích được rơi vào một thừa số của 12, điều

mà vẫn còn gây ngạc nhiên cho nhiều người Mặc dù những dữ liệu mậu dịch nội bộ chỉ có sẵn đối với Mỹ và Canada, Wei (1998) và Evans (1999)

đã sử dụng những phương pháp gián tiếp để kiểm tra xu hướng nội địa hóa của các cặp quốc gia khác trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Wei đề xuất rằng sự thiên lệch trung bình chỉ thấp cỡ 2.5, trong khi Evans nhận thấy những giá trị ở giữa những giá trị của Wei và Helliwell.3

Van Wincoop (2000) tranh luận rằng thậm chí mặc dù McCallum điều chỉnh ở phạm vi tiểu bang và tỉnh thành trong phương trình trọng lượng của ông ta, nhưng sự đo lường chuyển hướng thương mại của ông vẫn gây ra một ấn tượng quá mức

Trang 7

về xu hướng nội địa hóa trong mậu dịch toàn cầu, bởi vì nó tính toán sự thiên lệch từ triển vọng của quốc gia nhỏ, Canada, hơn là từ triển vọng của một quốc gia lớn, Mỹ4 Một cách tổng thể, sự giải thích cân bằng của những tài liệu cho rằng các quốc gia pho bày một mức độ hướng nội cao trong mậu dịch, nhưng sự thiên lệch này không cực đoan như những đánh giá ban đầu của McCallum đã đề xuất

Nhưng nếu vẫn có một mức độ có ý nghĩa của xu hướng nội địa hóa trong mậu dịch quốc tế, chúng ta có thể giải thích nó như thế nào? Rõ ràng, mậu dịch quốc tế làm kéo theo những chi phí cộng thêm do ranh giới giữa hai quốc gia chẳng hạn như: rào cản thuế quan và phi thuế quan, rủi ro tỷ giá (và cũng có thể là chi phí vận chuyển quốc tế thì cao hơn do những vấn đề hợp tác lớn trong việc xây dựng hệ thống vận chuyển thế giới) Có phải những chi phí phát sinh theo ranh giới quốc gia này là cần thiết để làm phát sinh xu hướng nội hóa được khảo sát, thậm chí là hơn cả trong phạm vi những đánh giá khiêm tốn của Wei và Evans? Một cách không cần thiết, vì những vấn đề thật sự là sự tương tác giữa chi phí theo ranh giới và sự co giãn thay thế giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài Vì đây là một chủ đề tuần hoàn trong thảo luận của chúng tôi về nhiều vấn đề khác nhau, thật cần thiết để chọn ra một ví dụ đơn giãn để minh họa

3 Wei cố gắng để đánh giá sự hướng nội một cách gián tiếp bằng cách nhìn nhận số lượng mà một quốc gia nhập khẩu từ chính nó chính là sự khác biệt giữa tổng sản phẩm và tổng xuất khẩu Tuy nhiên, sự ước đoán sự hướng nội vào mức 2.5 của ông Wei có thể thấp hơn do sự loại trừ khu vực dịch vụ ra khỏi sự tính toán Evans (1999) sử dụng dữ liệu của những quốc gia được lựa chọn cho một số lượng những quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

4 Van Wincoop (2000) chỉ ra rằng việc đo lường sự chênh lệch thương mại của McCallum phải được giải thích một cách cẩn thận để xác định được (negative border) tác động đến thương mại

Mỹ - Canada như thế nào Bởi vì nền kinh tế Canada thì (relative) quá nhỏ bé so với kinh tế Mỹ, nên chỉ một sự thay đổi vừa phải trong mậu dịch Mỹ - Canada trong mậu dịch của Canada cũng đưa tới một sự gia tăng tỷ lệ phần trăm đáng kể trong mậu dịch của bản thân nước Canada Bằng cách sử dụng các dữ liệu mậu dịch giữa các tiểu bang của Mỹ, Van Wincoop đánh giá rằng ranh giới giữ Mỹ và Canada đã làm giảm mậu dịch giữa hai nước lên đến mức tố đa là 30%

Trang 8

2.1 MÔ HÌNH CỦA SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA CHI PHÍ MẬU DỊCH VÀ

SỰ CO GIÃN CỦA CẦU THEO GIÁ

Ở đây chúng tôi sẽ chỉ ra rằng bằng cách nào chi phí mậu dịch quốc tế

có thể làm cho sự tiêu dùng nội địa hướng về những hàng hóa được sản xuất trong nước một cách ấn tượng

Giả định một nền kinh tế cực kỳ đơn giản chỉ có sự giao thương của 2 quốc gia Trong đó, hàm hữu dụng đại diện cho việc tiêu thụ hàng hóa trong nước được biểu diễn như sau:

Trong đó: CH: là mức tiêu dùng nội địa của hàng hóa sản xuất trong nước

CF: là mức tiêu dùng nội địa của hàng hóa sản xuất nước ngoài Hàm hữu dụng của hai nước đang được xem xét (2 nước đang giao thương) được giả định là giống hệt nhau Với: C*

H, C*F tương ứng là mức tiêu dùng của nước giao thương

Mức tiêu dùng trong nước thì phụ thuộc vào sản lượng trong nước (YH) trên đầu người, còn mức tiêu dùng nước ngoài thì phụ thuộc vào sản lượng

YF trên đầu người Chúng tôi cho rằng có nguyên lý tảng băng trôi trong chi phí vận chuyển, vì vậy, đối với mỗi một đơn vị hàng hóa trong nước (hoặc ngoài nước) được vận chuyển bằng tàu chỉ còn một phần giá trị 1- τ đến được bờ biển nước ngoài (hoặc nước chủ nhà) Ta có PH (PF) là giá nội địa của hàng hóa trong nước (hoặc hàng hóa nước ngoài) và P*

H (P*F) là giá cả tương ứng ở nước ngoài, tất cả giá cả được đo lường với cùng một đơn vị tiền tệ phổ biến trên thế giới (bởi vì chúng ta đang ở trong một thế giới mà giá cả là linh hoạt, nên thật không quan trọng việc có hai quốc gia dùng

Trang 9

chung một đơn vị tiền tệ hay không) Sau đó, nếu như các thị trường có cạnh tranh thì kinh doanh chênh lệch giá ngụ ý rằng:

Từ điều kiện đầu tiên cho sự gia tăng cực đại của hàm hữu dụng bởi mức tiêu dùng trong và ngoài nước, chúng ta có:

p C

C

F

H

 (5 ) Kết hợp (4) và (5) suy ra:

*

* 2 ) 1

(

H H F

H

C

C C

C

H F F

) 1 (

*

*

Phương trình này chỉ ra rằng, tỷ lệ của mức tiêu dùng trong nước (nước ngoài) trên hàng hóa nhập khẩu tương đối với hàng hóa trong nước (nước ngoài) như sau:

C

Trang 10

Vì vậy, ví dụ như không có chi phí mậu dịch (τ = 0), suy ra pCF/CH =

1 Nếu τ = 0.25 (…) và θ = 6, suy ra: CH/pCF = 4.2 Tỷ lệ này thì phù hợp với những gì mà chúng tôi quan sát được ở nhiều quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế và mức độ của xu hướng nội địa hóa có thể được mở rộng bằng cách gia tăng τ hoặc θ hoặc giả định rằng một quốc gia thì đang mậu dịch rất ít với những đối tác nước ngoài có cùng mức độ phát triển

2.2 QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA CHI PHÍ MẬU DỊCH VÀ TÌNH TRẠNG NỘI ĐỊA HÓA TRONG MẬU DỊCH

Chi phí mậu dịch càng cao (τ tiến gần đến 1) thì tác động của 1% sụt giảm giá trị của τ trong xu hướng nội địa hóa càng lớn

1 log

) / log(

Đối với trường hợp chuẩn của chúng tôi τ = 0.25, θ = 6, sự co giãn của

xu hướng nội địa hóa đối với chi phí mậu dịch là: ( 1 ) /( 1 )  1 67

Hiển nhiên là ví dụ này đã được đơn giản hóa quá mức Nó hoàn toàn thừa nhận độ co giãn thay thế chung đối với hàng hóa của bất kì một cặp quốc gia riêng lẽ nào, nước chủ nhà và nước ngoài Một cách tương tự, tổng thể tất cả hàng hóa đều có cùng chi phí mậu dịch Nó bỏ qua sự quan trọng tiềm năng của sự thay thế giữa những yếu tố đầu vào nội địa và nước ngoài trong sản xuất Tuy nhiên, nó minh họa ngắn gọn rằng một sự co giãn thay thế cao có thể giải thích được một sự nội địa hóa thương mại được quan sát lớn như thế nào thậm chí với chi phí mậu dịch thấp Đâu là giá trị hợp lý cho những tham số τ và θ?

2.3 NHỮNG ƯỚC LƯỢNG THỰC NGHIỆM CỦA θ

Trang 11

Mặc dù những ước lượng của θ nằm trong một giới hạn nào đó, nhưng những nghiên cứu gần đây về thương mại đã tìm thấy những giá trị cho sự

co giãn của cầu nhập khẩu đối với giá cả (tính trên tất cả các hàng hóa trong

rổ hàng hóa tiêu dùng nội địa) thì nằm đâu đó trong khoảng giá trị từ 5 đến

6 Chẳng hạn như kể cả Trefler và Lai (1999), những người mà đã trình bày với ban hội thẩm về những ước lượng trong giai đoạn 1972 – 1992 cho một ban hội thẩm của 28 ngành công nghiệp của 36 quốc gia Dự đoán của họ thiên về con số 5.3 Con số trung bình đó phản ánh độ co giãn của sự thay thế phân tán được ước lượng cao đến 21.4 (đối với ngành hóa học công nghiệp), 18.9 (đối với ngành điện và máy điện tử), nhưng cũng thấp đến 1.2 ( đối với ngành in ấn xuất bản) Harrigan xem xét dữ liệu phân loại theo tiêu chuẩn SITC 1983 (mã 3 chữ số) của 13 nước OECD đại diện cho 90% sự sản xuất của OECD và nhận thấy độ co giãn nằm trong phạm vi 5 – 12 Phải công nhận rằng có nhiều giao dịch liên quan đến những ngành công nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo Có thể cố gắng để suy ra giá trị của

θ bằng cách xem xét sự gia tăng của giá cả vượt quá chi phí biên Sử dụng cách tiếp cận đó, Cheung, Chinn, and Fujii đã quan sát những dữ liệu bình quân cấp 2 chữ số của ngành công nghiệp trong phạm vi những quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, và họ quy tính co giãn vào trong phạm vi 3.5 đến 4 Hummels (1999a) cố gắng để xử lý những tác động của

độ co giãn thương mại phát sinh từ những tác động của độ co giãn thay thế trong cơ cấu một mặt cắt Bằng cách sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tuyến tính, ông tiến gần đến mức tăng trung bình là 22%, ứng với giá trị của θ là 5.6, mặc dù ông ta đã dự đoán ra những giá trị khác cao hơn Cuối cùng, trong một bài báo kinh điển của họ về cầu ô tô, bao gồm cả những sản

Trang 12

phẩm trong nước và ngoại nhập, Berry, Levinsohn, and Pakes (1995) đã nhận thấy sự co giãn của cầu đối với giá nằm trong mức 3.1 đến 6.45

5 Những nghiên cứu về dấu ấn độc quyền trong bán hàng nội địa, mặc dù ở đây không thật sự có thể

áp dụng một cách trực tiếp, cũng như những ước đoán sản lượng tương tự cho ø Ví dụ, Rotemberg and Woodford (1992) tìm ra một dấu ấn cho nước Mỹ xung quanh con số 20%, tương ứng với giá trị ø = 6, những thảo luận (insubsequent), Rotemberg and Woodford (1995) tranh cải rằng có một sự không chắc chắn lớn về dấu ấn hiện nay của nền công nghiệp Mỹ, mà những đánh giá được ưa chuộng nằm trong phạm vi 20% đến 40%, tức là ø có giá trị từ 3.5 đến 6

Dĩ nhiên, những nghiên cứu này ám chỉ những hàng hóa thật sự được giao dịch Như Hummels nhấn mạnh, có khả năng là độ co giãn thay thế sẽ cao hơn giá trị trung bình đối với những hàng hóa không được giao dịch Trong trường hợp này, một ước lượng θ = 20 như Wei dự đoán thì dường như không hợp lý Brown và Stern (1989) sử dụng giá trị θ = 15 cho cuộc thử nghiệm đáng tin cậy của mình

2.4 NHỮNG ƯỚC LƯỢNG THỰC NGHIỆM CỦA CHI PHÍ MẬU DỊCH

τ

Có một sự thiếu nhất trí về mức độ của chi phí mậu dịch, bao gồm (trong số những thứ khác) hàng rào thuế quan và phi thuế quan và chi phí vận chuyển Năm 1993 trên nền tảng có trọng số của một nền sản xuất nội địa, thuế suất trung bình của Mỹ là 4.9%, của liên minh Châu Âu là 7.7%, của Nhật là 3.5%, của Canada là 8.9%6 Về phần hàng rào phi thuế quan, những thống kê chính thức chỉ đưa ra thông tin về sự tồn tại của chúng, còn

về tác động của chúng thì phải ước lượng bằng cách sử dụng mô hình kinh

tế Đối với thuế Anderson và Neary (1998) sử dụng một mô hình cân bằng chung có thể tính toán đơn giản để ước lượng mức thuế tương ứng tương đương với hàng rào phi thuế quan cho một phạm vi lớn các quốc gia, và một cách tiêu biểu, họ đã tìm thấy những ước lượng trong cùng tầm quan trọng,

Trang 13

dĩ nhiên là nó lớn hơn đối với một vài quốc (chẳng hạn như Nhật Bản) hơn

là những quốc gia khác (chẳng hạn như Mỹ) Kết quả này cũng phù hợp với những ước lượng về phương trình thương mại của Lee và Swagel (1997)7

19979 Nhưng những con số này báo cáo thấp đi đáng kể chi phí trung bình trong vận chuyển hàng hóa bằng tàu Đầu tiên, như Hummels (1999a) đã chỉ

ra rằng chi phí trung bình thì cao hơn nhiều đối với nhiều quốc gia khác (Vì

Mỹ có đường bờ biển dài và vận chuyển bằng đường biển có khuynh hướng

rẽ hơn bằng đường bộ) Thứ 2, những con số này chưa bao gồm những chi phí đáng kể khác của việc vận chuyển quốc tế, bao gồm việc chuẩn bị những giấy từ cần thiết (vận đơn) để phù hợp với thông lệ quốc tế và những chi phí của việc trì hoãn trong khâu quá cảnh hoặc trong khâu tiếp nhận tại cảng Đúng như sự đo lường thực nghiệm về tính co giãn thay thế giữa hàng hóa nội địa và hàng ngoại nhập có thể có xu hướng đi xuống, cũng có khả năng là những ước lượng đơn giãn về chi phí vận chuyển trung bình được báo cáo thấp hơn nhiều so với τ trung bình đối với tất cả những hàng hóa trong nền kinh tế (nhờ vào những tác động thay thế) Bảng 1 đưa ra từ Hummels (1999a), người mà căn cứ vào những ước lượng của ông ta trong

sự phân tán cao những dữ liệu 10 số Chúng ta có thể nhìn thấy trong bảng trên rằng chi phí vận chuyển của nhiều loại hàng hóa thì hơi lớn hơn chi phí

Trang 14

vận chuyển trung bình (có trọng số), bảng trên đã loại bỏ những hàng hóa không được giao dịch

8 nhớ lại rằng những dự đoán của Helliwell and McCallum sử dụng khoảng cách trong một nỗ lực kiểm soát chi phí vận chuyển Tuy nhiên, khoảng cách địa lý là một sự đo lường không hoàn hảo của những chi phí này

9 Tác giả rất cảm ơn Robert Feenstra vì đã biên soạn những con số này căn cứ vào nhập khẩu hàng hóa của Mỹ, cục điều tra dân số Mỹ những ước lượng đưa ra chi phí vận chuyển như là một tỷ lệ phần trăm của tổng giá trị nhập khẩu chưa tính những khoản phí này Quan trọng là những con số này không đề cập đến vùng nội địa hay cảng biển mà chuyến hàng khởi hành từ (nơi xuất phát của chuyến hàng)

Bảng 1 PHÂN LOẠI HÀNG HÓA THEO TỶ SUẤT VẬN CHUYỂN - SUẤT CƯỚC

(MỸ, 1994) a

Average freight rate

Sản phẩm hóa học và những sản phẩm có liên quan 4.5 9.0

Trang thiết bị máy móc, phương tiện vận chuyển 2.0 5.7

Nguồn: Hummels (1999a) được sưu tập từ cục điều tra dân số Mỹ, nhập khẩu hàng hóa

Mỹ Chi phí vận chuyển bao gồm phí chuyên chở và phí bảo hiểm như là một tỷ lệ phần trăm trong tổng giá trị tính theo các tiêu chuẩn kế toán tài chính (FAS) Những tính toán dựa trên dữ liệu hệ thống Harmonized 10 nhóm hàng hóa (trên 15.000 chủng loại hàng

Trang 15

hóa) Chi phí chuyên chở không có trọng số thì căn cứ vào tất cả những hàng hóa đơn lẽ được nhập khẩu

Những nhân tố khác nào có thể được bao gồm trong τ? Trong một bài viết đối lập, Rose (2000) sử dụng mô hình trọng lực tranh luận rằng những quốc gia với những liên minh tiền tệ trao đổi mua bán với nhau nhiều gấp 2 hay3 lần so với những quốc gia khác không sử dụng cùng một đồng tiền chung Tất nhiên, chi phí chuyển đổi tiền và sự không chắc chắn của tỷ giá

có thể được cộng vào chi phí mậu dịch Trong khi tính biến thiên của tỷ giá hối đoái có thể có những tác động xấu trực tiếp lên sự chu chuyển vốn, bất

kỳ một tác động tiêu cực trực tiếp nào đến dòng chảy mậu dịch đều dẫn đến một sự gia tăng gián tiếp những bất hoàn hảo trong thị trường vốn theo phân tích của chúng tôi Tương tự đối với những chi phí thông tin đa dạng của mậu dịch quốc tế, xem Rauch (1999) và Portes và Rey (1999) với những thảo luận và những bằng chứng thực nghiệm10 Những khác biệt trong hệ thống luật pháp và phương thức chi trả có thể cũng được cộng vào τ

Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng là phải nhấn mạnh rằng những phân tích của chúng tôi giả định rằng không có sự hướng nội trong sở thích Giả định rằng chúng tôi thay thế hàm hữu dụng đại diện cho mức tiêu dụng nội địa (1) bằng:

) 1 (/

/ ) 1 ( /

) 1 (

/ ) 1

*(

/ ) 1

Trang 16

Helpman (1999) tranh luận rằng một khi có thể kiểm soát được thu nhập, sẽ không có dấu vết rõ ràng của sự hướng nội trong sở thích Thật vậy, nó giúp làm rõ hơn để tìm thấy nguồn gốc của sự thiên lệch thương mại từ những ma sát khác Tuy nhiên điều quan trọng là phải nhận ra rằng một sự hướng nội trong nhu cầu hàng hóa có thể tác động tương tự đến chi phí thương mại, ít

10 Anderson và Marcouiller (1999) tranh cãi rằng chính sự tham nhũng và những hợp đồng không hoàn hảo bắt buộc là những nhân tố lớn phá vỡ mậu dịch, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển vì trọng tâm của chúng tôi là những nước công nghiệp hóa nên chúng ta sẽ không quan tâm đến những loại chi phí mậu dịch xa hơn này ở đây

nhất là đối với những vấn đề về mậu dịch và sự thiên lệch trong danh mục đầu tư

2.5 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THƯƠNG MẠI THỰC

Mặc dù những vấn đề về tài chính quốc tế là trọng tâm của chúng tôi, chúng tôi vẫn chú ý rằng những chi phí thương mại có thể giải thích tốt cho một số những vấn đề về thương mại thực Ví dụ, những giải thích được ưa chuộng của Trefler về (missing trade) vấn đề về thương mại gián đoạn kết hợp với những khác biệt trong năng suất trung lập Hicks (Hicks-neutral productivity) đối với nhiều quốc gia với một sự hướng nội trong tiêu dùng (thứ mà với mỗi thảo luận của chúng tôi ở trên có thể đã được suy ra từ chi phí thương mại) Deardorff (1998) chỉ rõ ra rằng với những chi phí vận chuyển, những điều kiện tiêu chuẩn cho sự cân bằng giá cả yếu tố sản xuất trong thế giới của Heckscher-Ohlin sụp đỗ , điều này cũng hàm ý đến sự chuyên môn hóa lớn Khi sự cân bằng giá cả nhân tố sản xuất thất bại thảm hại trên thực tế, điều này hàm ý đến một vấn đề quan trọng khác có thể đã được giải quyết một phần bởi chi phí vận chuyển11

Anderson (1979), Deardorff (1998) và những người khác chỉ ra rằng chi phí vận chuyển có thể giúp giải thích sức mạnh thực tiễn đáng ngạc nhiên về phương trình trọng

Trang 17

lượng của dòng chu chuyển thương mại Không chỉ những chi phí thương mại giúp giải quyết một số các vấn đề trong dữ liệu, chúng còn có vẻ quan trọng trong việc xác định những biểu hiện kinh tế Radelet và Sachs (1998) tranh luận rằng những quốc gia có chi phí chuyên chở cao do địa hình bất lợi (ví dụ núi cao hay đường vào cảng bị giới hạn) tăng trưởng chậm hơn nhiều

11 “thương mại gián đoạn” là cách mà Trefler mô tả cho những bí ẩn mà những nhân tố được quy cho là chứa đựng trong thương mại thì không có vẻ là tương ứng với lợi thế cạnh tranh

so với những quốc gia có lợi thế vận chuyển tự nhiên Cuối cùng chúng tôi lưu ý rằng những bằng chứng trong sự chênh lệch giá cả quốc tế dường như khá phù hợp với một mức độ phân khúc thị trường cao được chứng tỏ về mặt

số lượng; chúng tôi sẽ trở lại với vấn đề này sau trong khi thảo luận các vấn

đề 5 và 6

Trang bị một sự hiểu biết đơn giãn về việc bằng cách nào mà những chi phí thương mại hợp lý cũng như là tính co giãn cao của sự thay thế trong tiêu dùng có thể giải thích sự hướng nội đáng kể trong mậu dịch, chúng ta sẵn sàng khảo sát sự liên kết với những vấn đề lớn khác

Trang 18

3 Vấn đề nan giải của Feldstein – Horioka

Hiện đã có không thiếu các giải thích cho lý thuyết nổi tiếng về vấn đề nan giải trong tiết kiệm - đầu tư của Feldstein và Horioka (1980), với rất nhiều bài viết về các chủ đề đã được xuất bản trong hầu hết các tạp chí hàng đầu Nhưng vấn đề là trong số các giải thích đó , không có bất kì giải thích nào (bao gồm cả nỗ lực của chúng tôi) thuyết phục một cách tuyệt đối Hầu hết các giải thích hợp lý, nhưng thiếu kinh nghiệm và vẫn còn nhiều phiền hà, có xu hướng tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử lý những vấn đề đó Thực tế , nguyên tắc đó dường như không có đặc trưng trong dữ liệu của một quốc gia , điều này thể hiện những nhân tố bên trong ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước phụ thuộc vào cách làm việc

Trang 19

3,1 VẪN CÕN MỘT BÀI TOÁN :

Feldstein và Horioka đã thực sự chứng tỏ điều gì , tất nhiên, là trên khắp các quốc gia OECD, xét trong một khoảng thời gian dài thì thì tỉ lệ tiết kiệm nội địa trung bình là tương quan cao với một tỷ lệ tương tự trong đầu

tư nội địa trung bình Quả thật vậy, trong các mẫu kiểm tra dữ liệu ban đầu

của Feldstein và Horioka, từ năm 1960 đến giữa những thập niên 1970 , hồi qui chéo đầu tư theo tiết kiệm gần như là có cùng hệ số với nhau trong suốt giai đoạn này Sự thật là , hệ số Feldstein-Horioka này – đây là một cách

để giải thích như đo lường hiệu quả của tỷ lệ tiết kiệm trên tỷ lệ đầu tư , hoặc đo lường một tỉ lệ "tiết kiệm giữ lại để đầu tư " - đã giảm theo thời gian Như Bảng 2 minh họa, tuy nhiên, nó vẫn còn lớn đáng kể Bảng cho thấy hồi qui chéo giữa các quốc gia về đầu tư ( tương quan với GDP) ngược với tiết kiệm quốc gia (tương quan với GDP), trung bình trong 8 năm của khoảng thời gian gần đây, 1990-1997 Đối với các nước OECD, hệ số (0,60)

là nhỏ hơn 0,89 được tìm thấy trong Số liệu thống kê ban đầu của Feldstein

và Horioka, nhưng nó vẫn còn lớn hơn mong đợi của thị trường vốn toàn cầu, nơi mà tiền tiết kiệm của các vùng mang lại tỷ lệ lợi nhuận cao nhất Các hệ số đã giảm thêm một lần nữa ở những quốc gia bên ngoài OECD (đặc biệt là các nước nghèo), mặc dù các kết quả mở rộng (cần phải được nhìn nhận một cách hết sức thận trọng ) được đưa đến từ dữ liệu về chất lượng thu nhập của các quốc gia nghèo và dữ liệu sản phẩm cho hầu hết các nước ngoài OECD (Các dữ liệu hồi qui trong Bảng 2 được báo cáo trong Bảng 7 ở phụ lục, trong đó cũng mô tả cách thức các quốc gia trong các mẫu

đã được lựa chọn )

Trang 20

Bảng 2 HỒI QUY FELDSTEIN-HORIOKA, I/Y = α + β NS/Y + a

Số quan sát   R2

(0.02) (0.08) Những quốc gia với GNP/đầu người > 1000 48 0.13 0.48 0.39

(0.02) (0.09) Những quốc gia với GNP/đầu người > 2000 41 0.07 0.70 0.62

cố nợ, có lẽ là không có gì ngạc nhiên khi mà chủ nợ né tránh cho vay với khoản tiền lớn trong thời gian kéo dài Nhưng rất khó để xảy ra rủi ro vỡ nợ chủ sở hữu với các nước OECD, đặc biệt là khi xem xét tổng những dòng chảy tài sản tài chính quốc tế là lớn hơn nhiều so với dòng tài sản ròng

Trang 21

Thật vậy, đối với các nước OECD, sự so sánh giá cả tài sản ở một mức độ cao, hội nhập ; kinh doanh chênh lệch giá tài sản phi rủi ro được xuất hiện gần như hoàn hảo Chúng tôi rời khỏi nó để người đọc xem nguồn khác (cho ví dụ , Obstfeld và Rogoff, 1996, Chương 3) đánh giá các nỗ lực trước

đó để giải thích vấn đề mà Feldstein-Horioka đưa ra

Một tài liệu tóm tắt về thương mại mậu dịch thì có ít nhất là năm hoặc sáu và nhiều hơn nữa các giải thích hàng đầu Tất cả đều không có tính thuyết phục - bởi vì một số chúng được dựa trên các giả định rất đặc biệt về bản chất của các cú sốc ngoại sinh (ví dụ như, Obstfeld, 1986, hoặc Mendoza, 1991), những giải thích khác thì lại mâu thuẫn với thực nghiệm

Ví dụ, trong mô hình thông tin bất cân xứng của Gordon và Bovenberg (1996), vấn đề "lemons" là để giải thích lý do tại sao nhà đầu tư nước ngoài

ít đầu tư trong nước.Tuy nhiên sự khởi đầu từ ngang bằng lãi suất có phòng ngừa được giả định là ở đó không có bất kì dòng vốn cổ phần từ nước ngoài Giải thích rằng cố gắng để duy trì giả định về luân chuyển đồng vốn hoàn hảo thường chứa đựng hàm ý tương quan tiết kiệm - đầu tư trên khắp các tiểu bang hoặc các khu vực trong một quốc gia Tuy nhiên, các bằng chứng không hoàn chỉnh sẵn có trên một phần tiết kiệm và đầu tư của các khu vực bên trong quốc gia hiện không đơn giản chỉ ra kết quả như các nguyên tắc của Feldstein - Horioka ; ví dụ, Helliwell (1998, Chương 4) Chúng tôi đề xuất ở đây một giải thích hoàn toàn mới, dựa trên chi phí giao dịch cho các hàng hoá trong thương mại quốc tế Một đặc điểm hấp dẫn trong phương

Trang 22

pháp của chúng tôi là cách tiếp cận của nó có vẻ để giúp giải quyết những vấn đề nan giải hơn là làm chúng phức tạp thêm

Điều quan trọng là để nhấn mạnh rằng trong khi mô hình của chúng tôi bao gồm các chi phí thương mại đối với hàng hóa, nó cũng phù hợp với tự do mậu dịch và kinh doanh chứng khoán không tốn chi phí Vì vậy, nó là hoàn toàn phù hợp với quan sát rằng dòng chảy chứng khoán quốc tế là đáng kể mặc dù dòng chảy ròng còn nhỏ Mô tả của chúng ta cũng đáng chú ý cả về việc tự hình thành giá và lãi suất hiệu lực của những trở ngại trong thương mại và vừa có thể tạo ra sự khác biệt quốc tế có ý nghĩa thực tiễn trong lãi suất thực cho dù toàn bộ thị trường tài sản là hoàn hảo

3,2 CHI PHÍ VẬN CHUYỂN CÓ THỂ GÂY RA MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA TÀI KHOẢN VÃNG LAI VÀ LÃI SUẤT THỰC : Các cơ sở trực giác của lý do tại sao chi phí vận chuyển có thể làm giảm sự mất cân bằng tài khoản vãng lai có thể được minh hoạ trong 2 giai đoạn tiêu chuẩn và 2 loại hàng hóa , mô hình đóng góp của các nước nhỏ

Sẽ không khó khăn để tự tạo ra lãi suất thực trên thế giới , hoặc kết hợp những điều không chắc chắn (như trong phần kế tiếp), nhưng không phải sự kết hợp là điều cần thiết ở đây Chúng tôi sẽ thảo luận về đầu tư sau để

Trang 23

khẳng định rằng những lý luận cơ bản mà chúng tôi đưa ra vẫn sẽ xuyên suốt bài viết

Các mô hình dưới đây là hoàn toàn hợp tiêu chuẩn, ngoại trừ một lần nữa chúng tôi sẽ chấp nhận chi phí "tảng băng trôi " của Samuelsonian

trong mậu dịch , do đó phần trăm chi phí τ của bất kì hàng hóa nào mất đi

trên đường quá cảnh Hàm hữu dụng đại diện cho tiêu dùng trong nước là

u(C1) + δu(C2) ,

có tổng mức tiêu thụ thực tế C phụ thuộc vào tiêu thụ của hàng hóa nội địa

và hàng nhập khẩu , CH and CF, với tính co giãn không đổi của sự thay thế θ

như trong phương trình (1) Các quốc gia nhỏ được cung cấp chỉ với hàng hóa H , với YH,1 trong giai đoạn 1, và YH,2 trong giai đoạn 2 Hàng hóa F luôn luôn phải được nhập khẩu (Sự cung cấp cả 2 loại hàng hóa trong nước thì không làm đảo lộn tranh luận của chúng tôi ) Một quốc gia thì nhỏ trong trường hợp hành động của nó không có ảnh hưởng đến giá *

H

P và *

F

P của thế giới, đó là việc cố định qua hai thời kỳ trong điều khoản của đơn vị tài khoản (tiền) Và cũng không thể có ảnh hưởng gì đến lãi suất thực ở nước ngoài r * ( bằng lãi suất danh nghĩa nước ngoài , giả định là không có lạm

phát ) Tuy nhiên , với chi phí quá cảnh iceberg τ trong vận chuyển hàng hóa thì những kiểu tiêu dùng trong nước có thể ảnh hưởng đến giá cả tương đối và lãi xuất thực trong nước

Chúng tôi sẽ đưa ra một phân tích mang tính hình thức bên dưới , lý luận cơ bản là đơn giản Ví dụ , giả sử là một mô hình đóng góp của quốc

gia và đánh giá về thời gian ưu đãi δ là như vậy trong giai đoạn đầu tiên,

xuất khẩu ròng hàng hóa H là số âm Sau đó, chúng tôi sẽ xác nhận ngắn

Trang 24

giai đoạn 2 Sẽ có giảm phát , và lãi suất thực trong nước sẽ ở trên mức r* Tình hình là đảo ngược khi các quốc gia bắt đầu có đủ mức thặng dư trong tài khoản vãng lai , vì thế lãi suất cho vay tiêu dùng cơ bản thực của

nó (quốc gia nhỏ ) phải nằm dưới r* Như chúng tôi chứng minh dưới đây,

điều này có thể có hiệu lực khá mạnh mẽ, giả định xác định được giá trị thực

tế cho các chi phí thương mại τ và co giãn của sự thay thế θ .(việc tính giá

trị tương tự như cách giải quyết bài toán xu hướng nội địa hóa trong mậu dịch ) 13

3.3 SỰ GIỚI HẠN NGÂN SÁCH VÀ CHI PHÍ VẬN TẢI

Phân tích đòi hỏi có suy nghĩ cẩn thận về việc giới hạn ngân sách đối với vấn đề đại diện Tựu chung , bước đầu tiên trong việc giới hạn ngân sách có thể ghi bằng công thức :

1 1 1 , 1 , 1 , 1 , 1

P C

C P

P C

F F

H H

Tương tự như vậy , giai đoạn thứ 2 của sự giới hạn ngân sách được

đo lường theo đơn vị tiền tệ thế giới :

P H,2Y H,2  ( 1 r*)DP H,2C H,2 P F,2C F,2 P2C2

Trang 25

Kết hợp sự giới hạn ngân sách ở các giai đoạn , khắc phục khó khăn ngân sách :

* 1

* 1

2 , 2 , 1 , 1 , 2 2 1

1

r

Y P Y P r

C P C

*

/ )

1

1 , 1 , 2

Y P r

phải thấp hơn giá của nước ngoài , như phương trình (3) Tuy nhiên , nếu tổng chi tiêu quốc nội là cao tương đối so với sản lượng trong bất kì giai đoạn nào , có khả năng hàng hóa H sẽ được nhập khẩu hơn là xuất khẩu (C HY H) , trong trường hợp đó , mức giá trong nước P HP H* /( 1 ) phải cao hơn giá cả của nước ngoài Như chúng ta sẽ thấy , những trường hợp trung gian rất quan trọng là C HY H trong một giai đoạn , P H sẽ nằm giữa

Trang 26

3.5 PHÂN TÍCH ĐỒ THỊ VỀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA LÃI SUẤT THỰC

VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI

Sự liên kết giữa lãi suất thực hiệu lực trong nước và sự quyết định đi vay giai đoạn đầu của nó được minh họa ở đồ thị 1 , đồ thị biểu diễn mức tiêu thụ thực tế trong giai đoạn 1 , C1 , đã đi ngược lại lãi xuất thực trong nước , 1 + r ( chú ý thiếu hụt trong tài khoản vãng lai ở giai đoạn 1 là :

1

1 C

Y  ) Đồ thị kết quả là một hình bậc thang có thể được chia thành 5 phân khúc ; nó biểu diễn một bảng liệt kê các tỉ lệ lãi suất thực hiệu lực của một nước như là chức năng quyết đinh vay và cho vay của nó

Phân khúc 1 thì C1 rất thấp , và ở giai đoạn 1 thì số dư tài khoản vãng lai là rất cao , ở giai đoạn 2 thì quốc gia sẽ tiêu thụ một lượng C H,2 Y H,2

Trang 28

Kể từ giai đoạn 2 , trong nước phải nhập khẩu , trong khi nó xuất khẩu ở giai đoạn 1 , chúng ta có :

) 1 /(

1 1 1

*

) 1 ( 1 1 1 2 ,

) 1 ( 1 1 1 1 ,

1 ))

1 /(

(

)) 1 ( (

*) 1 (

* 1

P P

P P

r P

P

P P r r

F H

F H

F H

Trong phần khúc I , nếu quốc gia dự tính trở thành một chủ nợ lớn , nó

sẽ có tỉ lệ lãi suất thực hiệu lực đáng kể dưới tỷ lệ lãi suất thực thế giới Phân khúc thứ II bắt đầu khi giai đoạn 1 có mức tiêu thụ đạt đến mức

II

C để C H,2 Y H,2 Trong khu vực này , P được xác định bằng phương trình 8

và mối quan hệ đầu tiên trong phương trình 9 , với C H,2 Y H,2 (vì không có

sự khứ hồi của hàng hóa ) Trong giai đoạn 2 thì tiêu dùng hàng hóa nội địa còn lại hằng số Y H, 2 miễn là P H, 2 hoàn toàn ở giữa P H*( 1 ) và P H*( 1 ), nhưng phương trình 9 thì hàm ý P H,2 giảm tương ứng với lượng C1 tăng và

2

C giảm Theo đó , lãi suất thực tăng ở phân khúc II Tại điểm mà C1 C III

, phân khúc thứ III bắt đầu khi nước nội địa chuyển sang xuất khẩu ở giai đoạn 2 của hàng hóa mà nó cung cấp vốn cho nó Suy ra , 1 r 1 r* Bởi

vì ở đây , C HY Htrong cả 2 giai đoạn , tất cả các mức giá là một hằng số Ở phân khúc III , quốc gia chỉ còn vận hành một số dư tài khoản vãng lai đủ nhỏ hoặc thiếu hụt , không có bất kì sự đảo chiều nào trong mô hình thương mại xảy ra ở loại hàng hóa khác Một cách chính xác trong phần này thì chi phí thương mại không tác động lên lãi suất thực

Trang 29

Tuy nhiên , tại C1 C IV, C H,1 tiến tới Y H,1 , và lãi suất thực bắt đầu tăng một lần nữa Trong phân khúc IV , C H,1 còn lại bằng Y H,1 khi C1 tăng , đẩy P H,1 tăng lên cho đến khi P H,1 tiến đến P H* /( 1 ) Khi P H,1 tăng trong suốt phân khúc IV , với hằng số P H,2 tại P H* /( 1 ) , lãi suất thực tăng Tuy nhiên tạiC V , P H,1 lần đầu tiến tới P H* /( 1 ) , quốc gia trở thành nhà nhập khẩu trong giai đoạn 1 thì nhập khẩu hàng hóa mà nó đang sản xuất trong nước , và lãi suất thực (phân khúc V ) trở nên ổn định ở mức :

 * 1 1 1 /( 1 ) *

) 1 /(

1 1 1

*

1 ))

1 /(

(

)) 1 ( (

*) 1 (

P P

P P

r r

F H

với mức thế giới ) Sự tác động lẫn nhau giữa chi phí vận chuyển hàng hóa τ

và độ co giãn của sự thay thế  là giống như những gì chúng ta thấy ở phần trước Khi  tăng , mức lãi suất thực nội địa cao nhất sẽ cách xa nhau Với khả năng thay thế cao hơn , mức giá có ảnh hưởng đến thay đổi của P H là rất

rõ rệt Trong trường hợp giới hạn    thì 2 hàng hóa thay thế hoàn hảo một cách tiệm cận , trong trường hợp lãi suất thực hiệu lực đi vay sẽ là 30%

và cho vay là –15%

Dĩ nhiên , phạm vi lãi suất thực tế trong nước ở Đồ thị 1 lớn hơn nhiều những gì chúng tôi quan sát trên thực tế, đặc biệt là đối với các quốc

Trang 30

suất thực mới hình thành việc kiểm tra trên một đất nước ưu đãi để tài khoản vãng lai có thiếu hụt hoặc dư thừa lớn

3.6 NHỮNG MỞ RỘNG VÀ TRÌNH BÀY VỀ CÁC LỰA CHỌN KHÁC

Bảng báo cáo có trước về các tác động việc chi tiêu trong nước lên lãi suất có được cách điệu quá mức , nhưng số lượng của mở rộng hiển nhiên có thể thêm vào thực tế mà không pha loãng nội dung chính của bài viết

3.6.1 Bảng biến thiên trong hàng hóa và chi phí vận tải

Ví dụ , giả sử có các quốc gia được cung cấp với nhiều hàng hoá bằng các tỉ lệ khác nhau và các hàng hóa này hiển thị một phân phối trong chi phí vận tải Sau đó, khi chi tiêu trong nước tăng, tăng lũy tiến nhiều loại hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài, dẫn đến sự gia tăng đều đặng lãi suất trong nước Trong cách sắp xếp mang tính thực tế ở đây , các mối quan hệ giữa tiêu dùng và các lãi suất thực trong nước sẽ tương đương với cách giải thích ở đồ thị 1, nhưng với rất nhiều các bước nhỏ - theo quan sát trực tiếp , đường cong này sẽ dốc lên trên Với sự đa dạng của hàng hoá , chi phí vận chuyển, và độ co giãn của sự thay thế , ngay cả thiếu hụt nhỏ trong tài khoản vãng lai thì sản xuất hàng hóa thương mại sẽ đảo chiều trong một số mặt hàng , do đó dẫn đến lãi suất hiệu lực Mặc dù vẫn còn được minh chứng , chúng tôi ước đoán là sẽ có được một đường phi tuyến tính tương tự mô tả trong đồ thị 1, một sự mất cân bằng nhỏ trong cán cân tài khoản vãng lai có ảnh hưởng tương đối ít lên những sự khác nhau của lãi suất

Trang 31

3.6.2 Vay và cho vay trong dài hạn

Một câu hỏi hiển nhiên là làm thế nào các kết quả ở đây có thể được xác thực trong một mô hình với nhiều giai đoạn để có cơ hội vay và cho vay trong dài hạn Ví dụ , nếu một nước có một thâm hụt lớn trong tài khoản vãng lai ở những giai đoạn đầu tiên, nó có thể trả nợ dần dần qua nhiều giai đoạn Mặc dù một phân tích cẩn thận đòi hỏi nhiều hơn những gì chúng ta

có thể cung cấp ở đây , nó dường như không chắc chắn rằng việc này sẽ làm đảo ngược luận điểm cơ bản của chúng tôi, sẽ có một biến động giá lớn giữa thời kỳ có thâm hụt lớn và thời kì có thặng dư lớn - đó là lý do tại sao một quốc gia tìm cách tránh các biến động này Chúng tôi cũng chú ý rằng trong một kiểu mô hình phong phú hơn với bảng biến thiên về hàng hóa , tài khoản vãng lai sẽ không nhất thiết biến động giữa thiếu hụt và thặng dư

để gây ra lãi suất thực hiệu lực Nói chung , phạm vi và các loại hình hàng hóa được nhập khẩu và / hoặc xuất khẩu sẽ tiếp tục biến đổi nhiều hơn hay ít hơn trong thâm hụt hoặc thặng dư cán cân thương mại Vì vậy, tác động của lãi suất thực sẽ phát sinh dọc theo đường biến động , trong cả giai đoạn ngắn và tích tụ trong dài hạn Về nguyên tắc ,điều này sẽ là đúng, ngay cả trong một thiết lập với tốc độ tăng trưởng, trong đó các quốc gia có thể , liên tục thiếu hụt và thặng dư

3.6.3 Sự đầu tư

Những phân tích có trước bị ảnh hưởng như thế nào khi đưa đầu tư Trong trường hợp quốc gia thích trở thành người vay nợ ròng lớn , tác động

Trang 32

ngoài Nhưng theo cơ chế đó thì giảm tiết kiệm trong nước sẽ đi kèm với giảm đầu tư Trong phân khúc I ,II , quốc gia có thể chuyển mức tiết kiệm cao hơn vào mức đầu tư cao hơn , làm giảm lãi suất thực hiệu lực nhưng tạo

ra sự tương quan xác định giữa sự gia tăng trong tiết kiệm và gia tăng trong đầu tư

3.6.4 Rút ra những kết quả tương tự trong cách sắp xếp theo thong lệ quốc

tế về hàng hóa trong mậu dịch và phi mậu dịch

Người đọc sẽ hỏi rằng có cần trình bày quá mức để đưa ra quan điểm cơ bản về lãi suất thực trong tiêu thụ liên kết với tài khoản vãng lai hay không Chúng ta không thể làm nhiều điểm giống nhau trong phạm vi

mô hình tiêu chuẩn Salter – Swan có 2 loại hàng hóa tách biệt - một thì có chi phí mậu dịch vô tận , một không có chi phí mậu dịch (theo ví dụ , Chương 4 , Obstfedvaf Rogoff , 1996 ).Thật vậy , trường hợp mô hình cung cấp thuần túy , mô hình tiêu chuẩn thương mại và phi thương mại về sản phẩm đưa ra đồ thị rất giống với đồ thị 1 Vẫn giữ mức cung cấp này cho

cả 2 loại hàng hóa nếu quốc gia chọn sự thâm hụt lớn trong giai đoạn 1 , giá của hàng hóa phi mậu dịch sẽ cao trong giai đoạn đó , và thấp ở giai đoạn tiếp theo Hàm ý là mức lãi suất thực tiêu dùng cơ bản sẽ cao hơn lãi suất trên thế giới , đúng như ở phân khúc IV , V của đồ thị 1 và tương tự tác động là phi tuyến Chúng ta thích sự trình bày rộng hơn bởi vì nó sẽ dễ dàng cho sự suy nghĩ cụ thể về chi phí thương mại hơn là giả định về sự phân chia giữa hàng hóa thương mại và phi thương mại Có lẽ mô hình lý tưởng này sẽ là 1 mô hình phong phú hơn , mô hình đó kết hợp một phạm vi của chi phí vận chuyển mà mức độ của khả năng mậu dịch sẽ được hình thành từ chi phí vận chuyển hàng hóa một cách nhất quán được sản xuất riêng biệt trong thị trường nội địa

Trang 33

3.6.5 Định giá độc quyền và giá dính

Các phân tích của chúng ta giả định là giá linh hoạt và được đặt trong thị trường cạnh tranh .Giới thiệu những đặc điểm thực tế như là sự cứng nhắc của giá cả và định giá độc quyền , như trong thảo luận của chúng ta về vấn đề khó khăn 5 ,6 Làm hoàn thiện mô hình mà không làm đảo lộn quan điểm chính Biểu hiện phiền phức nhất của FELDSTEIN-HORIOKA là tầm nhìn trung hạn từ 5- 15 năm , khi sự linh hoạt của giá cả là lớn và công ty có khả năng bảo vệ sức mạnh độc quyền của mình là thấp

3.7 NHỮNG THỰC NGHIỆM :

Mô hình chứa đựng một dự đoán đơn giản và có thể dễ dàng kiểm tra Những nước có thặng dư tài khoản vãng lai có lãi suất thực thấp hơn những nước có thâm hụt tài khoản vãng lai

Mối liên hệ này được minh họa bằng kết quả trong bảng hồi qui được trình bày trong bảng 3 Bảng chi tiết 1 , hồi qui lãi suất thực trong nước , được định nghĩa như laĩ suất danh nghĩa trung bình của ba tháng sau khi trừ

đi lạm phát hàng năm , dựa trên tỷ lệ dư thừa tài khoản vãng lai trong GDP Bảng chi tiết 2 , lãi suất thực trong tháng 12 bằng lãi suất danh nghĩa trung bình năm t trừ đi lạm phát năm t Trong nỗ lực nắm bắt các tác nhân có thể kết hợp chặc chẽ thông tin đồng thời để tạo ra lạm phát kì vọng Trong cả 2 bảng chi tiết , chúng tôi đã dùng đến sự điều chỉnh tự hồi qui Chúng ta đánh giá bằng phương pháp OLS (Cuối cùng nắm bắt những ảnh hưởng

Trang 34

Kết quả chỉ ra sự tương quan phủ định có ý nghĩa cao giữa thặng dư tài khoản vãng lai và lãi suất thực nội địa , như đề nghị của mô hình chúng tôi Tuy nhiên , 2 bảng chi tiết có phần khác nhau trong ước đoán bằng số của chúng , với bảng chi tiết 1 đưa ra một tác động rộng hơn bảng số 2 mang lại ,…chúng tôi thấy rằng 1% GDP tăng lên ở thặng dư tài khoản vãng lai của các nước OECD kết hợp với sự sụt giảm xấp xỉ 20-30 điểm cơ bản

Trang 35

Phần 4: Vấn đề nan giải của xu hướng nội địa hóa trong danh mục vốn đầu tư cổ phiếu

Cho dù sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn thế giới vào cuối thế kỉ 20 và một thị trường thế giới được mở rộng nhiều cho cổ phiếu nhưng những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán vẫn duy trì một sự ưu tiên không thể hiểu được đối với những tài sản trong nước Lần đầu tiên khi nhấn mạnh quy mô của vấn đề danh mục đầu tư theo hướng nội địa hóa vào cuối thập niên 1980, French và Poterba đã quan sát rằng những người Mĩ đã nắm giữ xấp xỉ 94% sự sở hữu cổ phiếu của họ trong thị trường chứng khoán

Mĩ trong khi người Nhật nắm giữ xấp xỉ 98% sự sở hữu cổ phiếu tại thị trường trong nước Hình 2, đã rút ra từ Tesar và Werner đề xuất rằng xu hướng cổ phiếu trong nước không biểu hiện một cách mạnh mẽ đối với

những quốc gia nhỏ hơn ( nhỏ hơn đối với Mĩ và Nhật như Canada, Đức và Anh) và cho thấy một vài khuynh hướng (khuynh hướng nội địa hóa danh mục đầu tư cổ phiếu) sụt giảm trong suốt khoảng thời gian vào giữa năm

1990, khoảng 10% sự sở cổ phiếu của người Mĩ đã được đầu tư ở nước ngoài ( họ đã chuyển 10% tổng danh mục đầu tư ra thị trường nước ngoài) Tuy nhiên, những mô hình chuẩn về sự đa dạng hóa danh mục đầu tư ra nước ngoài tối ưu, chỉ ra rằng những nhà đầu tư cổ phiếu vẫn gần như không

đa dạng hóa trên bình diện quốc tế ở mức tối đa họ nên làm, và vì vậy còn đọng lại những vấn đề nan giải

Trang 36

Sự giải thích tiềm năng mở rộng từ những nhân tố phi mậu dịch như vốn con người (nhân tố con người có thể làm xấu hơn hoặc làm giảm những vấn đề nan giải; cho thấy bởi Baxter và Jamann, 1997) đến những sản phẩm tiêu dùng phi mậu dịch đến sự không cân xứng của thông tin đến sự bất cân xứng dữ liệu Lúc này thật là hợp lí để nói rằng không một bài báo nào có giá trị cung cấp sự mô tả thỏa đáng bằng định lượng của xu hướng nội địa hóa được quan sát; được cho thấy bởi Liwis (1999) cho những nghiên cứu hiện đại và triệt để

Để chuẩn bị cho thảo luận của chúng ta về những chi phí giao dịch,

sự phân chia giữa hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch dựa trên mô hình cổ điển của Salter–Swan là sự giải thích hàng đầu mà chúng ta đã đề cập Trong khi hai loại hàng hóa này nằm ở hai cực đối lập nhau trong những điều khoản ( điều kiện) có khả năng thương mại, cổ phiếu đòi hỏi trong những loại khác của những ngành công nghiệp có thể được mậu dịch không có ma

Trang 37

sát Vì vậy, thậm chí mặc dù xi măng có chi phí quá cao trong việc chuyên chở nhưng không có bất cứ điều gì làm dừng lại các nhà đầu tư nước ngoài mua chứng khoán trong công nghiệp xi măng nội địa Tất nhiên, tiền lãi phải được bù đắp trong hàng hóa mậu dịch, vì khả năng phi mậu dịch không thể vận chuyển đến những cổ đông nước ngoài bởi những giả thuyết Chìa khóa dẫn đến bát bỏ cơ cấu là, cho những trường hợp giới hạn sự phân chia sở thích ( vượt qua hai loại của hàng hóa), những nhà đầu tư giữ một danh mục được đa dạng hóa một cách tổng thể của những ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa mậu dịch Nhưng những ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa phi mậu dịch được nắm giữ hoàn toàn bởi thị trường trong nước Trực giác đã cho thấy rằng, vì việc thanh toán chỉ được thực hiện trong những hàng hóa mậu dịch ở nước ngoài và lợi ích được phân chia, không có cách nào để làm tăng rủi ro của sự phân chia này trong khả năng mậu dịch bằng việc liên kết

sự phân phối của sự tiêu dùng trong mậu dịch đối với những ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa phi mậu dịch ( Trực giác đó phải được giảm bớt cho những trường hợp của sự lựa chọn không mang tính phân chia, nhưng

nó vẫn là một điểm lựa chọn hữu dụng) Vì vậy, điều đó nói lên rằng, nếu hàng hóa phi mậu dịch tạo thành 50% tổng sản lượng ( theo kinh nghiệm phổ biến dựa trên thực tế của nhiều nước trong OECD, dịch vụ, xây dựng, và vận tải tạo thành xấp xỉ 50% GDP; được cho thấy bởi Stockman và Tesar, 1995), sau đó những nhà quản lí sẽ ( nói một cách ko hoàn toàn chính xác) nắm giữ nhiều hơn một nửa cổ phiếu của họ đối với những tài sản trong nước

Sự giải thích này vẫn còn không hoàn toàn thỏa đáng Đầu tiên, mặc

dù sự giải thích đó đi đến một vài phương pháp hướng tới giải thích xu

Trang 38

địa trên thực tế chúng ta đã quan sát ( hình 2) Thứ 2, sự phân chia một cách mạnh mẽ giữa hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch là không đúng với thực

tế, vì thực ra phí vận chuyển có chênh lệch hơn cả hàng hóa, và một hàng hóa đặc biệt nào đó có thể hoặc không thể tham gia mậu dịch dưới những điều kiện thị trường khác nhau Đối với những hàng hóa tốt nhất, khả năng thương mại không mang tính chắc chắn và việc thương mại là không thể xảy

ra trong một khoảng thời gian nào đó

Ở đây chúng ta sẽ làm một phương pháp dựa trên trực giác giống như trong phần thảo luận trước Chúng ta chỉ tìm hiểu cái gì có thể làm cho

sự giải thích xu hướng danh mục nội địa hóa đi xa như thế bằng việc xem xét những chi phí phát hành, chứ không chỉ sự chia nhỏ hàng hóa thành hai loại tùy ý và phân đôi Chúng tôi sẽ cho thấy điều đó là gì, với một sự co giãn hợp lí của sự thay thế hàng hóa qua lại và những chi phí hợp lí cho việc thương mại, mô hình của chúng ta có thể tạo ra một mức rất cao và thỏa đáng về đầu tư danh mục theo hướng nội địa hóa

4.1 MÔ HÌNH ĐƠN GIẢN

Bây giờ chúng ta có thể thêm vào sự không chắc chắn đối với quan điểm cân bằng tổng thể quan của hai quốc gia của mô hình của chúng ta, với mỗi quốc gia có một sự cung cấp ngẫu nhiên của hàng hóa tiêu dùng dễ hỏng phân biệt của từng quốc gia, theo những chính sách của Lucas (1982) hoặc Cole và Obstfeld (1991) Tuân theo kí tự đơn giản, một lần nữa chúng

ta sẽ tóm lượt và xem xét một vấn đề danh mục đầu tư tại một thời điểm nào

đó Chúng ta giả định rằng, một sự phân phối kết hợp cân đối hoàn toàn cho sản lượng mỗi quốc gia ( YH , YF )

Trang 39

Tình trạng lựa chọn riêng ở trong nước hay nước ngoài phụ thuộc vào sự tiêu dùng CH và CF của những hàng hóa trong nước và nước ngoài để tối đa hóa

( 1

E C

C E

Ở đó, C là chỉ số tổng tiêu dùng thực [ theo phương trình (1) ], θ là

sự thay thế linh hoạt của người tiêu dùng giữa hai loại hàng hóa, và ρ là hệ

số của sự không ưu thích rủi ro

Có sự tự do và miễn phí trong mậu dịch quốc tế trong toàn bộ tình trạng phụ thuộc của chứng khoán Arrow-Bebreu ( Một lần nữa chúng ta tưởng tượng rằng việc thanh toán chứng khoán được thực hiện với chi phí thấp nhất trong một đơn vị tiền tệ quốc tế có thể chuyển đổi trong thanh toán) Chúng ta tiếp tục giả định rằng có những chi phí “iceberg” trong kinh doanh, sao cho chỉ một phần nhỏ 1- τ của một đơn vị hàng hóa được vận chuyển ra nước ngoài vươn tới nơi đến của nó, sao cho dướinhững thị trường cạnh tranh PF = PF* / (1-τ) và PH = ( 1 – τ )PH*, theo phương trình (2) và (3)

Bởi vì, ngoài ra, những quốc gia là cân đối, tự do thương mại trong lợi tức chứng khoán của Arrow-Bebreu một sự phân phối mà

*

*

*

1 1

H H H

U P C

Ngày đăng: 11/04/2014, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1  PHÂN LOẠI HÀNG HểA THEO TỶ SUẤT VẬN CHUYỂN - SUẤT CƯỚC  (MỸ, 1994) a - 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Bảng 1 PHÂN LOẠI HÀNG HểA THEO TỶ SUẤT VẬN CHUYỂN - SUẤT CƯỚC (MỸ, 1994) a (Trang 14)
Bảng 2 HỒI QUY FELDSTEIN-HORIOKA, I/Y = α + β NS/Y +  a - 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Bảng 2 HỒI QUY FELDSTEIN-HORIOKA, I/Y = α + β NS/Y +  a (Trang 20)
Bảng 4 NHIấN y H  = Y H /Y F   VỊ THẾ DANH MỤC ĐẦU TƢ TRONG HÀNG HểA - 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Bảng 4 NHIấN y H = Y H /Y F VỊ THẾ DANH MỤC ĐẦU TƢ TRONG HÀNG HểA (Trang 45)
Bảng 6 TƯƠNG QUAN TĂNG TRƯỞNG Y - I - G TRÊN ĐẦU NGƯỜI, 1973 - 1992 - 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Bảng 6 TƯƠNG QUAN TĂNG TRƯỞNG Y - I - G TRÊN ĐẦU NGƯỜI, 1973 - 1992 (Trang 56)
Bảng 7 TỶ LỆ TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ 1990-1997 - 6 vấn đề nan giải trong kinh tế vĩ mô
Bảng 7 TỶ LỆ TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ 1990-1997 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w