Nhưng, thực tế những năm 60, những năm 70 và cả ngày nay mặc dù nhiều nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế được tương đối cao, nâng cao được mức thu nhập bình quân đầ
Trang 1Chương IV
Những vấn đề Kinh tế - x∙ hội trong quá trình
phát triển
Không có một xã nào có thể chắc chắn hưng thịnh và có hạnh phúc, khi phần lớn người dân phải sống trong cảnh nghèo đói và khổ cực
Adam Smith
Trang 24.1 Tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập
và nghèo đói
Sau chiến tranh thế giới thứ II, các nước đang phát triển đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của tăng trưởng, coi đó là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Nhưng, thực tế những năm 60, những năm 70 và cả ngày nay mặc dù nhiều nước
đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế được tương đối cao, nâng cao được mức thu nhập bình quân đầu người, tuy nhiên mức sống của hàng trăm triệu người ở châu Phi, châu á, châu Mỹ Latinh hầu như không tăng; tỷ lệ thất nghiệp tăng ở nông thôn và thành thị tăng lên, phân phối thu nhập càng trở nên xấu đi; nghèo đói vẫn là một thực tế phổ biến ở các nước đang phát triển
(Theo Báo cáo của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc công bố ngày 14/10/1999, "Tình trạng không an toàn về lương thực trên thế giới" cho biết số người đói ở các nước đang phát triển như sau: Châu á - Thái Bình Dương , khu vực có nhiều người đói nhất với 526 triệu người Riêng ở ấn Độ có tới 204 triệu người đói, nhiều hơn cả số người
đói ở châu Phi có 180 triệu người)
Một công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng và phân phối thu nhập trong quá trình phát triển của một quốc gia được nhiều người biết đến là Mô hình chữ U ngược của S.Kuznets Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng với sự bình đẳng trong phân phối thu nhập ở các nước phát triển phương Tây, Kuznets nhận thấy giữa thu nhập bình quân đầu người và Hệ số Gini có mối quan hệ được mô tả bằng hình dưới đây:
Hệ số Gini
0.6
0.3
0.2
0 thấp trung bình cao
thu nhập/người
bất
bình
đẳng
tăng
Hình 4.1 : Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người
và Hệ số Gini
Mô hình có hình dạng chữ U ngược ở trên cho thấy: khi thu nhập bình quan đầu người thấp, Hệ số Gini nhỏ - mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thấp, khi thu nhập bình quân đầu người tăng từ mức thấp tới mức trung bình, Hệ số Gini tăng - mức bất bình đẳng tăng và khi thu nhập tăng từ mức trung bình lên mức cao, Hệ số Gini lại giảm xuống - bất bình đẳng giảm, hay sự phân phối được cải thiện
Trang 3Những số liệu gần đây của các nước đang phát triển cho thấy giữa tăng trưởng và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập không hoàn toàn giống như quy luật mà Kuznets đã chỉ ra, tốc độ tăng trưởng cao ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển không nhất thiết làm cho phân phối thu nhập xấu đi như người ta vẫn tưởng Và khi thu nhập bình quân đầu người đã khá cao cũng không bảo đảm phân phối thu nhập sẽ tốt hơn, bởi vì tăng trưởng chỉ
là điều kiện cần chứ chưa đủ để giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và xoá đói giảm nghèo
Bất bình đẳng phụ thuộc vào:
ắ Dân số, lực lượng lao động: Thất nghiệp, tiền công (-);
ắ Vốn con người: Cơ hội làm việc, tăng thu nhập (+);
ắ Vốn vật chất: Cấu trúc nền kinh tế: Vốn, tài sản tập trung vào một số ít người (doanh nghiệp), khi tăng trưởng thì chỉ một số ít người được hưởng lợi ích từ tăng trưởng (-)
Do vậy tuỳ thuộc vào đường lối phát triển của mỗi quốc gia: nếu chính sách và sự can thiệp của Chính phủ thích hợp sẽ có tác động tốt để giảm bất công trong phân phối thu nhập và giảm đói nghèo, nếu chính sách và sự can thiệp của Chính phủ không được thoả
đáng sẽ có thể làm tăng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tăng tỷ lệ nghèo đói
Một vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia đi sau là phải học tập và rút kinh nghiệm của các nước đi trước, trong từng hoàn cảnh, điều kiện của quốc gia mình tìm ra đường lối phát
triển hợp lý riêng để rút ngắn thời gian quá độ trở thành quốc gia phát triển và bảo đảm bình đẳng hơn trong quá trình phát triển
Để làm rõ vấn đề này chúng ta xem xét 2 câu hỏi:
1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và nghèo đói như thế nào?
2 Cần có chính sách gì để làm giảm bớt sự bất công trong phân phối thu nhập và giảm nghèo đói trong khi vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng cao?
4.1.1 Tăng trưởng và phân phối thu nhập
và nghèo đói
4.1.1.1 Các phương thức phân phối thu nhập
Các nhà kinh tế thường phân biệt 2 phương thức phân phối thu nhập chính để phục
vụ cho mục đích nghiên cứu sự bất bình đẳng:
- Phân phối theo chức năng
Phân phối theo chức năng là phương thức phân phối theo các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra thu nhập mà theo truyền thống đó là đất đai, vốn và lao động
Vấn đề là đánh giá yếu tố nào là quan trọng để phân phối:
+ ở các nước TBCN, họ cho vốn và đất đai là quan trọng nhất cho nên họ thực hiện phân phối theo vốn và đất đai là chính (đảm bảo lợi ích cho nhà tư bản)
+ Theo Marx: Lao động là yếu tố quan trọng nhất cho nên ông đưa ra phương pháp phân phối theo lao động (đảm bảo lợi ích cho người lao động)
Trang 4- Phân phối theo quy mô
Khái niệm: Phân phối theo quy mô là phương thức được các nhà kinh tế sử dụng
rộng rãi nhất Nó chỉ đề cập đến mức thu nhập của các nhóm cá nhân hay các nhóm hộ gia
đình, mà không quân tâm đến thu nhập đó từ đâu mà có
Nội dung: Các cá nhân, hay hộ gia đình được sắp xếp vào các nhóm theo tỷ lệ từng
phần trăm cư dân theo mức độ thu nhập tăng dần, rồi sau đó xác định xem mỗi nhóm nhận
được bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập quốc dân
Một phương pháp chung chia dân số thành 5 nhóm hoặc 10 nhóm bằng nhau, kế
tiếp nhau theo các mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao
nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập quốc dân
Chúng ta xem xét một ví dụ về phân phối thu nhập theo quy mô mang tính giả
thuyết nhưng điển hình của một quốc gia đang phát triển
Bảng 4.1: Phân phối thu nhập theo quy mô một quốc gia đang phát triển
(%)
Nhóm thứ nhất, tức 20% dân số nghèo nhất chỉ nhận được 5% trong tổng thu nhập;
nhóm thứ 2 có được 9% thu nhập, như vậy 40% dân số ở dưới cùng của nấc thang thu nhập
chỉ nhận được 14% tổng thu nhập Trong khi đó nhóm thứ 5, tức 20% dân số giàu nhất có
được 51% tổng thu nhập
4.1.1.2 Các thước đo về sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Để phân tích, đánh giá tình trạng bình đẳng hay bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập có hai thước đo thông dụng là Đường cong Lorenz và Hệ số Gini
+ Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz là đường thể hiện mối quan hệ giữa các nhóm dân số và phần
trăm thu nhập tương ứng của họ trong tổng thu nhập quốc dân Đường cong Lorenz được
xây đựng trên phương thức phân phối thu nhập theo quy mô
Từ các số liệu ví dụ ở Bảng 1, chúng ta có được những thông tin sau
Dân số cộng dồn – Xi
(%)
Thu nhập cộng dồn - Yi
(%)
20 5
40 14
60 27
80 49
100 100
Trang 5Chúng ta xây dựng được một đường cong Lorenz như sau:
% thu nhập O’
100
50
50
40
30
20
10
O 20 40 60 80 100 % dân số Hình 4.2: Đường cong Lorenz Đường bình đẳng E Đường cong Lorenz Trục hoành biểu hiện phần trăm dân số; trục tung biểu hiện phần trăm thu nhập - OO’ là đường bình đẳng tuyệt đối vì nó cho biết bao nhiêu phần trăm dân số chiếm đúng bấy nhiêu phần trăm thu nhập - OEO’ là đường bất bình đẳng tuyệt đối, khi tổng thu nhập về tay một người Đường cong Lorenz nằm giữa đường bình đẳng tuyệt đối và đường bất bình đẳng tuyệt đối, cho biết mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của các quốc gia, đường này càng phình rộng (càng xa đường OO’) thì bất bình đẳng càng cao a Phân phối tương đối bình đẳng b Phân phối tương đối bất bất bình đẳng % thu nhập 100 O’
O 100
% dân số % thu nhập 100 O’
O 100
% dân số
Đường cong Lorenz
Đường bình đẳng
Đường bình đẳng
E E
Hình 4.3: Đường cong Lorenz càng cong thì bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập càng lớn
Đường cong Lorenz là công cụ trực quan để mô tả sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, căn cứ vào độ cong của đường Lorenz để so sánh sự bất bình đẳng giữa các quốc
Trang 6gia Tuy nhiên đường cong Lorenz chưa định lượng được sự bất bình đẳng, nó bất lợi khi so sánh nhiều quốc gia một lúc
+ Hệ số Gini
Hệ số Gini (G) là tỷ số giữa diện tích hình bán nguyệt tạo bởi đường cong Lorenz và
đường phân giác OO’ → diện tích (A), với diện tích tam giác OEO’→ diện tích (A+B)
% thu nhập
100 O’
50
40 (A)
30
20 (B)
10
O
20 40 60 80 100 % dân số
Đường cong Lorenz
Đường bình đẳng
E
Hinh 4.4: Mô tả cách tính hệ số Gini
Diện tích (A+ B)
Thể hiện bằng công thức đại số, chúng ta có công thức tính Hệ số Gini như sau: Công thức 1
∑X i-1 Yi - ∑Xi.Yi-1
G = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
10000
Công thức 2:
G = 1 - ∑ (Yi+1 + Yi)(Xi+1 – Xi)/10000
Trang 7Hệ số Gini phản ánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, G càng lớn bất bình đẳng càng cao, G = 0 bình đẳng tuyệt đối, G = 1 bất bình đẳng tuyệt đối, các giá trị này không có trong thực tế
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới khoảng phân bổ của Hệ số Gini như sau:
- Những nước có thu nhập thấp: 0,3 < G < 0,5
- Những nước có thu nhập trung bình: 0,4 < G < 0,6
- Những nước có thu nhập cao: 0,2 < G < 0,4
Từ thực tế trên Ngân hàng Thế giới đưa ra kết luận là quốc gia nào có Hệ số Gini ở mức xung quanh 0.3 thì được đánh giá là tốt
(Hệ số Gini của Việt Nam hiện nay là 0,36 - Ngô Quang Thành, Nghiên cứu Kinh tế
số 267(8-2000))
Ngoài hai thước đo trên, người ta còn dùng một số chỉ tiêu khác để đánh giá mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập như tỷ số giữa thu nhập của 40% dân nghèo nhất so với tổng thu nhập quốc dân Sự bất bình đẳng được coi là cao nếu tỷ số này thấp hơn 12%,
được coi là vừa nếu nó nằm giữa 12% và 17%, được coi là thấp nếu nó lớn hơn 17%; hoặc
tỷ lệ đỉnh/đáy: Tỷ lệ thu nhập của 20% dân số giầu nhất với thu nhập của 20% dân số nghèo nhất
4.1.1.3 Nghèo đói
- Hội nghị bàn về việc giảm đói nghèo trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương tổ chức tại Thái lan năm 1993 đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau:
“Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Theo phân loại của Ngân hàng Phát triển châu á, người nghèo là những người không có những tài sản cần thiết nhất và không có những điều kiện sống tối thiểu, là những người không có cơ may để theo đuổi những vấn đề sống còn của mình Đó là những vấn đề như: lương thực, thực phẩm, nhà ở, cung cấp nước sinh hoạt, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục
và kiếm sống bằng chính hai bàn tay của mình Các nhà kinh tế đã thiết lập một “Đường ranh giới nghèo đói quốc tế tưởng tượng”, đường này dựa trên tiêu chuẩn được thiết lập ở
ấn Độ, năm 1975
Hiện nay, Ngân hàng thế giới xác định ranh giới nghèo đói là mức thu nhập cần
thiết để có được mức cung cấp hàng ngày là 2100 calori/người, tương đương với mức thu nhập khoảng 1USD/người/ngày vào thời điểm hiện nay
ã Năm 1993, Việt Nam có 57.7% dân số nghèo đói
ã Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam là 37.7%
ã Năm 2001, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam là 32%
Nguồn: WDI databases
Trang 8Đường ranh giới nghèo đói không bó hẹp trong riêng nước nào và nó tương đối độc lập với thu nhập bình quân trên đầu người của quốc gia Vì vậy, nghèo đói có mặt ở mọi nước, mọi vùng trên thế giới, tuy mức độ của nó có thể thấp hơn ở nước có thu nhập bình quân trên đầu người cao và cao hơn ở các nước có thu nhập bình quân trên đầu người thấp
Như vậy, ta nhận thấy rằng, thu nhập bình quân đầu người cao tự nó không bảo đảm
là sẽ không có người nghèo, vì phần thu nhập có được từ tổng thu nhập quốc dân của các nhóm dân cư của một quốc gia là rất khác nhau, nên có thể có một nước có thu nhập đầu người cao vẫn có tỷ lệ dân số sống dưới đường ranh giới nghèo đói quốc tế lớn hơn so với một nước có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
ở trên, chúng ta đã xem xét nghèo đói dưới một cái nhìn khái quát Tuy nhiên để có thể hoạch định được các chính sách hữu hiệu để tấn công vào tận gốc rễ của tình trạng nghèo đói, chúng ta cần biết cụ thể nhóm người nghèo đói là ai, và đặc điểm kinh tế của họ
là gì
Nếu phân theo khu vực:
- Đại bộ phận người nghèo sống ở nông thôn và chủ yếu tham gia vào sản xuất nông
nghiệp (chiếm khoảng 70% số người nghèo - Nguồn: Micheal P.Todaro, Kinh tế học cho
các thế giới thứ ba, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) Họ là những người nông dân, hoặc những người làm thuê với giá rẻ ở các nông trại
- Nhóm người nghèo khác (chiếm 30% số người nghèo) là những người nghèo sống
ở các khu ổ chuột ở thành thị Họ là những người thất nghiệp, những người không có công
ăn việc làm thường xuyên, người di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị, một số ít là thợ thủ công, tiểu thương
(ở Việt Nam Trong tổng số nhân khẩu của cả thành thị và nông thôn bị nghèo, thì
bị nghèo lương thực, thực phẩm ở nông thôn chiếm tới 96,5%, còn ở thành thị chỉ chiếm 3,5% Bị nghèo chung: ở nông thôn chiếm tới 94,5%, ở thành thị chỉ chiếm 5,5% - TBKTVN- 30/10/1999)
Nếu phân theo giới:
Phụ nữ có xu hướng nghèo hơn nam giới ở nhiều nước phụ nữ có địa vị xã hội thấp hơn nam giới, phụ nữ thường ít được học hành hơn, ít có cơ hội kiếm việc làm hơn, và được trả lương thấp hơn nam giới, do đó phụ nữ thường nghèo hơn nam giới
Nếu phân theo độ tuổi:
Trẻ em, và người già là những người nghèo hơn so với nhóm người ở độ tuổi lao
động, 40% người nghèo là trẻ em dưới 10 tuổi, chủ yếu sống trong các gia đình đông người
- Nguồn E Wayne Nafziger, Kinh tế học cho các nước đang phát triển, Nhà xuất bản Giáo
Dục, 1998
Nếu phân theo dân tộc:
Các dân tộc thiểu số thường có mức độ nghèo đói nhiều hơn, bởi những dân tộc này chủ yếu sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của quốc gia khả năng tiếp cận với các thành tựu của sự phát triển ít; mặt khác các dân tộc thiểu số ít có các quyền lực về chính trị cho nên họ cũng ít được quan tâm trong chiến lược phát triển của quốc gia
Trang 94.1.2 Các chính sách để giảm bất công trong
phân phối thu nhập và nghèo đói
4.1.2.1 Thay đổi giá tương đối của các nhân tố nhằm làm thay đổi
phân phối theo chức năng
Giá các nhân tố không chỉ do thị trường chi phối mà nó còn chịu sự chi phối của các yếu tố phi thị trường
Sự chi phối của các yếu tố phi thị trường như địa vị xã hội, quyền lực đã làm cho giá tương đối của lao động cao hơn mức quy định do sự tác động tự do của thị trường, như
sự quy định về mức lương tối thiểu của Nhà nước, sự định mức lương cao của các doanh nghiệp nước ngoài Mặt khác, giá của vốn, thiết bị được thiết lập ở mức thấp một cách giả tạo thông qua các chính sách của Nhà nước, như các chính sách khuyến khích đầu tư vào các dự án sản xuất sử dụng nhiều vốn, ưu đãi thuế, lãi suất bao cấp, thuế nhập khẩu thấp, tỷ
giá thấp Việc làm cho giá tương đối của các nhân tố không bị bóp méo sẽ tạo được nhiều
việc làm hơn cho người lao động, giảm nghèo đói
4.1.2.2 Điều chỉnh phân phối thu nhập theo quy mô
bằng các chính sách phân phối lại
- Điều chỉnh phân phối thu nhập theo quy mô ở các tầng lớp trên bằng cách áp dụng chế độ thuế luỹ tiến đánh vào tài sản và thu nhập
- Lấy kinh phí từ thuế để cung cấp trực tiếp các hàng hoá, dịch vụ công cộng cho những người nghèo
4.1.2.3 Tấn công trực tiếp vào nghèo đói
Khoảng 2/3 số người nghèo sống ở nông thôn do vậy tấn công trực tiếp vào đói nghèo là nhằm vào phát triển nông thôn
Các nguyên nhân chủ yếu gây ra mức thu nhập thấp
và nghèo đói ở các vùng nông thôn
♦ Thiếu nguồn lực và công nghệ
Năng suất sản xuất nông nghiệp thấp, bởi vì vốn quá ít trên một công nhân
nông nghiệp (nông dân) và thiếu công nghệ
(Việt Nam, năm 1997:
Đơn vị: Triệu đồng Năng suất lao động
(GDP/lao động)
Vốn đầu tư/lao động
Nguồn: Võ Hùng Dũng, Nghiên cứu Kinh tế số 267/2000)
Trang 10♦ Trình độ học vấn và kỹ năng thấp
Số năm đi học ở vùng nông thôn thấp hơn nhiều so với ở thành thị Lao động qua đào tạo ở nông thôn rất ít, hơn nữa, hầu hết những người có khả năng, có giáo dục thường chuyển đến sống ở các thành phố
(ở khu vực nông thôn Việt Nam, 87,71% số lao động không có chuyên môn kỹ thuật, chỉ mới có 12,29% được đào tạo
Nguồn: TBKTVN, số 20/1999)
♦ Nghèo đói theo thời vụ
"Nạn đói giáp hạt" trước khi bắt đầu vụ thu hoạch mới rất phổ biến ở vùng
nông thôn Các hộ nông dân nghèo ở nông thôn bị rơi vào vòng luẩn quẩn: họ phải bán sức lao động hoặc phải đi vay nợ với lãi suất cao để đảm bảo cuộc sống qua thời vụ đói, dẫn đến thu nhập thấp hơn vào vụ sau, vì phải thanh toán khoản
nợ cao, do đó họ ngày càng trở nên nghèo khó hơn
♦ Các chính sách thiên về thành phố:
Các Chính phủ thường tập trung đầu tư vào công nghiệp ở các thành phố, mặc dù số đông dân số sống ở vùng nông thôn
Các chính sách tăng thu nhập nông thôn và giảm nghèo đói ở Việt Nam
Chương trình 135 của Chính Phủ
Chương trình Xây dựng nông thôn mới của Bộ NN&PTNT
♦ Phát triển cở hạ tầng nông thôn
ư Đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng ở nông thôn gắn với dân cư: phát triển giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, hệ thống trường lớp,
cơ sở y tế
♦ Phát triển sản xuất hàng hoá:
ư Thực hiện công tác khuyến lâm, khuyến nông Đưa các cán bộ khuyến nông,
khuyến nông về tận làng, xã, thôn, bản
ư Có chính sách hỗ trợ cho nông dân về tín dụng như mở rộng cả về nguồn
vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi, thủ tục vay đơn giản
ư Hỗ trợ nông dân trong việc cung cấp đầu vào (giống, phân hoá học, thuốc trừ
sâu), cũng như giải quyết khâu đầu ra (thị trường tiêu thụ nông sản)
ư Phát triển các ngành nghề truyền thống, các cơ sở công nghiệp ở nông thôn
ư Khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, đặc biệt là trang trại gia
đình
ư (Mô hình 4 Nhà: Nhà nông, Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà DN)
♦ Nâng cao dân trí:
ư Xây dựng hệ thống trường phổ thông, trường dạy nghề, trường dân tộc nội
trú Thực hiện giáo dục phổ cập cho nhân dân